1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay Sustainable development of marine economy: from strategy to reality in Vietnam

179 201 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, các hoạt động trên biển có mối liên hệ, tác động nhất định đến nhau, cùng với tính chất liên thông của biển thì trong một số trường hợp, quản lý theo ngành, lĩnh vực với đặc đi

Trang 1

Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay Sustainable development of marine economy: from strategy to reality in Vietnam

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN:

TỪ CHIẾN LƯỢC CHÍNH SÁCH ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY

SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF MARINE ECONOMY: FROM STRATEGY TO REALITY IN VIETNAM

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 5

♦ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO 7

PGS.TS Vũ Sĩ Tuấn

♦ CÁC LỢI THẾ CHIẾN LƯỢC CHO KINH TẾ BIỂN MIỀN TRUNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 17

Nguyễn Chu Hồi

♦ TIỀM NĂNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÙNG BIỂN VEN BỜ VIỆT NAM

VÀ CÁC DỰ ÁN KÉO ĐIỆN TỪ ĐẤT LIỀN RA CÁC ĐẢO VEN BỜ 30

Lưu Đức Hải, Dư Văn Toán

♦ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG, THÁCH THỨC

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42

Vũ Thanh Ca

♦ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH TẠI CÁC XÃ ĐẢO Ở VIỆT NAM 50

TS Lê Xuân Sinh

♦ ĐẶC KHU THIÊN NHIÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG 63

Nguyễn Thị Hường, Dư Văn Toán

♦ QUY HOẠCH SỬ DỤNG BIỂN: GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN BỀN VỮNG 77

♦ THE IMPACT OF LOCATING WITHIN INDUSTRIAL PARK ON PRODUCTIVITY

OF MANUFACTURING FIRMS IN VIETNAM 107

Pham Quynh Anh

Trang 6

♦ LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG GIÁN TIẾP CỦA RỪNG NGẬP MẶN XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH 112

Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Nguyễn Thị Thiện, Lương Thị Yến

♦ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN

Ở VIỆT NAM .125

Nguyễn Thị Vĩnh Hà

♦ KHAI THÁC CÁ BIỂN Ở VIỆT NAM: MỘT VÀI PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ

VÀ ĐO LƯỜNG SỰ LIÊN HỆ 139

Hoàng Khắc Lịch, Dương Cẩm Tú

♦ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM

THEO TIÊU CHUẨN VIETGAP 154

Trần Quốc Toản

♦ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA TRÊN BIỂN CỦA TRUNG QUỐC: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

VỚI CHIẾN LƯỢC KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM 169

Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Thế Kiên

Trang 7

PGS.TS Vũ Sĩ Tuấn *

Tóm tắt: Quản lý tổng hợp về biển và hải đảo là một cách tiếp cận và phương pháp quản

lý mới về biển và hải đảo Quản lý tổng hợp bắt đầu được nhắc đến tại Việt Nam từ đầu những năm 1990, tuy nhiên, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo đến năm 2008 mới được thành lập và Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo vừa được thông qua năm 2015, có hiệu lực ngày 1/7/2016 Bài viết chưa giải quyết được vấn đề cơ bản của quản lý tổng hợp về biển và hải đảo, mà chỉ mới nêu ra

ý tưởng xây dựng, và tình hình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo tại Việt Nam những năm gần đây Tác giả có đề xuất một số ý kiến cá nhân về luật pháp, tổ chức, dữ liệu, chia sẻ thông tin liên quan đến quản lý tổng hợp.

Từ khoá: Quản lý tổng hợp; Chiến lược biển; Phát triển bền vững.

Abstract: Integrated management of the sea and islands is a new approach and management method of the sea and islands Integrated management has been mentioned

in Vietnam since the early 1990s, however, the Viet Nam Administration of Sea and Islands, the State Administration of Sea and Islands has just been established since 2008, and The Law on Marine and Coastal Resources has just been adopted in 2015, effective 1 July

2016 The article does not address the fundamental problem of integrated management of the sea and islands, but only the idea of development and the implementation of integrated management of natural resources and environment in the sea and islands in Vietnam in recent years The author proposes some personal opinions on the law, organization, data, information sharing related to integrated management.

Key words: Integrated management; Marine strategies; Sustainable development.

1 Tại sao phải quản lý tổng hợp

Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.000 km, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, chứa đựng nhiều hệ sinh thái quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Mặc dù trong những

* Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.

Trang 8

năm qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, do tài nguyên biển và hải đảo chủ yếu đang được quản lý theo ngành, lĩnh vực nên việc khai thác, sử dụng chưa dựa trên việc phân tích các chức năng của mỗi vùng biển một cách tổng thể; còn thiếu sự gắn kết, hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên trên cùng một vùng biển Mặt khác, các hoạt động trên biển có mối liên hệ, tác động nhất định đến nhau, cùng với tính chất liên thông của biển thì trong một số trường hợp, quản

lý theo ngành, lĩnh vực với đặc điểm luôn tối đa hóa lợi ích của ngành, lĩnh vực mình

mà không xem xét vấn đề khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo một cách tổng thể đã làm hạn chế sự phát triển chung, thiếu sự hài hòa lợi ích của các ngành, lĩnh vực; làm suy thoái nhiều loại tài nguyên, nhất là tài nguyên tái tạo; tình trạng ô nhiễm môi trường biển và hải đảo có chiều hướng gia tăng; nhiều hệ sinh thái biển và hải đảo quan trọng đã bị tổn thương nghiêm trọng, dẫn tới sự nghèo nàn của nguồn lợi thủy sản

Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo ra đời trong bối cảnh con người đứng trước những thách thức môi trường không lường trước được, yêu cầu phải có tầm nhìn sâu rộng hơn để đề ra các giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý biển và đại dương.Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là phương thức quản lý theo phương châm không làm thay quản lý ngành, lĩnh vực mà đóng vai trò điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực nhằm quản lý có hiệu quả hơn các hoạt điều tra, thăm

dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo Phương thức quản lý tổng hợp có vai trò điều chỉnh hoạt động của con người để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng

và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển được bảo vệ; hài hòa được lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển

2 Quản lý tổng hợp là gì? Mục tiêu của quản lý tổng hợp

Quản lý tổng hợp là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Theo định nghĩa này, quản lý tổng hợp được giới hạn đối với tài nguyên môi trường biển

Có thể nói, quản lý tổng hợp là quản lý liên ngành, liên vùng trên cơ sở một đầu mối, còn gọi là quản lý tổng hợp và thống nhất

Trang 9

Các mục tiêu chính của quản lý tổng hợp bao gồm thực hiện quản lý liên ngành, liên vùng; điều phối hoạt động của các ngành, lĩnh vực; giảm thiểu các xung đột về lợi ích ngành trong quá trình khai thác - sử dụng - phát triển; đảm bảo lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và người dân; gắn kết các yếu tố của phát triển bền vững là kinh tế-xã hội và môi trường, đảm bảo sinh kế bền vững.

Nhằm đạt được các mục tiêu trên thì nhiệm vụ hàng đầu của quản lý tổng hợp là phải thực hiện xây dựng chiến lược, chính sách, luật pháp, qui hoạch-kế hoạch và hệ thống tổ chức, cơ chế điều phối, chế tài giải quyết xung đột

3 Quá trình phát triển của quản lý tổng hợp trên thế giới

Năm 1965, chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ đầu tiên trên thế giới được tiến hành tại Hoa Kỳ và đến năm 1972, Hoa Kỳ đã ban hành Luật Quản lý tổng hợp vùng bờ Đến những năm 90, phương thức này gần như được phổ biến trên thế giới, là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình Nghị sự 21 của Liên hợp quốc về “Môi trường và Phát triển” năm 1992 tại Brazil

Chương trình nghị sự là một kế hoạch hành động gồm 40 chương, trong đó, chương

17 gồm các vấn đề về quản lý tổng hợp vùng bờ và đại dương, gồm bảy lĩnh vực, chương trình ưu tiên, đó là: quản lý tổng hợp vùng bờ và phát triển bền vững vùng bờ, gồm

cả vùng đặc quyền kinh tế (EEZ); bảo vệ môi trường biển; sử dụng lâu bền và bảo tồn nguồn lợi sinh vật biển khơi; sử dụng lâu bền và bảo tồn nguồn lợi sinh vật vùng biển tài phán quốc gia; quản lý môi trường biển và biến đổi khí hậu; tăng cường điều phối và hợp tác quốc tế và vùng; phát triển bền vững các đảo nhỏ

Đến năm 2002, đã có 145 quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện 622 chương trình hoặc

dự án quản lý tổng hợp vùng bờ Hiện nay, nhiều quốc gia có biển trên thế giới đã áp dụng phương thức quản lý này có hiệu quả như Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, In-đô-nê-xi-a, Nam Phi, Úc, các nước EU, ASEAN

Điểm chung của các nước là thực hiện việc quản lý đa ngành, đa mục đích, dựa trên

hệ sinh thái; xây dựng chiến lược, chính sách, luật pháp, qui hoạch, kế hoạch tổng thể; thành lập cơ quan quản lý nhà nước đủ quyền lực như Hội đồng cấp bộ trưởng - Úc, Uỷ ban liên bộ về tài nguyên - Brazil, Ban chỉ đạo chính sách biển do Thủ tướng bổ nhiệm gồm lãnh đạo chính phủ và các bộ trưởng - Nhật Bản, thiết lập cơ chế ra quyết định tổng thể - Trung quốc …

4 Quá trình phát triển quản lý tổng hợp tại Việt Nam

Quản lý tổng hợp tại Việt Nam bắt đầu từ việc Tổ chức Đối tác quản lý môi trường các biển Đông Á/PEMSEA, giới thiệu và thực hiện tại Đà Nẵng năm 1995; từ năm 1997 đến 1999, Sida - Thuỵ Điển phối hợp cùng Ủy ban Biên giới Chính phủ, các Bộ Kế hoạch

Trang 10

Đầu tư, Khoa học Công nghệ và Môi trường thực hiện dự án về tăng cường năng lực quản lý tổng hợp vùng bờ tại Quảng Bình và Nghệ An; năm 2001 đến 2015, UNDP/IMO/GEF đã thông qua PEMSEA tài trợ cho Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam tiến hành điểm trình diễn về quản lý tổng hợp; năm 2000 đến 2004, Hà Lan giúp Việt Nam thực hiện dự án quản lý tổng hợp vùng bờ - VNICZM, tại 3 tỉnh Nam Định, Thừa Thiên

- Huế, Bà Rịa - Vũng tầu; ngân hàng phát triển châu Á/ADB đã giúp Việt Nam thực hiện

dự án 3 giai đoạn, quản lý vùng bờ biển Đông 1998, tăng cường năng lực thể chế quản lý tổng hợp vùng bờ để xoá đói giảm nghèo cho 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên

- Huế, Quảng Nam 2001 - 2004, và cải thiện sinh kế cho người nghèo, năm 2005 - 2006; Việt Nam và Ấn độ đã hợp tác nghiên cứu cơ sở khoa học của quản lý tổng hợp vùng bờ Bình Định 2002 - 2003; từ năm 2002 đến 2009, cơ quan Khí tượng và Đại dương Hoa Kỳ/NOAA và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên toàn cầu đã tài trợ dự án “tăng cường năng lực cho Việt Nam trong quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh Bắc Bộ” cho 2 tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng

Đặc biệt, năm 2004, Việt Nam và 11 nước thành viên PEMSEA đã cam kết thực hiện Chiến lược phát triển bền vững các biển Đông Á/SDS SEA, và đến năm 2006, các nước

đã kí kết tại Hải Khẩu, Trung Quốc

SDS SEA là một tuyên bố khu vực về chiến lược khung đầu tiên, nhằm thực hiện các mục tiêu đã cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững WSSD, họp tại Johanesburge, tháng 8/2002 về bảo vệ môi trường biển và vùng bờ, hướng tới phát triển bền vững thông qua một cơ chế hợp tác và đối tác khu vực

Để giải quyết vấn đề ngành và liên ngành, khung chiến lược đã đưa ra 6 hợp phần chiến lược là: duy trì, bảo tồn, bảo vệ, phát triển, thực hiện và truyền thông với

