1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HẤP PHỤ AFLATOXIN B1 TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA MỘT SỐ CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC

65 135 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ tên sinh viên thực tập: LÊ HOÀNG SÂM Tên khoá luận: “Đánh giá hiệu quả hấp phụ Aflatoxin B 1 trong phòng thí nghiệm của một số chất hấp phụ độc tố nấm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA MỘT SỐ CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC

Sinh viên thực hiện: LÊ HOÀNG SÂM Lớp: DH09TA

Ngành: Chăn nuôi Niên khóa: 2009 - 2013

Tháng 08/2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

LÊ HOÀNG SÂM

TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA MỘT SỐ CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Chăn nuôi

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUYỄN QUANG THIỆU

ThS NGUYỄN HIẾU PHƯƠNG

Tháng 08/2013

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên thực tập: LÊ HOÀNG SÂM

Tên khoá luận: “Đánh giá hiệu quả hấp phụ Aflatoxin B 1 trong phòng thí nghiệm của một số chất hấp phụ độc tố nấm mốc”

Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa ngày …………

Trang 4

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi – Thú y, cùng tất cả các thầy cô đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong thời gian tôi theo học tại trường

Chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Quang Thiệu, cô Nguyễn Hiếu Phương đã hết lòng vì học trò, tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này

Xin cảm ơn cô Lộc, cô Dung, cô Phượng, Bộ môn Dinh Dưỡng cùng các bạn sinh viên cùng làm đề tài ở Phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Cảm ơn các bạn sinh viên lớp DH09TA, những người đã giúp đỡ, góp ý và chia sẻ cùng tôi những khó khăn trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã quan tâm, hướng dẫn và hỗ trợ tôi Chúc nhà trường, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Bộ môn Dinh Dưỡng ngày càng phát triển lớn mạnh

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2013

Lê Hoàng Sâm

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả hấp phụ Aflatoxin B1 trong phòng thí

nghiệm của một số chất hấp phụ độc tố nấm mốc” được tiến hành tại Phòng thí nghiệm

thuộc Bộ môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Tp

Hồ Chí Minh thời gian từ tháng 02/2013 đến tháng 08/2013 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố Yếu tố thứ nhất là chất hấp phụ độc tố (bentonite, diatomite và chất hấp phụ hữu cơ (HPHC)) và yếu tố thứ hai là sự kết hợp giữa nhiệt độ nung và pH Các nghiệm thức được lặp lại 3 lần

Thí nghiệm được tiến hành để đánh giá và so sánh khả năng hấp phụ độc tố của bentonite, diatomite đã được xử lý bằng cách nung ở các mức nhiệt độ (3000C, 4000C,

5000C, 6000C) với chất hấp phụ hữu cơ (HPHC) bằng cách so sánh và đánh giá lượng độc tố hấp phụ bởi 1g chất hấp phụ và phần trăm hấp phụ của chúng đối với aflatoxin

B1 ở hai điều kiện pH = 3 và pH = 7

Kết quả đạt được qua quá trình thí nghiệm:

Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite tốt hơn so với chất HPHC ở cả 2 mức pH = 3 và pH = 7

Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite ở tất cả các mức nhiệt độ xử lý là như nhau và đạt phần trăm hấp phụ 100% ở pH = 3 Tuy có sự khác biệt về khả năng hấp phụ ở các nhiệt độ xử lý của bentonite và diatomite tại pH = 7 nhưng với P > 0,05 thì sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê

Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite bị ảnh hưởng bởi mức pH Tại pH = 3, khả năng hấp phụ của cả 2 chất hấp phụ vô cơ đều tốt hơn so với

pH = 7, sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001)

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Độc tố nấm mốc 3

2.1.1 Khái niệm độc tố nấm mốc 3

2.1.2 Sự hình thành và tác hại của độc tố nấm mốc 3

2.2 Aflatoxin 4

2.2.1 Sự hình thành aflatoxin 5

2.2.2 Đặc điểm của Aspergillus flavus 5

2.2.2.1 Phân loại 5

2.2.2.2 Đặc điểm hình thái 5

2.2.2.3 Đặc điểm sinh thái 6

2.2.3 Những điều kiện thích hợp cho sự sản xuất aflatoxin 7

2.2.4 Phân loại, cấu trúc và tính chất của aflatoxin 7

Trang 7

2.2.5 Aflatoxin B1 9

2.2.5.1 Sơ lược về cấu trúc, sự hình thành aflatoxin B1 9

2.2.5.2 Sự phân phối về mặt địa lý của AFB1 9

2.2.6 Sự hấp thu aflatoxin 10

2.2.7 Sự chuyển hóa aflatoxin trong cơ thể 11

2.2.8 Bài thải aflatoxin 12

2.3 Tác hại của aflatoxin 14

2.3.1 Tác hại của aflatoxin đối với con người 14

2.3.2 Tác hại của aflatoxin đối với vật nuôi 15

2.3.2.1 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên loài cầm 16

2.3.2.2 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên heo 19

2.3.2.3 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên thú nhai lại 20

2.4 Những giải pháp phòng ngừa độc tố nấm mốc 23

2.4.1 Kiểm tra, khống chế độ ẩm và nhiệt độ thích hợp 23

2.4.2 Kiểm soát và trừ khử côn trùng, sâu mọt trong kho 23

2.4.3 Sử dụng hóa chất để chống mốc 24

2.4.4 Biện pháp vật lý để loại trừ nấm mốc 24

2.4.5 Làm mất hiệu lực aflatoxin 25

2.4.5.1 Làm mất hiệu lực aflatoxin bởi nhiệt độ 25

2.4.5.2 Làm mất hiệu lực aflatoxin bởi ánh sáng 25

2.4.5.3 Làm mất hiệu lực aflatoxin bởi chất oxi hóa 25

2.4.5.4 Làm mất hiệu lực aflatoxin bởi NH3 26

2.4.5.5 Làm mất hiệu lực aflatoxin bởi chất hấp phụ bề mặt 27

2.5 Sử dụng thức ăn và nguyên liệu bị nhiễm aflatoxin 27

2.6 Hấp phụ 29

2.6.1 Định nghĩa hấp phụ 29

2.6.2 Hấp phụ trong chất lỏng 29

2.7 Các chất hấp phụ dùng trong thí nghiệm 30

Trang 8

2.7.1 Bentonite 30

2.7.2 Diatomite 31

2.7.3 Chất hấp phụ hữu cơ (HPHC) 32

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 33

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 33

3.2 Đối tượng nghiên cứu 33

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1 Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 33

3.4.1.1 Vật liệu 33

3.4.1.2 Dụng cụ thí nghiệm 34

3.4.2 Phương pháp tiến hành 35

3.4.2.1 Bố trí thí nghiệm 35

3.4.2.2 Các bước tiến hành thí nghiệm 36

3.4.2.3 Kiểm tra khả năng đọc của máy 36

3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và cách đo nồng độ độc tố bằng máy ViCam 36

