1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ BỔ SUNG CHẾ PHẨM AXÍT HỮU CƠ TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN HEO CON SAU CAI SỮA ĐẾN 65 NGÀY TUỔI

71 430 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 631,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Vũ Duy Giảng 2008, bổ sung a-xít hữu cơ vào thức ăn có lợi ích cao vì nó sở hữu những đặc tính như: an toàn đối với vật nuôi và người, ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng cường kh

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y

**************

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y

**************

NGUY ỄN THỊ KIM LÝ

KHẨU PHẦN THỨC ĂN HEO CON SAU CAI SỮA

ĐẾN 65 NGÀY TUỔI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUY ỄN TẤT TOÀN

Tháng 09/2013

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực tập: Nguyễn Thị Kim Lý

Tên khóa luận: “Hiệu quả bổ sung chế phẩm a-xít hữu cơ trong khẩu

ph ần thức ăn heo con sau cai sữa đến 65 ngày tuổi”

Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các

ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp

Ngày…… tháng……năm…

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUY ỄN TẤT TOÀN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

• V ới những tình cảm sâu sắc

Con mãi ghi nhớ công ơn của ba má, người đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn

• Xin chân thành bi ết ơn

TS Nguyễn Tất Toàn đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức và hướng

dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Chú Nguyễn Minh Quang, Chú Đỗ Văn Trong, Chú Thái Văn Mùi cùng tập

thể các cô chú, anh, chị công nhân trong trại đã giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian thực tập tại trại

Chị Hồ Thị Kim Cúc và công ty SuChiang Chemical & Pharmaceutical Co., Ltd đã đồng hành và hỗ trợ tôi thực hiện đề tài này

• Xin chân thành c ảm ơn

Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Ban Chủ Nhiệm cùng toàn thể thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình

chỉ dạy và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và hoàn thành khóa luận này

• G ửi lòng cảm ơn đến

Các bạn thân yêu lớp DH08DY đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và chia

sẻ cùng tôi những vui buồn, khó khăn trong suốt thời gian học tập cũng như trong

thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Lý

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu: “Hiệu quả bổ sung chế phẩm a-xít hữu cơ trong khẩu

ph ần thức ăn heo con sau cai sữa đến 65 ngày tuổi” được tiến hành tại trại heo

Phú Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai từ ngày 22/10/2012 đến ngày 06/02/2013 Thí nghiệm được tiến hành trên 160 heo con sau cai sữa từ 27 - 65 ngày tuổi theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố Heo con được chia làm 2 lô:

lô đối chứng và lô thí nghiệm, trong đó lô thí nghiệm được bổ sung chế phẩm a-xít

hữu cơ Gustor XXI Monogastrics®

với liều 2kg/ tấn thức ăn Qua thời gian tiến hành đề tài, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Tỷ lệ con tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô thí nghiệm đều thấp hơn

lô đối chứng Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô đối chứng là 6,58% và lô thí nghiệm 4,23% (P<0,05) Tỷ lệ nuôi sống của các lô đối chứng và thí nghiệm lần lượt là 90%

và 92,5% (P>0,05)

Tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm tổng số E.coli trong phân ở lô đối chứng là

6,33 (log10 MPN/1 g phân) và lô thí nghiệm là 6,61 (log10 MPN/1 g phân) (P>0,05)

Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm tổng số E.coli ở lô thí nghiệm là 5,33 (log10

MPN/1 g phân), lô đối chứng là 5,6 (log10 MPN/1 g phân) (P>0,05) Tổng số E.coli

ở lô thí nghiệm vào thời điểm bắt đầu thí nghiệm cao hơn ở lô đối chứng 0,28 (log10

MPN/1 g phân), nhưng vào thời điểm kết thúc thí nghiệm thì lô thí nghiệm có tổng

số E.coli thấp hơn lô đối chứng 0,27 (log10 MPN/1 g phân)

Tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm, trọng lượng bình quân giữa các lô không

có sự khác biệt về mặt thống kê(P>0,05) Trọng lượng bình quân tại thời điểm kết thúc thí nghiệm ở lô đối chứng và lô thí nghiệm lần lượt là 20 kg/con và 19,83 kg/con Tăng trọng bình quân của lô đối chứng là 12,66 kg/con và lô thí nghiệm là 12,51 kg/con Tăng trọng tuyệt đối của 2 lô theo thứ tự trên lần lượt là 333,06 g/con/ngày và 329,23 g/con/ngày (P>0,05)

Hệ số chuyển biến thức ăn (giai đoạn 27 – 65 ngày tuổi) ở lô thí nghiệm tốt hơn lô đối chứng Hệ số chuyển biến thức ăn ở lô đối chứng và lô thí nghiệm lần lượt là 1,65 (kgTA/kgTT) và 1,54 (kgTA/kgTT) (P>0,05)

Trang 6

Lô thí nghiệm giúp tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi vì đã giảm được

1.070 (VNĐ) chi phí sản xuất 1kg heo con sau cai sữa so với lô đối chứng

Trang 7

MỤC LỤC

TRANG T ỰA i

XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii

L ỜI CẢM ƠN iii

TÓM T ẮT iv

M ỤC LỤC vi

DANH SÁCH CÁC CH Ữ VIẾT TẮT ix

DANH M ỤC CÁC BẢNG , HÌNH VÀ SƠ ĐỒ x

Chương 1 M Ở ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 T ỔNG QUAN 3

2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con sau cai sữa 3

2.1.1 Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa heo con 3

2.1.1.2 Sự phát triển hệ thống men tiêu hóa 4

2.2 Tiêu chảy trên heo con 5

2.2.1 Khái niệm 5

2.2.3 Nguyên nhân 5

2.2.3.1 Do heo mẹ 6

2.2.3.2 Do heo con 6

2.2.3.3 Do thức ăn, nước uống 7

2.2.3.4 Do ngoại cảnh và chăm sóc nuôi dưỡng 7

2.2.3.5 Do vi sinh vật 8

2.3.4 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy 11

2.3.5 Một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con 12

2.3.5.1 Tiêu chảy do E.coli 12

2.3.5.2 Tiêu chảy do Salmonella 13

Trang 8

2.3.5.3 Tiêu chảy do Clostridium perfringens ở heo con 14

2.3.5.4 Tiêu chảy do viêm dạ dày ruột truyền nhiễm TGE 15

2.3.5.5 Dịch tiêu chảy Pocine Epidemic Diarrhoea (PED) 16

2.3.5.6 Tiêu chảy do Rotavirus 17

2.3.5.7 Tiêu chảy do cầu trùng 17

2.4 A-xít hữu cơ 18

2.4.1 Khái quát về a-xít hữu cơ 18

2.4.2 Một số acid hữu cơ thường dùng trong chăn nuôi hiện nay 18

2.4.3 Tác dụng của acid hữu cơ trong chăn nuôi 19

2.4.4 Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ 19

2.6 Giới thiệu về chế phẩm Gustor XXI Monogastrics® 22

Chương 3 N ỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 25

3.1.1 Thời gian 25

3.1.2 Địa điểm 25

3.2 Đối tượng nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Điều kiện thí nghiệm 25

3.4.1 Hệ thống chuồng trại 25

3.4.2 Chế độ dinh dưỡng 26

3.4.3 Chăm sóc, nuôi dưỡng heo thí nghiệm 26

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Bố trí thí nghiệm 27

3.5.2 Đánh giá khả năng phòng ngừa tiêu chảy và giảm số lượng vi khuẩn 28

3.5.2.3 Khảo sát tổng số E.coli trong phân 29

3.5.3 Khảo sát các chỉ tiêu về tăng trọng và hiệu quả kinh tế 29

3.5.2.1 Các chỉ tiêu tăng trọng 29

3.5.2.2 Hiệu quả kinh tế 29

Trang 9

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Đánh giá khả năng phòng ngừa tiêu chảy và giảm số lượng vi khuẩn E.coli trong đường ruột 32

