1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC TỰ NHIÊN

35 68 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 2006 - 2010, Trường ĐHKHTN đã không ngừng đổi mới và nângcao chất lượng hoạt động về mọi mặt với mục tiêu trở thành một trung tâm đào tạo,nghiên cứu và triển khai khoa

Trang 1

KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC TỰ NHIÊN

(BẢN THẢO LẦN 2)

03/2011

Trang 2

PHẦN 1 GIỚI THIỆU

1.1 Sự hình thành và phát triển của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN) có tiền thân là Khoa học Đại

học đường (KHĐHĐ), vốn là trung tâm phía nam của Trường Cao đẳng Khoa học được thành lập năm 1941 thuộc Viện Đại học Đông Dương tại Hà Nội Năm 1957 KHĐHĐ được đổi tên thành Trường Đại học Khoa học Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn Năm 1977, Trường hợp nhất với Trường Đại học Văn khoa để hình thành Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM Năm 1996, Trường ĐHKHTN được chính thức thành lập theo quyết định 1236/GDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 30/3/1996 trên cơ sở tách ra từ Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM để tham gia vào Đại học Quốc gia

thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM)

Trường ĐHKHTN hiện có 09 khoa và 15 trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ Trường đào tạo 15 ngành bậc đại học với 52 chuyên ngành khác nhau và đào tạo 31 chuyên ngành ở bậc sau đại học Ngoài ra, trường còn đào tạo bậc cao đẳng Bên cạnh hệ chính qui chủ lực, trường còn thực hiện một

số hệ đào tạo khác như Cử nhân 2, Hoàn chỉnh, Từ xa, Vừa học vừa làm Tổng số sinh viên của trường, tính đến tháng 12/2010, là 17.504 Hằng năm trường cung cấp

khoảng 2.400 cử nhân và 300 thạc sĩ, tiến sĩ, bổ sung vào đội ngũ cán bộ khoa học tựnhiên cho TP.HCM và các tỉnh trong toàn quốc

Đội ngũ giảng viên hiện có 1023 người với 595 cán bộ cơ hữu và 428 giảng viên thỉnh giảng trong và ngoài nước (20 giảng viên nước ngoài); trong đó 526 giảng viên

Trang 3

Trong giai đoạn 2006 - 2010, Trường ĐHKHTN đã không ngừng đổi mới và nângcao chất lượng hoạt động về mọi mặt với mục tiêu trở thành một trung tâm đào tạo,nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm tinhhoa đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của đất nước, phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hộitrong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tácbình đẳng trong quá trình hội nhập quốc tế; khẳng định được vị thế xứng đáng trongĐHQG-HCM và trong hệ thống đại học cả nước Trường đã đạt được nhiều kết quả nổibật trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, các mặt công tác khác và đã vinh dự được Chủtịch nước trao tặng Huân chương Độc lập Hạng II năm 2009 và Danh hiệu Anh hùng Laođộng năm 2010.

Là một thành viên nòng cốt trong ĐHQG-HCM có nhiệm vụ trở thành một trungtâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, TrườngĐHKHTN đã phát huy truyền thống, không ngừng phấn đấu thành một thành một trungtâm đào tạo, nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ trình độ cao của đất nước Trên

cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được, Trường ĐHKHTN xây dựng kế hoạch chiếnlược này với mục tiêu trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản và khoahọc công nghệ mũi nhọn hàng đầu trong hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam, gópphần thực hiện sứ mạng của giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầuphát triển của đất nước trong giai đoạn 2011 – 2015

1.2 Quá trình xây dựng văn bản kế hoạch chiến lược 2011 - 2015

Bản Dự thảo lần 1 Kế hoạch chiến lược này được bắt đầu xây dựng từ đầu tháng12/2010 dựa trên cơ sở tiếp tục kế thừa Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2006 – 2010 và tầmnhìn đến năm 2020 của Trường ĐHKHTN, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần V củaTrường ĐHKHTN, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ ĐHQG-HCM nhiệm kỳ 2011 – 2015, Kếhoạch chiến lược phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn 2011 – 2015 và hội nghị tập huấn xâydựng kế hoạch chiến lược các đơn vị thành viên do ĐHQG-HCM tổ chức vào tháng01/2011 tại Vũng Tàu Bản Dự thảo Kế hoạch chiến lược là bản đã bước đầu chỉnh sửa, bổsung theo góp ý của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường ĐHKHTN trong cuộc họp ngày24/02/2011 và thông qua Đảng ủy Trường ngày 9/3/2011

Trang 4

Bản Dự thảo lần 2 này sẽ được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, đặc biệt là hoàn chỉnh cácChương trình hành động được liệt kê ở Phụ lục 2 bởi các đơn vị, phòng ban chức năngthuộc Trường ĐHKHTN.

1.3 Giá trị sử dụng của văn bản kế hoạch chiến lược

Văn bản Kế hoạch chiến lược 2011 – 2015 (bản hoàn chỉnh) có giá trị:

- Là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động, là cơ sở cho việc xây dựng các chươngtrình hành động của Trường ĐHKHTN trong giai đoạn 2011 – 2015;

- Là cơ sở để định hướng tư duy quản lý và lãnh đạo một cách nhất quán ở tất cảcác đơn vị trong Trường;

- Là cơ sở để kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả và điều chỉnh các mặt hoạt độngcủa Trường;

- Là cơ sở để nhận dạng, xác định, xếp hạng thứ tự ưu tiên đầu tư đối với các lĩnhvực hoạt động trong Trường;

- Là nguồn thông tin, dữ liệu phục vụ cho việc xây dựng các kế hoạch phụ trợ vàkế hoạch dự phòng;

- Là nguồn thông tin để quảng bá thông tin, dữ liệu về tiềm năng hợp tác củaTrường nhằm thu hút sự quan tâm của các đối tác trong và ngoài nước

1.4 Các căn cứ, cơ sở pháp lý xây dựng văn bản kế hoạch chiến lược

- Thông báo 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thựchiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), phương hướng, phát triển giáo dục và đào tạođến năm 2020;

- Luật Giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Viêt Nam năm 2005, đượcsửa đổi năm 2009;

- Nghị quyết số 14/2005NQ-CP, ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơbản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020;

- Điều lệ trường Đại học năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ;

Trang 5

- Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc qui hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001- 2020;

- Quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG-HCM, ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ;

- Quyết định số 1236/GDĐT ngày 30/3/1996 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc

thành lập Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQG-HCM;

- Quy định thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các trường đại họcthàh viên Đại học Quốc gia TPHCM, ban hành kèm theo Quyết định số 261/QĐ-ĐHQG-TCCB ngày 05/4/2010 của Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ ĐHQG-HCM nhiệm kỳ 2011 – 2015;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần V của Trường ĐHKHTN nhiệm kỳ 2011 –2015;

- Kế hoạch chiến lược phát triển ĐHQG-HCM giai đoạn 2011 – 2015;

- Bối cảnh quốc tế, trong nước, thực trạng và nội lực của Trường ĐHKHTN

Trang 6

PHẦN II SỨ MẠNG, TẦM NHÌN VÀ CÁC GIÁ TRỊ CƠ BẢN

2.1 Sứ mạng

Trường ĐHKHTN là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, cung cấp nguồn nhânlực, đội ngũ chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học côngnghệ mũi nhọn, có năng lực sáng tạo, làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế; lànơi thực hiện những nghiên cứu khoa học đỉnh cao tạo ra các sản phẩm tinh hoa đáp ứngnhu cầu phát triển khoa học công nghệ và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càngcao của đất nước, phù hợp với xu thế phát triển thế giới

2.2 Tầm nhìn

Trường ĐHKHTN hướng đến việc trở thành một đại học nghiên cứu hàng đầu củaViệt Nam và khu vực Đông Nam Á về đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ nền tảngcủa nền kinh tế tri thức trong thế kỷ 21

2.3 Các giá trị cơ bản

Trường ĐHKHTN phát triển dựa trên những giá trị cơ bản của con người thông quahình thành môi trường để nuôi dưỡng, thực hiện những hoài bão khám phá, sáng tạo khoahọc và công nghệ, phục vụ cộng đồng và học tập suốt đời của mọi cán bộ - viên chức vàsinh viên Dựa trên triết lý giáo dục đó, Trường ĐHKHTN hướng đến các giá trị:

- Vì sự phát triển của người học và cộng đồng;

- Chất lượng đào tạo, nghiên cứu là yếu tố quan tâm hàng đầu;

- Đề cao tính độc lập, sáng tạo, đồng thời, khuyến khích tính xã hội, phục vụ cộngđồng trong nghiên cứu;

- Xây dựng tinh thần đoàn kết, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau trong tập thể;

- Đề cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong quản lý

- Quan tâm đến nhu cầu và lợi ích chính đáng của cán bộ, viên chức

Trang 7

PHẦN III.

HIỆN TRẠNG TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2006 - 2010 đã đặt ra mục tiêu chiến lược: trên cơ sởphát huy tốt nhất những thành tựu đã đạt được của giai đoạn trước, tập trung sức lực, trí tuệ,

nổ lực phấn đấu xây dựng Trường ĐHKHTN thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoahọc và triển khai công nghệ chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm tinh hoa đáp ứng chonhu cầu ngày càng cao của đất nước, phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trìnhhội nhập quốc tế; phấn đấu đến năm 2020, Trường ĐHKHTN phải đóng vai trò nòng cốttrong ĐHQG-HCM cũng như trong hệ thống đại học Việt Nam, phải chứng tỏ được khảnăng đuổi kịp và sánh ngang với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc tế về chấtlượng đào tạo

Nhà trường đã triển khai một cách đồng bộ các chương trình hành động trên tất cảcác lĩnh vực hoạt động như cải tiến nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, nghiêncứu khoa học và công nghệ, xây dựng đội ngũ, hợp tác quốc tế, cơ sở vật chất, tin học hóacông tác quản lý và đào tạo để đạt được mục tiêu chiến lược nêu trên

Kết quả thực hiện mục tiêu chiến lược giai đoạn 2006 – 2010 được tổng hợp như sau:

3.1 Về công tác đào tạo

- Phát triển qui mô đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học

Đến tháng 12/2010, Trường ĐHKHTN có 15.378 sinh viên đại học và cao đẳng(trong đó có 13.719 sinh viên hệ chính qui gồm 10.804 sinh viên đại học, 2.915 sinh viêncao đẳng; 1.668 sinh viên hệ vừa làm vừa học và đào tạo từ xa) Điểm sáng trong cơ cấusinh viên của nhà trường là tỉ lệ sinh viên không chính qui chỉ chiếm khoảng 11% tổng sốsinh viên của trường Việc đào tạo hệ không chính qui được thực hiện rất nghiêm túc.Mặc dù tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp thấp, nhưng hầu hết những sinh viên tốt nghiệp đều hàilòng với chương trình, kết quả đào tạo và có đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu công việc

Sức hút của nhà trường đối với xã hội luôn ở mức khá cao, thể hiện qua số lượngthí sinh đăng ký dự thi vào Trường ĐHKHTN hàng năm cũng như điểm chuẩn các ngành

Trang 8

Qui mô đào tạo đại học chính qui tăng 10% so với thời điểm đầu năm 2006 Sốsinh viên chính qui tăng chủ yếu trong nửa đầu của giai đoạn 2006-2010, ba năm gần đâyhầu như ổn định; số lượng tăng chủ yếu do mở các ngành đào tạo mới.

Về đào tạo sau đại học, nhà trường hiện có 1.982 học viên cao học và 135 nghiêncứu sinh (NCS) Trong giai đoạn vừa qua, qui mô đào tạo sau đại học tăng lên đáng kể: sốhọc viên cao học tăng 91,5%, số NCS tăng 22,7% Tỷ lệ số lượng học viên đào tạo sauđại học so với sinh viên đại học chính qui còn thấp: chỉ mới xấp xỉ 19,6%, tuy nhiên tỷ lệnày còn cao hơn ty lệ bình quân trong ĐQG-HCM là 11,75% (2008)

- Đổi mới phương pháp giảng dạy

Công tác đổi mới phương pháp dạy và học được quan tâm đúng mức theo hướngtích cực, với phương châm “dạy cách học, phát huy tính chủ động của người học” Sửdụng công nghệ thông tin – truyền thông và tận dụng các công cụ hiện đại trong quá trìnhdạy và học Tăng thời lượng nghiên cứu, tự học và thảo luận đối với người học dưới sựhướng dẫn và giúp đỡ của giảng viên

- Phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao và các loại hình đào tạo mới

Tiếp tục phát triển các chương trình tiên tiến và hệ cử nhân tài năng Các sinh viêncủa hệ này liên tục đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong học tập cũng như trongcác kỳ thi quốc gia, quốc tế Việc sử dụng hệ thống trợ giảng của hệ này rất hiệu quả, là

mô hình được nhiều trường bạn quan tâm, học tập

Chương trình đào tạo hệ “Đào tạo từ xa” tiếp tục được cập nhật, với phương châmlấy chất lượng làm tiêu chí hàng đầu, chú ý đào tạo theo nhu cầu xã hội

Nhà trường triển khai các chương trình liên kết đào tạo quốc tế với chất lượngluôn được đảm bảo Hiện có 208 sinh viên đang theo học các chương trình liên kết quốctế

- Tăng cường hiệu quả quản lý đào tạo

Học chế tín chỉ đã được triển khai khá hoàn chỉnh trong toàn trường Chương trìnhđào tạo 140 tín chỉ đã được hoàn thành và đưa vào thực hiện từ năm 2008 tại tất cả cácngành học và đang được tiếp tục hoàn thiện hàng năm để đảm bảo tính cập nhật, khoa học

và đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 9

Các qui chế, qui định đã được cập nhật ở hầu hết các hệ đào tạo Đặc biệt, trường

đã ban hành qui chế mới về đào tạo theo hướng học tập suốt đời: cho phép sinh viên đượctiếp tục học bổ sung tín chỉ chưa kịp hoàn tất sau 6 năm học để có thể nhận được bằng tốtnghiệp đại học Qui chế này được nhiều phụ huynh, sinh viên hưởng ứng

Thực hiện tốt việc chấn chỉnh công tác tổ chức, quản lý và xây dựng qui trình, quichế đào tạo sau đại học để nâng cao chất lượng trong đào tạo tiến sĩ và thạc sĩ

- Tăng cường công tác đảm bảo chất lượng đào tạo

Thực hiện chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ trương của HCM, trường đã thực hiện được một số việc cơ bản về đảm bảo chất lượng đào tạo

ĐHQG-Trường đã thành lập bộ phận chuyên trách về đánh giá, đảm bảo chất lượng đàotạo; đưa hoạt động đánh giá, đảm bảo chất lượng đào tạo thành hoạt động thường kỳ, bắtbuộc tại nhà trường Mỗi đơn vị (Phòng, Ban, Khoa) của trường được giao một chỉ tiêucán bộ phụ trách về đảm bảo chất lượng và nhận hệ số quản lý từ Trường Cuối năm 2009

và 2010, Trường đã tham gia đánh giá ngoài do ĐHQG-HCM thực hiện để chuẩn bị chođợt đánh giá chính thức của Bộ GD&ĐT

Chương trình Công nghệ thông tin của Trường ĐHKHTN được đánh giá vào cuốinăm 2009 bởi đoàn đánh giá quốc tế của AUN với kết quả đánh giá là cao nhất trong cácchương trình được kiểm định trong cùng đợt kiểm định quốc tế đầu tiên của các đại họcViệt Nam này

Khoa Công nghệ thông tin của Trường ĐHKHTN đang triển khai dự án thí điểmCDIO nhắm rà soát, cập nhật chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đánh giá theochuẩn CDIO Nhiệm vụ năm 2010 của công tác này đã được hội đồng ĐHQG-HCM đánhgiá tốt

Công tác lấy ý kiến phản hồi của sinh viên cao đẳng đại học đã được thực hiệnđịnh kỳ với sự hỗ trợ của công cụ công nghệ thông tin

Việc tiếp thu ý kiến từ các học viên cao học và NCS vừa tốt nghiệp đã được bắtđầu thực hiện thường xuyên

3.2 Về khoa học công nghệ

Trang 10

- Phát triển tiềm lực khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng đạo tạo và nghiên cứu

Trong giai đoạn 2006 - 2010, tiềm lực khoa học công nghệ (KHCN) của trườngđược phát triển mạnh Trường ĐHKHTN đã được đầu tư trang bị mới nhiều phòng thínghiệm (PTN.) chuyên sâu cấp khoa, cấp trường với tổng kinh phí gần 180 tỉ đồng HaiPTN cấp trường đã được thành lập là PTN Thiết kế Vi mạch và Hệ thống nhúng, PTN.Nghiên cứu và Ứng dụng Tế bào gốc (NCƯDTBG), trong đó PTN NCƯDTBG là PTN.được thành lập đầu tiên và đi tiên phong trong lĩnh vực này tại Việt Nam Trong giai đoạnnày, có 04 PTN được công nhận là phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia là PTN.NCƯDTBG, Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học phân tử, Phòng thí nghiệm Hóa lýứng dụng và Phòng thí nghiệm Phân tích trung tâm

Các PTN này cùng với các PTN đã được đầu tư trong giai đoạn trước đã hoạtđộng rất hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng NCKH, chất lượng đào tạo, đặc biệt làđào tạo sau đại học, góp phần đáng kể trong đào tạo cán bộ cho nhà trường, nâng cao uytín của trường trong và ngoài nước

- Hoạt động KHCN tích cực và hiệu quả, bước đầu xác lập vị trí tiên phong trong một số lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn

Trong giai đoạn 2006 – 2010, hoạt động KHCN của Trường ĐHKHTN có bướcphát triển tích cực, mạnh mẽ Tổng kinh phí nghiên cứu khoa học tăng gần gấp đôi so vớigiai đoạn 2001 - 2005; số lượng đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước đượcBộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì tăng mạnh: từ chỉ 01 đề tàigiai đoạn 2001 – 2005 lên 05 đề tài trong giai đoạn 2006 – 2010

Nhiều đề tài đã nghiệm thu, có kết quả nghiên cứu tốt; nhiều bài báo, báo cáo khoahọc được công bố trong và ngoài nước: tổng số lượng bài báo, báo cáo khoa học tăngkhoảng 3,8 lần so với giai đoạn trước (trong đó các bài báo khoa học và báo cáo khoa họcquốc tế cũng gia tăng với mức độ tương tự) Đặc biệt, trong lĩnh vực công nghệ sinh học,nhà trường là đơn vị đi tiên phong trong cả nước về nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc,nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại vào thực tiễn đời sống; cáckết quả về nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc có tính chất đột phá, được các cấp ở Trungương, Thành phố và ĐHQG-HCM đánh giá cao

Trang 11

Trong giai đoạn này, nhà trường tiếp tục giữ vững truyền thống là đơn vị dẫn đầu,đóng vai trò trung tâm trong hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản ở phía Nam Mặtkhác, Trường ĐHKHTN đã xác lập được vị trí tiên phong trong lĩnh vực khoa học côngnghệ mũi nhọn về công nghệ sinh học và từng bước xác lập thế mạnh về một số chuyênngành khoa học công nghệ mũi nhọn khác như trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượnghạt nhân…

- Phát triển các đơn vị nghiên cứu chuyển giao công nghệ

Để tăng cường hoạt động NCKH gắn liền với chuyển giao công nghệ (CGCN),trong giai đoạn vừa qua, Trường ĐHKHTN đã thành lập mới nhiều trung tâm NCKH vàCGCN như: Trung tâm Nghiên cứu Hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học, Trung tâmNghiên cứu và Ứng dụng Địa chất, Trung tâm Nghiên cứu Đất ngập nước, Trung tâmNghiên cứu Bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên Cùng với các trung tâm được thành lập ở cácgiai đoạn trước, các trung tâm này đã hoạt động hiệu quả, tranh thủ được nhiều kinh phíNCKH cho nhà trường, đồng thời tham gia đóng góp thiết thực cho thực tiễn sản xuất vàđời sống Mặt khác, các trung tâm này có vai trò tích cực trong hợp tác quốc tế, góp phầnlàm tăng uy tín đối với quốc tế của nhà trường

3.3 Về quan hệ đối ngoại

- Tích cực phát triển hoạt động hợp tác quốc tế để hỗ trợ công tác đào tạo, KHCN và xây dựng đội ngũ

Trong giai đoạn 2006 - 2010, hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục phát triển với tốcđộ nhanh, là nhân tố quan trọng trong nâng cao chất lượng về đào tạo, nghiên cứu khoahọc, xây dựng đội ngũ, đồng thời nâng cao thương hiệu của nhà trường đối với khu vựcvực và thế giới

Hiện nay trường đã có trên 50 thỏa thuận hợp tác quốc tế với các trường đại học,viện nghiên cứu và tổ chức khoa học trên thế giới

Hoạt động tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, giao lưu giữa sinh viên của TrườngĐHKHTN và sinh viên các nước khác đã được tích cực triển khai Trường đã tích cực chủđộng tìm kiếm các đối tác nước ngoài cho các chương trình hợp tác đào tạo và nghiên cứu;

Trang 12

đã bắt đầu triển khai được một số chương trình liên kết đào tạo bậc đại học và sau đại họcvới các đối tác có uy tín trên thế giới

Nguồn học bổng có yếu tố nước ngoài được kiểm soát chặt chẽ, mang lại lợi ích tốtcho công tác học tập, nghiên cứu của sinh viên, cán bộ - viên chức Một số khoa trongtrường cũng đã chủ động trong việc tìm kiếm, khai thác và mở ra nhiều mối quan hệ hợptác; số lượng cán bộ trẻ được cử ra nước ngoài học tập ngày càng nhiều Hiện nay có hơn

250 cán bộ đang được đào tạo và nghiên cứu ở các nước tiên tiến trên thế giới (170 NCS,

45 HVCH, 35 TTS sau TS) Uy tín của Trường ĐHKHTN với quốc tế ngày càng đượcnâng cao

- Tăng cường công tác quan hệ công chúng

Trường ĐHKHTN nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ với cộng đồng

và xã hội trong việc thực hiện hiệu quả sứ mạng và nhiệm vụ của nhà trường Trường đãthành lập Ban Quan hệ công chúng và đã triển khai một số hoạt động quảng bá hình ảnhTrường ĐHKHTN, hỗ trợ, xúc tiến việc liên kết giữa trường, các đơn vị trong trường vớidoanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

3.4 Về cơ sở vật chất

- Tích cực xây dựng phát triển cơ sở vật chất đặc biệt là Cơ sở Linh Trung theo

qui hoạch chung của ĐHQG-HCM

Trường ĐHKHTN hiện đang có 02 cơ sở: (i) Cơ sở nội thành, có diện tích 1,5hatại 227 Nguyễn Văn Cừ, quận 5, TP.HCM, hiện đang là nơi tập trung hầu hết các hoạtđộng chính của nhà trường bao gồm các hoạt động đào tạo đại học từ năm thứ hai, đàotạo sau đại học và nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế; (ii) Cơ sở Linh Trung (cơ sở

Đông Hòa, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương), có diện tích 34ha, nằm trong khuôn viên qui

hoạch chung của ĐHQG-HCM, hiện đang được dùng phục vụ cho hoạt động đào tạo nămthứ nhất bậc đại học và một số hoạt động nghiên cứu, sản xuất thử

Trong chiến lược phát triển của nhà trường theo qui hoạch chung của HCM, Cơ sở Linh Trung đang từng bước trở thành cơ sở chính của nhà trường tập trungcác hoạt động đào tạo, đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao côngnghệ

Trang 13

ĐHQG-Trong giai đoạn 2006 – 2010, Trường đã triển khai tích cực với tốc độ nhanh cáccông tác xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho mục đích chuyển đổi này Tại Cơ

sở Linh Trung, trường đã xây thêm nhà F, nhà G, Trường Phổ thông năng khiếu, tiếpnhận đất trong quy hoạch để xây dựng và mở rộng hệ thống đường nội bộ…, đặc biệt, đãxây dựng và đưa vào sử dụng Nhà điều hành của Trường với diện tích 12.600 m2 Hiệnnay, Cơ sở Linh Trung có có một giảng đường lớn và 62 phòng học lớn, đủ sức cho 8.000

SV/ một ca học lý thuyết (không bao gồm số sinh viên thực tập ở các phòng thí nghiệm).

Bình quân diện tích phòng học trên một SV chính quy là 4,62 m2 Cơ sở này có một hệthống hạ tầng tương đối hoàn chỉnh và cảnh quan được đánh giá vào hạng đẹp của cảnước

Bên cạnh đó, tại Cơ sở 227 Nguyễn Văn Cừ, Trường đã xây mới các dãy nhà C,nhà E, đặc biệt là Nhà I có 11 tầng khang trang hiện đại có diện tích sử dụng 10.000 m2.Tổng diện tích xây dựng mới tăng gấp 4 lần so với lúc thành lập Trường Cơ sở nầy hiện

có 2 giảng đường lớn và 45 phòng học lớn, đủ sức cho 4.700 SV/ một ca học lý thuyết(không bao gồm SV đang thực tập ở các phòng thí nghiệm)

Mặc dù chưa đạt được kết quả như mong muốn nhưng các cơ sở vật chất đã đượcxây dựng, cải thiện đã hỗ trợ tích cực cho công tác đào tạo, NCKH, hợp tác quốc tế củaTrường như: sinh viên được học trong điều kiện tốt hơn; có phòng học chuẩn cho hệ cửnhân tài năng, chương trình tiên tiến, cao học, nghiên cứu sinh; tổ chức nhiều hội nghị,hội thảo cấp thành phố, toàn quốc và quốc tế; khu sinh hoạt văn thể trong Nhà I và khuthể dục thể thao tạo điều kiện cho CBVC và SV có nơi giải trí, nâng cao thể lực Tuynhiên, cơ sở vật chất chỉ tốt hơn so với trước đây chưa có thể sánh ngang với cơ sở cácnước tiên tiến trong khu vực và thế giới; mặt khác, cần có sự đầu tư mạnh mẽ, quyết liệt

và đồng bộ của nhà nước, giúp nhà trường đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ cở vật chất,đảm bảo tốt hoạt động của trường trong mọi lãnh vực

- Tích cực đầu tư trang thiết bị phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo, nghiên cứu

khoa học

Thời gian qua, Trường ĐHKHTN đã vận động nhiều nguồn lực từ ngân sách nhànước, học phí và các nguồn thu khác, tranh thủ mối quan hệ hợp tác trong nước và quốctế để đầu tư trang thiết bị đào tạo, NCKH Quá trình đầu tư luôn tính đến vấn đề hiện đại,

Trang 14

đồng bộ và đặc biệt là khai thác triệt để công suất của thiết bị qua việc sử dụng chung vớiquy chế thoáng giữa các đơn vị trong và ngoài trường

Trường đã đầu tư xây dựng mới hoặc tiếp tục đầu tư nâng cấp: (i) 04 PTN trọngđiểm, đạt trình độ khu vực: PTN Nghiên cứu và Ứng dụng tế bào gốc, PTN Công nghệsinh học phân tử, PTN Hóa Lý ứng dụng, PTN Phân tích trung tâm; các PTN này có quichế hoạt động riêng, có nhiều thiết bị hiện đại như máy Cộng hưởng từ hạt nhân NMR(khoảng 1 triệu USD), các máy phân tích hóa, lý … là những thiết bị dùng chung choTP.HCM và cả nước; (ii) 08 PTN cấp Trường và Khoa, ngoài hoạt động chuyên ngànhcòn đáp ứng hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị đào tạo trong Trường khi có yêu cầu; (iii)Hơn 100 PTN do các Bộ môn quản lý phục vụ đào tạo cho các giai đoạn đại cương vàchuyên ngành

Do được đầu tư lớn, cập nhật liên tục trang thiết bị phục vụ giảng dạy giai đoạn cơbản (giai đoạn đầu) là tương đối đồng bộ, đạt yêu cầu, nhiều PTN của Trường ĐHKHTNđạt trình độ khu vực Đối với trang thiết bị phục vụ đào tạo giai đoạn chuyên ngành (giaiđoạn sau), do giá thiết bị cao, kinh phí hạn hẹp nên việc đầu tư không được đồng bộ, đầyđủ,nhất là với các ngành Vật lý, Hóa học, Công nghệ sinh học…; chỉ khoảng 30% cácPTN ở giai đoạn này đạt trình độ khu vực Về chủng loại thiết bị: các loại thiết bị thuộclãnh vực Công nghệ thông tin ( CNTT ) tương đối đầy đủ và đáp ứng yêu cầu Các PTN.thuộc lãnh vực này có thể đạt được trình độ các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới;các loại thiết bị thuộc các ngành học khác như ngành Hải Dương học và Khí Tượng thủyvăn, Môi trường….còn lạc hậu và thiếu thốn Nhìn chung, trang thiết bị phục vụ đào tạocho giai đoạn cơ bản là tương đối tốt, nhưng thiết bị đào tạo giai đoạn chuyên ngành cònphải đầu tư nhiều hơn nữa để đáp ứng đủ yêu cầu đào tạo và NCKH

3.5 Về xây dựng đội ngũ

Trường ĐHKHTN có 1.227 CBVC, với 522 là cán bộ giảng dạy (trong đó 34%tiến sĩ và 58,5% thạc sĩ); 388 cán bộ nghiên cứu và trợ giảng; 317 cán bộ quản lý vànhân viên Trường hiện có 1 tiến sĩ khoa học, 182 tiến sĩ, trong đó có 5 giáo sư, 32 phógiáo sư Đội ngũ CBVC của Trường được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau cả trong lẫnngoài nước nên đã tập trung và phát huy được một sức mạnh trí tuệ đáng kể Phần lớn

Trang 15

CBVC hiện nay là cán bộ trẻ (độ tuổi dưới 40 chiếm khoảng 70%), là những yếu tốthuận lợi cho công tác qui hoạch bồi dưỡng CBVC của Trường.

Tính đến nay đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý của Trường ĐHKHTN cũng đãđược củng cố, kiện toàn về nhiều mặt: phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, nănglực quản lý đều được nâng cao rõ rệt Hầu hết CBVC đã thể hiện được lập trường quanđiểm chính trị rõ ràng, luôn đoàn kết thống nhất trong hành động, có tinh thần tráchnhiệm trong công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nhà trường và yêu cầu của xã hội, nhàtrường vẫn đang tiếp tục xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ CBVC, đặcbiệt là đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý; tiếp tục tạo điều kiện, hỗ trợ cán bộ học tậpnâng cao trình độ; mở rộng thêm các cơ chế ưu tiên để thu hút, tuyển dụng được nhântài

Trang 16

PHẦN IV PHÂN TÍCH BỐI CẢNH

4.1 Bối cảnh chung

4.1.1 Bối cảnh quốc tế

Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩyviệc hình thành xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức Vai trò của giáo dục và đào tạo,khoa học – công nghệ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển toàn diện của mỗi quốcgia

Những xu thế lớn của thế giới tác động đến sự phát triển giáo dục đại học, làm cho

cơ sở giáo dục đại học trở nên lạc hậu cần phải tiến hành những thay đổi lớn mang tính

cơ bản và toàn diện

Trong những năm qua, các đại học trên thế giới đang mở rộng qui mô đào tạo bằngnhiều loại hình đào tạo sang nhiều khu vực và quốc gia khác, đặc biệt là các nước đangphát triển, đồng thời phát triển ngành nghề đào tạo đa dạng và linh hoạt với yêu cầu kinhtế xã hội Yêu cầu nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí đểtăng cường tính cạnh tranh được đặt ra cho tất cả trường đại học trên thế giới

4.1.2 Bối cảnh trong nước

Nước ta đang hội nhập mạnh mẽ vào các hoạt động khoa học, kỹ thuật, kinh tế,văn hóa, chính trị của thế giới, hướng đến việc từng bước phát triển và chiếm lĩnh cácngành công nghệ cao Nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao, có tư duy sáng tạo, cónăng lực tổ chức, quản lý và khả năng chịu áp lực cao trong môi trường cạnh tranh toàncầu là rất lớn và cấp thiết

Nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của giáo dục, đào tạo trong thời ký côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, năm 1996 Đảng ta đã ra nghị quyết về định hướngchiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vànhiệm vụ đến năm 2000 (Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII về giáo dục và đào tạo),trong đó đã xác định giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu, giáo dục - đào tạo cùng

Trang 17

với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội,đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển

Năm 2009, kiểm điểm tình hình 12 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóaVIII về giáo dục và đào tạo, Bộ Chính trị đã kết luận những thành quả của giáo dục vàđào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nước, giáo dục và đào tạo chưa thực

sự là quốc sách hàng đầu, các chế độ chính sách, công tác tổ chức cán bộ chưa bắt kịp vớitốc độ đổi mới, hệ thống giáo dục phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng giáodục còn thấp, nghiên cứu khoa học chưa thực sự hiệu quả Chỉ đạo về phương hướng pháttriển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Bộ Chính trị quyết định tiếp tục thực hiện Nghịquyết Trung ương 2, khóa VIII, phấn đấu đến năm 2020 có được một nền giáo dục tiêntiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng các yêu cầu của đất nước trong giai đoạn côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Tiếp tục triển khai phương hướng này, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI củaĐảng đã khẳng định “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và côngnghệ là quốc sách hàng đầu…”, “Phát triển và nâng cao chất lượng chất lượng nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tốquyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thếcạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững”, “Pháttriển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh

và bền vững” Các khẳng định này tiếp tục xác định vai trò cực kỳ quan trọng của giáodục đại học và khoa học công nghệ đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nướctrong giai đoạn mới

Về giáo dục đại học, hệ thống giáo dục nước ta bước đầu đã được tổ chức lại theo

xu hướng chung của giáo dục đại học thế giới Theo quyết định của Chính phủ về việcphê duyệt qui hoạch chung mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 –

2020, hệ thống đại học nước ta sẽ được phân tầng thành các đại học đẳng cấp thế giới,các đại học nghiên cứu và các đại học định hướng nghề nghiệp, ứng dụng; qui mô của cơ

sở đào tạo được xác định dựa vào các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, đồng thờiđược cân đối phù hợp với đặc điểm của cơ sở đào tạo, ngành nghề, bậc đào tạo, năng lựcquản lý; triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học và định kỳ xếp hạng

Ngày đăng: 26/02/2019, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w