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của chất hấp phụ vô cơ (bentonite, diatomite) ở nhiệt độ 3000C đối với chất hấp phụ hữu cơ (HPHC) 38

4.2 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite ở các mức nhiệt độ xử lý khác nhau 39

4.3 Ảnh hưởng pH trên khả năng hấp phụ aflatoxin B1 đối với chất hấp phụ vô cơ 41

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 51

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFB1 Aflatoxin B1

AFB2 Aflatoxin B2 AFG1 Aflatoxin G1 AFG2 Aflatoxin G2

AFQ1 Aflatoxin Q1 AFM1 Aflatoxin M1 AFM2 Aflatoxin M2

DNA Deoxyribonucleic Acid

t-RNA Transfer Ribonucleic Acid

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 2.1 Tính chất lí hóa của các Aflatoxin 8

Bảng 2.2 Khả năng chuyển AFB1 từ động vật vào thực phẩm con người 13

Bảng 2.3 Liều gây độc cấp tính của Aflatoxin với vật nuôi 15

Bảng 2.4 Quy định về mức tối đa độc tố AF trong thức ăn hỗn hợp 29

Bảng 2.5 Thành phần hoá học của Diatomite tại mỏ Hoà Lộc (Phú Yên) 32

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 35

Bảng 4.1 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của chất hấp phụ tại pH = 3 38

Bảng 4.2 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của chất hấp phụ tại pH = 7 38

Bảng 4.3 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite ở các mức nhiệt độ xử lý khác nhau tại pH = 3 39

Bảng 4.4 Khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite và diatomite ở các mức nhiệt độ xử lý khác nhau tại pH = 7 40

Bảng 4.5 Ảnh hưởng pH trên khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của bentonite 41

Bảng 4.6 Ảnh hưởng pH trên khả năng hấp phụ độc tố aflatoxin B1 của diatomite 42

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Aspergillus flavus 6

Hình 2.2 Cấu trúc của các aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1, M2 8

Hình 2.3 Cấu trúc hóa học của aflatoxin B1 9

Hình 2.4 Cơ chế gây độc của AFB1 11

Hình 2.5 Cơ quan, bộ phận trên gà mái đẻ bị nhiễm aflatoxin 17

Hình 2.6 Sơ đồ cấu trúc của MMT 31

Hình 3.1 Mẫu sau khi ly tâm 37

Hình 3.2 Máy đo nồng độ độc tố ViCam 37

Trang 12

Trên thực tế rất khó tránh khỏi tình trạng nông sản ít nhiều bị nấm mốc xâm nhập

và sinh độc tố Thêm vào đó, trước tình hình hiện nay giá thức ăn chăn nuôi ngày càng tăng cao, người chăn nuôi có khuynh hướng chọn những nguyên liệu rẻ tiền để làm thức ăn chăn nuôi, do đó nguy cơ thức ăn bị nhiễm độc tố càng cao Vì vậy, việc hạn chế tác hại của nấm mốc và độc tố của chúng gây ra đang là mối quan tâm lớn hiện nay của các nhà máy sản xuất thức ăn cũng như người chăn nuôi Nhiều biện pháp ngăn chặn và xử lí độc tố nấm mốc đã được biết đến như: biện pháp vật lý (nhiệt độ, ánh sáng, v.v), biện pháp hóa học (ly trích bằng dung môi, dùng NH3, dùng chất oxy hóa, v.v) hay biện pháp sinh học (dùng vi sinh vật đối kháng hoặc cạnh tranh có khả năng phá hủy độc tố) Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp nào cũng phải phù hợp với các yêu cầu: dễ áp dụng trong thực tiễn, giá thành rẻ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, không ảnh hưởng đến khẩu vị của thú cũng như không làm biến đổi thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu thức ăn

Trang 13

Hướng mới hiện nay là dùng chất hấp phụ độc tố để kết dính với độc tố và loại thải ra ngoài theo phân nhằm làm giảm khả năng hấp thu của chúng vào cơ thể Các chất hấp phụ được sử dụng để trộn trực tiếp vào trong thức ăn của gia súc, gia cầm Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại chất hấp phụ độc tố nhưng để biết được hiệu quả các chất hấp phụ đối với thú và tìm ra chất hấp phụ nào tốt nhất để ứng dụng cần

có những nghiên cứu cụ thể trong điều kiện môi trường Việt Nam

Vì những lí do trên, cần có sự đánh giá, so sánh khả năng hấp phụ độc tố của các chất hấp phụ để tìm ra chất hấp phụ nào tốt nhất và nồng độ mà nó hấp phụ tốt nhất trong việc ngăn chặn tác hại độc tố nấm mốc góp phần bảo vệ sức khỏe vật nuôi và con người Do việc thử nghiệm trên thú sẽ tốn thời gian dài, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng bởi giới tính, tuổi, thể trọng, khẩu phần, thời kì cho ăn và hệ thống cho ăn của thú (Avantaggiato và ctv, 2004) Mặc khác, thử nghiệm trong phòng thí nghiệm ít tốn thời gian (Lemke và ctv, 2001) và không chịu ảnh hưởng của các yếu tố trên nên có thể lựa chọn nhanh những chất hấp phụ tốt trong số nhiều chất hấp phụ trên thị trường để tiếp tục thí nghiệm trên thú Xuất phát từ vấn đề đó, được sự cho phép của Bộ Môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh cùng với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Quang Thiệu và ThS Nguyễn Hiếu Phương, chúng

tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả hấp phụ aflatoxin B 1 trong phòng thí nghiệm của một số chất hấp phụ độc tố nấm mốc”

1.2 Mục đích

Nghiên cứu và đánh giá các chất hấp phụ dùng trong thí nghiệm ở các mức nhiệt

độ nung khác nhau nhằm lựa chọn chất hấp phụ tốt nhất, làm nền tảng cho các thí nghiệm nghiên cứu trên thú, ứng dụng vào thực tiễn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà chăn nuôi

1.3 Yêu cầu

Thu thập số liệu về hai chỉ tiêu: lượng độc tố bị hấp phụ bởi 1g chất hấp phụ

(µg/g) và phần trăm hấp phụ (%), thông qua đó đánh giá hiệu quả của chất hấp phụ

Trang 14

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Độc tố nấm mốc

2.1.1 Khái niệm độc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc được dịch từ “Mycotoxin” là chất độc sinh ra từ sự tổng hợp, chuyển hóa của nấm mốc, nó không phải là hợp chất có sẵn trong nguyên liệu thức

ăn do sự tổng hợp của thực vật, động vật Nó xuất hiện trong nguyên liệu làm thức

ăn sau quá trình thu hoạch, bảo quản và chế biến do các loại nấm mốc tạo ra Nó gây tác hại rất lớn cho sức khỏe của gia súc, gia cầm và cả cho sức khỏe con người (Dương Thanh Liêm, 2002)