4.1.1 Tỷ lệ tiêu chảy 32

4.1.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 33

4.1.3 Tỷ lệ nuôi sống 34

4.1.4 Khảo sát tổng số E.coli 36

4.2 Khảo sát các chỉ tiêu về tăng trọng và hiệu quả kinh tế 37

4.2.1 Trọng lượng bình quân 37

4.2.2 Tăng trọng bình quân và tăng trọng tuyệt đối 39

4.2.3 Hệ số chuyển biến thức ăn 40

4.2.4 Hiệu quả kinh tế 42

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ DỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 43

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 44

PH Ụ LỤC 48

Trang 10

DANH SÁCH CÁC CH Ữ VIẾT TẮT

Chế phẩm G : Chế phẩm Gustor XXI Monogastrics®

FMD : Foot and Mouth Disease

HSCBTA : Hệ số chuyển biến thức ăn

TLCTC : Tỷ lệ con tiêu chảy

TLNCTC : Tỷ lệ ngày con tiêu chảy

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH

B ảng 2.2 Độ pH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa 3

B ảng 2.1 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa của heo con 4

B ảng 2.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy trên đường tiêu hóa 10

B ảng 2.4 Thành phần trong 1 kg sản phẩm Gustor Monogastric® 22

B ảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 28

Bảng 3.2 Số lượng và thời điểm lấy mẫu xét nghiệm E.coli 29

B ảng 4.1 Tỷ lệ tiêu chảy Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của các lô 32

B ảng 4.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của các lô 33

B ảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống 35

Bảng 4.4 Tổng số E.coli của các lô qua các giai đoạn 36

B ảng 4.5 Trọng lượng bình quân của heo qua từng thời điểm (kg/con) 37

B ảng 4.6 Tăng trọng bình quân và tăng trọng tuyệt đối qua các giai đoạn thí nghiệm 39

B ảng 4.7 Hệ số chuyển biến thức ăn 40

B ảng 4.8 Hiệu quả kinh tế 42

Sơ đồ 2.1 Sự biến đổi của các enzyme tiêu hóa ở heo con 4

Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy 11

Hình 2.1 Cơ chế diệt khuẩn của a-xít hữu cơ 20

Hình 2.3 Sự phân ly của một vài a-xít hữu cơ ở pH khác nhau trong ống tiêu hóa 21

Trang 12

phổ biến trên mọi đàn heo đặc biệt là tiêu chảy trên heo con

Trên heo con, các rối loạn tiêu hóa thường xảy ra ở thời kỳ sau cai sữa Nguyên nhân chính là do bộ máy tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, khả năng tiết dịch tiêu hoá còn kém, hơn nữa các men tiêu hoá còn quá ít Cai sữa đồng nghĩa với nguồn

thức ăn và môi trường sống bị thay đổi Trong giai đoạn này, heo con phải đối mặt với những tác nhân gây nên stress trong khi sức đề kháng của heo con kém, nhạy cảm với ngoại cảnh dẫn đến tình trạng chậm tăng trưởng, heo con dễ nhiễm bệnh,

dịch bệnh gia tăng, đặc biệt là tiêu chảy Tiêu chảy làm gia tăng tỷ lệ tử vong, chi phí điều trị, làm giảm nghiêm trọng tỷ lệ tăng trưởng của heo con trong suốt thời kì cai sữa và cả các giai đoạn phát triển tiếp theo gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi Giải pháp được nhiều nhà chăn nuôi áp dụng là bổ sung kháng sinh để phòng

bệnh tiêu chảy Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh một cách thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh, gây khó khăn cho việc phòng trị và tồn dư trong thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng

Đứng trước thực tại đó, hàng loạt những nghiên cứu được đưa ra nhằm tìm

kiếm giải pháp thay thế kháng sinh bổ sung trong thức ăn Các giải pháp được nghiên cứu như sử dụng acid hữu cơ, probiotic, thảo dược, enzym hoặc phối hợp

Trang 13

chúng nhằm để thay thế kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi Trong đó, a - xít hữu cơ được đánh giá là khắc phục được sự thiếu hụt tiềm tàng về tính a – xít tự nhiên của ruột sau cai sữa và như vậy có thể kích thích sự tiêu hoá và tránh được

bệnh tiêu chảy và chậm lớn của heo con (Viện chăn nuôi, 2007) Theo Vũ Duy

Giảng (2008), bổ sung a-xít hữu cơ vào thức ăn có lợi ích cao vì nó sở hữu những đặc tính như: an toàn đối với vật nuôi và người, ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng cường khả năng miễn dịch cho gia súc, cải thiện được khả năng tiêu hóa, không tồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự cho phép của Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tất Toàn chúng tôi thực hiện đề tài: “Hiệu quả bổ sung chế phẩm a-xít

h ữu cơ trong khẩu phần thức ăn heo con sau cai sữa đến 65 ngày tuổi”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Đánh giá hiệu quả của a–xít hữu cơ lên tỷ lệ tiêu chảy và tăng trọng khi bổ sung vào

khẩu phần thức ăn heo con sau cai sữa đến 65 ngày tuổi

Đếm tổng số Escherichia coli trong mẫu phân

Theo dõi các chỉ tiêu về tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn

Tính hiệu quả kinh tế

Trang 14

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con sau cai sữa

2.1.1 Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa heo con

Khi mới sinh, cơ thể heo con phát triển chưa hoàn chỉnh, các chức năng chưa hoàn thiện, khả năng thích ứng kém khi môi trường sống đột ngột thay đổi Giai đoạn này thức ăn chính là sữa mẹ Khi chuyển qua giai đoạn cai sữa, heo con phải

trải qua quá trình thay đổi đột ngột về dinh dưỡng và môi trường Vì thế ở giai đoạn này, bộ máy tiêu hóa của heo con có nhiều biến đổi cả về kích thước, cấu tạo lẫn hệ

thống men tiêu hóa

Màng nhầy ruột non có những thay đổi khi heo được cai sữa ở 3 – 4 tuần tuổi

So với trước khi cai sữa, nhung mao ngắn đi 75% trong vòng 24 giờ sau cai sữa và tình trạng này vẫn tiếp tục cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa (Hampson and Kidder, 1986) Do đó làm giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của heo con giai đoạn sau cai sữa (Trần Thị Dân, 2003)

Độ pH thay đổi và khác nhau trong từng đoạn của bộ máy tiêu hoá

Bảng 2.2 Độ pH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa

(Theo Makkink, 1994; d ẫn liệu Bùi Trọng Nghĩa, 2003)

Độ pH trong ống tiêu hóa ở những ngày đầu sau cai sữa thấp sau đó tăng lên nhiều vào các ngày tiếp theo, đó là do sự thay đổi thức ăn từ sữa mẹ sang thức ăn

Trang 15

đậm, điều này rất bất lợi cho đường tiêu hóa vì không những chúng ảnh hưởng đến

sự phân tiết các enzyme tiêu hóa mà còn tạo cơ hội cho vi sinh vật gây bệnh phát triển gây rối loạn tiêu hóa

Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa cũng có nhiều biến đổi để thích nghi

với những thay đổi trên

Bảng 2.1 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa của heo con

Trọng lượng (g)

Dung tích (ml)

Chiều dài (m)

Trọng lượng (g)

Dung tích (ml)

Chiều dài (m)

(Kvansnitski, 1951 dẫn liệu bởi Nguyễn Gia Minh, 2004)

