DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT BQ Bình quân ĐC Đối chứng FCR Feed Conversion Rate Chỉ số chuyển biến thức ăn HCCS Heo con cai sữa HCSS Heo con sơ sinh LY Đực L x Cái Y: heo nái có cha là Land
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ BỔ SUNG CHẾ PHẨM A-XÍT HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN HEO NÁI GIAI ĐOẠN 84 NGÀY MANG THAI
ĐẾN 27 NGÀY SAU KHI SINH
Sinh viên thực hiện : ĐỖ THỊ THÙY LINH
Niên khoá : 2008 - 2013
Tháng 05/2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y
**************
ĐỖ THỊ THÙY LINH
THỨC ĂN HEO NÁI GIAI ĐOẠN 84 NGÀY MANG THAI
ĐẾN 27 NGÀY SAU KHI SINH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Tháng 05/2013
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: Đỗ Thị Thùy Linh
Tên khóa luận: “Hiệu quả bổ sung chế phẩm a-xít hữu cơ trong thức ăn
heo nái giai đoạn 84 ngày mang thai đến 27 ngày sau khi sinh”
Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các
ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp
Ngày…… tháng……năm… Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm sâu sắc
Con mãi ghi nhớ công ơn của ba mẹ, người đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn
Xin chân thành biết ơn
TS Nguyễn Tất Toàn đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Chú Quang, Chú Trong, Chú Hải, Chị Trang và các cô chú, anh, chị công nhân trong trại đã giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian thực tập tại trại
Xin chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Ban Chủ Nhiệm cùng toàn thể thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình chỉ dạy và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và hoàn thành khóa luận này
Gửi lòng cảm ơn đến
Các bạn thân yêu lớp DH08DY đã động viên, giúp đỡ và chia sẻ cùng tôi những vui buồn, khó khăn trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Đỗ Thị Thùy Linh
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “ Hiệu quả bổ sung chế phẩm a-xít hữu cơ trong thức
ăn heo nái giai đoạn 84 ngày mang thai đến 27 ngày sau khi sinh” được tiến
hành tại trại heo Phú Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai từ ngày 05/11/2012
đến ngày 30/01/2013 Thí nghiệm được tiến hành trên 56 heo nái mang thai giai
đoạn 84 ngày, thuộc giống (LY và YL), lứa đẻ (2 - 5) bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên một yếu tố, lô thí nghiệm (TN) được bổ sung chế phẩm A (Gustor Monogastric®) với liều 1 kg/ tấn thức ăn và lô đối chứng (ĐC) không bổ
sung chế phẩm A Kết quả thí nghiệm thu được như sau:
Trên heo nái
Lô TN có tỷ lệ táo bón và tỷ lệ hao mòn nái thấp hơn so với lô ĐC nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
Tỷ lệ nái bị viêm tử cung ở lô TN thấp hơn lô ĐC (57,14 % so với 71,43 %)
Tỷ lệ lên giống lại của nái lô TN so với lô đối chứng tăng 3,57 % đồng thời lô TN
rút ngắn thời gian lên giống lại sau cai sữa (5,07 ngày so với 5,57 ngày), nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
Khả năng tiết sữa ở lô TN cao hơn so với ĐC (186,71 kg/ nái so với 164,3
kg/ nái) và sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)
Trên heo con
Lô TN có số heo con sinh ra và số heo con còn sống cao hơn so với lô đối
chứng (11,54 con/ ổ so với 10,82 con/ ổ) và (10,93 con/ ổ so với 10,18 con/ ổ) Số
con chọn nuôi ở lô TN tăng 0,85 con/ ổ và số con cai sữa tăng 0,82 con/ ổ so với lô
ĐC, sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,01) và (P < 0,05)
Trọng lượng sơ sinh bình quân của lô ĐC cao hơn lô TN (1,59 kg/ con so với
1,56 kg/ con) Trọng lượng cai sữa bình quân Lô TN cao hơn lô đối chứng (8,17 kg/ con và 7,96 kg/ con), cả hai sự khác biệt này đều không có ý nghĩa về mặt
thống kê (P > 0,05) Tăng trọng tuyệt đối lô TN là 240 g/con/ngày so với lô ĐC là
230 g/con/ngày
Trang 6Tỷ lệ heo con tiêu chảy ở lô đối chứng là 48,35 % cao hơn so với lô TN là 35,85 %, sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,01) Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô ĐC cao hơn lô TN (2,92 % so với 1,97 %) và sự khác biệt này rất có
ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,001)
Thời gian điều trị bệnh sinh sản trên nái sau sinh và tiêu chảy trên heo con theo
mẹ ở lô TN thấp hơn lô ĐC (2,81 ngày/nái so với 3,1 ngày/nái) và (2,19 ngày so với 2,56 ngày trên 1 ca tiêu chảy)
Lô TN giúp tăng lợi nhuận do đã giảm được 866 (VNĐ) chi phí sản xuất 1 heo con, đồng thời cũng giảm 233 (VNĐ) chi phí để sản xuất 1 kg heo con cai sữa
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Trang tựa ……… i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH SÁCH CÁC BẢNG ii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ DINH DƯỠNG HEO NÁI 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý và dinh dưỡng heo nái giai đoạn mang thai 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý và dinh dưỡng heo nái giai đoạn nuôi con 3
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HEO CON THEO MẸ 5
2.2.1 Sự sinh trưởng phát dục 5
2.2.2 Sự hoàn thiện chức năng của các cơ quan ở heo con 6
2.3 Một số bệnh trên nái sau khi sinh 7
2.3.1 Viêm tử cung 7
2.3.1.1 Nguyên nhân 7
2.3.1.2 Phân loại viêm tử cung 9
2.3.1.3 Tác hại viêm tử cung 10
2.3.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung 10
Trang 82.3.2 Viêm vú 11
2.3.2.1 Nguyên nhân 11
2.3.2.2 Biện pháp phòng và điều trị viêm vú 12
2.3.3 Kém sữa, mất sữa 12
2.3.3.1 Nguyên nhân 13
2.3.3.2 Biện pháp phòng và điều trị 13
2.3.4 Hội chứng M.M.A (Metritis, Mastitis, Agalactiae) 14
2.4 Tiêu chảy trên heo con theo mẹ 15
2.4.1 Nguyên nhân 15
2.4.2 Cơ chế sinh bệnh 17
2.4.3 Biện pháp phòng ngừa và điều trị 18
2.5 Sơ lược về việc sử dụng a-xít hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi 19
2.5.1 Các a-xít hữu cơ thường dùng trong chăn nuôi hiện nay 19
2.5.2 Tác dụng chính của a-xít hữu cơ trong chăn nuôi 20
2.5.3 Cơ chế kháng khuẩn của a-xít hữu cơ 21
2.6 Giới thiệu sơ lược về chế phẩm Gustor Monogastric® 22
2.7 Lược duyệt một số công trình đã nghiên cứu 23
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 25
3.1.1 Thời gian 25
3.1.2 Địa điểm 25
3.2 Đối tượng 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Điều kiện thí nghiệm 25
3.4.1 Hệ thống chuồng trại 25
3.4.2 Chế độ dinh dưỡng 26
3.4.3 Chăm sóc nuôi dưỡng heo thí nghiệm 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 27
Trang 93.5.2 Nội dung 1: Khảo sát thành tích sinh sản và tình hình sức khỏe trên nái sau
sinh 27
3.5.2.1 Chỉ tiêu số lượng heo con 27
3.5.2.2 Khả năng tiết sữa 28
3.5.2.3 Thời gian và tỷ lệ nái lên giống lại sau cai sữa 28
3.5.2.4 Quan sát hiện tượng táo bón 28
3.5.2.5 Khảo sát hiện tượng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa 28
3.5.2.6 Hao mòn nái 29
3.5.2.7 Lượng thức ăn tiêu thụ bình quân của nái (TATTBQ/ nái) 30
3.5.3 Nội dung 2: Khảo sát tình hình tiêu chảy và một số chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con theo mẹ 31
3.5.3.1 Khảo sát tỷ lệ bệnh tiêu chảy, tỷ lệ chết và loại thải 31
3.5.3.2 Khảo sát khả năng tăng trưởng của đàn heo thí nghiệm 31
3.5.3.3 Tiêu tốn thức ăn tập ăn trên heo con 32
3.5.4 Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả điều trị tại trại 33
3.5.5 Nội dung 4: So sánh hiệu quả kinh tế 33
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Khảo sát thành tích sinh sản và tình hình sức khỏe trên nái sau sinh 34
4.1.1 Các chỉ tiêu số lượng heo con 34
4.1.2 Khả năng tiết sữa 35
4.1.3 Thời gian và tỷ lệ nái lên giống sau cai sữa 36
4.1.4 Quan sát hiện tượng táo bón 37
4.1.5 Khảo sát hiện tượng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa 38
4.1.6.1 Mức hao mòn trọng lượng nái 41
4.1.6.2 Mức giảm dày mỡ lưng nái trong thời gian nuôi con 42
4.1.7.1 Lượng TATT để sản xuất 1 HCSS, 1 kg HCSS 43
4.1.7.2 Lượng TATT để sản xuất 1 HCCS, 1 kg HCCS, lượng TATTBQ/nái/ngày trong giai đoạn nuôi con 44
Trang 104.2 Khảo sát tình hình tiêu chảy và một số chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con theo mẹ
44
4.2.1 Các chỉ tiêu trọng lượng trên heo con 44
4.2.2 Tỷ lệ bệnh tiêu chảy và tỷ lệ hao hụt 46
4.2.3 Tiêu tốn thức ăn tập ăn và tăng trưởng heo con 47
4.3.1 Liệu pháp phòng và trị 48
4.3.2 Kết quả điều trị 49
4.4 So sánh hiệu quả kinh tế 50
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 KẾT LUẬN 52
5.2 ĐỀ NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 57
Trang 11DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
ĐC Đối chứng
FCR Feed Conversion Rate (Chỉ số chuyển biến thức ăn)
HCCS Heo con cai sữa
HCSS Heo con sơ sinh
LY (Đực) L x (Cái) Y: heo nái có cha là Landrace và mẹ là Yorkshire M.M.A Metritis, Mastitis, Agalactiae (Viêm tử cung, viêm vú, mất sữa)
ME Metabolic Energy (năng lượng trao đổi)
TATT Thức ăn tiêu thụ
TATTBQ Thức ăn tiêu thụ bình quân
T.G.E Transmissible, Gastro, Enteritis (Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm)
TN Thí nghiệm
VNĐ Việt Nam Đồng
YL (Đực) Y x (Cái) L: heo nái có cha là Yorkshire và mẹ là Landrace
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Độ hao mòn của nái theo lứa đẻ……… 5
Bảng 2.2 Tần suất phân lập mầm bệnh gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ… 17
Bảng 2.3 Công thức của một số a- xít hữu cơ……… 20
Bảng 2.4 Thành phần trong 1 kg sản phẩm Gustor Monogastric®……… 23
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm………27
Bảng 4.1 Chỉ tiêu số lượng heo con ……….37
Bảng 4.2 Khả năng tiết sữa của heo nái………35
Bảng 4.3 Thời gian và tỷ lệ nái lên giống sau cai sữa……… 36
Bảng 4.4 Tỷ lệ táo bón trên nái……….37
Bảng 4.5 Tỷ lệ nái mắc bệnh sinh sản……… 38
Bảng 4.6 Mức hao mòn trọng lượng nái……… 41
Bảng 4.7 Mức giảm dày mỡ lưng nái………42
Bảng 4.8 Lượng thức ăn tiêu thụ trên nái……… 43
Bảng 4.9 Các chỉ tiêu trọng lượng trên heo con………44
Bảng 4.10 Tỷ lệ bệnh tiêu chảy và tỷ lệ hao hụt……… 46
Bảng 4.11 Tiêu tốn thức ăn tập ăn và tăng trưởng heo con……… 47
Bảng 4.12 Kết quả điều trị bệnh sinh sản trên nái sau sinh 49
Bảng 4.13 Kết quả điều trị bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ 49
Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế……… 50
DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.1 Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn của a- xít hữu cơ ……….……22
Hình 4.1 Nái viêm tử cung dạng mủ………40
Hình 4.2 Nái viêm tử cung dạng nhờn……….40
Trang 13to lớn Vấn đề đặt ra và được xem là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi là phải có những con thú tốt cung cấp cho chăn nuôi,
có biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ con thú đúng cách nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao Chăm sóc heo nái sinh sản là khâu quan trọng, do nó ảnh hưởng đến việc tạo ra những heo con khỏe mạnh, sức đề kháng tốt, đạt tỷ lệ heo con cai sữa trên ổ và trọng lượng heo cai sữa cao, từ đó tạo tiền đề cho sự tăng trưởng của heo con sau này
Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi như là một biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi, giúp kích thích tăng trưởng và phòng chống dịch bệnh Song, việc lạm dụng kháng sinh dễ dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh, sử dụng kháng sinh thiếu kiểm soát trên gia súc đang là một báo động cho sức khỏe cộng đồng Để thay thế kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, các nước
có nền chăn nuôi tiên tiến đã áp dụng các biện pháp như: bổ sung a-xít hữu cơ, enzyme, chế phẩm trợ sinh (probiotic) và tiền sinh (prebiotic), các chế phẩm giàu kháng thể, kháng sinh thảo dược…vào thức ăn chăn nuôi (Vũ Duy Giảng, 2009) Ngày nay, a-xít hữu cơ đang được dùng phổ biến trong thức ăn công nghiệp So sánh với các thức ăn bổ sung khác, a-xít hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối với thành tích chăn nuôi (Vũ Duy Giảng, 2008) Theo nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng a-xít hữu cơ trên nái và heo con cho kết quả tốt, giúp cải thiện trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa và tăng trọng hàng ngày trên heo con, giảm hội
Trang 14chứng M.M.A trên nái sau sinh (Dương Thanh Liêm và Kenvin, 2001; Vũ Duy Giảng, 2008) Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều chế phẩm a-xít hữu cơ được ứng dụng trong chăn nuôi, trong đó sản phẩm Gustor Monogastric® là một hỗn hợp các a-xít hữu cơ a- xít hóa đường ruột, phòng chống cũng như hạn chế sự kháng thuốc trên các vi khuẩn gây bệnh đường ruột, giúp cho vật nuôi phát triển tối ưu, tăng trọng nhanh, mang lại lợi ích cho người chăn nuôi và nguồn thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng
Nhằm đánh giá hiệu quả của chế phẩm Gustor Monogastric®, được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y Lâm Sàng, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm
TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tất Toàn chúng tôi thực hiện
đề tài: “Hiệu quả bổ sung chế phẩm a- xít hữu cơ trong thức ăn heo nái giai
đoạn 84 ngày mang thai đến 27 ngày sau khi sinh”
1.2 Mục đích
Đánh giá hiệu quả của chế phẩm Gustor Monogastric® từ đó khuyến cáo ứng
dụng chế phẩm này vào chăn nuôi nhằm phòng ngừa bệnh trên nái sau sinh, tiêu chảy trên heo con và cải thiện năng suất trên heo
1.3 Yêu cầu
- Bố trí thí nghiệm với 2 lô: lô thí nghiệm bổ sung chế phẩm và lô đối chứng
không bổ sung chế phẩm
- Ghi nhận tình hình sức khỏe, thành tích sinh sản trên heo nái và hiệu quả
điều trị bệnh sinh sản sau sinh
- Ghi nhận một số chỉ tiêu số lượng và tăng trọng ở heo con
- Tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên heo con
- Hiệu quả điều trị tại trại
- Tính hiệu quả kinh tế
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ VÀ DINH DƯỠNG HEO NÁI
2.1.1 Đặc điểm sinh lý và dinh dưỡng heo nái giai đoạn mang thai
Sau khi phối giống, nếu 21 ngày thấy nái không động dục trở lại xem như đã mang thai Thời gian mang thai trung bình 114 - 115 ngày Căn cứ vào sự phát triển của thai, có thể chia thành 2 giai đoạn:
Chửa kỳ 1(1-84 ngày): thời kỳ này phôi thai còn nhỏ, sử dụng ít dưỡng chất từ
mẹ, heo mẹ hấp thu chất dinh dưỡng chủ yếu để duy trì cơ thể và dự trữ cho việc tạo sữa sau này Nếu thiếu dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ tăng hiện tượng tiêu phôi,
số thai sống ít, khi đẻ chứa nhiều thai gỗ Nếu dư thừa, tỷ lệ chết phôi cao (đặc biệt
35 ngày sau khi phối giống), sự dự trữ của nái nhiều, dẫn đến nguy cơ mập mỡ sinh khó sau này
Chửa kỳ 2 (85-114) ngày): các cơ quan đã hình thành hoàn chỉnh và phát triển nhanh về tầm vóc nên sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu heo mẹ Do đó, thiếu dưỡng chất trong thức ăn của nái sẽ không đủ dự trữ cho kỳ tiết sữa dẫn đến năng suất sữa thấp, làm heo sơ sinh nhỏ vóc, còi cọc, khó nuôi, tỷ lệ hao hụt cao, thời gian động dục trở lại sau cai sữa kéo dài làm giảm số lứa đẻ trên năm và tăng thêm chi phí về thức ăn Nếu dư thừa dưỡng chất, dễ làm chân yếu dẫn đến đè con trong giai đoạn nuôi con, tiết sữa kém vì tuyến mỡ chèn ép tuyến sữa, bào thai lớn vóc dẫn đến nái đẻ khó hoặc đẻ kéo dài cần đến can thiệp kéo thai, móc thai gây tổn thương bộ phận sinh dục làm nái viêm nhiễm (Võ Văn Ninh, 2007; Trần Văn Phùng
và ctv, 2009; Phùng Thị Văn, 2004)
2.1.1 Đặc điểm sinh lý và dinh dưỡng heo nái giai đoạn nuôi con
Trong thời gian nuôi con sự trao đổi chất của nái diễn ra rất mạnh, heo nái phải tập trung dưỡng chất để tiết sữa nuôi con Do đó, nếu nái kém ăn, thức ăn thiếu dưỡng chất thì sữa sẽ ít, heo con đói và nái sụt cân nhanh Ngày heo nái sinh chỉ cho
Trang 16ăn khoảng 0,5 - 1,0 kg thức ăn/ ngày và thêm khoảng 1 kg/ ngày vào những ngày tiếp theo cho đến khi đạt tối đa (Nguyễn Thị Bạch trà, 2003) Khi cho ăn tự do, lượng thức ăn nái ăn được hằng ngày có thể khác nhau dao động từ 3 - 9 kg Thường thì lượng thức ăn tiêu thụ tỷ lệ thuận với số lượng heo con mỗi ổ, ví dụ 2
kg thức ăn cộng thêm 0,4 kg thức ăn tính cho mỗi heo con (Nguyễn Thiện và Vũ Duy Giảng, 2006)
Trong thời gian nái nuôi con cần cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho nái để đáp ứng nhu cầu duy trì và tạo sữa Năng suất sữa của nái phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, thể trạng của nái, số con nuôi trong ổ, điều kiện khí hậu, chăm sóc, nuôi dưỡng và bệnh tật Trong đó, nuôi dưỡng và chăm sóc là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của heo mẹ, vì những chất dinh dưỡng cần thiết đều lấy từ thức ăn, việc nuôi dưỡng trong giai đoạn nuôi con phải cao hơn, nhiều hơn lúc mang thai Cung cấp thức ăn cho nái tiết sữa phải đạt được yêu cầu tăng tối đa sản lượng sữa và giảm thiểu sự mất protein và mỡ trong cơ thể mẹ (Nguyễn Thiện và Vũ Duy Giảng, 2006)
Mức năng lượng cung cấp tùy thuộc vào sức sản xuất sữa, thể trạng của nái, số con trong ổ và số ngày nuôi con Sau khi đẻ, giới hạn lượng thức ăn cung cấp tăng dần và cho ăn tự do vào ngày thứ 4 Heo nái nên ăn ít nhất 5 kg thức ăn/ngày với 3100Kcal ME/kg thức ăn: 16% protein thô; 0,6 % lysin; 0,7 % Ca; 0,6 % P đồng thời phải đủ sinh tố và các chất khoáng Tuy nhiên, lượng thức ăn tiêu thụ thường thấp hơn do các yếu tố ảnh hưởng đến sự ngon miệng của nái như: chất lượng thức
ăn thấp, thời tiết nóng, thể trạng nái Vì thế để nái ăn được lượng thức ăn nhiều cần cung cấp thức ăn có chất lượng và mùi vị thơm ngon, cho ăn nhiều lần trong ngày
3 - 4 lần/ ngày thay vì 2 lần/ ngày (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997) Theo Võ Văn Ninh (2003), nái nuôi con trong tháng đầu thường giảm trọng 10% trọng lượng cơ thể, thức ăn xấu có thể làm nái giảm trọng nhiều hơn và làm nái chậm động dục trở lại sau cai sữa Trong thời gian nuôi con mức giảm trọng có thể chấp nhận được là 20 % trọng lượng cơ thể nái (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
Trang 17Theo Trương Lăng (2000), sự hao mòn nái bình quân 15 % trọng lượng cơ thể
là bình thường Hao mòn cơ thể nái phụ thuộc vào lứa đẻ, tăng dần từ lứa 1 đến lứa
5 và giảm dần ở các lứa sau
Bảng 2.1 Độ hao mòn của nái theo lứa đẻ
(Theo Trương Lăng, 2000)
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HEO CON THEO MẸ
2.2.1 Sự sinh trưởng phát dục
Heo con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh, do cơ
thể còn non nên cường độ trao đổi chất mạnh, sự đồng hóa lớn hơn dị hóa heo con
phát triển một cách mạnh mẽ Càng non cơ thể càng tích lũy các chất dinh dưỡng
nhiều, đặc biệt là protein Cụ thể: heo con ở 3 tuần tuổi, mỗi ngày có khả năng tích
lũy 9 - 14g protein/ 1 kg khối lượng cơ thể, trong khi đó heo trưởng thành chỉ tích
lũy được 0,3 - 0,4g protein/ 1 kg khối lượng cơ thể (Nguyễn Văn Hiền, 2002) Hơn
nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thể, heo con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn
ít thức ăn hơn heo lớn Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản
xuất ra 1 kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1 kg mỡ (Trần Văn
Phùng và ctv, 2009)
Heo con giai đoạn theo mẹ sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua
các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm Có sự giảm này là do nhiều
nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa của heo mẹ bắt đầu giảm và hàm
lượng hemoglobulin trong máu heo con cũng giảm (Trần Văn Phùng và ctv, 2009)
Ở trạng thái sinh lý bình thường, heo con càng lớn thì càng cần bú nhiều sữa mẹ,
nhưng sức tiết sữa của heo mẹ chỉ đạt đỉnh cao nhất lúc 3 tuần tuổi sau đó giảm dần
theo độ dài tiết sữa nuôi con Đây là một mâu thuẫn giữa nhu cầu về dinh dưỡng của
heo con với khả năng cung cấp sữa của heo mẹ Để khắc phục tình trạng này cần tập
cho heo con ăn sớm (Nguyễn Văn Hiền, 2002)
Trang 182.2.2 Sự hoàn thiện chức năng của các cơ quan ở heo con
Khi mới sinh ra, cơ thể heo con phát triển chưa hoàn chỉnh, các chức năng chưa hoàn thiện, khả năng thích nghi kém khi bị chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, đặc biệt là hệ thần kinh, do đó heo con phản ứng rất chậm với các yếu tố tác động lên chúng
Bộ máy tiêu hóa heo con trong giai đoạn theo mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh, lúc này heo chỉ nhận nguồn dinh dưỡng để phát triển từ nguồn sữa mẹ Đầu tiên, chymosin của dịch vị chịu trách nhiệm đông vón và phân giải sữa Khi heo con lớn
lên thì pepsin dịch vị phân giải protein Nhóm vi khuẩn Lactobacillus trong dạ dày
và ruột sử dụng đường lactose trong sữa để sản sinh ra a-xít lactic làm giảm pH trong dạ dày, làm cho quá trình tiêu hóa tốt hơn và ngăn cản sự phát triển của những
vi khuẩn có hại khác
Heo con 10 ngày tuổi có dung tích dạ dày tăng gấp 3 lần lúc mới sinh, đến 20 ngày tuổi là 0,2 lít, dịch vị tiết ra tương ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999) Theo Trần Văn Phùng và ctv (2009), dung tích ruột non của heo con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Ở heo con mới sinh, sự phân tiết các enzyme tiêu hóa ở dạ dày và ruột non rất kém Trong 2 tuần đầu tiên, heo con không sử dụng được gluxít do thiếu enzyme amylase của tuyến tụy và maltase của ruột Amylase của nước bọt tiết nhiều nhất vào lúc 2 - 3 tuần tuổi, sau đó giảm 50 %, lúc này thì amylase của tuyến tụy tiết mạnh nhất ở 3 - 5 tuần tuổi Khả năng tiết a-xít chlohyric (HCl) của dạ dày rất ít, chỉ
đủ để hoạt hóa pepsinogen thành pepsin, do pepsin hoạt động yếu, sự tiêu hóa protein của sữa phải nhờ vào enzyme trypsin của tuyến tụy (Nguyễn Như Pho, 2001)
Những ngày đầu sau khi sinh, trong ruột heo con xảy ra quá trình hấp thu kháng thể từ sữa mẹ và những tiểu phần protein khác bằng con đường vận chuyển chọn lọc chủ động bằng phương pháp ẩm bào Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu mà không gây hại cho heo con vì trong thời gian này heo con chưa
Trang 19có khả năng sản xuất ra kháng thể (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985) Theo Trần Thị Dân (2003), sự hấp thu kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4-12 giờ sau khi bú sữa đầu Kháng thể có thể tăng trong máu heo con vào 3 giờ sau khi sinh Nếu heo con bú sữa đầu và hấp thu kháng thể tốt, hiệu giá kháng thể trong máu heo con ở 24 giờ sau khi sinh gần bằng hiệu giá trong máu heo mẹ Khoảng 48 giờ sau khi sinh, ruột không còn hấp thu kháng thể Cơ chế này có thể giúp cho đường ruột heo con không hấp thu những chất gây bệnh
Khi còn là bào thai, đường ruột heo con hầu như vô khuẩn, ngay sau khi mới được sinh ra, heo con đã bị lây nhiễm các vi sinh vật trong môi trường và từ cơ thể
mẹ, trong đó có nhiều vi khuẩn cơ hội và vi khuẩn gây bệnh Nếu các vi sinh vật bất lợi này xâm nhập vào cơ thể trước khi heo con hấp thu kháng thể sữa đầu, trong lúc hệ miễn dịch của heo con chưa phát triển, thì heo con dễ mắc bệnh, biểu hiện nhiều nhất là tiêu chảy Do đó, nếu được bú sữa đầu ngay sau khi sinh, kháng thể
mẹ truyền qua sữa sẽ giúp heo con chống lại vi sinh vật gây hại, khỏe mạnh và tăng
trưởng tốt trong giai đoạn theo mẹ
2.3 Một số bệnh trên nái sau khi sinh
Theo Võ Văn Ninh (2003), trong thời gian mang thai tránh để nái dư thừa dưỡng chất dẫn đến nái mập và dễ mắc hội chứng M.M.A sau khi sinh, do nái mập
Trang 20thường lười rặn, đẻ chậm dễ gây ngộp thai Khẩu phần thiếu vitamin làm tăng nguy
cơ gây bệnh viêm vú và viêm tử cung trên nái, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của heo nái, giảm khả năng đề kháng với bệnh và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002), khi thiếu vitamin A thì lớp tế bào niêm mạc tử cung, cổ tử cung, ống dẫn trứng bị hoái hóa, sừng hóa làm cho bào thai bị chết khô trong tử cung, tạo điều kiện nhiễm trùng gây nên hội chứng M.M.A Vitamin E có chức năng bảo vệ tế bào bạch cầu và đại thực bào, nhờ đó làm tăng khả năng chống
sự nhiễm trùng Sự hạn chế thức ăn trong thời kỳ mang thai ngoài việc giúp heo nái
có thể trạng tốt, tránh mập mỡ, còn giúp quá trình sinh đẻ diễn ra bình thường tránh được chứng đẻ khó phải can thiệp là nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung sau sinh (Tengerdy và ctv, 1997; McTntosh, 1996; dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 2002b) Trong thời gian mang thai và sau khi sinh, chất xơ là yếu tố cần thiết trong khẩu phần nái Heo nái được nuôi trong môi trường công nghiệp, ít vận động, cho ăn hạn chế lúc mang thai nên nhu đông ruột kém, phân đọng lâu trong ruột già dễ mắc hội chứng M.M.A sau khi sinh (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Do tuổi đẻ và tình trạng sức khỏe
Nái đẻ lứa đầu khung xương chậu hẹp, phát triển chưa hoàn thiện sẽ gây tình trạng đẻ khó, nái rặn đẻ nhiều làm tổn thương niêm mạc đường sinh dục, kết hợp với sự can thiệp của người đỡ đẻ làm trầy xước niêm mạc đường sinh dục gây viêm tử cung Nái già sức đề kháng giảm sút, rặn đẻ kém làm ứ đọng sản dịch trong đường sinh dục tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển
Nái có thể trạng yếu thường dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm trong thời
gian mang thai như: Parvovirus, Leptospirosis, Brucellosis gây sẩy thai làm tăng
nguy cơ gây viêm tử cung Nái mắc bệnh nhiễm trùng mãn tính thận, bàng quang và đường niệu, với sự hiện diện vi khuẩn trong phân và nước tiểu có thể xâm nhiễm vào tử cung gây viêm (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Mỹ Chân, 2010)
Do vi sinh vật
Sau khi sinh, cổ tử cung mở, sản dịch ứ đọng lại trong tử cung là điều kiện lý tưởng cho vi sinh vật sinh trưởng và phát triển Theo điều tra của Nguyễn Như Pho
Trang 21(1999), các vi khuẩn gây viêm tử cung là những vi sinh vật cơ hội có nhiều ở môi
trường như: Escherichia coli, Streptoccocus spp., Staphylococcus spp., Klebsiella
spp., Citrobacter spp., Pseudomonas spp.…gây viêm tử cung Corynebacterium pyogenens là nguyên nhân thường xuyên gây viêm tử cung có mủ trên nái, viêm tử
cung mãn thường do Staphylococcus (Runell và cộng sự, 2001, trích dẫn bởi
Nguyễn Thị Thu Đông, 2011)
Do tiểu khí hậu chuồng nuôi
Chuồng trại thiết kế không hợp lý, không đủ độ dốc, ứ phân, nước tiểu và các chất dơ bẩn là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển Thời tiết quá nóng hay quá lạnh, biên độ dao động nhiệt lớn, ẩm độ không khí cao đều ảnh hưởng đến sức khỏe của nái nhất là trong thời gian mang thai
Nhiệt độ quá nóng sẽ gây stress nhiệt dẫn đến xáo trộn sinh lý làm giảm tỷ lệ protein, creatinin và ure huyết tương Khi nhiệt độ chuồng nái trên 300 C có nguy cơ dẫn đến chết thai trong bụng mẹ Điều kiện môi trường thay đổi, thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian sinh đẻ dễ dẫn đến chứng viêm tử cung Ẩm độ thích hợp cho các loại gia súc là 70 – 75 %, nhiệt độ tối ưu cho lợn nái nuôi con là
20 - 220 C, tốc độ lưu thông không khí là 0,03 m/ giây (Nguyễn Thiện và Hoàng Kim Giao, 1996)
2.3.1.2 Phân loại viêm tử cung
Dạng viêm nhờn: là thể viêm nhẹ, thường xuất hiện ở giai đoạn đầu 1 – 3 ngày sau khi sinh Ở dạng này niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch nhờn trong hoặc đục, lợn cợn, có mùi tanh, thường sau vài ngày dịch tiết giảm dần và đặc lại Heo nái không sốt hay sốt nhẹ, nái vẫn cho con bú và ăn bình thường Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sức khỏe của nái cũng như sự phát triển của heo con (Nguyễn Như Pho, 2002b)
Dạng viêm mủ: là thể viêm nặng, nguyên nhân do một số vi sinh vật xâm nhiễm vào tử cung, kết hợp sức đề kháng kém hay dạng viêm nhờn kế phát Heo nái thường sốt 40 – 410C, nái tăng hô hấp, nằm nhiều, kém ăn và khát nước Lúc đầu dịch viêm màu trắng đục, sau chuyển sang dạng nhày đặc có màu vàng và lợn cợn
Trang 22Về sau mủ chảy ra nhiều hơn có màu vàng hay xanh đặc đôi khi có lẫn máu, mùi rất hôi tanh Bệnh thường kéo dài 4 – 5 ngày, sau đó mủ đặc lại dính mép âm hộ Nếu không can thiệp kịp thời sẽ chuyển sang dạng viêm rất nặng Kết quả khảo sát cho
thấy Staphylococci, Diplococcus, E coli, Streptococci là các vi khuẩn chính gây
viêm dạng mủ (Nguyễn Như Pho, 2002 b)
Dạng viêm mủ lẫn máu: Thành tử cung viêm nặng dễ rách, có nhiều tiết vật chảy ra mùi rất hôi tanh và thối, dịch viêm có màu xám đen lẫn máu hay xác tế bào Nái sốt cao 40 – 410 C bỏ ăn nhiều ngày, tần số hô hấp tăng, sản lượng sữa giảm dần hoặc mất hẳn, nái khát nước, mệt mỏi hay nằm không cho con bú và hay đè con Có thể chết do nhiễm trùng máu nếu không chữa trị kịp thời (Nguyễn Văn Thành, 2002)
2.3.1.3 Tác hại viêm tử cung
Trên heo mẹ: nái suy yếu, giảm sức đề kháng, sản lượng sữa giảm, ít hoặc không cho con bú và hay đè con Tổ chức tế bào nội mạc tử cung thay đổi làm ảnh hưởng đến sự phân tiết prostagladine ở tử cung, gây tác động lên buồng trứng, tiêu hủy hoàng thể làm khả năng thụ thai giảm, khả năng nuôi thai trong tử cung không bình thường, số con sơ sinh các lứa sau giảm đáng kể, viêm tử cung dẫn đến viêm buồng trứng gây chậm động dục và vô sinh (Nguyễn Văn Thành, 2004)
Trên heo con theo mẹ: sản lượng sữa trên heo mẹ giảm nên heo con thiếu sữa, còi cọc, chậm lớn, khả năng chống bệnh kém, tiêu chảy do liếm phải sản dịch viêm của mẹ, dẫn đến chậm tăng trưởng, sức đề kháng kém và có thể chết
2.3.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung
Phòng ngừa
Để hạn chế tình trạng viêm tử cung trên heo nái thì khâu quản lý – chăm sóc là rất quan trọng Bên cạnh đó viêc vệ sinh sát trùng cần được thực hiện thường xuyên và đồng bộ, hạn chế sự hiện diện vi sinh vật có hại ở môi trường Tạo điều kiện môi trường sống phù hợp cho nái trong giai đoạn mang thai và sinh đẻ cùng với chế độ ăn uống hợp lý sẽ giảm thiểu được viêm tử cung Áp dụng quy trình vệ sinh chăm sóc heo nái nghiệm ngặt, nhất là vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể nái
Trang 23trước khi sinh, thụt rửa tử cung sau sinh, sử dụng nguồn nước sạch và cung cấp đủ cho nái, bấm răng, cho con bú ngay sữa đầu, ghép bầy khi nái nuôi con ít, quy trình này có hiệu quả tốt trong việc giảm M.M.A và tỷ lệ tiêu chảy trên heo con (dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 2002b)
Điều trị
Việc điều trị phải tiến hành càng nhanh càng tốt khi nái có dấu hiệu sốt cao và tiết dịch viêm Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh có phổ rộng như: genta-tylosin, enrofloxacin, amoxicilline, nhóm tetracylin, hỗn hợp penicillin và streptomycin, cần kết hợp các biện pháp: thục rửa tử cung, chích oxytocine phòng, cung cấp vitamin
C, thuốc hạ sốt và truyền dịch để tăng cường đề kháng cho nái Cho nái uống nước đầy đủ, thức ăn ngon miệng và dễ tiêu (Nguyễn Như Pho, 2002a)
Nếu việc điều trị chậm trễ sẽ dẫn đến kéo dài thời gian điều trị, tử cung viêm nhiễm nặng hơn, độc tố vi khuẩn vào máu, gây nhiễm trùng máu và nái có thể chết
2.3.2.1 Nguyên nhân
Viêm vú thường xảy ra do sự chăm sóc, quản lý không tốt tạo điều kiện cho sự
kế phát nhiễm trùng Nền chuồng nhám hay heo con sơ sinh không được bấm răng
kỹ sẽ làm tổn thương núm vú và bầu vú tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập và gây viêm Theo Nguyễn Như Pho (2002a), số heo con quá ít không bú hết lượng sữa do nái sản xuất, do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý hoặc do nái ăn nhiều đạm trong thời gian mang thai sữa được tiết nhiều, heo con bú không hết đều
là nguyên nhân dẫn đến viêm vú
Trang 24Viêm vú thường do nhiều yếu tố tác động nhưng chủ yếu là do nhiễm trùng kế
phát các vi sinh vật như E coli, Klebsiella spp., Enterobacter spp., Citrobacter spp.,
Staphylococcus spp., và Pseudomonas aeruginosa Hầu hết những vi sinh vật kể
trên là những vi sinh vật cơ hội có trong môi trường xung quanh nái, chúng lợi dụng khi bầu vú tổn thương sẽ xâm nhập vào bầu vú gây viêm Theo Nguyễn Như Pho (2002b), thì hai vi khuẩn gây bệnh chính là Staphylococcus aureus và Streptococcus
Điều trị
Khi điều trị không kịp thời hoặc không hợp lý sẽ dẫn đến xơ hóa, teo bầu vú, giảm sản lượng sữa ở kỳ sau Như vậy, để điều trị có kết quả cần tiến hành cấp thuốc sớm, nên sử dụng các loại kháng sinh mẫn cảm với vi khuẩn gây bệnh Theo Nguyễn Như Pho (2002a), các kháng sinh hiệu quả trong điều trị bệnh viêm vú là
ampicillin, cephalexin, gentamicin, norfloxacin kết hợp với corticoid để làm giảm
viêm, tuy nhiên chỉ cấp kháng sinh trong vòng 2 - 3 ngày Trường hợp heo nái bị viêm vú gây kém sữa sau sinh có thể sử dụng oxytocin và gluconate calcium để sự xuống sữa dễ dàng hơn giúp cho heo con bú được sữa đầu
2.3.3 Kém sữa, mất sữa
Chứng mất sữa thường đi kèm trong các bệnh gây sốt cao như viêm tử cung dạng có mủ, viêm phổi, thường xảy ra ngay sau khi đẻ 1 – 2 ngày, có nái sau 1 tuần sữa giảm dần rồi mất hẳn Trong bệnh viêm tử cung dạng nhờn, viêm vài bầu
Trang 25vú, sự mệt nhọc do sinh đẻ chỉ làm kém sữa trong một thời gian ngắn (2 – 3 ngày) Khi vắt sữa không thấy sữa chảy ra, vú thường teo lại, nếu bị viêm thì sưng cứng Heo mẹ xuống sữa ít khi cho con bú, heo con la nhiều và gầy ốm Theo Trần Thị Dân (2003), hội chứng kém sữa có thể xảy ra sau khi sinh vài ngày hoặc sau thời gian nái tiết sữa tốt trong 10 – 14 ngày đầu tiên của giai đoạn nuôi con
2.3.3.1 Nguyên nhân
Do kế phát một số bệnh sản khoa như viêm tử cung, sót nhau, cơ thể sốt cao liên tục 2 – 3 ngày, nước trong máu và mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa giảm dần dẫn đến mất sữa
Kế phát từ bệnh viêm vú, vú bị sưng dẫn đến mất sữa Từ giai đoạn mang thai đến lúc đẻ, khẩu phần nái không đủ protít, gluxít, lipít, khoáng, vitamin như bột cá, bột thịt, rau xanh, các khoáng Ca, P, Cu, Fe để cung cấp nguyên liệu cho tạo sữa
Do suy nhược một số cơ quan nội tiết tố như tuyến yên, tuyến giáp trạng làm lượng hormon prolactin, lacthormone, thyroxin giảm dẫn đến khả năng tạo sữa và khả năng trao đổi chất protít kém nên sản lượng và chất lượng sữa giảm (Phùng Thị Văn, 2004)
2.3.3.2 Biện pháp phòng và điều trị
Phòng bệnh
Bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày đủ chất đạm, khoáng, vitamin Nái sau khi sinh nên cho ăn thức ăn nhiều nước như rau lang, rau muống, cà rốt, chuối cần bơm rửa tử cung để phòng viêm tử cung và sót nhau trên nái sau khi sinh Nếu bị viêm tử cung hoặc viêm vú phải điều trị triệt để (Phùng Thị Văn, 2004)
Điều trị
Các trường hợp mất sữa thường rất khó điều trị Chỉ trong trường hợp kém sữa dùng biện pháp kích thích heo nái ăn, cung cấp đủ nước uống, chích oxytocin Vì vậy nếu heo nái bị viêm tử cung, sót nhau hoặc viêm vú phải điều trị ngay, vì đó là những nguyên nhân gây mất sữa sau khi sinh
Trang 262.3.4 Hội chứng M.M.A (Metritis, Mastitis, Agalactiae)
Hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa hay hội chứng rối loạn tiết sữa trên heo nái sau khi sinh là tập hợp các dấu hiệu lâm sàng của nái từ 12 – 18 giờ sau sinh bao gồm hiện tượng sốt, tử cung tiết nhiều dịch viêm, vú sưng cứng, nóng và
đỏ, lượng sữa giảm hay mất sữa được gọi là hội chứng M.M.A Trên từng cá thể bệnh có thể xuất hiện với từng triệu chứng riêng biệt hoặc kết hợp 2 – 3 triệu chứng cùng một lúc Trong đó, chứng viêm tử cung thường xuất hiện với tần số cao nhất (Đặng Đắc Thiệu, 1978)
Hội chứng M.M.A gây ra những thiệt hại lớn trong chăn nuôi heo: làm giảm khả năng sinh sản của nái ở các chu kỳ sinh sản tiếp theo, gây ảnh hưởng trên đàn heo con theo mẹ: heo con không đủ sữa bú, giảm tăng trưởng và tăng tỷ lệ heo con chết ở giai đoạn theo mẹ Tăng chi phí giá thành và giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi
Cơ chế gây hội chứng M.M.A
Nhiễm trùng đường tiểu hay nhiễm khuẩn trong thức ăn Thú bị táo bón
Giải phóng các acid amin sinh học Nhiễm vi khuẩn
Vào máu Vào máu
Gây viêm, đau sốt Giảm sản xuất prolactin
Hội chứng M.M.A
Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây hội chứng M.M.A (Nguyễn Văn Thành, 2002)
Trang 272.4 Tiêu chảy trên heo con theo mẹ
2.4.1 Nguyên nhân
Do heo con
Đặc điểm sinh lý heo con trong những ngày đầu chưa kịp thích nghi với môi trường Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chình về chức năng và cấu trúc, các men tiêu hóa chưa đầy đủ, còn nghèo về số lượng và chất lượng, HCl phân tiết ít làm cho pH trong dịch đường tiêu hóa cao, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển
và gây bệnh (Kvanhixki, 1960; dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 1995)
Do heo con thiếu sắt, mỗi ngày heo con cần 7 mg sắt, nhưng sữa heo mẹ chỉ cung cấp 1 mg sắt mỗi ngày Heo con dự trữ sắt ít (30 mg) vì màng nhau thai là hàng rào hạn chế sự vận chuyển từ mẹ sang bào thai (Nguyễn Như Pho, 1995) Trong khi đó tốc độ sinh trưởng của heo con rất nhanh, lượng máu phải tăng lên cho phù hợp, sự thiếu sắt sẽ làm ngưng trệ quá trình thành lập hemoglobine của hồng cầu dẫn đến thiếu máu và tiêu chảy
Khả năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với
sự thay đổi của thời tiết, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ẩm độ chuồng nuôi cao sẽ dẫn đến tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1985) Heo con sơ sinh lớp mỡ dưới da rất ít và thiếu mỡ nâu nên khả năng sinh nhiệt kém Mặt khác, diện tích bề mặt lớn hơn so với trọng lượng cơ thể nên heo con dễ bị mất nhiệt và rất nhạy cảm với lạnh Khi stress lạnh kéo dài, heo con dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2003)
Theo Võ Văn Ninh (2003), thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu chảy Hai thời điểm mà heo con sốt và tiêu chảy với tỷ lệ cao nhất là lúc 10 – 17 ngày tuổi và 23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 ở hàm dưới và răng sữa tiền hàm số 4 ở hàm trên Đặc tính hay liếm láp trên sàn nuôi nước đọng, dịch viêm và thức ăn của heo mẹ nên dễ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh đường ruột có sẵn trong môi trường dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy
Trang 28Do heo mẹ
Theo Nguyễn Như Pho và Lê Minh Trí (1995), những heo nái mắc hội chứng M.M.A heo con bú sữa có sản dịch viêm hoặc liếm dịch viêm tử cung dính trên nền chuồng sẽ bị viêm ruột dẫn đến tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa heo con được bú ít hoặc không được bú sữa đầu thường có sức đề kháng kém nên
dễ phát sinh bệnh
Trường hợp những heo mẹ tốt sữa, sữa nhiều và giàu dinh dưỡng, heo con bú nhiều không tiêu hóa kịp dẫn đến những dưỡng chất khó tiêu bị đẩy xuống ruột già Đây là môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại gây bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ (Võ Văn Ninh, 2003)
Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật là tiền đề cho vi sinh vật phụ nhiễm dẫn đến viêm nhiễm Thiết kế chuồng trại không phù hợp, làm ẩm ướt mưa tạt gió lùa, sự biến đổi đột ngột của thời tiết đều có thể gây tiêu chảy cho heo con Theo Nguyễn Như Pho (1995), nhiệt độ úm heo trong tuần đầu không đủ, bấm răng không kỹ nên khi heo con bú làm trầy xước vú mẹ và gây viêm nhiễm Heo con bú sữa viêm sẽ bị tiêu chảy hoặc do thức ăn của heo mẹ kém phẩm chất nên ảnh hưởng đến chất lượng sữa
Do vi sinh vật
Vi sinh vật là nguyên nhân luôn hiện diện trong mọi trường hợp của bệnh tiêu chảy trên heo con Nhiễm trùng đường ruột do mầm bệnh có sẵn trong chuồng trại, mầm bệnh từ heo mẹ truyền sang hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống
Người ta chứng minh virút cũng là tác nhân gây tiêu chảy như: Rotavirus,
Enterovirus, Coronavirus Các độc tố nấm men, nấm mốc trong thức ăn cũng gây
tiêu chảy Ký sinh trùng tác động thông qua việc tranh chấp dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công Theo Lê Minh Chí (1981); Đào Trọng
Đạt và ctv (1964) cho rằng E coli là tác nhân gây bệnh quan trọng so với nhiều vi
sinh vật gây bệnh tiêu chảy khác (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2001)
Trang 29Bảng 2.2 Tần suất phân lập mầm bệnh gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ Mầm bệnh Tỷ lệ (%)
Nguyên nhân gây bệnh
Niêm mạc đường ruột Tiêu chảy, giảm sức đề kháng
Rối loạn tiêu hóa
Trang 30Từ các nguyên nhân gây bệnh đã trình bày sẽ tác động lên niêm mạc ruột gây viêm ruột, kích thích nhu động ruột gây tiêu chảy Tiêu chảy làm mất nước dẫn đến rối loạn cân bằng điện giải, máu bị cô đặc, đồng thời làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, rối loạn tiêu hóa, dẫn đến cơ thể heo con nhiễm độc, thú bị suy nhược nặng do cơ thể mất nước gầy nhanh, mắt hõm, bụng tóp, heo con lười bú nên thiếu dinh dưỡng, chất dự trữ của cơ thể giảm, heo suy nhược nhanh và chết
2.4.3 Biện pháp phòng ngừa và điều trị
Phòng bệnh
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), để phòng chống tiêu chảy cho heo con cần: giữ ấm cho heo con; vệ sinh chuồng trại sạch sẽ khô ráo tránh làm ướt lạnh heo con mới sinh; có chế độ dinh dưỡng phù hợp cho nái, heo con, hạn chế stress cho heo và thực hiện tiêm tiêm phòng đầy đủ trên heo mẹ lẫn heo con Nguyễn Như Pho (1995), cho rằng nên chích sắt cho heo con đúng liệu trình, tập ăn sớm cho heo con,
bổ sung vào thức ăn các chế phẩm sinh học như: Biolactyl (Lactobacillus
acidophilus, Lactobacillus casei); Biosubtyl (Bacillus subtilis) nhằm ức chế vi
khuẩn gây bệnh và kích thích vi khuẩn có lợi phát triển
Straw và cộng sự, 1999 (dẫn liệu Nguyễn Thị Mỹ Chân, 2010) cho biết tỷ lệ tiêu chảy ở heo con theo mẹ giảm khi sử dụng probiotic làm thuốc phòng trị, giảm
pH của thức ăn bằng cách bổ sung các a-xít hữu cơ A-xít hữu cơ của chế phẩm được hấp thu vào cơ thể, tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng và rất an toàn khi đào thải Các a-xít hữu cơ tốt cho tiêu hóa như: a-xít photphoric, a-xít lactic, propionic, butyric, formic (dẫn liệu bởi Đỗ Giang Sơn, 2008)
Điều trị
Nguyên tắc điều trị chung là phát hiện bệnh sớm, điều trị nhanh và tích cực Theo Nguyễn Như Pho (1995), cần cung cấp năng lượng, chất điện giải và sinh lý ngọt cấp vào xoang bụng Tiêm hoặc cho uống kháng sinh để ngăn chặn vi sinh vật
có hại phát triển như nhóm: polypeptid (colistin), quinolone (enrofloxacine), cấp vitamin và bổ sung khoáng chất
Trang 31Sau khi bệnh giảm và ngưng liệu trình kháng sinh được 24 giờ thì nên dùng các chế phẩm vi sinh như: Biolactyl, Biosubtyl hòa nước cho uống để phục hồi hệ
vi sinh vật đường ruột Trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ và luôn khô thoáng
2.5 Sơ lược về việc sử dụng a-xít hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi
Ngày nay a-xít hữu cơ đang được dùng phổ biến trong thức ăn công nghiệp So sánh với các thức ăn bổ sung khác, a-xít hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất
đối với thành tích chăn nuôi (Vũ Duy Giảng, 2008) Tuy nhiên, với mỗi loại a-xíthay hỗn hợp các a-xít khác nhau sẽ cho hiệu quả khác nhau trên thành tích chăn nuôi Những thử thách đối với các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất là làm sao để chọn ra được công thức kết hợp tốt nhất vừa cải thiện thành tích vật nuôi, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà chăn nuôi
2.5.1 Các a-xít hữu cơ thường dùng trong chăn nuôi hiện nay
A-xít formic: đây là a-xít có số cacbon trong công thức hóa học ít nhất so với các a-xít hữu cơ khác (duy nhất 1 cacbon), được xem là a-xít mạch ngắn nhất với trọng lượng phân tử nhỏ (46,02 gam/ mol), pKa = 3,77, vì thế nó dễ xuyên qua màng tế bào của những vi khuẩn Gram âm, giảm pH dạ dày, tăng tiêu hóa protein (dẫn liệu bởi Nguyễn Trung Thịnh, 2010) A-xít formic được xem là a-xít có tác dụng sát khuẩn mạnh nhất trong tất cả các a-xít hữu cơ
A-xít lactic: được sử dụng trong thức ăn của heo nhằm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi, tác động phòng ngừa tiêu chảy và tăng sự tiêu hóa hấp thu dưỡng chất trong thức ăn Ở các nước hiện nay người ta sử dụng a-xít lactic
bổ sung vào thức ăn tập ăn và thức ăn heo cai sữa trong trường hợp cai sữa sớm cho kết quả sinh trưởng rất tốt
A-xít propionic: bổ sung vào thức ăn không chỉ với mục tiêu kích thích tiêu hóa, tăng trọng mà còn nhằm bảo vệ thức ăn chống vi khuẩn, ức chế nấm mốc phát triển trong thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2008)
A-xít butyric: có tính sát khuẩn đối với vi khuẩn Gram âm và Gram dương, kích
thích heo ăn nhiều, bảo vệ thượng bì ruột, kích thích lớp tế bào lông nhung phát
Trang 32triển tốt, kích thích hệ miễn dịch của ruột (tăng hàm lượng α, β và γ globulin máu,
Vũ Duy Giảng, 2008)
A-xít kết tinh (a-xít fumaric, malic, citric, succinic): đây là những a-xít được chế tạo bằng công nghệ lên men và có thể kết tinh tạo ra dạng thô, bổ sung vào thức ăn rất tiện lợi Các A-xít này tạo ra độ pH dạ dày và ruột thấp, vừa có tác dụng trong tiêu hóa vừa ức chế vi khuẩn lên men thối ở ruột non Khi lượng HCl dịch vị tiết ra chưa nhiều, các a-xít này có vị chua nhẹ, thơm ngon gây mùi hấp dẫn cho heo con
Bảng 2.3 Công thức của một số a-xít hữu cơ
A-xít Công thức phân tử Trọng lượng Hằng số
Phân tử điện ly pK Formic HCOOH 46,02 3,77
(Nguồn: Feed International, 2004)
2.5.2 Tác dụng chính của a-xít hữu cơ trong chăn nuôi
Tác dụng của a-xít hữu cơ trong chăn nuôi đã được nhiều tài liệu đề cập đến như: kháng khuẩn, bao gồm việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh; hỗ trợ sự tiêu hoá và
hấp thu các chất dinh dưỡng bằng cách hoạt hóa pepsinogen, hỗ trợ tiêu hóa protein; tăng độ hòa tan chất khoáng, hỗ trợ hấp thu chất khoáng, đặc biệt vi khoáng; kích thích ruột tiết secretin, giúp tụy tiết nhiều bicarbonate và a-xít mật, giúp lipid thức
Trang 33ăn tiêu hóa, hấp thu tốt hơn; tăng sự tái tạo lớp tế bào vi lông nhung (a-xít butyric)
Ví dụ như Na butyrate tăng chiều dài lông nhung lên khoảng 30% (Vũ Duy Giảng,
2008)
2.5.3 Cơ chế kháng khuẩn của a-xít hữu cơ
Cơ chế kháng khuẩn của a-xít hữu cơ bao gồm: cơ chế ức chế sự phát triển của
vi khuẩn có hại và cơ chế tiêu diệt vi khuẩn bệnh
Tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại
Trong đường ruột tồn tại các nhóm vi khuẩn có ích và vi khuẩn bệnh, số lượng các nhóm này được duy trì ở trạng thái cân bằng Do những nguyên nhân nào
đó, số lượng vi khuẩn bệnh tăng lên, trạng thái cân bằng bị phá vỡ con vật bị rối loạn tiêu hóa và mắc bệnh Nhóm vi khuẩn có ích thường là những vi khuẩn lên
men sinh a-xít lactic như Lactobacillus, Bifidobacterium, Streptococcus… Nhóm vi khuẩn bệnh thường là Escherichia coli, Samonella, Clostridium perfringens,
Staphylococcus aureus… (Vũ Duy Giảng, 2008)
Vi khuẩn có ích sống trong môi trường pH thấp hơn vi khuẩn bệnh Ví dụ:
pH thích hợp cho nhóm vi khuẩn lên men sinh a-xít lactic là 2 - 3, còn pH cho vi
khuẩn bệnh như E coli là ≥ 4; Samonella thích hợp ở pH ≥ 3,5 và C perfringens
thích hợp ở pH ≥ 6 Như vậy, bổ sung a-xít hữu cơ để đưa pH dịch tiêu hóa xuống
< 3,5 thì sẽ ức chế những vi khuẩn bệnh và tạo điều kiện cho vi khuẩn có ích hoạt động
Tác dụng tiêu diệt vi khuẩn bệnh
Tính diệt khuẩn của các a-xít hữu cơ chủ yếu dựa vào khả năng vượt qua màng tế bào và thâm nhập vào trong tế bào vi khuẩn Gram âm khi các a-xít ở trạng thái không phân ly, lúc đó sẽ hình thành cơ chế tiêu diệt vi khuẩn A-xít đi vào tế bào vi khuẩn, tại đây pH có giá trị bằng 7, a-xít sẽ phân ly cho ra H + (RCOOH→ RCOO - + H + ), lúc này pH bên trong tế bào giảm, vi khuẩn phải sử dụng cơ chế bơm ATPase để đẩy H + ra khỏi tế bào, vi khuẩn bị mất năng lượng Mặt khác pH giảm cũng ức chế quá trình đường phân, tế bào vi khuẩn bị mất nguồn cung cấp
Trang 34năng lượng Khi phân ly trong tế bào, anion của a-xít không ra khỏi được tế bào, gây rối loạn thẩm thấu trong tế bào (Mroz, 2005)
Như vậy, a-xít hữu cơ chỉ khi ở trạng thái không phân ly mới có thể đi vào hoặc đi ra khỏi tế bào vi khuẩn và tiêu diệt vi khuẩn
Hình 2.1 Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn của a-xít hữu cơ (Vũ Duy Giảng, 2008)
Sự phân ly của a-xít hữu cơ lại phụ thuộc vào hằng số phân ly (pK) và pH của môi trường, pK càng cao thì độ phân ly càng lớn Ví dụ trong một môi trường
có pH như nhau thì a-xít acetic có độ phân ly cao hơn a-xít formic (pK của a-xít acetic là 4,76 và của a-xít formic là 3,75) A-xít hữu cơ phân ly ít trong môi trường
có pH thấp và phân ly nhiều trong môi trường có pH cao Trong ống tiêu hóa của heo hay gà, pH khác nhau ở mỗi vị trí khác nhau Như vậy, việc bổ sung a-xít hữu
cơ phải quan tâm là làm sao để a-xít không bị phân ly, lúc đó thì việc bổ sung a-xít mới có tác dụng diệt vi khuẩn hiệu quả (Trần Cừ, 1972; trích dẫn của Nguyễn Trung Thịnh, 2010)
2.6 Giới thiệu sơ lược về chế phẩm Gustor Monogastric ®
Gustor Monogastric® là một a-xít hữu cơ tổng hợp với thành phần cơ bản là các a-xít béo dễ bay hơi Dạng bột mịn, có độ ổn định cao, dễ dàng bổ sung trong thức ăn và các chất phụ gia Chế phẩm này được sử dụng cho heo giúp axit hóa đường ruột, ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại, từ đó giúp cho vật nuôi phát triển tối ưu, tăng trọng nhanh
pH giảm
Trang 35Thành phần và tác dụng của Gustor Monogastric ®
Gustor Monogastric® gồm hỗn hợp các a-xít hữu cơ, vô cơ và muối sodium butyrate tác động hiệu quả trên đường tiêu hóa của vật nuôi
Bảng 2.4 Thành phần trong 1 kg sản phẩm Gustor Monogastric®
Thành phần Thông số kỹ thuật
A-xít lactic, a-xít phosphoric 80% 25,6 %
Muối sodium của các a-xít butyric 21,88 %
độ tăng trưởng trên heo con theo mẹ, tăng cường sức khỏe vật nuôi
2.7 Lược duyệt một số công trình đã nghiên cứu
Theo Dương Thanh Liêm và Kenvin (2001), sử dụng a-xít hữu cơ trên heo nái
và heo con ở Việt Nam cho kết quả tốt A-xít hữu cơ sử dụng cho nái ở cuối giai đoạn mang thai và trong thời gian nuôi con đã cải thiện trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa và trọng lượng 60 ngày tuổi trên heo con
Trang 36Thẩm Thanh Dương (2005), khảo sát trên 60 heo nái, bổ sung 1 kg Adimix butyrate/ tấn thức ăn đã cải thiện trọng lượng cai sữa bình quân và tỷ lệ ngày con tiêu chảy thấp hơn so với lô đối chứng
Phạm Duy Phẩm (2008), khảo sát trên 320 heo con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, sử dụng Adimix Butyrate 0,1 % đã cải thiện rõ rệt pH dạ dày heo con (đạt 3,37), giảm tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng cơ thể 11,4 %, nâng cao tốc độ sinh trưởng 8,3 %, tăng thu nhập/ 1 đầu heo con giống 13,21 % (65.435 đồng) so với lô
bổ sung 0,1 % kháng sinh Colistin 10 %
Dương Thanh Liêm và Kenvin Liu (2001) thử nghiệm sử dụng a- xít Lacdry trên heo nái và heo con với liều dùng 0,5 % cho kết quả giảm hội chứng M.M.A
trên nái sau khi sinh, giảm tỷ lệ nhiễm E coli trong phân heo nái khi sinh đến cai
sữa, nâng cao trọng lượng heo con sơ sinh toàn ổ Bổ sung ở mức này đã làm tăng khả năng tăng trưởng của heo con 15,4 %, giảm 9,3 % hệ số chuyển hóa thức ăn Các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng a-xít hữu cơ ngăn chặn các vi
khuẩn đường ruột như E.coli và Salmonella Sử dụng a-xít hữu cơ với liều 5 kg/ tấn thức ăn cho heo nái đã làm giảm đáng kể lượng vi khuẩn E.coli trong phân (Stahly,
1996; Kemin, 1998; dẫn liệu của Nguyễn Thị Xuân, 2003)
Đặng Minh Phước và ctv (2011) sử dụng chế phẩm a-xít hữu cơ (a-xít lactic, formic, malic, tartaric, citric, photphoric) với liều lượng 2 kg/ tấn thức ăn đã giúp cải thiện 20,1 % tăng trọng trên heo, giảm tỷ lệ tiêu chảy 24,23 % và hiệu quả kinh
tế tăng 6,75 % so với lô không bổ sung
Các công trình nghiên cứu đều cho thấy việc bổ sung a-xít hữu cơ đem đến những kết quả tốt trong chăn nuôi, giúp giảm viêm nhiễm trên nái sau sinh, cải thiện tăng trọng, giảm tỷ lệ tiêu chảy trên heo con và nâng cao hiệu quả kinh tế Trong những điều kiện thí nghiệm khác nhau với liều lượng bổ sung và thành phần khác nhau trên từng đối tượng của mỗi công trình nghiên cứu, nhưng đều đưa đến những kết luận khả quan từ tác dụng của a-xít hữu cơ
Trang 37Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
3.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Khảo sát thành tích sinh sản và tình hình sức khỏe trên nái sau sinh
(2) Khảo sát tình hình tiêu chảy và một số chỉ tiêu tăng trưởng trên heo con theo mẹ (3) Đánh giá hiệu quả điều trị tại trại
(4) So sánh hiệu quả kinh tế
3.4 Điều kiện thí nghiệm
3.4.1 Hệ thống chuồng trại
Chuồng trại được xây thành từng dãy theo kiểu chuồng nóc đôi, mái lợp bằng tôn, nền chuồng bằng xi măng với độ dốc thích hợp cho sự thoát nước và tắm rửa Dãy chuồng nái khô và chuồng nái mang thai là dạng chuồng cá thể, vách ngăn bằng song sắt, máng ăn làm bằng xi măng, máng uống là núm tự động
Dãy chuồng nái đẻ và nuôi con có dạng chuồng sàn, được thiết kế mỗi ô gồm 3 phần: phần giữa lót dale dành cho heo mẹ có chắn các thanh sắt hạn chế heo mẹ đè con, hai bên có phần dành cho heo con được lót bằng nhựa Mỗi ô chuồng đều có vòi nước tự động cho heo con và heo mẹ, trang bị máng ăn bằng sắt cố định cho heo
mẹ và 1 máng ăn bằng sắt di động giúp heo con tập ăn dễ dàng Các lối đi bằng xi
Trang 38măng, hệ thống thông khí và điều hòa nhiệt độ bằng hệ thống quạt, ngoài ra còn hệ thống đèn úm để sưởi ấm cho heo con
3.4.2 Chế độ dinh dưỡng
Thức ăn được trại tự trộn theo công thức riêng phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của heo Nái mang thai ăn thức ăn số 9, nái nuôi con ăn thức ăn số 10 và heo con tập ăn dùng cám 6A0 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn (xem phụ lục)
3.4.3 Chăm sóc nuôi dưỡng heo thí nghiệm
Nái mang thai: được cho ăn cám số 9 hai lần trong ngày, buổi sáng lúc 7 giờ
và buổi chiều lúc 13 giờ 30, sau khi cho ăn xong công nhân cào phân đóng vào bao
và chuyển ra khỏi chuồng, nái mang thai được tắm hằng ngày lúc 9 giờ Trước khi sinh 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến nái được chuyển sang chuồng nái đẻ đã được
vệ sinh sát trùng, tạt vôi kỹ từ trước
Nái đẻ và nái nuôi con : trước khi sinh 5 - 7 ngày nái được chuyển lên chuồng
đẻ và cho ăn cám số 10 của trại, hằng ngày được tắm mát sạch sẽ Giảm dần lượng
ăn trên nái xuống còn khoảng 2 kg/con/ngày vào 3 ngày trước khi sinh và 1,0 - 1,5 kg/con/ngày vào 1 - 2 ngày trước sinh Khi thấy có dấu hiệu sắp sinh : ăn ít hoặc bỏ
ăn, cắn phá chuồng, nằm thở mệt, công nhân chuẩn bị bao bố mềm lót sau âm hộ,
bỏ lồng úm xuống, chuẩn bị bột Mistral, kháng sinh, thuốc trợ sức và các dụng cụ cần thiết khác Nái được để sinh tự do, chỉ can thiệp trong trường hợp đẻ khó, thai
to Nái sau khi sinh được chích oxytocin 2 lần/ ngày với liều 40 IU/ nái và liên tục trong 3 ngày Những nái có biểu hiện sốt, chảy nhiều dịch nhờn, dịch viêm thì được điều trị bằng kháng sinh tùy trường hợp trên từng nái Ngày nái đẻ cho ăn 0,5 kg/con/ngày, sau đó tùy vào tình trạng sức khỏe của nái tăng dần lượng ăn cho đến khi nái ăn tự do
Heo con theo mẹ: heo con sinh ra được bôi bột Mistral, bấm răng, cắt đuôi, ủ
ấm bằng bao bố, đèn úm và cho bú sữa đầu Cán bộ kỹ thuật tiến hành xâm tai nghiệm thu những heo con còn sống đạt tiêu chuẩn không dị tật, trọng lượng > 0,7
kg sẽ được chọn nuôi, cho uống thuốc ngừa cầu trùng (Navet-cox) Khi được 3 ngày
Trang 39tuổi thì tiến hành tiêm sắt và thiến heo đực lai hai máu để nuôi thương phẩm Tập ăn
cho heo con bắt đầu lúc 7 - 10 ngày tuổi với thức ăn 6A0 do trại tự trộn
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 56 heo nái mang thai 84 ngày đồng đều về
giống (LY và YL), lứa đẻ (2 - 5), cùng thời điểm sinh, thành tích sinh sản và tiến
hành trong cùng một điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Thí nghiệm được bố trí theo
kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố, chia làm 2 lô, mỗi lô gồm 28 nái: Lô đối chứng
không bổ sung chế phẩm vào thức ăn; lô thí nghiệm bổ sung chế phẩm A
(Gustor Monogastic®) vào thức ăn
(Ghi chú: ĐC: đối chứng; TN: thí nghiệm)
3.5.2 Nội dung 1: Khảo sát thành tích sinh sản và tình hình sức khỏe trên nái
sau sinh
Mục đích: đánh giá hiệu quả của chế phẩm trên sức sản xuất của heo mẹ, khả năng
nuôi con và sức khỏe của nái sau sinh dựa trên các biểu hiện bệnh lý lâm sàng
3.5.2.1 Chỉ tiêu số lượng heo con
Số con sinh ra: là tổng số heo con sinh ra trong ổ, được đếm ngay sau khi sinh
(bao gồm cả chết thai, khô thai)
Số con còn sống: sau khi trừ những con chết thai, khô thai tiến hành bấm tai và
cân trọng lượng sơ sinh từng con một
Số con chọn nuôi: tổng số con sơ sinh đủ tiêu chuẩn (không bị dị tật, > 0,7 kg)
được giao nuôi cho một nái sau khi đã chuyển ghép bầy
Số con cai sữa: tổng số con trong ổ đến ngày cai sữa
Trang 403.5.2.2 Khả năng tiết sữa
Cách tiến hành
Theo dõi tình trạng sức khỏe của heo con, đánh giá sức tiết sữa dựa vào trọng lượng heo con toàn ổ lúc sơ sinh và cai sữa
Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính
Sức tiết sữa (kg/ nái) = (Trọng lượng toàn ổ lúc cai sữa – Trọng lượng toàn ổ sơ sinh) x 3 (theo Hứa Phan Trường, 2011)
3.5.2.3 Thời gian và tỷ lệ nái lên giống lại sau cai sữa
Cách tiến hành
Theo dõi biểu hiện lên giống lại của nái vào buổi sáng lúc 6 giờ 30 và buổi chiều lúc 15 giờ 30 Quan sát trạng thái của nái khi dẫn con đực đi ngang qua như: kêu la, cơ thể bồn chồn, tai đuôi ve vẩy, âm hộ đỏ tươi, sưng mọng, có nước nhờn chảy ra… tiến hành đánh dấu lên mông nái và ghi nhận lại những nái có biểu hiện lên giống
Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính
Thời gian lên giống trung bình (ngày) = Tổng số ngày lên giống/ Số nái khảo sát
Tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa (%) = (Số con lên giống lại/ Số con khảo sát) x 100
3.5.2.4 Quan sát hiện tượng táo bón
Dụng cụ
Sổ ghi chép, máy ảnh
Cách tiến hành
Hằng ngày vào mỗi buổi sáng sau khi cho nái ăn xong tiến hành quan sát phân
của từng nái, ghi nhận lại những nái đi phân ở dạng rắn, khô, rời rạc, động tác đi phân khó khăn, rặn lâu khi đi
Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính
Tỷ lệ táo bón (%) = (Số con táo bón/ Số con khảo sát) x 100
3.5.2.5 Khảo sát hiện tượng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa
Dụng cụ
Sổ ghi chép, máy ảnh