2.1.2 Sự hình thành và tác hại của độc tố nấm mốc

Mycotoxin là chất trao đổi thứ cấp sản xuất bởi nấm mốc, là một trong những yếu tố gây nguy hại quan trọng nhất trong chuỗi thức ăn của con người và động vật Vấn đề về độc tố nấm mốc là vấn đề toàn cầu và đặc biệt ảnh hưởng tới những quốc gia đặc trưng bởi điều kiện môi trường và thời tiết thuận lợi cho sự lây nhiễm và phát triển của nấm mốc ở cả ngoài đồng ruộng và khi lưu trữ trong nhà kho Theo ước tính có khoảng 25% cây lương thực trên thế giới bị nhiễm với nấm mốc, hơn 4,5 tỉ người và một số lượng lớn động vật bị phơi nhiễm mãn tính với aflatoxin

(Dương Thanh Liêm, 2002)

Thuật ngữ mycotoxin được đặt ra vào năm 1960 do hậu quả của một cuộc khủng hoảng bất thường trong lĩnh vực thú y ở gần Luân Đôn (Anh), với số lượng xấp xỉ gần 100.000 gà tây bị chết Căn bệnh bí ẩn này gây nên sự chết hàng loạt gà tây có liên quan tới bã dầu đậu phộng bị nhiễm chất chuyển hóa thứ cấp do nấm

Aspergillus flavus sản sinh, và các nhà khoa học nghi ngờ rằng khả năng bùng phát

Trang 15

dịch bệnh gây ra bởi các chất chuyển hóa thứ cấp Ngay sau đó, các phiếu đánh giá độc tố đã được mở rộng bao gồm một số lượng lớn các loại nấm độc đã được biết trước đó (ví dụ: ergot alkaloids), một vài hợp chất có nguồn gốc được phân lập như một số chất kháng sinh (ví dụ: patulin), cũng như một số chất chuyển hóa thứ cấp mới được khám phá (ví dụ: ocharatoxin A) Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm

1975, việc định nghĩa cho mycotoxin giống như việc đổ xô đi tìm vàng bởi vì có rất nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu về những tác nhân gây độc này Hầu hết các nấm độc này có liên quan với nhau về mặt hóa học, có khoảng 300 đến 400 hợp chất được công nhận là mycotoxin, xấp xỉ 12 nhóm được chú ý với sự đe dọa đến sức khỏe của con người và động vật Trong khi tất cả các mycotoxin có nguồn gốc từ nấm, nhưng không phải tất cả những hợp chất sản xuất bởi nấm đều được gọi

là mycotoxin (Bennett J.W và Klich M., 2003)

Tác động của mycotoxin lên sức khỏe phụ thuộc vào nồng độ, thời gian phơi nhiễm với chất độc và độc tính của hợp chất, trọng lượng cơ thể riêng biệt, sự hiện hữu của những mycotoxin khác (tác động hiệp lực), yếu tố môi trường (sự quản lí của nông trại) và ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn Tỉ lệ nhiễm và mức độ nhiễm mycotoxin liên quan tới yếu tố địa lí và theo mùa vụ cũng như điều kiện canh tác, thu hoạch, lưu trữ và vận chuyển

2.2 Aflatoxin

Sự phát hiện và phân lập aflatoxin được biết khi điều tra dịch bệnh “bí ẩn” trên gà tây năm 1960, với hậu quả gây chết hàng ngàn gà tây ở nước Anh Nguyên nhân gây tử vong số lượng lớn gà tây và dịch bùng phát ở những trại chăn nuôi khác có liên kết với nhau về việc sử dụng bã dầu đậu phộng bị nhiễm nấm mốc nhập khẩu từ Brazil trong khẩu phần thức ăn của vật nuôi Nghi ngờ có sự xuất hiện của độc tố được tìm thấy khi chiết tách bằng cách sử dụng cloroform Sự hình thành aflatoxin liên quan với

Aspergillus flavus được phát hiện vào năm 1961 Năm 1962, tên gọi “aflatoxin” được

Trang 16

đề xuất với việc kết hợp sử dụng chữ cái đầu tiên trong “Aspergillus” và 3 chữ cái trong từ “flavus” (Agha W Yunus, E Razzazi-Fazeli và Josef Bohm, 2011)

2.2.1 Sự hình thành Aflatoxin

Aflatoxin có mặt trong rất nhiều trong sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các loại hạt có dầu như lạc, hạt bông, đậu tương và ngô Các loại hạt trồng ở vùng khí hậu nhiệt đới dễ nhiễm hơn các sản phẩm ở vùng ôn đới như mạch, mỳ Aflatoxin là một nhóm của mycotoxin và là chất chuyển hóa thứ cấp được sản xuất phổ biến bởi một số loài

Aspergillus nhất định như Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, và rất ít bởi Aspergillus nomius Aflatoxin được sản xuất trong quá trình bảo quản hạt ngũ cốc, tuy

nhiên người ta cũng chứng minh được sự nhiễm aflatoxin trong quá trình thu hoạch, mặc dù hàm lượng aflatoxin trong trường hợp này rất thấp (Rodrigues và ctv, 2007)

2.2.2 Đặc điểm của Aspergillus flavus

2.2.2.1 Phân loại

Giới: Mycotae (Fungi)

Ngành: Amastigomycota (Deuteromycota)

Lớp: Deuteromycetes (Fungi imperfecti)

Bộ: Plectascales = Eurotiales = Aspergillales

Họ: Aspergillaceae

Giống: Aspergillus

Loài: Aspergillus flavus Link (Monilia flava Pers.)

Aspergillus là 1 nhóm lớn gồm hơn 100 loài được xếp thành 18 nhóm loài theo

khóa phân loại thông dụng của Raper và Fennell, 1965 (Lê Anh Phụng, 2002)

2.2.2.2 Đặc điểm hình thái

Loài A flavus rất dễ nhận diện bởi khuẩn lạc có màu vàng hơi lục và ít nhiều

vón cục, đường kính khoảng 3 – 5 cm (sau 7 ngày nuôi cấy trên môi trường Czapek) Cuống sinh bào tử trong suốt, bề mặt thô, xù xì, chiều dài dưới 1 mm Thể bọng hình cầu hay hơi cầu, đường kính 10 – 65 µm Thể bình thường có 2 lớp (40 –

Trang 17

100% số chủng) hoặc 1 lớp hoặc đôi khi cả 2 kiểu cùng có mặt trên 1 bọng Các đính bào tử có kích thước khá lớn (đường kính 5 – 7 µm), hình cầu, màu vàng nâu đến hơi lục, vách trơn láng hoặc hơi nhăn Bào tử có sức đề kháng cao, sống lâu trong điều kiện khô Hạch nấm thường có màu nâu đỏ cho đến đen, gặp ở một số chủng (Đào Huỳnh Anh Nga, 2004)

Hình 2.1 Aspergillus flavus

(a) Bào tử A flavus chụp dưới kính hiển vi điện tử (b) Sự phát triển của A flavus trên hạt bắp