2.1.1 2 Sự phát triển hệ thống men tiêu hóa

Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa heo con ngoài việc gia tăng về kích thước,

trọng lượng, dung tích còn phát triển hệ thống men tiêu hóa Sự phát triển và hoàn

chỉnh sự tiết HCl ở dịch vị và hệ thống men tiêu hóa có thể giúp heo tiêu hóa một cách dễ dàng và hữu hiệu nguồn thức ăn ngoài sữa mẹ

Sơ đồ 2.1 Sự biến đổi của các enzyme tiêu hóa ở heo con

(Kidder and Manner, 1978; Megan Edwards, 2010)

Tu ần tuổi

Trang 16

Các enzyme tiêu hóa biến đổi theo tuổi của heo, do đó khi cung cấp thức ăn cho heo trong giai đoạn này cần nắm rõ để tổ hợp khẩu phần sao cho phù hợp Sự

dư thừa hay thiếu hụt các chất dinh dưỡng đều gây bất lợi cho đường tiêu hóa, đồng

thời cũng là tiền đề gây tiêu chảy trên heo

2 2 Tiêu chảy trên heo con

chảy sản sinh ra, con vật suy nhược rất nhanh và có thể chết rất nhanh trong trường

hợp thú sơ sinh, thú non, gầy ốm, sức chịu đựng kém

2.2.3 Nguyên nhân

Tiêu chảy ở heo con là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi tác động

của nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân

thứ phát Do vậy việc phân biệt rõ các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn Nguyên nhân gây tiêu chảy kết hợp với tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi, gây stress cho cơ thể heo con, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập và phát triển

của các vi sinh vật gây bệnh vào vật chủ, đặc biệt là các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa dẫn đến sự nhiễm khuẩn và loạn khuẩn đường ruột (Trần Đức Hạnh, 2012) Theo Phạm Sỹ Lăng (1997) tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của nhiều tác nhân gây

bệnh khác nhau như vi-rút, vi khuẩn, kí sinh trùng, thời tiết, ngoại cảnh, độc tố, … Nguyễn Như Pho (2001) thì cho rằng tất cả những yếu tố trên đều dẫn đến nguyên nhân cuối cùng là nhiễm trùng đường ruột

Trang 17

2.2.3.1 Do heo mẹ

Trong thời gian heo mẹ mang thai, do dinh dưỡng không đầy đủ như thiếu protein, thiếu vitamin A, thiếu Cu, Fe, Zn… làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con mới sinh ra yếu, sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hóa

Trên heo mẹ công tác tiêm phòng không được tiến hành nghiêm ngặt và đúng định kỳ, đặc biệt là các loại vắc-xin như: vắc-xin phó thương hàn, TGE

(Transmissible Gastroenteritis), E.coli,… Heo con của những heo mẹ này có nguy

cơ nhiễm vi sinh vật và bệnh tiêu chảy cao hơn vì không được nhận kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu

Theo Nguyễn Như Pho (2001), heo mẹ mắc hội chứng M.M.A (Metritis Mastitis Agalactia), nhiễm trùng vú hoặc tử cung sau khi sinh sẽ gây vấy nhiễm vi trùng vào đường tiêu hóa heo con khi heo con bú sữa viêm, liếm các sản vật viêm rơi vãi trên nền chuồng gây viêm ruột, tiêu chảy

2.2.3.2 Do heo con

Heo con mới sinh bộ máy tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh, sự phân tiết enzyme tiêu hóa chưa đầy đủ nên khả năng tiêu hóa kém dễ dẫn đến tiêu chảy Lượng HCl tự do ít, không đủ để làm tăng độ toan của dạ dày, do vậy vi khuẩn bất

lợi theo đường miệng vào có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non phát triển

mạnh gây nên tiêu chảy

Ở heo con hấp thu tốt kháng thể trong sữa đầu sẽ giúp cho đường ruột của heo

sơ sinh giới hạn hấp thu những chất gây bệnh Nếu heo con bú đủ sữa và hấp thu tốt kháng thể thì hiệu giá kháng thể trong máu heo con sơ sinh gần bằng hiệu giá kháng

thể của heo mẹ ở 24 giờ sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2003) Do vậy nếu heo con không bú sữa đầu sẽ không nhận được kháng thể mẹ truyền dẫn đến sức đề kháng kém nên rất dễ bị nhiễm mầm bệnh qua đường ruột và gây ra tiêu chảy

Theo Võ Văn Ninh (2008), thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu

chảy Thời điểm mà heo con sốt và tiêu chảy với tỉ lệ cao nhất là lúc 10 -17 ngày

tuổi và 23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 ở hàm dưới

và răng sữa tiền hàm số 4 ở hàm trên

Trang 18

2.2.3.3 Do thức ăn, nước uống

Sự mất cân đối giữa các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần, thức ăn có nhiều chất béo, nhiều đạm hoặc nhiều xơ, thức ăn không đảm bảo chất lượng vệ sinh, không phù hợp với từng giai đoạn phát triển của heo con… làm cho bộ máy tiêu hóa không phân giải được hết thức ăn, thức ăn dư thừa đi ra ngoài nhanh dưới

dạng phân lỏng hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển sinh độc tố gây rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy Theo Tsolis và ctv (1999), thức ăn thiếu một số nguyên tố đa lượng, vi lượng như sắt, đồng, kẽm… cũng có thể gây ra những rối

loạn tiêu hóa Thức ăn bị lẫn các chất độc hóa học như chì, thủy ngân, các muối nitrat… thường gây ra những rối loạn tiêu hóa kết hợp với các triệu chứng về thần kinh (dẫn liệu Trần Đức Hạnh, 2012)

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng phương pháp dễ bị nhiễm

nấm mốc Một số loài nấm mốc như Aspergillus, Penicillium… phân bố rộng rãi

trong tự nhiên, có khả năng xâm nhập và phát triển mạnh trong thức ăn và sản sinh nhiều loại độc tố rất nguy hại cho cơ thể động vật, là nguyên nhân của nhiều căn

bệnh nguy hiểm

Ở các vùng đông dân cư, những nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp chế

biến, trang trại chăn nuôi… nguồn nước dễ bị ô nhiễm bởi các loại chất thải, làm thay đổi tính chất cũng như chất lượng nguồn nước Nguồn nước bị ô nhiễm là môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật tồn tại và phát triển, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh (Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình, 2002)

2.2.3.4 Do ngoại cảnh và chăm sóc nuôi dưỡng

Môi trường là một trong những yếu tố thường xuyên tác động lên cơ thể động

vật Khi thời tiết thay đổi đột ngột sẽ gây rối loạn hệ thống điều hòa nhiệt của cơ

thể, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ

đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa có cơ hội tăng cường độc lực và gây bệnh

Sự thay đổi môi trường sống như: chuyển chuồng, nhập đàn, tách mẹ,… làm heo con bị stress dẫn đến cơ thể suy yếu, nhu động ruột giảm đột ngột nên thức ăn

Trang 19

nằm một chỗ, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn cơ hội như E.coli phát triển nhanh,

gia tăng số lượng, trở nên có sức gây bệnh và sinh độc tố

Không úm heo con hoặc úm không đúng cách dẫn đến heo con nhiễm lạnh, gây tiêu chảy Ngoài ra, theo Võ Văn Ninh (2001), 80% tiêu chảy ở heo con do viêm rốn, làm giảm sức đề kháng Theo Nguyễn Như Pho (1995), do bấm răng không kỹ, khi bú heo con làm trầy vú mẹ và heo con bú sữa của vú bị viêm cũng gây tiêu chảy