1996 - 2000; ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình Nghị sự

21 của Việt Nam (Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam) theo tinh thần của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức tại Janeiro, Brazil năm 1992, và thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia về phát triển bền vững; Chiến lược biển Việt Nam được thông qua năm 2007; Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ của các tỉnh miền Trung được Thủ tướng phê duyệt năm 2007; Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cơ quan quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo đầu tiên được thành lập năm 2008; Luật Biển Việt Nam được thông qua năm 2012, và “Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo”, luật quản lý tổng hợp đầu tiên được thông qua năm 2015

Trang 11

4 Thực trạng quản lý tổng hợp tại Việt Nam những năm gần đây

Xây dựng và ban hành luật quản lý tổng hợp

Ngày 25/6/2015, Quốc hội Việt Nam đã công bố thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016

Luật đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng, là bước đột phá trong quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo Việt Nam

Đây là luật đầu tiên của Việt Nam “luật hóa” các qui định, phương thức về “quản

lý tổng hợp”

Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo giúp khắc phục các xung đột, mâu thuẫn trong quản lý theo ngành, lĩnh vực; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển và hải đảo; thống nhất các hoạt động quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo phát triển bền vững biển và hải đảo

Luật tập trung quy định các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối, phối hợp liên ngành, liên vùng, bao gồm các chiến lược, quy hoạch, chương trình, hệ thống thông tin,

dữ liệu, nguyên tắc, nội dung phối hợp trong quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo Các công cụ này cùng với quy định về quy hoạch sử dụng biển trong Luật Biển Việt Nam và các quy định của Luật Bảo vệ môi trường sẽ tạo thành hệ thống pháp luật

để quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam được thành lập năm 2008, thuộc Bộ Tài nguyên

và Môi trường, với chức năng (Nghị định 116 năm 2008 và Nghị định 43 năm 2014) tham

mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; tổ chức thực hiện các dịch vụ công theo quy định, của pháp luật

và thực hiện các nhiệm vụ chính gồm xây dựng luật, chiến lược, chính sách, qui hoạch,

kế hoạch, chương trình, giao các khu vực biển, kiểm soát, đánh giá ô nhiễm biển, tham gia thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực biển và hải đảo

Tổng cục có khoảng 700 cán bộ, với mười sáu đơn vị trực thuộc gồm các cục, vụ, viện, văn phòng và các trung tâm

Tại địa phương, 28 chi cục được thành lập tại 28 tỉnh, thành phố ven biển

Sự ra đời của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là một dấu mốc quan trọng trong quyết tâm thực hiện quản lý tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo Việt Nam

Trong gần mười năm qua, Tổng cục đã giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng luật, qui hoạch, kế hoạch và thực hiện các chương trình quản lý tổng hợp về tài nguyên môi trường biển và hải đảo

Trang 12

Xây dựng chiến lược

Có ba chiến lược (CL) liên quan trực tiếp đến quản lý tổng hợp biển và hải đảo, đó là Chiến lược biển Việt Nam năm 2007, Chiến lược khai thác sử dụng bền vững tài nguyên môi trường biển Việt Nam và Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ (vùng bờ)

Chiến lược Biển Việt Nam 2007

Ngày 9/2/2007, Hội nghị lần 4-BCH TW Đảng, khoá X đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, nhấn mạnh “Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương”

Mục tiêu chính của Chiến lược biển là: làm cho Việt Nam mạnh về biển, giầu về biển; xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực Kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP, 60% KNXNK cả nước; thu nhập của dân ven biển bằng hai lần mức trung bình cả nước; xây dựng một số cảng quốc tế cỡ khu vực, một số khu kinh tế ven biển, một số tập đoàn kinh tế mạnh; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển Một trong những nội dung quan trọng của chiến lược là xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp - thống nhất về biển

Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến 2020, tầm nhìn tới 2030 (CL phát triển bền vững) và chiến lược quản lý tổng hợp vùng bờ Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2030 (CL quản lý tổng hợp)

Chiến lược khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển được Thủ tướng phê duyệt cùng kế hoạch hành động ngày 6/9/2013; Chiến lược quản lý tổng hợp vùng bờ và kế hoạch hành động được Thủ Tướng phê duyệt ngày 17/12/2014

Về không gian, hai chiến lược này khác nhau: phạm vi của CL phát triển bền vững gồm toàn bộ các vùng biển Việt Nam, CL quản lý tổng hợp chỉ tập trung vào các xã, phường, thị trấn ven biển, về phía biển (mặt nước) chỉ gồm 6 hải lý, tính từ triều kiệt.Các nội dung của chiến lược đều tập trung vào việc thiết lập quản lý tổng hợp, thay thế cho quản lý ngành-lãnh thổ, phát triển bền vững, điều tra cơ bản, xây dựng và hoàn thiện luật pháp và tổ chức; xây dựng qui hoạch tổng thể vùng bờ; khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế

Các chiến lược là định hướng quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện luật pháp, chương trình, qui hoạch, kế hoạch … quản lý tổng hợp

Xây dựng qui hoạch

Qui hoạch là nhiệm vụ cơ bản của quản lý và phân bổ tài nguyên khan hiếm giữa những người hưởng dụng, với mục đích cuối cùng là tối ưu hoá việc sử dụng nguồn tài

Trang 13

nguyên này Qui hoạch giúp chúng ta các luận cứ phát triển, xây dựng các bản đồ, xác định các không gian kinh tế, một kế hoạch dài hạn kèm các dự án đầu tư, làm cơ sở cho các quyết định trong tương lai.

Hiện tại, các qui hoạch ngành như thuỷ sản, bảo tồn, du lịch, dầu khí, cảng biển, điện lực… đã được xây dựng và thông qua

Qui hoạch tổng hợp gồm có hai qui hoạch Một là qui hoạch sử dụng biển, dự thảo qui hoạch đã được trình Chính phủ để trình Quốc hội, đang chờ phê duyệt Qui hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ đang trong quá trình xây dựng, dự tính trình Chính phủ vào cuối năm 2018

Như vậy, việc quản lý tài nguyên biển, cho đến nay, vẫn được thực hiện thông qua các qui hoạch ngành

Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung

Bộ đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Chương trình được phê duyệt bởi Thủ tướng Chính phủ theo QĐ 158 ngày 2007/10/9, gọi tắt là Chương trình 158 (CT158)

Đây là chương trình có qui mô lớn nhất cho đến nay được phê duyệt về quản lý tổng hợp vùng bờ

Mục đích của Chương trình là tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ, sử dụng và khai thác tài nguyên, môi trường, phục vụ phát triển bền vững, gồm bốn nội dung chính: Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin quản lý vùng bờ Bắc Trung Bộ; thực hiện một số dự án

Chương trình được chia hai giai đoạn, giai đoạn, giai đoạn 1 bắt đầu từ 2007 đến

2010, với tổng số 25 dự án, trong đó 8 dự án do trung ương thực hiện, 17 dự án do địa phương thực hiện

Các dự án do trung ương thực hiện, gồm các dự án dự án về hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật; đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về quản lý vùng bờ các tỉnh Trung Bộ.Các dự án do địa phương thực hiện gồm ba dự án thí điểm mang tính kỹ thuật, phục vụ quản lý của Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế và 14 dự án triển khai quản lý tổng hợp đới bờ tại các địa phương Trung Bộ, gồm cả Thanh Hoá, Hà Tĩnh và Thừa Thiên - Huế

Chương trình 158 đã góp phần xây dựng và hoàn thiện luật pháp, tổ chức, chiến lược… về quản lý tổng hợp từ trung ương tới địa phương: thành lập Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam 2008; hình thành 28 chi cục - phòng biển đảo tại 28 tỉnh, thành phố có

Trang 14

biển; xây dựng và trình phê duyệt Nghị định 25 về quản lý tổng hợp và thống kê về biển

và hải đảo 2009; Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo được phê duyệt năm 2013; nhiều tỉnh miền Trung đã thành lập ban chỉ đạo liên ngành, xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ thuộc tỉnh

Trên cơ sở Chương trình 158, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ thông qua Chiến lược quản lý tổng hợp vùng bờ năm 2014

Đặc biệt, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo đã được Quốc hội thông qua năm 2015 và có hiệu lực 7/2016

5 Một số vấn đề cần trao đổi nhằm hoàn thiện quản lý tổng hợp tài nguyên

và môi trường biển

Vấn đề xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật

Cơ quan lập pháp là Quốc hội thường không trực tiếp xây dựng luật mà giao Chính phủ, Chính phủ giao các bộ, các bộ giao cho một đơn vị thuộc bộ xây dựng luật

Bộ nào xây dựng luật thì thường đề nghị Quốc hội giao luôn thẩm quyền cho bộ đó, dùng để quản lý nhà nước

Luật thường xây dựng dưới dạng luật khung, không chi tiết, sau đó xây dựng nghị định thông tư hướng dẫn thi hành

Kinh phí xây dựng luật theo qui định rất có hạn

Việc xây dựng luật như hiện nay có ưu điểm là tận dụng được bộ máy, đội ngũ của các đơn vị quản lý nhà nước, nhất là trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực cần xây dựng luật Tuy nhiên, sự bất cập là thời gian ban hành, tính khách quan, tính cập nhật, chất lượng của luật và số lượng các văn bản ban hành thường rất lớn

Vấn đề phối kết hợp, điều phối

Nội dung quan trọng, xuyên suốt của quản lý tổng hợp là điều phối, phối kết hợp

Về mặt lý thuyết, những điều này không phức tạp, nhưng trong thực tế triển khai gặp không ít khó khăn

Việc phối kết hợp, điều phối muốn khả thi trong điều kiện Việt Nam thì cần phải thành lập ban chỉ đạo liên ngành, với thành phần là các bộ, ngành và địa phương, và Trưởng ban chỉ đạo phải là lãnh đạo cấp trên của các bộ, ngành tức là lãnh đạo Chính phủ Các cơ quan ngang cấp, lãnh đạo các cơ quan ngang cấp rất khó thực hiện việc phối kết hợp, điều phối

Ban chỉ đạo hiện chưa được thành lập Chính phủ hạn chế thành lập các ban này

Trang 15

Qui chế/chế tài giải quyết xung đột cũng là một nội dung cần xây dựng và hoàn tiện trong quản lý tổng hợp Hiện tại, nếu có xung đột giữa các ngành, tổ chức hay cá nhân trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển, sử dụng qui chế/chế nào để xử lý giải quyết tranh chấp? Các luật liên quan đến quản lý tổng hợp hiện nay mới đề cập tới các qui định phối hợp.

Vấn đề cơ sở dữ liệu về biển về quản lý tổng hợp

Thông tin, dữ liệu về biển được lưu giữ ở nhiều nơi khác nhau, từ các bộ, ngành, các cơ quan nghiên cứu trung ương tới các địa phương, với các hình thức và tiêu chuẩn khác nhau

Việc tập hợp các thông tin để dữ liệu hoá, phục vụ quản lý tổng hợp gặp rất nhiều khó khăn về kĩ thuật, cũng như kinh phí

Nhiều dự án, đề án, chương trình đã được triển khai, song, đến nay, hệ thống thông tin dữ liệu biển quốc gia vẫn chưa được trình để phê duyệt

Việc xây dựng luật, qui hoạch dựa trên cơ sở thông tin dữ liệu chưa đầy đủ, thiếu

hệ thống, chắc chắn sẽ dẫn đế nhiều hậu quả, vì luật và qui hoạch là hai công cụ quan trọng nhất của quản lý nói chung và quản lý tổng hợp nói riêng

Vấn đề chia sẻ thông tin

Chia sẻ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý tổng hợp, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối kết hợp giữa các bộ ngành, địa phương và các bên có liên quan

Về nguyên tắc thì thông tin của các bộ ngành là thông tin quốc gia, phải đương nhiên được chia sẻ giữa các bộ ngành, trừ các thông tin liên quan đến quân sự, an ninh quốc gia thì cần bảo mật Song, thực tế không phải như vậy, tìm kiếm thông tin từ các bộ, ngành khác là một công việc tốn nhiều công sức, thời gian

Việc tiếp cận các thông tin còn gặp khó khăn do những qui chế về bảo mật

Hạn chế trong chia sẻ thông tin không chỉ làm cho công tác điều phối, phối kết hợp gặp khó khăn, mà còn dẫn đến sự lãng phí rất lớn các nguồn lực, bởi vì chúng ta phải nghiên cứu, điều tra những gì đã có

Kết luận

Trong một khoảng thời gian ngắn, quản lý tổng hợp tại Việt Nam đã tiến được những bước khá dài, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững trên cơ sở gắn kết kinh

tế - xã hội và môi trường

Các công cụ nhằm thực hiện quản lý tổng hợp như chiến lược, chính sách, luật…

đã được xây dựng và ban hành, đó là quyết tâm và những nỗ lực rất lớn của Chính phủ, trực tiếp là Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 16

Để triển khai quản tổng hợp trên qui môi toàn quốc thành công, trước mắt cần hoàn thiện luật pháp, xây dựng - công bố qui hoạch tổng thể, thành lập Ban điều phối cấp quốc gia hoặc thành lập Bộ Phát triển kinh tế biển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo Việt Nam 2015.