2.2.2.3 Đặc điểm sinh thái

A flavus và A parasiticus phân bố rộng rãi ở khắp nơi (trong đất và trên nông

sản), đặc biệt thích hợp trên các hạt có dầu như đậu phộng, bắp, bo bo và hạt bông vải

là các nông sản thường bị A flavus xâm nhiễm Các loại nguyên liệu ít bị nhiễm bởi A

flavus là lúa mì, gạo, cám, hạt kê, đặc biệt chúng không phát triển nhiều trên đậu

tương Trên sữa, trứng, pho mát ít khi gặp Nhiệt độ 30 – 350C thích hợp cho

Aspergillus nên chúng thường phát triển nhiều trên nông sản ở các nước nhiệt đới (Đào

Xuân Vũ, 2005) Kết quả khảo sát ở Việt Nam của Đặng Hồng Miên và ctv (1992) trên

lúa, gạo, khoai, sắn cho thấy các loài Aspergillus chiếm ưu thế tuyệt đối, đặc biệt trong

giai đoạn tồn trữ

(b) (a)

Trang 18

2.2.3 Những điều kiện thích hợp cho sự sản xuất aflatoxin

Sự hình thành aflatoxin thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học Những yếu tố vật lý bao gồm nhiệt độ và độ ẩm Yếu tố hóa học bao gồm thành phần không khí và chất nền tự nhiên Yếu tố sinh học bao gồm những loài liên quan đến vật chủ (Hesseltine, 1966) Thành phần dinh dưỡng như khoáng (đặc biệt là thiếc), các vitamin, các acid béo, các amino acid và nguồn năng lượng (đáng kể là dưới dạng tinh bột) cần thiết cho việc hình thành aflatoxin Có sự tương quan giữa lượng aflatoxin hình thành với hàm lượng carbohydrate trong nguyên liệu, aflatoxin hình thành nhiều ở những nguyên liệu có hàm lượng carbohydrate cao như là lúa mì và ở mức độ ít hơn là những hạt có dầu như hạt bông vải, đậu nành và đậu phộng (Diener và Davis, 1967)

Nhiệt độ giới hạn cho sự sản xuất aflatoxin bởi A flavus và A parasiticus được ghi

nhận nằm trong khoảng 12 – 410C, với khoảng nhiệt độ tối ưu là 25 – 320C Sự tổng hợp aflatoxin trong thức ăn tăng khi nhiệt độ trên 270C, độ ẩm không khí trên 62% và mức

ẩm độ trong nguyên liệu thức ăn trên 14% (Royes và Yanong, 2002)

2.2.4 Phân loại, cấu trúc và tính chất của aflatoxin

Có 4 loại aflatoxin là B1, B2, G1, G2 Aflatoxin B1, B2 có màu huỳnh quang xanh da trời (blue), trong khi đó aflatoxin G1, G2 có màu huỳnh quang xanh lá cây, chúng có công thức hoàn toàn giống nhau và chỉ khác là nối đôi trong vòng hydrofuran đã bị khử Aflatoxin B1 và G1 có độc tính cao hơn B2 và G2 nhưng aflatoxin nhóm B có độc lực cao hơn aflatoxin nhóm G Gan và thận là cơ quan mục tiêu chính của aflatoxin và chịu tác động gây ung thư All croft và Carnaghan đã tìm thấy trong sữa và thịt bò cũng có các dẫn xuất của aflatoxin B1 và B2, được đặt tên là aflatoxin M1 và M2 Cả hai chất này đều bắt màu huỳnh quang xanh tím Ở gan, thận và nước tiểu của cừu đều tìm thấy những hợp chất như vậy Aflatoxin M1 và AFM2 hiện diện chủ yếu trong sữa (AFM1 với lượng nhỏ được ghi nhận trên trứng) giống như quá trình trao đổi của AFB1 và AFB2 Trong số những aflatoxin, AFB1 là loại thường gặp nhất và nó cũng được xem là có độc lực cao hơn những aflatoxin còn lại (Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003)

Trang 19

Hình 2.2 Cấu trúc của các aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1, M2

(Dhanasekaran D và ctv, 2001)

Bảng 2.1 Tính chất lí hóa của các Aflatoxin

Aflatoxin Công thức Trọng lượng phân tử Điểm nóng chảy Huỳnh quang Aflatoxin B1 C17H12O6 312 268 – 269 Xanh lam Aflatoxin B2 C17H14O6 314 286 – 289 Xanh lam Aflatoxin G1 C17H12O7 328 244 – 246 Xanh lục Aflatoxin G2 C17H14O7 330 229 – 231 Xanh lục Aflatoxin M1 C17H12O7 328 299 Xanh tím Aflatoxin M2 C17H14O7 330 293 Xanh tím

(Townsend, Stubblefield và Beljiaans)

Trang 20

2.2.5 Aflatoxin B 1

2.2.5.1 Sơ lược về cấu trúc, sự hình thành aflatoxin B 1

Hình 2.3 Cấu trúc hóa học của aflatoxin B1

(Bennett J.W và Klich M., 2003)

Aflatoxin, chất trao đổi thứ cấp của nấm Aspergillus spp., thường nhiễm phổ

biến trong nguyên liệu thức ăn gia súc và thực phẩm người ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Mycotoxin được biết là chất gây độc cho gan và chất gây ung thư mạnh, được quy định về liều lượng ở ít nhất 100 quốc gia Về mặt hóa học, aflatoxin là những hợp chất difuranocoumarin, bao gồm AFB1, AFB2, AFG1, AFG2, AFM1 và AFM2 Mycotoxin lây nhiễm ở trên diện rộng trên nhiều sản phẩm nông nghiệp bao gồm bã hạt dầu, hoa quả khô, gia vị và ngũ cốc AFM1 và AFM2 hiện diện chủ yếu trong sữa (AFM1 với lượng nhỏ vẫn được ghi nhận trên trứng) giống như quá trình trao đổi của AFB1 và AFB2 Trong số những aflatoxin, AFB1 là loại thường gặp nhất

và nó cũng được xem là có độc lực cao hơn những aflatoxin còn lại

2.2.5.2 Sự phân phối về mặt địa lý của AFB 1

AFB1 xuất hiện trong nhiều sản phẩm nông nghiệp như gạo, đậu phộng, ngũ cốc, hoa quả khô, những hạt có dầu và lúa mạch, chúng được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, đặc biệt xuất hiện nhiều ở Đông Nam Á và Tiểu sa mạc Sahara ở Châu Phi Những khu vực này có khí hậu ẩm ướt và khô, là điều kiện thích hợp cho sự tăng sinh

của những loài nấm mốc, đặc biệt là A flavus và A parasiticus, các chủng nấm mốc

Trang 21

này là nguồn sản xuất chính AFB1 Hạt lương thực có thể bị nhiễm bởi AFB1 ở một

số giai đoạn, nhưng thường phổ biến nhất là khi cây trồng được phơi nhiễm trong suốt thời gian thu hoạch và lưu trữ, với điều kiện thời tiết nóng và ẩm ướt, tồn trữ không đúng cách và không hợp vệ sinh trong khoảng thời gian kéo dài Lewis và ctv thực hiện khảo sát đánh giá mức độ của sự lây nhiễm trên bắp ở một số khu vực của Kenya vào tháng 4 năm 2004, kết quả cho thấy 55% bắp bị nhiễm với AFB1 Hơn nữa, những vụ bùng phát nhiễm độc aflatoxin cấp tính do hậu quả của việc ăn phải thức ăn bị nhiễm aflatoxin đã được ghi nhận ở Kenya, Ấn Độ và Thái Lan Những nước Tây Phi, bao gồm Ghana, Togo, Nigieria và Benin, AFB1 thường được tìm thấy