Chuồng trại không đúng quy cách, các yếu tố thời tiết bất lợi như: nóng, lạnh, mưa gió thất thường, độ ẩm cao dễ tác động trực tiếp lên heo con, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có hại phát triển gây bệnh

2.2.3.5 Do vi sinh vật

Vi sinh vật là nguyên nhân luôn hiện diện trong mọi trường hợp của bệnh tiêu

chảy ở heo con, có thể nói đây là tác nhân chủ yếu của bệnh tiêu chảy trên heo con

Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy ra với các loại mầm bệnh có sẵn, mầm bệnh truyền từ heo mẹ sang hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống Theo Đào

Trọng Đạt và ctv (1995), sự mất cân bằng của quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hóa ảnh hưởng lớn đến sức khỏe động vật chủ Khi cơ thể gặp những tác động ảnh hưởng khác nhau như sai sót về chế độ dinh dưỡng, sai sót trong việc dùng thuốc điều trị nhất là dùng kháng sinh hoặc trong một số trường hợp bệnh mà các đáp ứng

miễn dịch bị thay đổi, đều có thể làm cho quẩn thể vi sinh vật mất cân đối dẫn đến

rối loạn đường tiêu hóa Vi khuẩn Lactic có ngay khi heo con vừa sinh, chúng phát

triển và trấn áp các vi sinh vật đường ruột khác gây hại Nếu vi khuẩn Lactic phát

triển kém hoặc giảm số lượng tạo điều kiện cho các vi khuẩn khác tăng sinh hoặc gây xáo trộn hệ vi sinh vật đường ruột gây bệnh tiêu chảy trên heo con

Trang 20

vi khuẩn thường gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột, tiêu chảy khi có điều kiện thuận

lợi Nhiều tác giả khi nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi

gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc lực, phát triển

với số lượng lớn và gây bệnh (Phạm Thị Hải Yến, 2012) Theo Phạm Sỹ Lăng và ctv (2004), tiêu chảy ở heo do vi khuẩn chủ yếu do một số vi khuẩn như E.coli, Salmonella, Clostridium perfringens, Treponema hyodysenteriae, Campylobacter Theo Đào Trọng Đạt (1996), nghiên cứu xác định E.coli là tác nhân gây bệnh quan

trọng so với các loại vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy khác Nguyễn Quế Hoàng (2006) cho rằng bình thường E.coli là loại vi khuẩn thường xuyên cư trú trong ống

tiêu hóa Nếu điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, E.coli sẽ thừa cơ hội trổi dậy

sinh sản rất nhanh và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột và gây

bệnh

Do vi-rút

Theo Phạm Sỹ Lăng (1997), đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng vi-rút là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy trên heo Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết

luận một số vi-rút như: Enterovirus, Rotavirus, Corconavirus, vi-rút dịch tả heo

có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu chảy trên heo đặc biệt là heo con Sự xuất

hiện của vi-rút sẽ làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, sự hấp thu dưỡng chất

giảm, suy giảm sức đề kháng và gây tiêu chảy ở thể cấp tính

Theo Bergenland H.U (1992), trong số những mầm bệnh gây tiêu chảy thường gặp trên heo trước và sau cai sữa có rất nhiều loại vi–rút trong những mẫu phân phân lập được Trong đó, Rotavirus chiếm 29%, vi–rút TGE (Transmissible

Gastroenteritis virus) là 11,2%, Enterovirus 0,7% và Parvovirus là 0,7%

Do kí sinh trùng

Kí sinh trùng trong đường tiêu hóa cũng là một trong các nguyên nhân phổ

biến gây hội chứng tiêu chảy ở gia súc Kí sinh trùng tác động thông qua việc tranh

chấp dinh dưỡng với ký chủ, tiết nội hoặc ngoại độc tố làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn

Trang 21

công gây rối loạn quá trình tiêu hoá (Trần Đức Hạnh, 2012) Trong đó, cầu trùng là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy

Theo Nguyễn Như Pho (2003), Isospora suis, Crytosporidium thường gây tiêu

chảy cấp hoặc mãn tính chủ yếu ở gia súc non đặc biệt từ sơ sinh đến 4 tuần tuổi, còn ở heo trên 2 tháng tuổi do đã tạo được miễn dịch nên chỉ mang mầm bệnh, ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy

Bảng 2.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy trên đường tiêu hóa

Lo ại mầm bệnh Tên mầm bệnh Tên b ệnh

Vi-rút

Coronavirus Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm

Coronavirus Dịch tiêu chảy trên heo con

Rotavirus Tiêu chảy do Rotavirus

Vi trùng

Clostridium perfringens type A Tràn độc huyết

Clostridium perfringens type C Viêm ruột hoại tử

E.coli Tiêu chảy do E.coli Salmonella Phó thương hàn

Trang 22

Nguyên nhân không

do vi sinh vật

Stress, giảm sức

đề kháng

Độc tố vi sinh vật

tấn công niêm mạc

Nhiễm trùng đường tiêu hóa

Thức ăn ứ lại không

tiêu hóa được

Tiêu chảy

Kích thích nhu động ruột

Theo Nguyễn Như Pho (1995), cơ chế sinh bệnh tiêu chảy được trình bày như sau:

Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy

2.3.4 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy

Theo Trần Thị Dân (2003), có 3 hậu quả sinh lý do tiêu chảy gây ra:

Ảnh hưởng rõ rệt nhất là mất dịch ngoại bào (dịch nằm giữa các tế bào, nước

của mạch máu) Khi mất một lượng dịch ngoại bào đáng kể khoảng 15% thì cơ thể

sẽ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như giảm huyết áp, tim đập nhanh, thú tím tái

và có thể gây chết thú nếu mất quá nhiều dịch ngoại bào Do đó, cung cấp dịch ngoại bào là biện pháp ưu tiên trong điều trị bệnh tiêu chảy Sự thành công của giải pháp truyền dịch qua đường miệng thay đổi tùy theo loại tiêu chảy Trong tiêu chảy

do thú nhiễm nội độc tố vi khuẩn, vận chuyển đồng hướng Na/glucose ở ruột không

Trang 23

làm ảnh hưởng, cho thú uống dung dịch điện giải chứa glucose rất hữu hiệu Trong tiêu chảy nhẹ, lớp màng nhầy ở ruột non vẫn còn khả năng tiếp nhận dung dịch khi cho uống, nhưng dung dịch uống không hữu hiệu khi tiêu chảy nặng mà nguyên nhân chủ yếu là do vi-rút

Thay đổi nồng độ ion trong máu Toan huyết (giảm pH máu) trầm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do mất HCO3

-

qua phân dẫn đến tăng kali huyết Khi hàm lượng K+ trong máu tăng thì nhịp tim giảm Tỷ số K+

của ngoại bào và K+ của nội bào thay đổi làm hoạt động của cơ tim bị rối loạn và có thể gây

chết thú

Thay đổi quá trình biến dưỡng cơ thể Giảm glucose huyết thường xảy ra trong trường hợp tiêu chảy cấp tính vì thú biến ăn, giảm hấp thu dưỡng chất, ức chế tân tạo đường và tăng thủy phân glycogen Khi đó, thân nhiệt của cơ thể hạ thấp vì không đủ glucose để tạo năng lượng cho các cơ quan hoạt động, giảm sức đề kháng

của cơ thể, thú dễ bị nhiễm trùng

2.3.5 Một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con

2.3.5.1 Tiêu chảy do E.coli

Trực khuẩn Escherichia coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là vi khuẩn bắt màu Gram âm, hai đầu tròn, kích thước 2 – 3 x 0,6 µm, chiếm 80% số lượng các vi khuẩn hiếu khí đường ruột E.coli xuất hiện

sớm trong đường ruột, chỉ trong 24 giờ kể từ khi con vật được sinh ra Trong điều

kiện bình thường, chúng khu trú ở phần sau của ruột (ruột già) ít khi có ở dạ dày (Lê Minh Chí, 1995) Khi gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi, sức đề kháng của con vật

yếu thì E.coli tăng nhanh về số lượng, trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh

Theo Trần Thanh Phong (1996), số lượng E.coli ở ruột non heo bình thường là

103 – 104/g chất chứa còn lượng E.coli ở ruột non heo bị bệnh là 107

– 109/g chất

chứa Cù Hữu Phú (2001) cho rằng vi khuẩn E.coli chiếm một tỷ lệ cao (79,75%)

trong các mẫu phân của những con heo theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy và là một yếu

tố gây bệnh quan trọng Heo con theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy với tỷ lệ trung bình là 28,36% và tỷ lệ chết trung bình là 4,45% so với tổng số heo mắc bệnh Tương tự

Trang 24

Đào Trọng Đạt và ctv (1996) cũng cho rằng vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất là E.coli (45,6%) Vì vậy bệnh tiêu chảy do E.coli có tầm quan

trọng đặc biệt trong các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột ở heo con

Trần Đức Hạnh (2012) cho rằng bệnh do E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm,

diễn biến cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột ở heo con Theo Nguyễn Như Pho (2001), heo con bị tiêu chảy do E.coli thường có những triệu

chứng như: heo con trở nên uể oải, không thích bú, lông xù, mắt sâu, niêm mạc mắt, mũi trắng bệch, đôi khi có sắc thái vàng, heo gầy còm, giảm tăng trọng hằng ngày

so với những con khác Tiêu chảy trên heo con sơ sinh (từ 0 – 4 ngày tuổi) phân màu vàng kem hoặc hơi xanh với nhiều nước, sau 2 – 3 ngày tiêu chảy lợn cợn, bị

mất nước Heo con tiêu chảy mất nước nặng dẫn đến suy kiệt cơ thể, co giật, run cơ

rồi chết dần

Phòng bệnh bằng cách thường xuyên sát trùng chuồng trại, khử trùng nguồn

nước nhằm hạn chế sự hiện diện của E.coli và một số mầm bệnh khác, duy trì nhiệt

độ thích hợp (32o

C – 34oC) cho heo con chưa cai sữa và (28o

C – 30oC) cho heo vừa cai sữa, không cho heo con ăn các thức ăn hư thối Tạo kháng thể cho heo con bằng cách tiêm vắc-xin cho heo mẹ, cho heo con bú sớm sau khi sinh và bú thường xuyên

để đảm bảo nhận đủ lượng kháng thể truyền qua sữa đầu Sử dụng các chế phẩm sinh học như: a-xít hữu cơ, men tiêu hóa… nhằm ức chế vi sinh vật gây bệnh

2.3.5.2 Tiêu chảy do Salmonella

Vi khuẩn Salmonella thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, sống

hoại sinh trong đường tiêu hóa, khi sức đề kháng của heo con giảm chúng sẽ xâm

nhập và gây bệnh Với số lượng, chủng loại phong phú và sự phân bố rộng rãi trong

tự nhiên Salmonellosis là mầm bệnh chung của nhiều loài động vật và con người

Khi tiêu chảy kéo dài làm thể trạng sút kém, kháng thể giảm thấp, hiện tượng trúng độc toan,… là cơ hội thuận tiện cho vi khuẩn gây bệnh tiếp tục đi sâu và xâm

nhập vào các cơ quan hệ thống, đặc biệt là hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng huyết, nếu

ở mức cao sẽ gây chết ở giai đoạn này Đối với những cá thể sống sót, di chứng ệnh tích lưu lại ở các hạch, màng treo ruột và một số cơ quan khác trong cơ thể và

Trang 25

trở thành nguồn bệnh tiềm tàng, thải trùng ra ngoài qua sự bài tiết hoặc nhiễm vào các sản phẩm thịt, trứng, sữa… Khi vật mang trùng bị yếu đi do các yếu tố tác động,

hoặc bị mắc bởi các bệnh khác, bệnh có thể tái phát tới mức nhiễm trùng huyết ở

thể cấp và gây tỉ lệ chết cao (Trần Đức Hạnh, 2012)

Việc dùng kháng sinh phối hợp với corticoid và tăng cường trợ sức, trợ lực có

thể mang lại kết quả khả quan trong trường hợp bệnh do Salmonella gây ra Công

tác phòng bệnh quan trọng nhất là vệ sinh phòng bệnh đặc biệt là xử lý phân vì nhiều quốc gia cho rằng vắc–xin có ít tác dụng Bên cạnh đó cần kiểm soát nguồn

thức ăn nhằm đảm bảo vệ sinh, hạn chế mầm bệnh xâm nhập (Trần Thanh Phong,

1996)

2.3.5.3 Tiêu chảy do Clostridium perfringens ở heo con

Clostridium perfringens là vi khuẩn hình que ngắn, Gram dương, không di

động, sống kỵ khí và có khả năng tạo bào tử Clostridium perfringens sống ở khắp

nơi trong tự nhiên và thường gặp trong đường ruột động vật có xương sống Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa như: thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn, sữa mẹ…

Bình thường Clostridium perfringens hiện diện ở các cơ quan tiêu hóa của tất cả các

heo con trước khi cai sữa Nếu chăm sóc và nuôi dưỡng không tốt, yếu tố ngoại

cảnh xấu, sức đề kháng yếu thì heo con dễ phát bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)

Thể quá cấp tính: xảy ra rất nhanh trong vòng 8 giờ đầu tiên sau sinh, heo con trở nên yếu ớt, dần dần rồi chết Thường không biểu hiện triệu chứng gì bên ngoài, có khi thấy tiêu chảy ra máu Thể cấp tính: thường thấy trên heo con khoảng

2 – 5 ngày tuổi Dấu hiệu đầu tiên là chết bất thình lình và kèm theo ỉa chảy ra máu

Bệnh xảy ra rất nhanh, heo con chết sau khi tiêu chảy ra máu Thể bán cấp tính: heo con đi phân thường có màu nâu đỏ có chứa những mảng hoại tử, heo con trở nên

yếu dần rồi chết sau 2 – 3 ngày mắc bệnh Cả hệ thống tiêu hóa ở heo con xung huyết và xuất huyết, heo con gầy còm, yếu ớt rõ rệt trước khi chết Ở thể cấp tính

nhẹ và bán cấp tính thường ruột viêm xuất huyết, sưng to và trở nên dày trong ruột,

ruột căng phồng

Trang 26

Đối với bệnh do vi khuẩn Clostridium perfringens gây ra thì việc phòng bệnh

đạt hiệu quả tốt hơn trị bệnh Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai và sau khi đẻ tốt, vệ sinh chuồng trại và sát trùng sạch sẽ kỹ lưỡng 1 tuần 2 lần Bổ sung dinh dưỡng vào thức ăn, cung cấp vi sinh vật có lợi, ổn định hệ tiêu hóa, phòng chống các bệnh đường tiêu hóa Khó điều trị do bệnh phát triển rất nhanh, đặc biệt khi xuất hiện triệu chứng sâm sàng khó có thể chữa khỏi Có thể dùng thuốc kháng sinh để điều trị Một số kháng sinh nhạy cảm với Clostridium perfringens: Ampicillin, Amoxicillin, Trimethoprim… bổ sung nước và dung dịch

chất điện giải để chống mất nước, nâng cao sức đề kháng bằng các loại vitamin, đặc

biệt là vitamin K

2.3.5.4 Tiêu chảy do viêm dạ dày ruột truyền nhiễm TGE (Transmissible

Gastroenteritis)

Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm là bệnh truyền nhiễm cấp tính trên heo con

do Coronavirus gây nên với triệu chứng ói mửa, tiêu chảy dữ dội và bệnh tích viêm

dạ dày ruột điển hình trên heo con dưới một tuần tuổi với tỷ lệ chết gần 100% Căn

bệnh là ARN vi-rút một sợi thuộc họ Coronaviridae, hình cầu, kích thước 80 – 100

nm, có vỏ bọc với những tua glycoprotein dài 12 nm ở cực, nhạy cảm với ether, không gây ngưng kết hồng cầu, trưởng thành bằng cách nảy chồi (Trần Thanh Phong, 1996)

Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm có tỷ lệ chết khá cao Tiêu chảy thường

bắt đầu từ 16 – 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus Dấu hiệu ban đầu là heo con nôn mửa sau đó tiêu chảy rất nhanh, heo bị mất nước tai cụp, mắt bị trũng sâu Theo Nguyễn Như Pho (2001), heo con bị tiêu chảy do virus có triệu chứng là tiêu

chảy phân vàng với nhiều nước, có thể có mảng thức ăn không tiêu Heo con ốm

yếu, mất nước nặng, suy nhược và chết sau heo con bị tiêu chảy do virus có triệu

chứng là tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, có thể có mảng thức ăn không tiêu Heo con ốm yếu, mất nước nặng, suy nhược và chết sau 3 – 5 ngày mắc bệnh Không có dấu hiệu sốt hoặc triệu chứng thần kinh

Trang 27

Phòng bệnh bằng vắc-xin: heo con nhận kháng thể từ sữa đầu, điều này giúp niêm mạc ruột chống lại sự tấn công của vi-rút, do đó heo mẹ cần được tiêm phòng

vắc-xin trong thời gian mang thai Một số tác giả cho biết nếu cho heo nái tiếp xúc

và ăn ruột của những heo con mắc bệnh thì sẽ tạo miễn dịch giúp heo con đẻ ra phòng vệ tốt

2.3.5.5 Dịch tiêu chảy Pocine Epidemic Diarrhoea (PED)

Dịch tiêu chảy ở heo là bệnh truyền nhiễm, lây lan nhanh do vi-rút gây nên

với đặc điểm ói mửa, tiêu chảy và ăn không ngon trên mọi lứa tuổi với tỷ lệ chết

thấp hơn so với TGE Căn bệnh là một coronavirus khác với vi-rút TGE Kích thước

90 – 100 nm, có những gai peplomeres dọc theo chiều dài (Trần Thanh Phong, 1996)

Sau một thời gian ủ bệnh 1 – 2 ngày, heo con có biểu hiện tương tự như TGE – tiêu chảy lỏng, có thể ói mửa Tỉ lệ mắc bệnh có thể đến 100%, tỉ lệ chết thấp

Bệnh lan rất nhanh 20 – 30% heo cai sữa có thể mắc phải với biểu hiện ói mửa, tiêu

chảy Gần 100% heo kém ăn hay bỏ ăn Trong PED type I, heo con còn bú và heo dưới 32 kg thì ít bị Heo bệnh lờ đờ, buồn bã, hiếm khi sốt, tiêu chảy phân màu xanh nâu, nhiều dịch lỏng, heo mất nhiều nước, gầy và suy nhược Ói mửa và có thể

thấy trội ở vài ổ dịch Tiêu chảy và ói mửa có thể thấy xuất hiện trong khoảng 3 ngày ở thể cấp tính có thể kéo dài đến 7 – 8 ngày Bệnh tích: dạ dày luôn đầy hay được làm đầy bởi dịch có màu mật Cả phần ruột già và ruột non thì nhợt nhạt chứa đầy dịch Vài sự bất dưỡng nhung mao ruột có thể thấy ở ruột non của heo con mắc

bệnh (đã có biểu hiện viêm dạ dày) (Trần Thanh Phong, 1996)

Việc phòng và trị bệnh phụ thuộc vào các triệu chứng của tiêu chảy bao gồm cung cấp nước, chất điện giải, glucose cho heo con từ heo nái bị cảm nhiễm Đồng

thời áp dụng chặt chẽ các biện pháp vệ sinh sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh Dùng phân hoặc phủ tạng chưa vi-rút PED và vi-rút TGE tác động lên heo nái mang thai

để tạo miễn dịch có trong sữa làm giảm tỷ lệ tử vong trên heo con theo mẹ Tách rời

những heo mang mầm bệnh ra khu vực riêng ít nhất là 4 tuần

Trang 28

2.3.5.6 Tiêu chảy do Rotavirus

Bệnh tiêu chảy do Rotavirus là bệnh truyền nhiễm do Rotavirus gây nên làm

heo con tiêu chảy dữ dội, tỷ lệ lây nhiễm có thể lên đến 100% và tử số 30 – 40% Chúng có khả năng gây viêm dạ dày ruột trầm trọng và thoái hóa nhung mao Khi

Rotavirus xâm nhập và phá hủy tế bào màng nhầy ruột non, các nhung mao sẽ ngắn

lại, các chất dinh dưỡng đường tiêu hóa không hoàn toàn được hấp thu điều này gây tiêu chảy, mất nước, chất điện giải, giảm trọng lượng cơ thể và có thể gây chết cho heo con

Đặc điểm của bệnh là tiêu chảy phân vàng với nhiều bọt và chất nhầy Bệnh

rất nặng trên heo con theo mẹ, và nhẹ hơn trên heo con đã cai sữa Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa Heo con lười bú, lười vận động, ói mửa, vài giờ sau thấy tiêu

chảy ở một vài con trong bầy sau đó lây lan cho cả bầy, rồi các bầy lân cận Thời gian tiêu chảy thường kéo dài nhiều ngày (4 – 6 ngày)

Không có thuốc điều trị đặc hiệu, tuy nhiên để giới hạn thiệt hại cần cung cấp nước, chất điện giải, vitamin đầy đủ cho heo con Cách phòng bệnh hữu hiệu là tiêm phòng vắc-xin cho heo nái trước khi sinh 4 tuần, kháng thể sẽ truyền qua sữa đầu và heo con sẽ được miễn nhiễm

2.3.5.7 Tiêu chảy do cầu trùng

Bệnh cầu trùng heo là một bệnh do ký sinh trùng Isospora suis thuộc nhóm

protozoa nội bào gây ra Bệnh xảy ra cho heo ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến trên heo theo mẹ Bệnh khá phổ biến ở những nơi nuôi heo với mật độ cao, điều kiện vệ sinh kém

Đầu tiên heo tiêu chảy phân sệt, sau đó trở nên lỏng (có thể lẫn bọt) Tiêu chảy kéo dài 5-6 ngày, phân có màu trắng đến vàng, có mỡ hoặc mịn, nhưng cũng có khi

có màu nâu nhạt hoặc hơi xám Heo nhiễm bệnh nặng, xù lông, gầy ốm Tỉ lệ chết

do bệnh cầu trùng thấp (khoảng 20% heo mắc bệnh) nhưng làm tăng trưởng kém cho heo con cả giai đoạn trước và sau cai sữa Tỉ lệ chết gia tăng khi kết hợp đồng

thời với bệnh do E.coli Heo con nhiễm bệnh trong giai đoạn sơ sinh được miễn

dịch suốt đời đối với bệnh Tuy nhiên, sự bảo hộ này xuất hiện chậm, không kịp

Trang 29

thời để đảm bảo cho heo con chống lại chứng tiêu chảy lâm sàng (Lê Thị Hải Yến,

2006)