2 Luật Biển Việt Nam 2012.

3 Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến 2020, tầm nhìn tới 2030, ngày 6/9/2013.

4 Chiến lược quản lý tổng hợp vùng bờ Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2030,

Trang 17

CÁC LỢI THẾ CHIẾN LƯỢC CHO KINH TẾ BIỂN MIỀN TRUNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Nguyễn Chu Hồi *

Tóm tắt: Miền Trung và 14 tỉnh thành ven biển trong vùng vừa có những lợi thế địa chiến

lược, vừa có tính độc đáo về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên biển, ven biển và đảo, bảo đảm cho kinh tế biển ở đây phát triển bền vững và tăng trưởng xanh lam Đồng thời, vùng này đang đối mặt với những thách thức trong dài hạn cần phải thay đổi tầm nhìn, xóa bỏ định kiến và xác định đúng ưu tiên phát triển trên nguyên tắc tôn trọng “tính trội, tính đa dụng và tính liên kết” của các hệ thống tài nguyên và hệ nhân văn trong vùng và ở từng địa phương Đây là những vấn đề chung, dài hạn được tác giả bài viết phân tích và bàn luận nhằm góp thêm tiếng nói cho kinh tế biển của một vùng biển đảo quan trọng của đất nước, thực sự bứt phá theo hướng xanh và bền vững

Từ khóa: Lợi thế chiến lược; Kinh tế biển; Tăng trưởng xanh; Phát triển bền vững; Tính trội;

Tính đa dụng và tính liên kết.

Strategic Advantages for Sustainably

of Marine Economy Development in Central Viet Nam

Abstract: The Central Vietnam and its 14 coastal provinces and Central cities have

strategic agvantages and unique physical conditions and coastal, island marine resources which maintain the regional marine economy development in sustainable and blue manner

In the same time, there exist in the region (or in province) the long-term challenges which require to change vision, to abolish a preconceived opinion and to identify exactly regional development priorities based on respect for 3 attributes of a resource and human systems:

* PGS TS Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Email: nchoi52@gmail.com).

Trang 18

prominant, multi-use and connectivity They are long-term and common issues which have been analysed and discussed by the paper”s author so that contribute a litle of the opinion

to marine economy development in important island and marine waters of the country towards the blue and sustainable growth in the near future

Key words: Strategic advantage; Marine economy; Blue growth; Sustainable development;

Prominant; Multi-use and connectivity.

1 Mở đầu

Miền Trung Việt Nam gồm 14 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận và đều là các tỉnh thành có biển Vùng biển miền Trung chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn vùng biển Việt Nam, bao gồm các vùng biển trong phạm vi

200 hải lý, thềm lục địa và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Chính vì thế, miền Trung là khu vực có vị trí chiến lược hết sức trọng yếu trong khu vực Biển Đông và có tiềm năng to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta, cũng như đối với hòa bình và phát triển khu vực Đông Á và Đông Nam Á Tuy nhiên, đến nay vị thế và tiềm năng của miền Trung chưa được khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững, chưa tương xứng với các lợi thế vốn có Quá trình khai thác,

sử dụng chưa tôn trọng 3 yếu tố cơ bản: tính trội, tính đa dụng và tính liên kết của các hệ

thống tài nguyên biển, ven biển miền Trung, chưa kết nối không gian biển với khu vực lãnh thổ đất liền Quản lý và kiểm soát phát triển vẫn thiếu các công cụ mới mang tầm chiến lược, như: quản lý biển theo không gian, quy hoạch không gian biển, quản lý tổng hợp lưu vực sông và vùng bờ biển, tiến tới thống nhất quản lý nhà nước đối với biển, đảo miền Trung

Bài viết này trao đổi một số ý kiến xung quanh việc trả lời câu hỏi lợi thế nào để phát triển kinh tế biển xanh ở miền Trung nước ta, hướng tới phát triển bền vững gắn với bảo

vệ chủ quyền biển, đảo miền Trung nói riêng và cả nước nói chung

2 Lợi thế của biển, đảo miền Trung

2.1 Tính “trội” của vùng biển miền Trung

Vùng biển miền Trung chiếm phần lớn diện tích vùng biển ven bờ tây và phần trung tâm Biển Đông thuộc Việt Nam Vùng biển này có thềm lục địa hẹp chiều ngang và thuộc một phần bồn trũng nước sâu “kiểu đại dương” trong Biển Đông, các đảo ven bờ phân bố rải rác ở các tỉnh và có hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa Đây là vùng biển giàu san hô nhất trong Biển Đông với các hệ thống rạn san hô sinh trưởng trên nền núi lửa

cổ ở quy mô rộng lớn và đóng vai trò quyết định đối với đa dạng sinh học và nghề cá

Biển Đông và là nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững ở miền Trung

Trang 19

Địa hình thềm lục địa miền Trung có độ dốc lớn, có nơi cách bờ chưa tới 3 hải lý đã có

độ sâu 50 m, cách bờ trung bình 20 hải lý độ sâu khoảng 100 m, và cách bờ trung bình

30 hải lý độ sâu là 200 m Do địa hình như vậy, các dòng chảy biển khơi (bị chi phối bởi

dòng chảy từ Biển Đông) đã «bị ép» vào gần bờ nên có nhiều loài cá nổi lớn vào theo, như:

cá ngừ sọc dưa, ngừ chấm bò, ngừ chấm, ngừ vằn, cá cờ, nhám, nục đỏ đuôi, v.v mà trong môi trường sinh thái biển ven bờ không thể có Điều kiện môi trường tự nhiên biển

khơi tiếp cận trực tiếp gần bờ như vậy rất thuận lợi cho phát triển nghề khai thác hải sản biển xa của các tỉnh Nam Trung Bộ, chỉ riêng xuất khẩu cá ngừ năm 2016 đã lên đến gần

hè là đông nam, ít khi là đông bắc hoặc bắc Độ cao sóng trung bình 0,6 - 0,7 m Từ tháng

7 đến tháng 8, hướng sóng thịnh hành là tây, tây nam chiếm ưu thế, độ cao trung bình khoảng 0,7 m và cao nhất có thể đạt đến 4 m, khi có bão độ cao sóng có thể đến 6 - 7 m,

đôi khi đến 9 m Vùng ven bờ từ Đà Nẵng trở vào Bình Thuận, trong tháng 1 hướng sóng

thịnh hành là đông bắc, độ cao trung bình 0,9 - 1 m, độ cao sóng cực đại đến 4m Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là tây nam, độ cao sóng trung bình 0,8 - 1m, cực đại 3,5 m Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là bắc, đông bắc Độ cao sóng trung bình 0,9 m, cực đại đạt 3,5 - 4 m

Tuyến hàng hải quốc tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và các tuyến trong khu vực Biển Đông phần lớn đều đi qua hoặc lân cận vùng biển miền Trung nước ta Đây cũng là khu vực phân bố các bồn trầm tích có các cấu trúc dầu khí triển vọng và các biểu hiện băng cháy (khí hydrat metan) ở nước ta, như: phần cửa vịnh Bắc Bộ của bồn trũng sông Hồng, bồn Phú Khánh, bồn Hoàng Sa và Trường Sa Tiềm năng phát triển cảng

- hàng hải của vùng này rất lớn mà đến nay chưa được khai thác tương xứng Ven biển miền Trung hội tụ các điều kiện làm tiền đề cho xây dựng các cảng biển nước sâu ở các vũng, vịnh ven bờ có độ sâu lớn và ít sa bồi đi kèm khu công nghiệp phức hợp, như vũng Dung Quất, Vũng Áng, vũng Chân Mây, vũng Hàn, vịnh Vân Phong, vịnh Cam Ranh, v.v Các phát hiện về tiềm năng và bùng nổ cảng nước sâu ở miền Trung trong những năm gần đây đã chứng minh một thực tế rõ ràng về vị thế chiến lược của biển miền Trung*** Thông qua đó, miền Trung cũng nhận được sự ủng hộ cao của các cơ quan quản

* Tổng cục Thủy sản (2016) Báo cáo tổng kết năm 2016 Lưu trữ tại Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,

Trang 20

lý và Chính phủ Việt Nam, cũng như thu hút sự chú ý của các tập đoàn tư vấn quốc tế lớn của các nước, như: Nhật Bản, Canada, Pháp, Mỹ, Trung Đông, v.v

2.2 Đặc trưng vùng ven biển miền Trung

Vùng ven biển miền Trung (coastal land) trải dài từ Thanh Hóa vào đến Bình Thuận

với đường bờ biển dài khoảng 1.995 km và thường được chia thành hai khu vực: Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa đến Thừa Thiên-Huế) có đường bờ biển dài 720 km và Nam Trung

Bộ có đường bờ biển dài 1.275 km Nét rất đặc trưng của vùng ven biển là có dải đồng

bằng cát ven biển trải suốt từ Thanh Hóa (trừ huyện Nga Sơn ở phía bắc) vào tới Bình Thuận* Xen kẽ các đồng bằng cát là các mũi nhô đá gốc và giữa các mũi nhô thường là các vũng biển ven bờ (bay) với các bãi cát trắng dài, đẹp lượn hình cánh cung Chúng tạo nên kiểu bờ biển liman với các vũng, vịnh ven bờ cát, các đầm phá và cửa sông dạng

“cúc áo”** Vùng ven biển này được hình thành từ kỳ Pleistocen cho đến hiện đại Quá trình tiến hóa địa chất là kết quả phối hợp phức tạp giữa những vận động nâng - hạ tân kiến tạo với các kỳ biển tiến - biển thoái do dao động của mực nước đại dương trong quá khứ*** Đây lại là một vùng biển “hở” nên chịu tác động thường xuyên của gió biển mạnh

và các dãy cồn - đụn cát đã hình thành trên nền của các đồng bằng cát ven biển nói trên Các yếu tố trên tạo nên một cảnh quan độc đáo cho vùng ven biển miền Trung, thuộc loại độc nhất vô nhị trong khu vực Đông Á Các cồn cát cao, đôi khi 20 - 30 m, kết thành các hệ thống cồn hình “cánh gà” vuông góc với hướng gió thổi từ biển vào**** Dọc ven biển miền Trung có tới hơn 500 km bờ biển hình thành các cồn cát cao và đa dạng kiểu loại như vậy Phía sau các hệ cồn cát về phía lục địa là các vùng đất thấp, thường bị

ảnh hưởng của hiện tượng “cát trôi, cát chảy” Các giá trị cảnh quan và tiềm năng phát triển vùng cát này là rất lớn, mặc dù trong suốt thời gian dài, các chuyên gia và nhà hoạch định

chính sách vẫn “định kiến” và xem nó như một “yếu thế” của miền Trung

Vùng ven biển Nam Trung Bộ, từ Huế trở vào, về cơ bản có xu thế cân bằng về mặt

động lực bờ, nên đã hình thành 12 đầm phá điển hình ở giai đoạn cuối của quá trình thành

tạo các đồng bằng cát ven biển***** Sự có mặt của đầm phá cũng là nét điển hình của vùng

bờ miền Trung so với các khu vực bờ biển khác của Việt Nam và các nước khu vực Đông Nam Á

* Phan Liêu (1981) Đất cát ven biển Việt Nam NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội

** Lê Đức An (2008) Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam: Tài nguyên và Phát triển NXB Khoa học Tự nhiên

và Công nghệ, Hà Nội.

*** Trần Đức Thạnh (Chủ biên) và Nnk (2012) Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất,

sinh thái tiêu biểu NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

**** Phan Liêu (1981) Đất cát ven biển Việt Nam NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội

***** Nguyễn Chu Hồi (2005) Cơ sở tài nguyên và môi trường biển NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 21

Một đặc trưng khác là miền Trung có đường bờ biển uốn cong về phía biển và có điểm nhô

xa nhất của đường bờ nước ta về phía đông - mũi Đại Lãnh thuộc Phú Yên Đặc trưng về cấu

trúc địa chất - địa lý đã hình thành ở ven biển miền Trung nhiều vũng vịnh sâu nguồn gốc kế thừa từ các hố sụt kiến tạo cổ Địa hình vùng ven biển miền Trung đặc trưng bởi

sự tương phản địa hình với dãy núi Trường Sơn ở phía tây, các sông suối thường ngắn và dốc,

lưu lượng nước phụ thuộc theo mùa, rất dễ gây ngập lụt, xói lở bờ sông khi xảy ra mưa lớn trên diện rộng ở thượng nguồn vào các tháng mưa cực đại Ở nơi ven biển có các cồn đụn cát cao hoặc đầm phá, dòng sông thường chảy song song với đường bờ biển trước

khi đổ ra biển Chính vì thế, vùng ven biển miền Trung luôn bị ngập lụt do khả năng thoát nước ra biển rất chậm

Vùng ven biển miền Trung lại nằm trong miền khí hậu biến tính mạnh, phía Bắc Trung

Bộ chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa và gió Lào khô nóng Từ Thừa Thiên - Huế đến Quảng Ngãi, mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, cực đại vào tháng 9 và tháng 10 với lượng mưa bình quân đến 600 - 700 mm/tháng, chiếm 50% lượng mưa cả năm Phía nam nắng nhiều hơn mưa, từ Bình Định trở vào phía nam, mùa mưa đến muộn hơn, từ tháng 9 (10) đến tháng 12 (hoặc gối sang tháng 1 năm sau), cực đại vào hai tháng 10 và 11 với lượng mưa bình quân 400 - 500 mm/tháng, chiếm 50% lượng mưa cả năm Đặc biệt

ở Ninh Thuận - Bình Thuận lượng mưa rất ít*

Vùng ven biển miền Trung cũng là nơi hàng năm chịu nhiều thiên tai biển như bão, tố,

nước dâng trong bão, biến đổi khí hậu và kể cả đôi khi có sóng thần quy mô nhỏ Vùng ven biển này hàng năm bình quân phải hứng chịu cỡ 3 - 4 cơn bão, xu hướng giảm dần từ bắc vào nam Thời gian có bão từ tháng 8 đến tháng 10 đối với khu vực từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế và từ tháng 11 đến tháng 12 với khu vực từ Đà Nẵng đến Bình Thuận Theo thống kê, từ năm 1996 trở lại đây, tần suất bão đổ bộ vào khu vực này tăng lên, đồng thời hậu quả do bão gây ra (lụt, lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lấp cửa sông, phá hủy

cơ sở hạ tầng, nhà cửa, mùa màng ) cũng tăng lên liên quan tới biến đổi khí hậu**

Với các đặc trưng như vậy, vùng ven biển miền Trung có vị trí rất quan trọng, là cửa mở thông thương ra biển và có thể hỗ trợ cho hội nhập kinh tế nội khối ASEAN thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây Cùng với dãy Trường Sơn hùng vĩ (nơi cách biển gần nhất ở Quảng

Bình khoảng 50 km), vùng ven biển chiếm vị trí quan trọng trong bình đồ phát triển kinh

tế biển, ven biển gắn với anh ninh, quốc phòng Nhiều vịnh, vũng có thể xây dựng thành các cảng biển nước sâu tiềm năng nhất ở nước ta, tạo tiền đề phát triển các khu kinh tế ven biển theo mô hình: cảng - đô thị - biển như các khu: Nghi Sơn, Vũng Áng, Dung Quất, Chân Mây,

Vịnh Hàn, Nhơn Hội, Vân Phong, vịnh Nha Trang, Cam Ranh***

* Trần Đức Thạnh (Chủ biên) và Nnk (2012) Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất,

sinh thái tiêu biểu NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

** Đã dẫn trong Tltk số 9.

*** Nguyễn Chu Hồi (2013) “Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ góc độ tài nguyên và môi trường” Tạp chí

Lý luận Chính trị, số 5-2013, tr 30-41, Hà Nội.

Trang 22

Vùng ven biển miền Trung cũng là nơi có triển vọng du lịch rất lớn, tập trung vào du lịch biển - đảo, du lịch sinh thái, du lịch vùng cát mà đến nay gần như chưa “đánh thức” tiềm năng độc đáo này Vùng ven biển này cũng tập trung các mỏ khoáng sản, như cát thủy tinh, sa khoáng titan - ziacon, sa khoáng vàng, sắt nội sinh, vật liệu xây dựng Tiềm năng phát triển thủy sản cả nuôi trồng và đánh bắt hải sản đều rất đáng kể Ngoài ra, tiềm năng năng lượng gió biển và sóng biển cũng rất đáng kể.

Phát huy lợi thế, khắc phục yếu thế, thay đổi tư duy và tầm nhìn, đổi mới cơ chế chính sách, chắc chắn sẽ đem lại cho vùng ven biển và biển miền Trung “trang trang cồn cát” với cái đói nghèo đeo đẳng và chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, một diện mạo mới trong phát triển kinh tế thời gian tới Tiềm năng biển, đảo miền Trung đã và đang được đánh thức Chính quyền và nhân dân các tỉnh miền Trung đang nhìn ra biển bằng chính sự quyết tâm đã có từ trong truyền thống và tiềm thức về biển đảo quê hương

2.3 Vai trò của hệ thống đảo miền Trung

Trong vùng biển miền Trung có khoảng 9% tổng số 2.773 đảo ven bờ cả nước, chiếm 10,8% tổng diện tích các đảo ven bờ (1.721 km2) và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa* Trong số đảo ven bờ, Hòn Hải là đảo xa nhất, cách Phan Thiết chừng 155 km

Tỉnh Khánh Hòa có nhiều đảo phân bố nhất miền Trung, bao gồm 3,8% tổng số đảo và 6,1% (105 km2) tổng diện tích đảo ven bờ cả nước và Hòn Đôi (Vạn Ninh) nằm ở điểm cực Đông, trong hệ tọa độ: 109028”00””KĐ và 12039”00””VB

Căn cứ vào các yếu tố địa chất - địa mạo, người ta chia các đảo ven bờ miền Trung thành 2 khu vực: biển ven bờ Bắc Trung Bộ (khoảng 60 đảo với diện tích 14 km2, gồm

2 cụm đảo phân tán là Hòn Mê - Hòn Mát và cụm Cồn Cỏ) và khu vực biển ven bờ Nam Trung Bộ (khoảng 200 đảo với trên 170 km2), gồm 3 cụm đảo: Cù lao Chàm - Lý Sơn, cụm

Cù lao Xanh - Hòn Tre và cụm Phú Quý** Quần đảo Hoàng Sa (Paracels) là một huyện

đảo thuộc thành phố Đà Nẵng, gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô, đá ngầm và bãi cạn với diện tích toàn bộ phần đất nổi tự nhiên khoảng 10 km2 và đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm, diện tích khoảng 1,5 km2 *** Quần đảo Trường Sa (Spratly) là một huyện đảo thuộc tỉnh

Khánh Hòa, gồm hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi cát với diện tích toàn bộ phần đất nổi tự nhiên khoảng 10 km2, trong đó đảo Ba Bình (Thái Bình) lớn nhất, rộng khoảng 0,5 km2 **** do Đài Loan đang tạm chiếm giữ

* Lê Đức An (2008) Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam: Tài nguyên và Phát triển NXB Khoa học Tự nhiên và

Công nghệ, Hà Nội.

** Lê Đức An (2008) Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam: Tài nguyên và Phát triển NXB Khoa học Tự nhiên và

Công nghệ, Hà Nội.

*** Ban Tuyên giáo Trung ương (2013) Một trăm câu hỏi - đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam NXB

Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

**** Đã dẫn trong Tltk số 14.

Trang 23

Về mặt hành chính, vùng biển miền Trung có 5 huyện đảo, ngoài 2 huyện đảo xa bờ

(Hoàng Sa và Trường Sa), còn có 3 huyện đảo ven bờ: huyện đảo Cồn Cỏ thuộc Quảng Trị (4 km2), Lý Sơn thuộc Quảng Ngãi (9,97 km2) và huyện đảo Phú Quý thuộc Bình Thuận (16 km2) Trong các huyện đảo ven bờ Việt Nam, đảo Lý Sơn có mật độ dân số cao nhất (1.980 người/km2), đảo Phú Quý mật độ cao (1.439 người/km2), đảo Cồn Cỏ có mật

độ dân số nhỏ hơn (63 người/km2)* Các huyện đảo miền Trung, cùng với hiện diện dân

sự của người Việt từ lâu đời, thực sự không chỉ là những trung tâm hành chính - kinh

tế biển - đảo quan trọng của đất nước, mà còn là những khu vực phòng thủ quốc phòng

- an ninh từ phía biển

Các cụm đảo - biển ven bờ cũng kết thành những tấm bình phong án ngữ mặt tiền phía đông của nước ta: mỗi hòn đảo là một tiền đồn vững chắc, một chiến hạm không thể bị

đánh chìm, một “cột mốc chủ quyền” trong bảo vệ an ninh, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc** Đảo Lý Sơn từng được chọn làm căn cứ hậu cần và xuất phát của Hải đội Hoàng Sa thời Nguyễn, Cồn Cỏ từng là đảo anh hùng trong chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, và Phú Quý là điểm trung chuyển lý tưởng cho Trường Sa

Các đảo thuộc vùng biển miền Trung phần lớn là các đảo nhỏ và rất nhỏ, nhưng do phân bố khá đều ở ven bờ và án ngữ ngoài khơi nên có vị trí chiến lược đặc biệt không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả vùng Biển Đông Như đã nói trên, hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa nằm án ngữ một vùng biển giữa Biển Đông đóng vai trò “kiểm soát” cực

kỳ quan trọng đối với toàn bộ hoạt động kinh tế và quốc phòng trong Biển Đông Hiện nay, các tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo này của Việt Nam không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia yêu sách chủ quyền mà còn thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố ảnh hưởng lâu dài đến hòa bình và ổn định trên Biển Đông***

Do vị trí không gian, quy luật phân bố, cách sắp xếp và giá trị hình thể các đảo miền Trung rất đặc biệt, nên các đảo ở đây có nhiều lợi thế về phương diện địa lý, tạo ra tiềm năng vị thế - một nguồn lực phát triển quan trọng cho các tỉnh miền Trung từ góc nhìn

dài hạn về tính liên kết vùng miền Các đảo ven bờ chiếm vị trí tiền tiêu ở biển miền Trung

như Cồn Cỏ, Phú Quý, Lý Sơn Các đảo và mũi nhô là các điểm “mốc” trên đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam là: Hòn Hải (thuộc cụm đảo Phú Quý, Bình Thuận), Hòn Đôi (Khánh Hòa), mũi Đại Lãnh (Phú Yên), hòn Ông Căn (Bình Định), đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) và đảo Cồn Cỏ (Thừa Thiên - Huế)**** Một số đảo còn là cơ

sở để xác định đường biên giới quốc gia trên biển và vùng chồng lấn với các nước láng

* Trần Đức Thạnh (Chủ biên) và Nnk (2012) Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kỳ

quan địa chất, sinh thái tiêu biểu NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

** Đã dẫn trong Tltk số 14.

*** Nguyễn Chu Hồi, Vũ Hải Đăng (2016) An ninh môi trường và hòa bình ở Biển Đông NXB Thông tin –

Truyền thông, Hà Nội.

**** Đã dẫn trong Tltk số 14.

Trang 24

giềng, ví dụ như: đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa*

Các đảo ven bờ miền Trung gắn kết với các vũng, vịnh ven bờ - nơi phân bố phong phú các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn, cùng với các hệ sinh thái trên đảo khác nhau, nơi có nhiều giá trị danh thắng, văn hóa - khảo cổ biển, tạo nên các giá trị bảo tồn thiên nhiên - văn hóa đầy tiềm năng Nhiều đảo tạo nên các giá trị toàn cầu và quốc gia cho các vũng vịnh ven bờ (vịnh Nha Trang, Chân Mây, Vân Phong, v.v ) Nhiều đảo

là các trung tâm hậu cần nghề cá và hàng hải, vùng biển quanh đảo có nhiều bãi giống, sinh sản và các ngư trường đánh bắt hải sản, nhiều đảo là điểm đến của du lịch biển - đảo nổi tiếng, như: hòn Mê (Thanh Hóa), hòn Mắt (Nghệ An), hòn La (Quảng Bình), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Hòn Câu (Bình Thuận), v.v Nhiều đảo các giá trị “kỳ quan địa chất” như hòn Mê - Mát, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, v.v Các đảo có hình dạng rất khác nhau, đôi khi kỳ dị, tạo ra các thắng cảnh tuyệt vời, như: hòn La, hòn Vụng Chùa, hòn Cỏ, hòn Gió, v.v**

Tiềm năng bảo tồn của các đảo vùng biển miền Trung rất lớn, nhất là khu vực biển Nam Trung Bộ với các hệ sinh thái biển nhiệt đới điển hình Đặc biệt, đảo Chim có nhiều hải âu đen trú ngụ, cho nên là điểm rất hấp dẫn khách du lịch Trong vùng biển miền Trung có mặt 10/16 khu bảo tồn biển của cả nước, ven biển có các khu di sản thiên nhiên

và văn hóa thế giới, các vịnh đẹp và khu dự trữ sinh quyển toàn cầu,

3 Các cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế biển miền Trung bền vững

3.1 Các cơ hội chủ yếu

Các cơ hội chính để kinh tế biển miền Trung tiếp tục phát triển, tạo đột phá và thúc đẩy tăng trưởng xanh lam, hiệu quả và bền vững là:

Một là, tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng và Chính phủ để

thực hiện thành công các mục tiêu đề ra của Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, đặc biệt là các định hướng bảo vệ môi trường biển, đảo và vùng ven biển; phòng, chống thiên tai biển khu vực miền Trung Xem đây là nền tảng và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững miền Trung

Hai là, quy mô kinh tế biển, vùng ven biển và đảo ở miền Trung tăng lên rõ rệt; cơ cấu ngành, nghề thay đổi cùng với đầu tư phát triển các khu kinh tế ven biển trong vùng kinh

tế trọng điểm Trung Bộ, tạo ra các “cực phát triển” mới cho khu vực Các khu kinh tế ven biển

có bước phát triển mạnh với 8/15 khu nằm ở miền Trung, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế biển của địa phương, cải thiện đời sống của người dân và tạo ra thế và lực mới cho khu vực và đất nước***

* Lưu Văn Lợi (2012) Đất, biển, trời Việt Nam NXB Thanh niên, Hà Nội.

** Đã dẫn trong Tltk số 17.

*** Nguyễn Chu Hồi (2013) “Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ góc độ tài nguyên và môi trường” Tạp chí

Lý luận Chính trị, số 5-2013, Trang 30-41, Hà Nội.

Trang 25

Ba là, hệ thống thể chế về quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải

đảo từ Trung ương xuống địa phương đã được thiết lập từ năm 2008 tập trung vào quản

lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển hướng tới phát triển bền vững biển, vùng ven biển và hải đảo

Bốn là, hệ thống luật pháp, chính sách theo hướng quản lý tổng hợp tài nguyên

và bảo vệ môi trường biển và hải đảo từng bước được xây dựng và bắt đầu đi vào cuộc sống Đáng kể là Luật Biển Việt Nam (2012); Chiến lược Quốc gia đến năm 2020 (2013) và

Kế hoạch hành động Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020 cùng với các văn bản triển khai và các luật ngành hoặc chuyên ngành đang điều chỉnh

Năm là, cơ sở hạ tầng cho kinh tế biển được cải thiện một bước đáng kể, góp phần kết

nối kinh tế ven biển giữa các vùng miền Quá trình phát triển kinh tế theo hướng mở, cùng với 8 khu kinh tế ven biển bước đầu đã hình thành ở miền Trung các cảng biển nước sâu,

hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ Bắc - Nam, các trung tâm du lịch biển-đảo, các khu

đô thị mới, v.v Điều này tạo cho miền Trung một vị thế mới với nhiều điểm nhấn gây

ấn tượng, như: Nghi Sơn, Vũng Áng, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Nha Trang, Mũi

Né, v.v Một chuỗi đô thị ven biển miền Trung hứa hẹn được chú ý phát triển

Sáu là, đã có bước phát triển mới ở một số đảo, vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt theo hướng phát triển bền vững Kết cấu hạ tầng ở một số đảo được tăng cường, hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có điện lưới, đảo xa bờ có máy phát điện, điện mặt trời và cơ sở cung cấp nước ngọt Điều này tạo thuận lợi cho việc mở rộng không gian kinh tế biển, giải quyết các vấn đề xã hội biển - đảo, gắn với bảo đảm

an ninh, quốc phòng các vùng biển và quản lý hiệu quả các đảo hoang sơ, hoang dã theo hướng hài hòa giữa phát triển và bảo vệ Ý tưởng về một chuỗi đô thị đảo bắt đầu nhen nhóm và hy vọng sớm kết nối với chuỗi đô thị ven biển

Bảy là, Chính phủ tiếp tục cam kết thực hiện 17 Mục tiêu Phát triển bền vững đến

năm 2030, trong đó có Mục tiêu 14 về biển và đại dương Miền Trung có nhiều tiềm năng

về bảo tồn thiên nhiên với các gía trị toàn cầu và quốc gia, vì thế một nền kinh tế dựa vào lợi thế và tính đặc thù của miền Trung đang phát huy tác dụng, dần thay thế phương thức khai thác biển “truyền thống”, thiếu bền vững

Tám là, công tác đối ngoại đã đạt được một số kết quả tạo môi trường pháp lý quan

trọng để giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và quản lý tổng hợp biển đảo ở nước ta Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực Biển Đông

3.2 Các thách thức cơ bản

Để phát triển kinh tế biển miền Trung bền vững theo hướng tăng trưởng xanh và hiệu quả trong khi vẫn bảo tồn được tính bền vững của biển, vùng này vẫn còn đối mặt

Trang 26

với không ít thách thức, khó khăn như*:

Một là, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, kinh tế biển và phát triển bền vững

biển, đảo của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy

đủ Quy mô kinh tế biển còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, đảo vẫn còn “lúng túng” đối với cả những người thực hiện và nhà hoạch định chính sách; chạy theo lợi nhuận trước mắt, ngắn hạn trong phát triển vẫn còn khá phổ biến

Hai là, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, chưa tương

xứng yêu cầu phát triển kinh tế biển nhanh, hiệu quả và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hệ thống hạ tầng cơ sở cho phát triển kinh tế biển, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển còn lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp Thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc ven biển để liên kết các đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay ven biển nhỏ bé, phân tán, v.v thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn

Ba là, hệ thống các cơ sở nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển, cho

quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo tại địa bàn còn hạn chế Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được nghiên cứu áp dụng, như quản lý biển theo không gian, đồng quản lý, v.v Khai thác, sử dụng biển đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chưa thân thiện môi trường

Bốn là, còn nghiêng về ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái

tạo, các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển còn ít được chú trọng (như: giá trị không gian biển đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái và các giá trị văn hóa biển) Cách tiếp cận “nóng“ trong khai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnh vực kinh tế biển: chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích (benefit conflict) trong sử dụng đa ngành tài nguyên

và bảo vệ môi trường vùng ven biển, biển và đảo

Năm là, môi trường biển tiếp tục biến đổi theo chiều hướng xấu, đa dạng sinh học

biển và nguồn lợi thuỷ hải sản giảm sút gây hậu quả trước mắt và lâu dài Ngày càng nhiều chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển, một

số khu biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng Các hệ sinh thái biển, ven biển và đảo – “nguồn vốn tự nhiên” cho tăng

* Nguyễn Chu Hồi và Nnk (2016) Giáo dục tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo Việt Nam Dự thảo

lần cuối, NXB Chính trị - Sự thật, Hà Nội

Trang 27

trưởng xanh lam ở biển miền Trung, đang bị suy thoái nghiêm trọng và nằm trong tình trạng rủi ro cao Các quần đoàn có xu hướng di chuyển ra xa bờ hơn do thay đổi cấu trúc hoàn lưu ven biển, thay đổi tương tác sông - biển ở vùng cửa sông ven bờ, do mất đến 60% các nơi cư trú tự nhiên quan trọng

Sáu là, đến nay biển, đảo và vùng ven biển miền Trung vẫn chủ yếu được quản lý

theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu được quản lý theo ngành (sectoral management) thông qua các luật pháp, chính sách ngành Quy định về kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi giấy phép sử dụng, khai thác tài nguyên biển, v.v chưa hình thành và chậm được triển khai để thực hiện chủ trương quản lý tổng hợp và thống nhất về biển đảo*

Bảy là, tiếp tục phải chi phí lớn cho việc ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu

Miền Trung được dự báo là nơi thiên tai biển xảy ra thường xuyên hơn và chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ Tỷ lệ người nghèo khó còn cao so với các khu vực ven biển khác Mức độ lồng ghép các vấn đề thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu vào trong các quy hoạch, kế hoạch

và dự án đầu tư dài hạn còn rất hạn chế

4 Thay đổi tầm nhìn chiến lược để kinh tế biển miền Trung “bứt phá”

theo hướng “xanh lam”

Có thể nói, từ một vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, một khu vực nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế và “bị cô lập” về địa lý trong nhiều thế kỷ, ngày nay, miền Trung phải được nhìn nhận như một vùng “đất hứa” của các dự án phát triển và phải gánh trên vai sứ mạng “tiên phong” trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc Với đường lối đổi mới của đất nước, miền Trung bằng con đường phát triển kinh

tế biển trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và đa dạng hóa loại hình du lịch, dịch vụ hiện đại cùng với phát huy các di sản văn hóa đã và sẽ tự khẳng định vị trí quan trọng của mình và từng bước góp phần to lớn đưa vùng này vào thế phát triển hiệu quả

và bền vững Tiềm năng miền Trung bắt đầu được đánh thức, kinh tế miền Trung đã tìm hướng “đột phá” về phía biển, hội nhập kinh tế thế giới và từng bước được công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Miền Trung có lợi thế “mặt tiền” hướng biển, gần tuyến hàng hải quốc tế và khu vực Trong quá khứ, người miền Trung có 3 góc nhìn: “ngó lên”, “ngó ra”, rồi “ngó vô”, nhưng với lợi thế về biển, người dân nơi đây đặc biệt chú trọng đến “ngó ra”** Gần đây

* Nguyễn Chu Hồi (2009) “Quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở Việt Nam: Vấn đề và cách tiếp cận”

Tạp chí Sinh hoạt - Lý luận, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III Đà Nẵng, số 1(92)/2009.

** Nguyễn Đăng Vũ (2010) “Người Quảng Ngãi nhìn ra biển” Kỷ yếu Diễn đàn Thương hiệu biển Việt Nam

lần 2, Quảng Ngãi.

Trang 28

đã thay đổi một bước tư duy từ “ngó ra” sang “nhìn ra, vươn ra biển”, và trong thực tế, miền Trung đang “phát tín hiệu” thực sự bứt phá để nhìn ra biển, hướng tới khả năng

cạnh tranh và hội nhập Trước hết, do miền Trung bị kẹt giữa núi rừng phía sau lưng,

biển cả phía trước mặt và được nối kết bằng các dòng sông ngắn và dốc, ven biển “toàn cát” và đôi nơi có cửa sông khá rộng Miền Trung thật sự rơi vào thế “bị trói buộc” và không còn có cách nào tốt hơn là người miền Trung phải đối mặt và quen dần với biển

cả Thứ hai, người miền Trung “nhìn ra biển” cũng chính là nhờ môi trường biển và tài nguyên biển miền Trung có tới trên 20 cửa biển lớn, đẳng cấp quốc tế Thứ ba, nhìn lại

quá khứ, người Việt từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có “cái nhìn ra biển” sớm Đó là nhờ cuộc sống cộng cư với người Chăm của người Việt di cư vào phía Nam Chiếc ghe bầu và

những tri thức dân gian về biển đã giúp người Việt biết ra xa bờ hơn Thứ tư, người miền

Trung đã tiếp xúc với nghề giao thương đường biển của người Hoa và Nhật Các dấu tích văn hóa, khảo cổ biển, các đô thị cổ Hội An, v.v cho thấy điều này*

Thế đứng tự nhiên và động lực xã hội như vậy tạo ra một miền Trung có nhiều lợi thế so sánh trong phát triển, cùng với tiềm năng phát triển cảng biển nước sâu, miền

Trung phải chuyển “yếu thế” thành lợi thế, kết hợp phát huy lợi thế hiện có để nhanh chóng chuyển thành lợi ích của vùng và của đất nước Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế càng được

đẩy mạnh, tình hình Biển Đông ngày một phức tạp thì vị thế “đầu tàu” của miền Trung tương lai lại càng được củng cố và nâng cao Trong đó, đầu tư phát triển tuyến đường ven biển miền Trung để nối kết thành chuỗi đô thị ven biển được xem là khâu “đột phá” trong nỗ lực liên kết vùng, phá thế cô lập về kinh tế giữa các tỉnh trong khu vực, tạo cho miền Trung phát triển kinh tế biển đa dạng với quy mô lớn, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng biển đảo

Bảo tồn và phát triển phải là trục chính trong chiến lược phát triển kinh tế miền Trung

trong dài hạn với ưu tiên phát triển các ngành nghề kinh tế dựa vào bảo tồn, như: nghề

cá giải trí, nuôi xuất khẩu cá cảnh biển, du lịch sinh thái biển (bao gồm cả du lịch lặn, du lịch văn hóa - khảo cổ biển) Xây dựng hình ảnh và thương hiệu cho miền Trung thông qua ưu tiên cao cho phát triển du lịch với tư cách là một “ngành kinh tế tổng hợp“, đòi hỏi cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong quản lý và kiểm soát phát triển Đổi mới căn bản cơ sở hạ tầng dịch vụ cho phát triển kinh tế biển xanh như cảng biển, bến

cá, bến tàu du lịch theo hướng hiện đại và bền vững cũng là hướng và giải pháp ưu tiên

trong thời gian tới Ngoài ra, phải bảo tồn, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan đặc hữu của các hệ thống cồn đụn cát ven biển để duy trì một “con đê tự nhiên” ngăn cản nước biển dâng, bảo

vệ bờ biển khỏi xói lở và phát triển các khu du lịch vùng cát đẳng cấp quốc tế Đối với

* Nguyễn Chu Hồi (2014) “Suy nghĩ về tầm nhìn và hướng quy hoạch phát triển đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng

Ngãi” Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về “Định hướng phát triển và cơ chế, chính sách đặc thù cho huyện đảo Lý Sơn,

trang 100-114; Ban Kinh tế Trung ương – Tỉnh ủy Quảng Ngãi xuất bản tại Công ty in Nhân dân Bình Định, Quảng Ngãi.

Trang 29

các đảo, huyện đảo cần phải chú ý đến 4 thứ quan trọng đã và đang mất: mất biển (mất các hệ sinh thái tiêu biểu), mất rừng trên đảo, mất nước trên đảo (nước ngầm, nước mặt)

và mất đất (quỹ đất ít nhưng sử dụng đất lãng phí) Muốn phát triển kinh tế đảo bền vững

với tư cách là một lĩnh vực kinh tế đặc thù, trước hết cần phải “đòi lại” cho được 4 thứ đầu vào đã mất nói trên

Cuối cùng, để chuyển đổi kinh tế biển miền Trung từ mảng “nâu” sang “xanh lam” theo hướng phát triển bền vững, các tỉnh và toàn khu vực cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: (i) Thực thi hiệu quả quản lý nhà nước tổng hợp, tiến tới thống nhất quản

lý nhà nước đối với biển, đảo; (ii) Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên biển, vùng ven biển và đảo; (iii) Giảm thiểu suy thoái và ô nhiễm môi trường biển, vùng ven biển và đảo, đặc biệt từ nguồn đất liền; (iv) Thực thi pháp luật và kiểm soát hiệu quả môi trường biển

và vùng ven biển; (v) Tăng cường các hoạt động quan trắc – cảnh báo môi trường biển

- ven biển; (vi) Áp dụng các công cụ kinh tế và quy hoạch, đặc biệt quy hoạch không gian biển (marine spatial planning) để tổ chức lại lãnh thổ kinh tế biển miền Trung dựa vào hệ sinh thái; (vii) Gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm an ninh, quốc phòng trong tình hình mới; và (viii) Tăng cường tham vấn của các bên liên quan để “sàng lọc đầu tư“ hiệu quả và đẩy mạnh tuyên truyền về biển đảo, về kinh tế biển xanh và bền vững

Thay lời kết

- Miền Trung và các tỉnh ven biển miền Trung có những lợi thế chiến lược và độc đáo - cơ sở cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững, mà nòng cốt là phải bảo toàn được “nguồn vốn tự nhiên“, cùng với việc chú trọng sử dụng các “nguồn lực không trần” do Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại

- Cần chuyển “yếu thế” trong vùng thành lợi thế và từ lợi thế chuyển thành lợi ích cho kinh tế biển toàn vùng và cho đất nước trên cơ sở tôn trọng các yếu tố đặc thù, các giá trị cốt lõi trong vùng và từng địa phương, bảo đảm tốt liên kết vùng trong phát triển

“chuỗi” khu kinh tế biển - đảo, chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo ở miền Trung

- Thực trạng và tiềm năng phát triển của miền Trung đòi hỏi phải thay đổi tầm nhìn, xóa bỏ định kiến trong chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng chuyển từ “nâu” sang

“xanh lam”, hướng tới phát triển bền vững và thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy cơ hội, khắc phục thách thức để kinh tế biển miền Trung “bứt phá” trong dài hạn

Trang 30

VÀ CÁC DỰ ÁN KÉO ĐIỆN TỪ ĐẤT LIỀN RA CÁC ĐẢO VEN BỜ

Lưu Đức Hải * , Dư Văn Toán **

Tóm tắt: Bài báo trình bày hai vấn đề về bản chất có mối quan hệ chặt chẽ là tiềm năng

năng lượng tái tạo cao của vùng biển ven bờ Việt Nam và các dự án kéo điện từ đất liền ra các đảo ven bờ đang được triển khai mạnh mẽ trong thời gian qua Hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án kéo điện từ đất liền ra đảo, được người dân và các doanh nghiệp sống và hoạt động trên các đảo ven bờ ghi nhận xuất phát từ các lý do: sự trợ cấp của Nhà nước trong xây dựng các đường truyền tải điện từ đất liền ra đảo, sự trợ giá của Nhà nước đối với điện sản xuất từ các nguồn năng lượng truyền thống thủy điện và nhiệt điện, cũng như yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng đối với các đảo ven bờ Từ việc phân tích xu hướng giảm giá thành điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, thủy triều, sóng biển, v.v.) và xu hướng xóa bỏ các trợ cấp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, tác giả đi đến các khuyến nghị mang tính dự báo: là việc chuyển tải điện từ đất liền ra các đảo ven bờ cần thiết trong giai đoạn hiện nay có thể sẽ được thay thế bằng việc chuyển tải điện sản xuất

từ nguồn năng lượng tái tạo từ đảo vào đất liền Sự đổi hướng chuyển tải điện từ đất liền

ra đảo thành chuyển điện từ đảo vào đất liền sẽ diễn ra nhanh chóng khi Nhà nước quan tâm đến phát huy tiềm năng năng lượng tái tạo lớn của vùng biển ven bờ và xóa bỏ bao cấp trong sản xuất điện từ các nguồn năng lượng truyền thống (nhiệt điện và thủy điện)

Từ khóa: Năng lượng tái tạo, Kéo điện từ đất liền ra biển.

Abstract: This paper presents two closely related issues: the high renewable energy

potential of Vietnam’s coastal waters and the extensive transmission of land-based electricity to coastal islands recently The socio-economic benefits of transmission of land- based electricity to the island projects are recognized by the people and enterprises living and operating on the inshore islands for several reasons: subsidies of the State to build electricity transmission lines from the mainland to the islands, subsidies of the State for electricity produced from traditional hydropower and thermal power sources, as well as

* Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN.

** Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo.

Trang 31

requirement of national defense and security in near-shore islands From analyzing the downward trend of production cost of electricity generated from renewable energy sources (wind, solar, tides, waves, etc.) and the tendency to eliminate state subsidies in the market economy, the author make predictive recommendations: the transmission of electricity from land to the near-shore islands which is necessary in the current period could be replaced

by the transmission of electricity generated from renewable energy sources from the island

to the mainland The change of direction of power transmission will happen quickly when the State is interested in bringing into full play the potential of large renewable energy

of coastal areas and remove the subsidies in power generation from traditional energy sources (thermal and hydro power).

Keywords: Renewable energy; Power transmission from land to island.

Việc kéo điện lưới quốc gia từ đất liền ra đảo, kể các đảo ven bờ là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhưng có tối ưu trong tương lai hay không? Đây sẽ là câu hỏi và nội dung trình bày của bài viết này

Trang 32

Tiềm năng năng lượng tái tạo của vùng biển ven bờ Việt Nam

Vùng biển ven bờ bao gồm các đảo đảo và mặt nước biển có tiềm năng rất lớn về năng lượng tái tạo với các dạng năng lượng chính gồm: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sóng, năng lượng thủy triều, năng lượng sinh khối và các dạng năng lượng

Năng lượng gió

Sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển tạo ra gió, nên đây cũng là một nguồn năng lượng, nguồn điện vô cùng tận so với đời sống con người.Với ưu điểm là nguồn năng lượng gió không bao giờ cạn và hoàn toàn miễn phí, những máy quay gió cũng như những cánh đồng máy quay gió đã ra đời Loại hình này cũng không tạo ra chất thải ô nhiễm môi trường và gần như rất thích hợp cho những khu vực xa đô thị, nơi mà lưới điện quốc gia khó có thể vươn tới Tuy nhiên, giống như năng lượng Mặt trời, loại hình năng lượng này cũng đòi hỏi vốn đầu tư khá cao và lệ thuộc vào tự nhiên Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, loại hình năng lượng này đã xuất hiện ở nhiều quốc gia như Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha… và đang là tiềm năng kinh doanh đầy triển vọng Hiện tại, những nghiên cứu ứng dụng tổng hợp và công nghệ điện gió nối lưới điện chính cũng như dự trữ năng lượng gió dưới một dạng khác đang được tiến hành nhiều nơi, kể cả Việt Nam

Hình 2 Những cánh quạt chuyển hóa

năng lượng gió

(Nguồn: OES, 2011; Dư Văn Toán, 2011)

Hình 3 Phân bố năng lượng gió

toàn cầu mùa hè

(Nguồn: OES, 2011; Dư Văn Toán, 2011)

Phổ biến và có hiệu quả nhất hiện nay trên thế giới là sử dụng năng lượng gió để phát điện Theo thống kê, tổng công suất điện gió được lắp đặt trên toàn cầu năm 2007 là 94.100 MW, đến tháng 3/2008 đạt con số kỷ lục là 100.000 MW, trong đó có 13 nước đạt mức trên 1.000 MW

Trang 33

Ở châu Âu, tổng công suất điện gió được lắp đặt tính đến năm 2007 là 57.100 MW, chiếm 43% của thế giới; đã lắp mới được 8.600 MW, chiếm 40% tổng công suất lắp mới của thế giới, đây là kỷ lục tăng trưởng lớn nhất của châu Âu, lớn hơn bất kể nguồn năng lượng nào khác Đức là quốc gia dẫn đầu về điện gió, tổng công suất lắp đặt đến năm 2007 đạt mức 22.200 MW, hơn 7% điện năng được phát từ nguồn điện gió Mỹ

là quốc gia dẫn đầu thế giới về lắp đặt mới điện gió trong năm 2007 với tổng công suất lắp đặt mới là 5.240 MW, chiếm một phần tư tổng công suất lắp mới trên toàn cầu năm

2007 Theo kế hoạch, năm 2009 Mỹ sẽ vượt Đức để vươn lên dẫn đầu thế giới Trung Quốc nổi lên là nước sớm ban hành Luật Năng lượng tái tạo, tạo ra động lực để phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió Tổng công suất điện gió tính đến năm 2007 là 6.050 MW, vượt chỉ tiêu năm 2010 là 5.000 MW Nhờ Luật Năng lượng tái tạo có hiệu lực từ tháng 1 năm 2006 mà công suất điện gió lắp mới năm 2007 tăng vọt, đạt mức 3.450 MW, tăng 156% so với năm 2006 Năng lượng gió đã trở thành một xu hướng đầu tư có tính thương mại ở khoảng 8 - 10 quốc gia có tiềm năng năng lượng gió lớn và tốc độ phát triển nhanh như Đan Mạch, Đức, Ấn Độ, Italia, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ và đặc biệt gần đây là Trung Quốc Một xu hướng mới đang phát triển hiện nay trên thế giới là xây dựng các nhà máy điện gió trên

biển (offshore wind farm) Mặc dù lắp đặt điện gió trên đất liền là chủ yếu, nhưng nhiều

nước đã bắt đầu phát triển điện gió trên biển Công suất một tổ máy điện gió lớn nhất trên biển hiện nay đạt 7,5 MW/tổ máy Tổng công suất điện gió xa bờ tính đến cuối năm

2007 đạt mức 1.170 MW Tại Anh, năm 2012 đã khánh thành trang trại gió ven biển với công suất gần 400 MW Tại các quốc gia đã hình thành Chiến lược khung Phát triển điện gió biển, tạo cơ sở khoa học và pháp lý phát triển điện gió biển Cùng với sự tiến bộ của công nghệ, chi phí điện gió trên đất liền đã giảm đi rất đáng kể Tính từ năm 1980 cho

đến nay, chi phí cho điện gió (cost of onshore wind power) giảm khoảng 80%, tại những vị

trí thuận lợi, giá điện gió đạt mức 7 cent/kWh Theo đánh giá của Hiệp hội năng lượng gió thế giới, thì năng lượng gió sẽ trở thành nguồn năng lượng có thị trường toàn cầu

và nhanh chóng trở thành các nguồn năng lượng chính ở nhiều nước trên thế giới.Việt Nam có một vị trí địa lý tương đối thuận lợi để phát triển khai thác điện gió, trong đó phải nhắc đến vai trò quan trọng của hệ thống gió mùa trong khu vực Theo tài liệu “Bản đồ năng lượng gió khu vực Đông Nam Á” công bố vào năm 2001, Việt Nam

có một tiềm năng vô cùng lớn cho việc khai triển điện gió thương mại Trong các nghiên cứu gần đây, tiềm năng điện gió trên đất liền quy mô lớn được đánh giá có công suất lý thuyết lên đến 120-160 GW, với phần lớn các tiềm năng khai thác nằm dọc ở khu vực ven Biển Đông - Đông Nam

Trang 34

Bảng 1 Tóm tắt tiềm năng gió ở Việt Nam trên đất liền và các đảo

Gió tốt (7 - 8 m/s) Gió rất tốt (8 - 9 m/s) Gió cực tốt (> 9 m/s)

Khu vực khu vực biên giới Việt – Lào, Đồng bằng sông Cửu Long,

Hải Phòng

Đảo Côn Sơn, Quy Nhơn, Tuy Hòa,

Phan Rang, dãy Trường Sơn

(Nguồn: Dư Văn Toán, 2005)

Bảng 2 Tiềm năng điện gió trên vùng ven biển Việt Nam (từ 0-30 m)

Khu vực Diện tích (km (0-30) 2 ) Công suất khai thác tiềm năng (MW)

Quảng Ninh – Quảng Trị 29.280 585.600

mù mờ về ngành kinh tế biển mới này Các công nghệ tiến bộ mới, cũng đang cho điện gió biển phát triển mạnh ra đến vùng sâu 30-60 m nước và sâu hơn

Hiện tại, từ năm 2011, Công ty Công lý Cà Mau đang tiên phong, xây dựng và triển khai các nhà máy điện gió ven biển Việt Nam tại Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) với mật độ 100 MW/5 km2, với khoảng cách giữa các tuốc bin gió trục đứng 1,5 MW cao 80 m, chiều đài cánh quạt 42,5 m (Kiều Nga, 2011) Tổng diện tích mặt biển dự tính gần 3000 ha với công suất 600 MW Bảng 2, được dự tính theo mật độ này,

và theo khung giá điện gió xa bờ của Mỹ thì từ 0-30 m, có giá thành tương đương và khả thi Nếu như vậy, tổng diện tích vùng ven biển là 145.000 km2 sẽ có tổng công suất điện gió khoảng gần 3.000 GW Tức là chỉ phát triển điện gió vùng đồng bằng sông Cửu Long

đã có thể mang lại gần 2.000 GW điện gió ven biển Điều này cho thấy tiềm năng điện

Trang 35

gió trên biển rất tốt, nếu mở rộng ra vùng biển 30 m nước ta sẽ có thêm hàng nghìn GW điện gió biển, và vùng khơi cũng rất tiềm năng.

Bảng 3 Tiềm năng điện gió trên vùng biển ven bờ Việt Nam (từ 0-60 m)

Khu vực Diện tích (km (0-60 m) 2 ) Điện năng khai thác tiềm năng (MW)

Quảng Ninh – Quảng Trị 64.940 1.298.800

Năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời là loại năng lượng phổ biến ở các vùng trên thế giới đã được con người sử dụng từ rất lâu đời và trong tương lai lâu dài Thách thức chính trong sử dụng năng lượng Mặt trời là: cường độ năng lượng trên một đơn vị diện tích nhỏ, giá thành điện tương đối cao và sự phụ thuộc mạnh của bức xạ Mặt trời vào thời tiết khí hậu Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự tiến bộ nhanh chóng về thiết bị công nghệ (pin Mặt trời) dẫn đến giá thành năng lượng Mặt trời thấp, mang tính cạnh tranh cao về kinh tế đang làm cho năng lượng Mặt trời, đặc biệt điện từ pin mặt trời trở nên phổ biến

ở các quốc gia và Việt Nam

Việt Nam có bức xạ Mặt trời vào loại cao trên thế giới, với số giờ nắng dao động từ 1.600-2.600 giờ/năm, đặc biệt là khu vực phía Nam Việt Nam hiện có trên 100 trạm quan trắc toàn quốc để theo dõi dữ liệu về năng lượng Mặt trời Tính trung bình toàn quốc thì bức xạ Mặt trời dao động từ 3,8-5,2 kWh/m2/ngày Tiềm năng điện Mặt trời là tốt nhất ở các vùng từ Thừa Thiên - Huế trở vào miền Nam (bức xạ dao động từ 4,0-5,9 kWh/m2/ngày) Các đảo ven bờ Việt Nam là nơi có tiềm năng năng lượng mặt trời rất phong phú, các thành công của việc triển khai năng lượng mặt trời tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang là minh chứng cho việc sử dụng thành công năng lượng Mặt trời trên các đảo

Năng lượng thủy triều

Năng lượng thủy triều sử dụng dòng thủy triều lên xuống để quay cánh quạt chạy máy phát điện Đây cũng là một dạng năng lượng có nguồn nhiên liệu vô tận và miễn phí Loại mô hình này không sản sinh ra chất thải gây hại môi trường và không đòi hỏi

Trang 36

sự bảo trì cao Khác với mô hình năng lượng Mặt trời và năng lượng gió, năng lượng thủy triều khá ổn định vì thủy triều trong ngày có thể được dự báo chính xác Nhược điểm của loại năng lượng này là đòi hỏi một lượng đầu tư lớn cho thiết bị và xây dựng

và đồng thời làm thay đổi điều kiện tự nhiên của một diện tích rất rộng Ngoài ra, mô hình này chỉ hoạt động được trong thời gian ngắn trong ngày khi có thủy triều lên xuống

và cũng rất ít nơi trên thế giới có địa hình thuận lợi để xây dựng nguồn năng lượng này một cách hiệu quả

Năm 1967, Pháp đã xây dựng một nhà máy thủy triều đầu tiên trên thế giới có quy mô công nghiệp với công suất 240 MW, sản xuất 640 triệu kWh hàng năm, cung cấp 90% điện cho vùng Brithany của Pháp Canađa đã vận hành một nhà máy 20 MW từ năm 1984, sản xuất 30 triệu kW điện hàng năm Trung Quốc bắt đầu quan tâm sử dụng năng lượng thủy triều từ năm 1958, đã xây dựng 40 trạm thủy triều mini (tổng công suất 12 kW) Từ năm 1980, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng 02 nhà máy có công suất 3,2 MW và 1,3 MW nhưng không thành công Hiện nay, Trung Quốc có 7 nhà máy điện thủy triều đang vận hành với tổng công suất 11 MW Vương quốc Anh không phát

triển công nghệ sử dụng đập, mà theo hướng công nghệ dòng thủy triều (tidal stream technology) Năm 2002, các nhà khoa học Anh đã thử nghiệm thành công trạm năng

lượng thủy triều có công suất 150 kW Từ năm 2002, một chương trình nghiên cứu và triển khai của Chính phủ được thành lập, bao gồm 3 giai đoạn Giai đoạn một đã xây dựng hoàn thành một trạm năng lượng thủy triều vào năm 2003 và một trạm 1 MW

hoàn thành năm 2007 Một kế hoạch xây dựng 10 trang trại năng lượng thủy triều (tidal farm) đã được xác lập, với công suất từ 5 đến 10 MW Gần đây, Hàn Quốc rất chú trọng

khai thác sử dụng năng lượng thủy triều Một nhà máy điện thủy triều Shiwa có công suất 254 MW được hoàn thành năm 2010 Dự kiến điện năng sản xuất hàng ăm đạt

550 GWh Năm 2007, thành phố Incheon tuyên bố sẽ xây dựng tại Ganghwa một nhà nmáy có công suất 812 MW, lớn nhất thế giới, với 32 tổ máy, sẽ đưa vào vận hành năm

2015 (đập nối liền 4 đảo)

Ở Việt Nam, tiềm năng năng lượng thủy triều không lớn [8], theo tính toán của Dư Văn Toán và Nguyễn Quốc Trinh [15], điện thủy triều có thể đạt công suất 4 GW tại vùng biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, khu vực tiềm năng lớn chưa được nghiên cứu là vùng biển ven bờ Quảng Ninh – Hải Phòng, đặc biệt là vịnh Hạ Long và Bãi Tử Long nơi thủy triều có biên độ cao (> 4m) và có nhiều đảo làm đê chắn cho các bể chứa nước trong các vịnh và đầm hồ ven biển

Năng lượng sóng biển

Đây cũng là môt dạng năng lượng vô tận, không tạo chất thải, không đòi hỏi bảo trì cao và hoàn toàn miễn phí Tuy nhiên sóng biển gần như không thể dự đoán nên sự

lệ thuộc của loại mô hình này vào tự nhiên quá lớn Ngoài ra, không phải nơi nào cũng thích hợp xây dựng mô hình năng lượng này cũng như tiếng ồn của nó sẽ rất cao chứ

Trang 37

không như tiếng ồn êm dịu của sóng biển mà các nhà thơ vẫn thường ví von Mật độ năng lượng trong sóng rất cao so với các nguồn năng lượng tái tạo khác, như năng lượng gió và Mặt trời (mật độ năng lượng sóng trung bình toàn cầu khoảng 8 kW/m bờ biển so với 300 W/m của tấm Mặt trời hoặc diện tích quét của rôto) Chỉ cần không đến 0,1% năng lượng tái tạo của đại dương được chuyển hóa thành điện, là đã có thể thỏa mãn được hơn 5 lần nhu cầu điện toàn cầu hiện nay.

Ủy ban Năng lượng Thế giới (WEC) đánh giá thị trường năng lượng sóng biển toàn cầu năm 2010 là ~ 5,5 TWh/năm và trong tương lai sẽ vượt quá 2.000 TWh.Nhiều nước trên thế giới đã đưa vào ứng dụng trong thực tế nhiều trạm phát điện bằng năng lượng sóng biển, có công suất từ vài chục, vài trăm kW đến vài MW, cung cấp điện cho các khu dân cư, đặc biệt cho các hải đảo xa bờ Năng lượng sóng biển có tiềm năng rất phong phú, có thể khai thác rất nhiều nơi để làm nguồn phát điện Theo kết quả điều tra của Tổ chức Năng lượng Thế giới thì tiềm năng năng lượng sóng có thể khai thác được trên thế giới là 2 TW (2 triệu MW) và đối với châu Âu, nguồn năng lượng này đủ đáp ứng 50% tổng tiêu thụ năng lượng Tuy nhiên, tiềm năng này rất khác nhau trên thế giới Cho đến nay, đã có trên 30 nước đầu tư hơn 20 năm nghiên cứu công nghệ khai thác nguồn năng lượng này Năng lượng sóng biển rất thích hợp cho việc cung cấp điện cho các hải đảo Các trạm điện bằng sóng biển có công suất phổ biến từ 50 kW,

100 kW, 300 kW, đến 500 kW đã được xây dựng ở một số nước như Ấn Độ, Scotland,

Na Uy, Bồ Đào Nha, Anh Năm 2006, tại Bồ Đào Nha đã xây dựng một nhà máy có công suất trên 2 MW (3x750 kW), tại Scotland 3 MW và tại Anh, năm 2007 là một nhà máy 20 MW… Công nghệ phát điện bằng năng lượng sóng biển rất đa dạng, có loại

được lắp trên bờ (onshore), có loại gần bờ (nearshore), có loại xa bờ (off-shore) Loại này

thông thường được lắp ở những nơi có độ sâu trên 40 m Khai thác năng lượng sóng biển

để cung cấp điện được nhiều nước đặc biệt quan tâm Tại các nước châu Âu như Anh,

Bồ Đào Nha, Na Uy, Đan Mạch… đã đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và triển khai Các chương trình nghiên cứu quốc gia đã được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ trước Hiệu quả kinh tế của các công nghệ sản xuất điện từ nguồn năng lượng sóng biển ngày càng cao, công suất tổ máy phát điện ngày càng lớn (750 kW/tổ máy); một số sản phẩm

đã bắt đầu được thương mại hóa

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu và sử dụng năng lượng sóng biển chưa được quan tâm nhiều, tuy nhiên với các hòn đảo vùng ven biển; điện từ sóng biển có thể trở thành nguồn năng lượng tiềm năng và vô tận khi giá thành điện từ nguồn năng lượng này mang tính cạnh tranh

Các nguồn năng lượng tái tạo tiềm năng khác của đảo ven bờ

Ngoài các nguồn năng lượng kể trên, các đảo ven biển Việt Nam còn có khả năng khai thác các loại năng lượng tiềm năng khác, gồm:

Trang 38

Năng lượng sinh khối: nước thải của các hoạt động kinh tế trên biển có thể xử lý thành

Biogas nhằm cung cấp chất đốt sinh hoạt cho dân cư trên đảo; chất thải rắn sinh hoạt (rác thải và phế phụ phẩm nông nghiệp) có thể sử dụng nhiệt khi đốt rác để giảm diện tích chôn lấp trên các đảo đất hẹp người đông

Năng lượng nhiệt đại dương: nước biển bề mặt ven các đảo thường có nhiệt độ tương

đối cao tùy thuộc vào mùa, trong khi nước biển ở tầng đáy thường khá thấp Sự chênh lệch nhiệt độ này có thể lên đến vài chục độ, có thể tạo ra hiệu ứng dòng điện một chiều [1] để cung cấp điện cho các hoạt động trên đảo

Năng lượng tái tạo từ việc nuôi trồng tảo trên biển: Khả năng này hiện mới được đề xuất

trong một số công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết Theo đó, vùng nước biển được khoanh vùng để nuôi một số loài tảo có khả năng tích lũy sinh khối dạng dầu bio-diezen

Từ dầu bio-diezen thu được có thể sử dụng để phát điện

Phương hướng cung cấp điện cho các đảo ven bờ

Các đảo ven bờ là nơi sinh sống của cư dân, bao gồm: ngư dân, những người làm trong các dịch vụ hàng hải và ngư nghiệp, những người nông dân canh tác nông nghiệp trên đảo, khách du lịch và các lực vũ trang bảo vệ biển và vùng bờ Năng lượng đáp ứng nhu cầu đa dạng trên là rất lớn, trong đó đáng quan tâm nhất là điện

Trong giai đoạn hiện nay, các quốc gia trên thế giới đã triển khai nhiều hoạt động cung cấp năng lượng, nhất là điện cho các đảo bằng nhiều phương cách: kéo điện từ đất liền ra đảo, phát điện bằng nhiên liệu hóa thạch, tận dụng nguồn năng lượng tái tạo tại chỗ [13]; trong đó xu hướng đáng quan tâm hiện nay cung 100% nhu cầu điện cho đảo bằng năng lượng tái tạo tại chỗ [13, 14] Bảng 4 trình bày tình trạng cung cấp năng lượng tại một số đảo ở các quốc gia trên thế giới ngay từ năm 1998

Bảng 4 Tình trạng cung cấp điện trên đảo từ nguồn năng lượng tái tạo

ở một số quốc gia thế giới Đảo Quốc gia (người) Dân số Diện tích (km 2 ) xuất từ NLTT % điện sản Loại nguồn NLTT

Pellworm Đức 1.000 37 160 (1998) Gió và pin Mặt trờiNan”ao Trung Quốc 70.000 200 100 (1997) Gió

La Desirade Pháp 1.500 20 80 (1997) Gió

Dominica 119.648 750 51,4 (1992) Thủy điệnMadeira Bồ Đào Nha 260.000 794 30 (1997) Sinh khối, thủy điện,

mặt trời, gió

Trang 39

Đảo Quốc gia (người) Dân số Diện tích (km 2 ) xuất từ NLTT % điện sản Loại nguồn NLTT

Marie Galante Pháp 13.000 158 30 (1997) Gió

Hawai Hoa Kỳ 137.291 10.433 29 (1995) Địa nhiệt, thủy điện,

gió, sinh khối

Xu hướng cung cấp điện cho các đảo ven biển phục vụ phát triển kinh tế và bảo vệ

an ninh quốc phòng ở Việt Nam được triển khai mạnh mẽ từ đầu năm 2012 dựa trên một số lý do:

1 Đảm bảo nguồn năng lượng điện cho các hoạt động đời sống của dân cư trên các

đảo, thay thế cho điện diezen giá thành cao Các khảo sát đánh giá cho thấy, trước khi có điện lưới từ đất liền (2013 trở về trước), dân cư các xã Minh Châu và Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh phải trả cho điện diezen 15.000 VNĐ/1 KWh cho lượng điện cung cấp hàng ngày khoảng 6 giờ; sau khi có điện lưới, chi trả tiền điện tương đương khu vực đất liền khoảng 2.000 BNĐ/ 1 KWh cả ngày Sự thay đổi này đã kích thích mạnh mẽ hoạt động du lịch tại hòn đảo gần bờ này, đồng thời nâng cao đáng kể đời sống người dân địa phương Tuy nhiên, các chi phí xây dựng và vận hành đường dây ra đảo với vốn đầu tư ban đầu 670 tỷ đồng chưa được hạch toán vào giá bán điện Ở khía cạnh khác, giá bán điện của EVN hiện nay khá thấp do trợ giá của Nhà nước đối với loại hình sản xuất điện truyền thống là thủy điện và nhiệt điện [16, 17, 18] Sự trợ giá cho hoạt động sản xuất điện truyền thống (thủy điện và nhiệt điện) không phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường, cản trở phát triển năng lượng tái tạo và mâu thuẫn với các cam kết của Việt Nam về biến đổi khí hậu tại COP 21

2 Việc cung cấp điện lưới quốc gia từ đất liền ra đảo đã và đang góp phần tăng cường năng lực quốc phòng và đảm bảo an ninh quốc gia: việc tiếp cận với điện lưới quốc gia giá rẻ và ổn định đã góp phần đáng kể cho hoạt động của ngư dân trên biển, ổn định việc cung cấp năng lượng cho lực lượng vũ trang làm công tác bảo vệ biển và vùng

bờ, đảm bảo năng lượng cho các hoạt động dịch vụ khác (y tế, giáo dục, ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu, v.v ) Nói cách khác, việc chuyển điện lưới quốc gia từ đất liền

ra đảo đã tạo nên tác động tích cực đến quốc phòng và an ninh quốc gia Tuy nhiên, khu vực đảo ven bờ có tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, với xu hướng giảm giá thành của

Trang 40

công nghệ sản xuất điện từ các nguồn năng lượng tái tạo hiện nay là gió và năng lượng mặt trời, cũng như xu hướng phát triển năng lượng tái tạo nhằm cung cấp 100% hoặc dư thừa điện tại chỗ trên các đảo có thể đảo chiều việc chuyển điện từ đất liền ra đảo trong tương lai gần Như vậy, việc phát triển hoạt động sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo tại chỗ trên các đảo không chỉ có lợi ích về kinh tế, còn có lợi ích củng cố quốc phòng

và an ninh quốc gia

Khuyến nghị giải pháp

Từ các phân tích và đánh giá trên, có thể đưa ra một số kiến nghị bước đầu như sau:

1 Việc chuyển điện từ đất liền ra các đảo ven bờ do EVN đã và đang thực hiện là công việc cần thiết trong giai đoạn mở rộng hoạt động phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước hiện nay Trong tương lai, xu hướng này có thể được thay thế bằng việc chuyển điện sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo có tiềm năng lớn trên vùng biển và các đảo vào đất liền; cũng như xu hướng hình thành các đảo được cung cấp 100% điện từ nguồn năng lượng tại chỗ

2 Để phát huy các tiềm năng năng lượng tái tạo to lớn của vùng biển và các đảo ven

bờ Việt Nam, Nhà nước cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó đáng lưu ý là các giải pháp: xây dựng Luật Năng lượng tái tạo, xóa bỏ dần các trợ cấp nhà nước cho sản xuất điện truyền thống (nhiệt điện và thủy điện), đầu tư kinh phí đánh giá tiềm năng các dạng năng lượng tái tạo ở các vùng biển ven bờ, tạo điều kiện khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện các dự án sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo, v.v

Tài liệu tham khảo

1 Lưu Đức Hải và nnk, Tiềm năng năng lượng tái tạo Việt Nam và các định hướng sử dụng,

NXB Lao động, 2010

2 Australian Goverment, AusAID; An Economic Assessement of Renewable Energy Options for Rural Electrification in Pacific Islands Countries; Allison Woodruff – Suva:

SOPAC, 2007

3 Trần Đức Thạnh (Chủ biên); Lê Đức An; Nguyễn Hữu Cử; Trần Đình Lân; Nguyễn

Văn Quân; Tạ Hoà Phương (2012), Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kì quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

4 Dư Văn Toán, “Năng lượng tái tạo trên biển và định hướng phát triển tại Việt Nam”

Chuyên san Tài nguyên và Môi trường biển số 1 năm 2015, tr.30-44; NXB Tài nguyên và

Môi trường

5 Nguyễn Mạnh Hùng và nnk., 2010 Năng lượng biển Đề tài KC.09/2006-2010.

Ngày đăng: 26/02/2019, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w