ở cả trong thực phẩm cho con người và vật nuôi

AFB1 xuất hiện phổ biến ở khu vực Đông Nam Á và Tiểu sa mạc Sahara ở Châu Phi Gần đây, một cuộc khảo sát thực hiện ở Iran đã chứng minh rằng AFB1 được tìm thấy trong một loại thức ăn truyền thống ở địa phương gọi là “kashkineh”, nó được sử dụng như một loại thuốc cảm lạnh vào mùa đông và mùa thu bởi một số cư dân tại một số khu vực nhất định ở Iran Do đó, có thể nói rằng AFB1 được tìm thấy ở rất nhiều loại thực phẩm tiêu thụ của cả con người và động vật Hơn nữa, sự phân phối của nó thường có mối tương quan với tình trạng kinh tế xã hội, và do đó chúng thường phổ biến ở những nước có mức thu nhập thấp, do điều kiện vệ sinh môi trường kém, việc xử lí thực phẩm không đúng cách và những quy định về thực phẩm không có tính hiệu quả (Abdu Selim Hamid và ctv, 2013)

2.2.6 Sự hấp thu aflatoxin

Hấp thu qua đường tiêu hóa, đôi khi đường hô hấp là giai đoạn đầu tiên của sự xâm nhập độc tố vào cơ thể Do khối lượng phân tử nhỏ và có ái lực với lipid nên AF thường hấp thu theo cơ chể khuếch tán thụ động (Hodgson, 1987 – Lê Anh Phụng, 2002) Các thí nghiệm dùng chất phóng xạ đánh dấu cho thấy AF được hấp thu hoàn toàn ở tá tràng trên khỉ (Conlombe, 1985 – Lê Anh Phụng, 2002) Sau khi được hấp thu qua đường tiêu hóa, độc tố vận chuyển trong hệ tuần hoàn nhờ liên kết với các tế

Trang 22

bào máu hoặc protein huyết tương Đối với AFB1, người ta nhận thấy hơn 90% độc tố dạng liên kết với albumin là thành phần quan trọng của protein huyết tương (Wong,

1980 – Lê Anh Phụng, 2002)

Các nghiên cứu trên chuột cho biết AF cạnh tranh với phenyl butazon ở vị trí gắn với albumin nhưng không cạnh tranh với vị trí gắn của cholate hoặc warfarin (Dirrm, 1981 – Lê Anh Phụng, 2002) Ngoài liên kết có tính thuận nghịch trên, AF còn liên kết với thành phần lysine của albumin huyết tương tạo thành dạng schiffbase (Sabbioni, 1987 – Lê Anh Phụng, 2002)

2.2.7 Sự chuyển hóa aflatoxin trong cơ thể

Hình 2.4 Cơ chế gây độc của AFB1

(Agha W Yunus và ctv, 2011)

Ngoài việc là cơ quan chính của sự tích lũy và trao đổi AFB1, gan còn là nơi AFB1 được chuyển hóa và kết hợp với acid nucleic và protein Thận cũng tham gia một phần vào việc giảm độc tính của aflatoxin Enzyme cytochrome P450 (CYP)

Trang 23

(CYP1A2, CYP3A4 và CYP2A6) trong gan và những mô bào khác chuyển AFB1

thành epoxides (AFB1-8,9-exo-epoxide, và AFB1-8,9-endo-epoxide), AFM1, AFQ1, và chúng là những hình thức giảm của aflatoxicol (Hình 2.4) AFB1-8,9-exo-epoxide có thể hình thành liên kết cộng hóa trị bền vững với DNA và albumin huyết thanh tạo thành sản phẩm cộng tương ứng là AFB1-N7-guanine và lysine Tương tự AFB1, AFM1cũng có thể bị kích hoạt hình thành AFM1-8,9-epoxide gắn với DNA hình thành sản phẩm cộng AFM1-N7-guanine Những sản phẩm cộng guanine và lysine này xuất hiện trong nước tiểu Những chất chuyển hóa AFP1, AFQ1, và aflatoxicol bị bất hoạt sau đó được bài tiết qua nước tiểu, hoặc dạng glucuronyl liên hợp từ ống mật thải ra theo phân (Agha W Yunus, E Razzazi – Fazeli và Josef Bohm, 2011)

2.2.8 Bài thải aflatoxin

AFB1 là một trong những mycotoxin bị chuyển hóa và bài thải nhanh Theo Wong (1980 – Lê Anh Phụng, 2002) thời gian bán hủy (t1/2) của AFB1 trên chuột là 0,48 giờ sau khi được tiêm tĩnh mạch Trong khi đó thời gian này là 72 giờ ở chuột cống và ở gà được cấp AF qua đường tiêu hóa (Bryden, 1999 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002)

Wong và Hsieh đã điều tra sự bài tiết của AFB1 ở chuột nhà, chuột cống và khỉ Những tác giả này nhận thấy sự bài tiết của AFB1 cao trong 24 giờ đầu của sự tiêm nhiễm Tuy nhiên, sự phục hồi của thú khi nhiễm AFB1 là từ 72 – 80% trong suốt 100 giờ đầu của sự tiêm nhiễm AFB1 trong tế bào tăng khi tăng nồng độ độc tố trong khẩu phần nhưng giảm khi tuổi của gia cầm tăng Sự đào thải AFB1 từ mô bào ở gà trưởng thành nhanh so với gà con (Agha W Yunus, E Razzazi – Fazeli và Josef Bohm, 2011) Phần lớn AFB1 được bài thải qua nước tiểu Ở bò 5 ngày sau khi tiêm 1 mg hỗn hợp AF/kg thể trọng vẫn phát hiện AF B1 trong nước tiểu Trong khi đó nước tiểu của cừu có nhiều AFM1 Có lẽ do cừu chuyển hóa AF B1 thành AFM1 mạnh hơn ở bò nên cừu rất cảm thụ với AFB1 hơn bò (Goldbatt, 1969 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002)

Trang 24

Các chất loại thải qua đường mật có liên quan mật thiết đến tuần hoàn gan – ruột Ngoài đường tiểu, đường mật là cơ quan bài tiết quan trọng thứ hai Sau khi được hấp thu và chuyển hóa đến gan, các độc tố không phân cực thường tạo thành dạng liên kết với một gốc hóa học có tính phân cực Các chất được bài tiết qua mật thường ở dạng mang cả 2 tính chất phân cực và không phân cực Khối lượng phân tử là yếu tố quyết định con đường bài thải Dưới ngưỡng đó các chất được bài thải chủ yếu qua nước tiểu

và trên ngưỡng đó được bài thải chủ yếu qua mật Các ngưỡng này ước chừng 300 và thay đổi tùy theo loài thú (325 ở chuột cống, 400 ở thỏ, 500 – 700 ở người) Hoạt động của hệ thống mono – oxygenase thường gây ra gia tăng bài tiết mật do tăng kích thước

tế bào gan và mức giải phóng mật ra (Matthews, 1980 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002)

Sự bài thải qua phân được coi như hậu quả của sự kém hấp thu qua niêm mạc tiêu hóa hoặc do sự bài tiết của mật giúp loại thải độc tố và các chất chuyển hóa của chúng qua ống tiêu hóa

Bài thải qua sữa: trong sữa không có AFB1 mà chỉ khoảng 1 – 3% lượng AFB1

ăn vào được chuyển thành AFM1 trong sữa nhưng khả năng chuyển hóa này còn tùy thuộc vào cá thể thú (Pittet, 1998 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002)

Bài thải qua trứng: độc tố có thể chuyển qua trứng mặc dù đa số được bài thải qua mật và đường ruột

Bảng 2.2 Khả năng chuyển AFB1 từ động vật vào thực phẩm con người

Loài động vật Thực phẩm Loại aflatoxin Tỷ lệ chuyển hóa

Trang 25

2.3 Tác hại của aflatoxin

Cơ quan quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) đã phân loại AFB1 là hợp chất gây ung thư quan trọng nhất (nhóm 1), đặc biệt liên quan đến ung thư tế bào gan AFM1 được xếp vào nhóm 2, chất có khả năng tiềm tàng gây ung thư cho con người bởi IARC (Luciano Polonelli và ctv, 2011)

Cơ chế gây bệnh: aflatoxin có khả năng liên kết với DNA trong nhân tế bào, sự liên kết này gây ức chế trong tổng hợp RNA và ức chế polymerase t-RNA Đây cũng

là nguyên nhân làm suy giảm tổng hợp protein trong tế bào Người ta cũng đã chứng minh rằng vòng α-lacton, β-lacton không bão hòa có trong phân tử aflatoxin làm cho hợp chất này có hoạt tính gây ung thư, và cũng chính vòng lacton này gây ức chế tổng hợp DNA nhân tế bào, do đó nó làm rối loạn tăng trưởng bình thường của tế bào

(Nexterin và Vixarinova, 1971 – Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)

2.3.1 Tác hại của aflatoxin đối với con người

Aflatoxin có độc tính cao, là chất gây đột biến, chất gây quái thai và chất gây ung thư, thường gây ung thư gan và một số cơ quan khác Aflatoxin không chỉ nhiễm vào nguyên liệu thức ăn của con người mà nó còn nhiễm vào sữa, trứng và sản phẩm chăn nuôi thông qua thức ăn của chúng (Khoshpey B và ctv, 2011)

Nhiễm độc cấp tính AF được đặc trưng bởi sốt cao, ói mửa, chân bị phù nề, hoàng đản, chướng bụng, tăng huyết áp, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao Với mức tiêu thụ

AF từ 2 đến 6 mg/ngày/người có thể gây nên nhiễm độc cấp tính (Krishnamachari và ctv, 1975a và 1975b, Keeler và Tu, 1983)

AFB1 có thể gây ung thư tế bào gan (HCC) AFB1 có thể kết hợp với DNA và gây biến đổi cấu trúc DNA, kết quả dẫn đến đột biến gen Một số bằng chứng cho rằng trẻ

em uống sữa mẹ bị nhiễm aflatoxin hoặc ăn những khẩu phần có chứa dầu phộng chưa được tinh chế có thể gây nên hiện tượng xơ gan Trẻ em bị suy dinh dưỡng dễ bị xơ gan khi tiêu thụ những thức ăn bị nhiễm độc (Dhanasekaran D và ctv, 2011)

Trang 26

2.3.2 Tác hại của aflatoxin đối với vật nuôi

Bảng 2.3 Liều gây độc cấp tính của Aflatoxin với vật nuôi

Loài vật nuôi Lứa tuổi hay trọng lượng Liều cho ăn gây chết

0,36 0,30 0,55 0,62

1 tháng tuổi

3 tháng tuổi

250 gam Trưởng thành

2 nămg tuổi

1,0 0,6 – 1,0 1,0 – 1,5 1,36 1,4 2,6 2,2

3 năm tuổi

1 tháng tuổi

6,5 5,5 – 17,4 7,8 10,2

(Theo Pier, 1981 và Cheeke, 1985)

Aflatoxin là chất độc nguy hiểm đối với các loài gia súc, gia cầm và con người, tuy nhiên mức độ hoàn toàn khác nhau Điều đó phụ thuộc vào giống loài, lứa tuổi, giới tính, đường xâm nhập, trạng thái sức khỏe của cơ thể, môi trường và hàm lượng chất độc ăn phải Aflatoxin có thể gây độc cấp tính và mãn tính Aflatoxin gây độc

Trang 27

với gan (Lancaster, 1961) Theo Butter (1963), aflatoxin là chất gây ung thư gan (Liver-Carcinogens) Có thể sắp xếp thứ tự mẫn cảm của các loài giống gia súc, gia cầm với Aflatoxin như sau: vịt > gà tây > gia cầm khác > gà và chó > lợn > bò sữa >

bê > lợn vỗ béo >bò vỗ béo > cừu con (Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003)

2.3.2.1 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên loài cầm

Nhiễm độc aflatoxin gây ra thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên lĩnh vực chăn nuôi gia cầm (vịt, gà thịt, gà đẻ, gà tây và cút) (CAST, 1989) Tính nhạy cảm của gia cầm đối với aflatoxin khác nhau giữa các loài, giống và dòng di truyền So sánh những nghiên cứu về độc tính trên gia cầm cho thấy vịt con và gà tây là loài nhạy cảm nhất với aflatoxin Ngỗng, cút và gà lôi có tính nhạy cảm trung bình trong khi ở gà xuất hiện

khả năng kháng với aflatoxin (Leeson và ctv, 1995) Tính nhạy cảm của các loài được xếp theo thứ tự vịt con > gà tây > ngỗng > gà lôi > gà (Muller và ctv, 1970)

Ở gia cầm, aflatoxin làm suy giảm tất cả các thông số sản xuất quan trọng bao gồm trọng lượng đạt được, hấp thu thức ăn, hiệu quả chuyển đổi thức ăn, tổng hợp sắc

tố, sự sản xuất trứng, hiệu suất sinh sản của cả con trống lẫn mái Tác động trực tiếp và gián tiếp của nhiễm độc aflatoxin bao gồm tăng tỉ lệ tử vong khi có stress nhiệt (broiler

breeders, Dafalla và ctv, 1987a), giảm sản xuất trứng ở gà leghorns, (Bryden và ctv,

1980), tình trạng thiếu máu, xuất huyết (Lamont, 1979), tình trạng tê liệt và què quặt

(Okoye và ctv, 1988), suy giảm hiệu suất trên gà thịt (Jones và ctv, 1982), tăng tỉ lệ tử vong trên vịt, (Bryden và ctv,1980), hiện tượng đi vòng quay và tê liệt ở cút, (Wilson

và ctv, 1975), suy giảm hệ thống miễn dịch ở gà tây (Hegazy và ctv,1991), và tăng tính mẫn cảm với sự nhiễm bệnh (Bryden và ctv,1980 và Calnek và ctv, 1997)

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên vịt

Vịt là vật nuôi mẫn cảm nhất với Aflatoxin có trong thức ăn Liều gây chết 50% thú thí nghiệm (LD50) ở vịt là 0,3 mg/kg Vịt bị nhiễm độc thường bỏ ăn, chậm phát triển, tiếng kêu không bình thường, da chân và da đùi biến thành màu tím, rối loạn vận động, co giật, ưỡn lưng, có thể dẫn đến chết

Trang 28

Các biến đổi cơ quan nội tạng cho thấy: cơ thể bị phù nhẹ, gan xuất huyết, sưng

to, rắn, mật sưng, thận sưng và xuất huyết, tá tràng sưng và chứa dịch rỉ viêm Trong trường hợp cấp tính gan sưng to, màu vàng nhạt, vàng đất thó hay màu xám nhạt Trong trường hợp mãn tính, gan co lại, rắn chắc và xuất hiện các hạt, túi mật sưng to, chảy máu ở lách, thận và dưới da

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên gà

Tính mẫn cảm của gà đối với những tác động của AFB1 khác nhau phụ thuộc vào giống, loài, tuổi, tình trạng dinh dưỡng, liều lượng độc tố hấp thu và khả năng giải độc của gan đối với AFB1 (Edds, 1973; Veltmann, 1984) Nhiễm độc cấp tính aflatoxin trên

gà có thể đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết ở nhiều mô, cơ quan và hoại tử gan

Hình 2.5 Cơ quan, bộ phận trên gà mái đẻ bị nhiễm aflatoxin

(Dhanasekaran D và ctv, 2001)

Trang 29

Số lượng lớn các trường hợp nhiễm độc aflatoxin trên gà đã được phát hiện ở nhiều quốc gia, ổ dịch tự phát nghiêm trọng nhất xảy ra ở miền Bắc Carolina, với 50% trên tổng đàn gà mái đẻ chết trong vòng 48 giờ cho ăn bắp bị nhiễm độc cao chứa 100 ppm aflatoxin (Hamilton, 1971) Giải phẩu khám nghiệm cho thấy gan bị hủy hoại nghiêm trọng với tổn thương gan bị nhạt màu, thỉnh thoảng xuất hiện những điểm lốm đốm trắng và xuất huyết điểm trong khi đó túi mật và ống mật bị phình to

Mức độ aflatoxin B1 trong thức ăn bị nhiễm nấm mốc thường biến đổi từ 0 đến 10 ppm Ở những mức độ thấp của thức ăn bị nhiễm độc tố, những triệu chứng trên gà bị nhiễm thường là suy nhược, giảm trọng lượng tăng trưởng đi kèm với giảm hiệu quả

hấp thụ thức ăn và giảm sản xuất trứng (Smith và Hamilton, 1970; Doer và ctv,1983)

Mức AFB1 thấp từ 250 đến 500 ppb trong thức ăn cho gà New Hampshire ghi nhận được gan bị phá hủy, giảm hemoglobin, và giảm sự tổng hợp protein (Brown va Abrams, 1965)

Thay đổi quá trình chuyển hóa gây ra bởi aflatoxin trên gà là kết quả của việc mức lipid tăng cao (Tung và ctv, 1972; Donaldsonvà ctv, 1972), làm gián đoạn sự tổng hợp protein ở gan (Tung và ctv, 1975) dẫn đến làm rối loạn quá trình đông máu (Doer và ctv, 1976; Bababunmi và Basir, 1982), ức chế hệ thống miễn dịch và giảm nồng độ

amino acid trong huyết tương (Voight và ctv, 1980)

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên gà Tây

Những dấu hiệu lâm sàng ban đầu ghi nhận được trong ổ dịch bùng phát căn bệnh

bí ẩn trên gà tây (1960) là triệu chứng biếng ăn và giảm trọng lượng kèm với sự suy nhược, mất điều hòa và hay nằm một chỗ Gà thường chết trong vòng 1 đến 2 tuần và thường đặc trưng bởi những tổn thương như cổ vẹo, đầu quay ngược về sau và 2 chân

bị bẹt ra (Hamilton và ctv,1972), giảm chuyển hóa thức ăn và trọng lượng đạt được,

giảm các hoạt động tự nhiên, đi đứng không vững, hay nằm một chỗ, thiếu máu và chết

(Siller và Ostler, 1961; Wannop, 1961; Giambrone và ctv,1985; Richard và ctv,1987)

Trang 30

Mổ và khám nghiệm các bộ phận bên trong cơ thể cho thấy xuất hiện tình trạng tắc nghẽn và phù nề Gan và thận bị tắt nghẽn, phình đại và xơ cứng, túi mật đầy, và tá

tràng bị phình to (Calnek và ctv, 1997)

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin đến sự sinh sản và khả năng ấp trứng của gà

Aflatoxin gây trì hoãn sự trưởng thành của cả con đực lẫn con cái (Doerr, 1979; Doerr và Ottinger, 1980) Nhiễm độc aflatoxin trên gà trống leghorn trắng dẫn đến giảm thức ăn tiêu thụ, trọng lượng cơ thể, trọng lượng tinh hoàn và thể tích tinh dịch

(Sharlin và ctv, 1980) và giảm giá trị testosterone trong huyết tương (Sharlin và ctv,1980) Trong khi ở gà giống trống hướng thịt thì xuất hiện sự giảm trọng lượng cơ

thể và triệu chứng thiếu máu nhẹ mà không có sự thay đổi về những đặc điểm của tinh

dịch được ghi nhận (Wyatt, 1991; Briggs và ctv, 1974)

Trên gà mái đẻ trưởng thành bị nhiễm aflatoxin, gan bị phình to và mỡ hóa, giảm

sự sản xuất trứng được ghi nhận (Hamilton và Garlich, 1972) Khả năng ấp nở giảm nghiêm trọng được ghi nhận trên gà mái giống hướng thịt trưởng thành sau khi tiêu thụ aflatoxin (Howarth và Wyatt, 1976) Khả năng ấp nở giảm trước khi sản lượng trứng giảm và là thông số nhạy cảm nhất của aflatoxin nhiễm trên gà mái giống hướng thịt (Howarth và Wyatt, 1976)

2.3.2.2 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên heo

Heo con cực kì mẫn cảm với aflatoxin nhưng khả năng nhạy cảm giảm dần theo

tuổi khi heo lớn lên (Diekman và ctv,1992) Heo nái và nọc thường chịu đựng mức

vượt quá 0,5 ppm aflatoxin trong thức ăn trong thời gian ngắn nhưng khi cho ăn trong thời gian dài, mức độ nhiễm trong thức ăn nên không vượt quá 0,1 ppm (Blaney và Williams, 1991)

Với những mức vượt quá 0,5 ppm trong khẩu phần heo nái trong thời kì thải sữa

sẽ làm giảm tỉ lệ tăng trọng của heo con theo mẹ do xuất hiện aflatoxin trong sữa Dư lượng aflatoxin trong heo tăng trưởng và heo xuất chuồng sẽ tích lũy tăng dần trong gan thậm chí với mức aflatoxin thấp hơn 0,1 ppm trong thức ăn (Osweiler, 1992) Liều

Trang 31

LD50 đối với heo con được xác định là 0,8 mg/kg (Jones và Jones, 1978) Triệu chứng lâm sàng trên heo bao gồm da lông xơ xác, suy nhược, biếng ăn, giảm sự chuyển hóa thức ăn, giảm tỉ lệ tăng trưởng, giảm trọng lượng, suy nhược cơ, run rẩy, thải phân có lẫn máu và chứng vàng da Aflatoxin làm suy giảm hệ thống miễn dịch và do đó làm cho heo tăng tính mẫn cảm của heo đối với những bệnh liên quan tới kí sinh trùng và

bệnh do vi khuẩn (Diekman và ctv, 1992)

Tổn thương đại thể phát hiện thấy chủ yếu ở gan, thận Gan bị biến màu, trở nên xám nhạt, có trường hợp màu vàng nhạt hay vàng đất thó Trong trường hợp mãn tính, gan bị teo hay cứng lại, sần sùi do tổ chức xơ phát triển Ở giai đoạn tiếp theo thường xuất hiện các u hạt nổi trên bề mặt của gan Thận sưng to ở giai đoạn đầu, có màu vàng đất hay màu xám nhạt, sau đó trở nên xơ cứng, teo Chức năng bài tiết bị ảnh hưởng nghiêm trọng Bệnh lý vi thể ở gan cho thấy các dạng thoái hóa và hủy hoại tổ chức Chảy máu ở trung tâm tiểu thùy rất điển hình

2.3.2.3 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên thú nhai lại

Mức AFB1 vượt quá 100 µg/kg trong thức ăn được xem là gây độc cho trâu, bò

(Radostits và ctv, 2000) Ảnh hưởng của aflatoxin khi cho bò ăn phụ thuộc vào mức độ

aflatoxin trong khẩu phần, thời gian cho ăn và tuổi của vật nuôi (Jones và ctv,1994)

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên bê con

Liều LD50 của AFB1 trên bê được ước tính là 0,5 – 1,5 mg/kg Những ảnh hưởng trên bê như là biếng ăn, suy nhược, vàng da, mất sắc tố da, phù nề hàm dưới, tiêu chảy, cuối cùng có thể dẫn đến tử vong Những dấu hiệu sau khi chết cho thấy xuất huyết ở các mô dưới da, trong cơ, các hạch bạch huyết, màng ngoài tim, v.v Gan bị nhợt màu và thân thịt có màu vàng Kiểm tra mô bệnh học trên gan cho thấy các tế bào gan bị phì đại

Bê ăn phải khẩu phần có nhiễm AFB1 trong vài tuần, sự khởi phát của những dấu hiệu lâm sàng diễn ra nhanh Dấu hiệu đặc trưng nhất là mù lòa, đi vòng quanh và té

Trang 32

ngã, kết hợp với co giật hai tai và nghiến răng Mót rặn và lở loét nghiêm trọng trực tràng ở hầu hết các trường hợp và một số trường hợp dẫn đến tử vong

 Ảnh hưởng có hại của aflatoxin trên bò sữa và bò thịt

Những dấu hiệu phổ biến ghi nhận với ngộ độc cấp tính ở bò bao gồm chán ăn, suy nhược, giảm đáng kể sự sản xuất sữa, giảm trọng lượng, hôn mê, cổ trướng, vàng

da, mót rặn, đau vùng bụng, tiêu chảy ra máu, sẩy thai, xuất huyết, v.v Tổn thương gan luôn hiện diện khi nhiễm độc aflatoxin cấp tính Những bệnh tích bao gồm thoái hóa

mỡ gan và hoại tử tế bào với gia tăng xơ hóa, tăng sinh ống dẫn mật và những bệnh tích tắc nghẽn mạch máu khi bệnh tiến triển (Colvin và ctv,1984)

Thêm vào đó, nhiễm độc aflatoxin mãn tính có thể suy giảm hiệu suất sinh sản bao gồm sự bất bình thường trong chu kì động dục (quá ngắn hay quá dài) và hiện tượng sẩy thai, gây ra sự ức chế miễn dịch và tăng khả năng nhạy cảm với bệnh (Cassel

và ctv, 1988) Ở mức aflatoxin cao (4 ppm) có thể gây giảm sự sản xuất sữa trong vòng 1 tuần, trong khi với những mức aflatoxin thấp hơn (0,4 ppm) có thể gây giảm sự sản xuất sữa ở tuần thứ 3 hoặc 4 (Hutjens, 1983)

Nồng độ AFM1 trong sữa dường như phụ thuộc nhiều vào sự hấp thu AFB1 hơn là sản lượng sữa (Vander Linde và ctv, 1965) Tuy nhiên, hàm lượng chất độc xuất hiện trong sữa sẽ tăng nhanh chóng khi sản lượng sữa giảm, khi mà thú tiêu thụ một lượng

độc tố cao (Masri và ctv, 1929) Tỉ lệ trao đổi chất ở gan và tỉ lệ bài thải các chất cặn

bã hàng ngày (nước tiểu và phân) cũng ảnh hưởng đến mức độ độc tố trong sữa (Applebaum và ctv 1982) Aflatoxin cũng có ảnh hưởng đến nhu động dạ cỏ (Cook và ctv, 1986) và chức năng dạ cỏ khi giảm sự tiêu hóa cellulose, sự sản xuất acid béo bay hơi (VFA) và sự tổng hợp protein (Fehr và Delag, 1970; Bodine và Mertins, 1983) Bởi vì sản lượng sữa và sự chuyển hóa của AFB1 trong thức ăn thành AFM1 trong sữa có mối tương quan cao, thí nghiệm được tiến hành để xác định lượng AFM1

chuyển đổi trên giống bò sữa Israeli – Holstein, giống bò có sản lượng sữa/chu kì cao

kỉ lục thế giới 12 con bò giống này được sử dụng để xác định lượng AFM1 chuyển đổi

Ngày đăng: 26/02/2019, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w