2.4 A- xít hữu cơ

2.4.1 Khái quát về a-xít hữu cơ

A-xít hữu cơ là hợp chất hữu cơ có tính a-xít Hiện nay, a-xít hữu cơ đang được sử dụng phổ biến để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi đặc biệt là trên heo con

bởi vì nó có hiệu quả rất tốt chống lại vi sinh vật gây bệnh ở đường ruột So sánh

với các thức ăn bổ sung khác, a-xít hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối

với thành tích chăn nuôi (Vũ Duy Giảng, 2008) Tuy nhiên, với mỗi loại a-xít hay hỗn hợp các a-xít khác nhau sẽ cho hiệu quả khác nhau trên thành tích chăn nuôi Những thử thách đối với các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất là làm sao để chọn ra được công thức kết hợp tốt nhất vừa cải thiện thành tích vật nuôi, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà chăn nuôi

2.4.2 Một số a-xít hữu cơ thường dùng trong chăn nuôi hiện nay

A-xít formic: đây là a-xít có số cacbon trong công thức hóa học ít nhất so với các a-xít hữu cơ khác (duy nhất 1 cacbon), được xem là a-xít mạch ngắn nhất với trọng lượng phân tử nhỏ (46,02 gam/ mol), pKa = 3,77, vì thế nó dễ xuyên qua màng tế bào của những vi khuẩn Gram âm, giảm pH dạ dày, tăng tiêu hóa protein A-xít formic được xem là a-xít có tác dụng sát khuẩn mạnh nhất trong tất cả các a-xít hữu cơ

A-xít lactic: được sử dụng trong thức ăn của heo nhằm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi, hạ pH nhanh, ức chế vi khuẩn lên men thối, dẫn đến tác động phòng bệnh tiêu chảy và tăng sự tiêu hóa hấp thu dưỡng chất trong thức

ăn Ở các nước hiện nay người ta sử dụng a-xít lactic bổ sung vào thức ăn tập ăn và thức ăn heo cai sữa trong trường hợp cai sữa sớm cho kết quả sinh trưởng rất tốt A-xít propionic: bổ sung vào thức ăn không chỉ với mục tiêu kích thích tiêu hóa, tăng trọng mà còn nhằm bảo vệ thức ăn chống vi khuẩn, ức chế nấm mốc phát triển trong thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2008)

Trang 30

A-xít butyric: có tính sát khuẩn đối với vi khuẩn Gram âm và Gram dương,

kích thích heo ăn nhiều, bảo vệ thượng bì ruột, kích thích lớp tế bào lông nhung phát triển tốt, kích thích hệ miễn dịch của ruột (Vũ Duy Giảng, 2008)

A-xít kết tinh (a-xít fumaric, malic, citric, succinic): đây là những a-xít được chế tạo bằng công nghệ lên men và có thể kết tinh tạo ra dạng thô, bổ sung vào thức

ăn rất tiện lợi Các A-xít này tạo ra độ pH dạ dày và ruột thấp, vừa có tác dụng trong tiêu hóa vừa ức chế vi khuẩn lên men thối ở ruột non Khi lượng HCl dịch vị tiết ra chưa nhiều, các a-xít này có vị chua nhẹ, thơm ngon gây mùi hấp dẫn cho heo con (Nguyễn Quế Hoàng, 2006) Công thức của một số a-xít hữu cơ (Xem phụ lục)

2.4.3 Tác dụng của acid hữu cơ trong chăn nuôi

Tác dụng của a-xít hữu cơ trong chăn nuôi đã được nhiều tài liệu đề cập đến như: kháng khuẩn, bao gồm việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh; hỗ trợ sự tiêu hoá và

hấp thu các chất dinh dưỡng bằng cách hoạt hóa pepsinogen, hỗ trợ tiêu hóa protein; tăng độ hòa tan chất khoáng, hỗ trợ hấp thu chất khoáng, đặc biệt vi khoáng; kích thích ruột tiết secretin, giúp tụy tiết nhiều bicarbonate và a-xít mật, giúp lipid thức

ăn tiêu hóa, hấp thu tốt hơn; tăng sự tái tạo lớp tế bào vi lông nhung (a-xít butyric)

Ví dụ như Na butyrate tăng chiều dài lông nhung lên khoảng 30% (Vũ Duy Giảng,

2008)

2.4.4 Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ

Theo Vũ Duy Giảng (2008), trong đường ruột tồn tại các nhóm vi khuẩn có lợi

và vi khuẩn có hại (gây bệnh), số lượng các nhóm này được duy trì ở trạng thái cân

bằng, do những nguyên nhân nào đó, số lượng vi khuẩn có hại tăng lên, trạng thái cân bằng bị phá vỡ, con vật bị rối loạn tiêu hóa và mắc bệnh

Nhóm vi khuẩn có lợi thường là những vi khuẩn lên men sinh a-xít lactic như:

Lactobacillus, Bifidobacterium, Streptococcus… Nhóm vi khuẩn có hại thường là

E.coli, Salmonella, Clostridium perfringens, Staphilococcus aureus…Vi khuẩn có

lợi sống trong môi trường pH thấp hơn vi khuẩn có hại Ví dụ: pH thích hợp cho

Trang 31

nhóm vi khuẩn lên men sinh a-xít lactic là 2 – 3, còn pH thích hợp cho E.coli là > 4, Salmonella là > 3,5, Clostridium perfringens là > 6 Như vậy bổ sung a-xít hữu cơ

để đưa pH dịch tiêu hóa xuống < 3,5 sẽ ức chế những vi khuẩn có hại và tạo điều

kiện cho vi khuẩn có lợi hoạt động tốt

Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh của a-xít hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi

được giải thích như sau: a-xít đi vào tế bào vi khuẩn, ở đây (pH=7) a-xít phân ly cho

ra H+ (RCOOH  RCOO- + H+), pH bên trong tế bào giảm, vi khuẩn phải sử dụng

cơ chế bơm ATPase để đẩy H+

ra khỏi tế bào, vi khuẩn bị mất năng lượng Mặt khác

pH giảm thì cũng ức chế quá trình đường phân (glycolysis), tế bào vi khuẩn bị mất nguồn cung cấp năng lượng Khi phân ly trong tế bào, anion của a-xít không ra khỏi được tế bào, gây rối loạn thẩm thấu Những nguyên nhân này làm cho vi khuẩn bị

chết Đặc biệt a-xít hữu cơ có thể đi vào hoặc đi ra khỏi tế bào vi khuẩn chỉ khi ở

trạng thái không phân ly

Hình 2.1 Cơ chế diệt khuẩn của a-xít hữu cơ (Vũ Duy Giảng, 2008)

Sự phân ly của a-xít hữu cơ lại phụ thuộc vào hằng số phân ly (pK) và pH của môi trường, pK càng cao thì độ phân ly càng lớn Ví dụ trong môi trường có pH như nhau thì acid acetic có độ phân ly cao hơn a-xít formic (pK của a-xít acetic là 4,76

và của a-xít formic là 3,75) A-xít hữu cơ phân ly ít trong môi trường có pH thấp và phân ly nhiều trong môi trường có pH cao Ống tiêu hóa của heo hay gà có pH khác nhau theo các vị trí khác nhau Ở dạ dày, pH thường thấp (2,5 – 3,5), a-xít hữu cơ ở

CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG

Trang 32

đây không phân ly hoặc phân lý rất ít, nhưng ở ruột non pH thường cao (6 – 7,5), xít hữu cơ phân ly nhiều, thậm chí phân ly hoàn toàn Khi đã phân ly thì a-xít không

a-đi vào được tế bào vi khuẩn và không còn tác dụng diệt khuẩn nữa

Hình 2.3 Sự phân ly của một vài a-xít hữu cơ ở pH khác nhau trong ống tiêu hóa

(Dẫn liệu Vũ Duy Giảng, 2008)

Sơ đồ 4 cho thấy ở pH 3,5 a-xít butyric hầu như không phân ly, a-xít lactic và a-xít formic phân ly khoảng 40%, nhưng pH tăng dần thì sự phân ly của các a-xít này cũng tăng, đến pH = 6,0 – 7,0 tất cả các a-xít hầu như phân ly hoàn toàn Riêng a-xít butyric có độ phân ly thấp khi pH tăng, ở pH = 5,5 – 6,0 thì vẫn còn khoảng 20% không bị phân ly Khi pH môi trường nhỏ hơn pK của a-xít, nồng độ H+

trong môi trường cao, a-xít có khuynh hướng tái thiết lại sự cân bằng của nó để duy trì

hằng số, vì thế dạng a-xít không phân ly sẽ gia tăng Ngược lại, khi pH của a-xít lớn hơn pK của nó, nồng độ H+

thấp và a-xít sẽ tái thiết lặp lại sự cân bằng bằng cách gia tăng dạng phân ly

Một sản phẩm được kết hợp giữa a-xít hữu cơ và a-xít vô cơ được làm tăng hoạt

lực với các dẫn xuất của a-xít béo bay hơi sẽ rất ít ái lực với proton của nó, lúc này nó có

thể làm giảm pH của môi trường tạo ra hiệu quả tĩnh khuẩn Cùng lúc đó, do pH giảm nên sẽ tạo ra sự thay thế cân bằng acid béo bay hơi bởi dạng không phân ly

Năng lực kháng khuẩn

Trang 33

2.6 Giới thiệu về chế phẩm Gustor XXI Monogastrics ®

Gi ới thiệu

Gustor XXI Monogastric® là một a-xít hữu cơ tổng hợp với thành phần cơ bản

là các a-xít béo dễ bay hơi, dạng bột mịn, có độ ổn định cao, dễ dàng bổ sung trong

thức ăn và các chất phụ gia Chế phẩm này được sử dụng cho heo giúp a-xít hóa đường ruột, ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại, từ đó giúp cho vật nuôi phát triển tối ưu, tăng trọng nhanh

A-xít lactic, a-xít phosphoric 80%

Muối sodium của a-xít butyric

(Ngu ồn: Công ty SuChiang Chemical & Pharmaceutical, 2012)

Trang 34

thiện hoạt tính men pepsin dạ dày, kích thích sự tổng hợp các men của đường tiêu hóa (men lactase, maltase, sucrase…) từ đó cải thiện các chỉ số chuyển hóa và tốc

độ tăng trưởng trên heo con theo mẹ, tăng cường sức khỏe vật nuôi

2.7 Lượt duyệt một số công trình nghiên cứu có liên quan

Thí nghiệm của Bùi Trọng Nghĩa (2003), về ảnh hưởng của Gustor XXI Monogastrics (Prebiotic), kháng sinh Aurofac lên sự sinh trưởng và sức đề kháng

bệnh của heo con sau cai sữa Thí nghiệm được tiến hành trên 48 heo cai sữa ở 21 ngày tuổi nuôi đến 63 ngày tuổi Hiệu quả sử dụng thức ăn toàn kỳ ở lô bổ sung Gustor XXI Monogastrics là tốt nhất (1,73 kgTA/kgTT) Bổ sung chế phẩm Gustor XXI vào khẩu phần thức ăn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với sử dụng kháng sinh

Thí nghiệm của Trần Kim Thuỷ (2003), về ảnh hưởng của việc bổ sung Gustor XXI (Prebiotic), Esporafeed (Probiotic) lên sự sinh trưởng của heo con sau cai sữa Thí nghiệm được tiến hành 2 đợt trên 324 heo cai sữa 21, 28, 35 ngày tuổi cho 3 lô

Lô đối chứng sử dụng thức ăn cơ sở của trại, lô thí nghiệm 1 được bổ sung Gustor XXI 2kg/tấn thức ăn, lô thí nghiệm 2 được bổ sung Esporafeed 1kg/tấn thức ăn Kết

quả cho thấy việc bổ sung Gustor XXI có hiệu quả cao nhất Tăng trọng toàn kỳ của các lô đối chứng, thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 lần lượt là 14,17 kg/con, 14,89 kg/con và 13,53 kg/con Hiệu quả sử dụng thức ăn của lô bổ sung Gustor XXI là tốt

nhất với 1,39 kgTA/kgTT, kế đến là lô bổ sung Esporafeed 1,47 kgTA/kgTT, lô đối

liều 4kg/tấn thức ăn cho hiệu quả tốt nhất về tăng trọng và khả năng chuyển hoá

thức ăn của heo giai đoạn sau cai sữa

Trang 35

Thí nghiệm của Võ Thị Kiều Trinh (2005), về ảnh hưởng của chế phẩm Gustor lên sự sinh trưởng và sức khoẻ của heo con sau cai sữa Thí nghiệm được

tiến hành trên tổng số 60 con heo cai sữa ở 28-30 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi

Những con heo được bổ sung Gustor có tăng trọng, khả năng chuyển hoá thức ăn tốt hơn nhiều so với những con không được bổ sung Tỷ lệ tiêu chảy trên lô có bổ sung

chế phẩm thấp hơn 33% so với lô không bổ sung

Nghiên cứu của Nguyễn Quế Hoàng (2006), về khảo sát hiệu quả sử dụng xít hữu cơ và probiotics thay thế kháng sinh trong việc phòng ngừa tiêu chảy và kích thích sinh trưởng trên heo con sau cai sữa và heo thịt Nghiên cứu được tiến hành qua 2 thí nghiệm: (1) đánh giá hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy và kích thích sinh trưởng trên heo con sau cai sữa 28 – 56 ngày tuổi (2) đánh giá hiệu quả phòng

a-ngừa tiêu chảy và kích thích sinh trưởng trên heo thịt Thí nghiệm được bố trí với

240 con, chia làm 5 lô: lô không bổ sung, lô bổ sung riêng lẻ a-xít hữu cơ, probiotics, kháng sinh và lô kết hợp a-xít hữu cơ và probiotics Việc bổ sung kết

hợp a-xít hữu cơ và probiotics đã nâng cao tăng trọng, giảm tỷ lệ tiêu chảy, từ đó làm tăng sức chống chọi với bệnh tật của chúng

Thí nghiệm của Nguyễn Hân Thiên Thu (2007), khảo sát tác dụng và hiệu quả

của việc bổ sung chế phẩm a-xít hữu cơ và probiotics thay thế kháng sinh nhằm

mục đích kích thích tăng trưởng và phòng ngừa tiêu chảy trên heo con sau cai

sữa.Chỉ số chuyển biến thức ăn ở lô thí nghiệm 2 là thấp nhất Tỷ lệ tiêu chảy ở lô thí nghiệm 1 và 2 thấp hơn rất nhiều so với lô đối chứng (P<0,001)

Qua các nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng việc bổ sung chế phẩm a-xít

hữu cơ nói chung và bổ sung chế phẩm Gustor XXI Monogastrics nói riêng đã mang lại hiệu quả trong việc phòng ngừa tiêu chảy, đồng thời cũng làm tăng khả năng chuyển hoá thức ăn cho heo Tuy nhiên, việc bổ sung chế phẩm vào giai đoạn nào của heo, với liều lượng bao nhiêu sẽ có hiệu quả tối ưu vẫn là một câu hỏi lớn đặt ra cho nhà sản xuất và người chăn nuôi Vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài này để

có những nhận định cụ thể hơn về liều lượng và thời điểm bổ sung chế phẩm cho heo nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho người chăn nuôi

Ngày đăng: 26/02/2019, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm