1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC SINH THÁI NHÂN VĂN V PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

31 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu nghiên cứu tác động của cống đập Ba Lai đến hệ sinh thái nhân văn huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Ngô Xuân Quảng, Nguyễn Xuân Đồng, Ann Vanreusel và Ngô Thị Thu Trang .... 290 Ti

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

SINH THÁI NHÂN VĂN V PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

HÀ NỘI, NGÀY 13 THÁNG 01 NĂM 2017

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Ban Biên tập

Lê Trọng Cúc (Chủ biên) Trần Đức Viên

Lê Thị Vân Huệ Nghiêm Thị Phương Tuyến Đào Trọng Hưng

Nguyễn Thanh Lâm Nguyễn Thị Phương Loan

Võ Thanh Giang Trần Chí Trung

348 trang

Ảnh bìa: Trần Chí Trung

Trang 4

MỤC LỤC

Phát biểu của lãnh đạo Viện Tài nguyên và Môi trường ix

Phần I: LÝ THUYẾT VỀ SINH THÁI NHÂN VĂN 1

Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững: nghiên cứu

ở Việt Nam

Phan Thị Anh Đào và Lê Trọng Cúc 3

Một số vấn đề trong giảng dạy sinh thái nhân văn

tại các trường đại học ở Việt Nam

Nguyễn Thị Phương Loan 23

Một số vấn đề sinh thái học nhân văn vùng Đông Bắc

Nguyễn Công Thảo 38

Sinh thái nhân văn và mạng lưới quốc gia các

khu dự trữ sinh quyển thế giới của Việt Nam

Nguyễn Hoàng Trí 54

Bảo tồn thiên nhiên theo tiếp cận sinh thái nhân văn

Nguyễn Mạnh Hiệp và Thạch Mai Hoàng 60

Khủng hoảng nông nghiệp Việt Nam: lý giải từ quan điểm

sinh thái nhân văn

Phạm Văn Hội 75

Phần II: CÁC NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ

THỰC TIỄN SINH THÁI NHÂN VĂN 87

Thực trạng và giải pháp quản lý đất canh tác nương rẫy

bền vững ở vùng cao: nghiên cứu trường hợp ở xã Hương Lâm,

huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế

Hoàng Huy Tuấn, Trần Thị Thúy Hằng

và Lê Quang Vĩnh 89

Trang 5

Hệ sinh thái nông nghiệp và vấn đề thích ứng với biến đổi khí

hậu tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

Hà Văn Định 101

Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của

một số dân tộc thiểu số ở miền núi Đông Bắc

Nguyễn Song Tùng và Nguyễn Thị Huyền Thu 123

Chính sách đổi mới của Việt Nam: tác động tới cộng đồng

vùng cao và quản lý rừng bền vững

Trần Thị Thu Hà, Phạm Văn Điển,

Đặng Tùng Hoa, Nguyễn Thị Thu Huyền

và Trần Đức Viên 136

Vai trò của chi trả dịch vụ môi trường rừng trong quản lý rừng

dựa trên cơ sở cộng đồng: trường hợp nghiên cứu tại

bản Duống, xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Cao Trường Sơn, Nguyễn Thanh Lâm

và Trần Đức Viên 158

Nhu cầu của người dân địa phương về dịch vụ sinh thái rừng:

trường hợp nghiên cứu tại vùng núi phía Bắc Việt Nam

Nguyễn Thị Phương Mai 178

Phát triển sinh kế bền vững cho hộ dân phụ thuộc vào rừng

tại khu vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn

Nguyễn Hải Núi, Nguyễn Quốc Chỉnh,

Đỗ Quang Giám và Nguyễn Thanh Lâm 198

Biến động kiến thức bản địa của người Thái trong canh tác

đất dốc ở vùng ven thành phố Sơn La

Nguyễn Thị Hồng Viên 222

Lồng ghép tri thức bản địa vào bảo tồn và quản lý bền vững

tài nguyên rừng cộng đồng thông qua trao quyền cho người dân: nghiên cứu trường hợp tại các cộng đồng dân tộc Vân Kiều và

Ma Coong, tỉnh Quảng Bình

Trần Trung Thành 238

Trang 6

Bước đầu nghiên cứu tác động của cống đập Ba Lai

đến hệ sinh thái nhân văn huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

Ngô Xuân Quảng, Nguyễn Xuân Đồng,

Ann Vanreusel và Ngô Thị Thu Trang 254

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp Thai Baan: trường hợp

nghiên cứu tại xã Đà Vị, huyện Na Hang, Tuyên Quang

Nguyễn Thị Hiếu và Bùi Liên Phương 274

Nghiên cứu ứng dụng mô hình tự nhiên - xã hội

trong quản lý rừng đặc dụng

Phan Thị Thúy và Nguyễn Tuyết Lan 290

Tiếp cận hệ sinh thái - xã hội trong

đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển

giao thông đường bộ ở Tây Nguyên

Phạm Hoài Nam 305

Vai trò của con người trong giữ gìn, đảm bảo an ninh môi

trường hướng tới phát triển bền vững tỉnh Bắc Ninh

Nguyễn Thị Phương Hảo, Trịnh Trị Thanh

và Nguyễn Mai Hoa 325

Trang 8

LỜI GIỚI THIỆU

Sinh thái nhân văn là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ

thống giữa xã hội loài người (Hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (Hệ sinh thái), làm thành hệ sinh thái nhân văn Mục đích của hệ sinh

thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinh thái1

Nghiên cứu và đào tạo sinh thái nhân văn có mặt ở Việt Nam từ cuối những năm 1990, trong khuôn khổ hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), Trung tâm Đông Tây (EWC) của Hoa Kỳ và Mạng lưới Hệ sinh thái Nông nghiệp các Trường Đại học ở Đông Nam Á Kể từ đó đến nay, sinh thái nhân văn

đã trở thành một môn học chính thức trong chương trình đào tạo đại học và sau đại học trong cả nước Sinh thái nhân văn là khoa học liên ngành dựa trên tiếp cận hệ thống, đã và đang thể hiện tính ưu việt trong việc giải quyết các vấn đề môi trường ngày càng gia tăng trong bối cảnh xã hội luôn luôn thay đổi

Trong những thập niên vừa qua, đội ngũ được đào tạo về tiếp cận sinh thái nhân văn ở trong nước cũng như ngoài nước khá đông đảo và đang có những đóng góp lớn trong công cuộc phát triển bền vững của Việt Nam Nhiều nghiên cứu sinh thái nhân văn thực hiện tại các vùng địa lý khác nhau, như miền núi, vùng ven biển, đồng bằng , đã đưa ra những phát hiện và dự báo có tính thực tiễn cao Đơn cử, nghiên cứu

về xu hướng phát triển miền núi Việt Nam do CRES và Trung tâm Đông Tây thực hiện đã chỉ ra các yếu tố chi phối xu hướng phát triển miền núi của Việt Nam và nhiều gợi mở cho việc xây dựng các chính sách phù hợp, nhằm tránh khỏi một cuộc khủng hoảng phát triển miền núi2 Một số nghiên cứu đã nêu bật tầm quan trọng của kiến thức bản

1Nguyễn Thanh Hóa, 2015 Khai mở ngành sinh thái nhân văn ở Việt Nam Di sản

các Nhà Khoa học Việt Nam Online Trung tâm Di sản các Nhà Khoa học Việt Nam http://cpd.vn/news/detail/tabid/77/newsid/2744/ seo/Khai-mo-nganh-sinh-thai- nhan-van-o-Viet-Nam/Default.aspx

2

Jamieson N.L., Le Trong Cuc and A.T Rambo, 1998 The Development Crisis in

Upland of Vietnam East-West Center, Honolulu, Hawaii: 32 p

Tran Duc Vien, A.T Rambo and Nguyen Thanh Lam (Eds.), 2009 Farming with

Fire and Water: The Human Ecology of a Composite Swiddening Community in Vietnam’s Northern Mountains Kyoto Area Studies on Asia, Center for Southeast

Asian Studies, Kyoto University, No.18

Trang 9

địa trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, là nền tảng cho việc ban hành và xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững1

Mặc dù nhiều nghiên cứu với tiếp cận sinh thái nhân văn đã được thực hiện, nhưng còn tản mạn và chưa tập trung, các nhà quản lý và hoạch định chính sách chưa tiếp cận được các kết quả nghiên cứu đưa ra, hay đôi khi các nghiên cứu còn xa rời với thực tiễn Không những thế, đào tạo sinh thái nhân văn cũng được triển khai ở nhiều trường đại học trong cả nước, như Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Vinh, Đại học Huế , nhưng cách tiếp cận chưa thống nhất và không mang tính kế thừa, hơn nữa,

lý thuyết chưa theo kịp và giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi Ngoài ra, cũng cần xem xét lại tiếp cận sinh thái nhân văn trong giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển hiện nay, như biến đổi khí hậu, mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng tài nguyên, thảm họa về môi trường trong bối cảnh xã hội, chính trị và kinh tế của Việt Nam Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất tổ chức Hội thảo Sinh thái nhân văn

và phát triển bền vững nhằm nhìn nhận vai trò của nghiên cứu sinh thái nhân văn trong phát triển bền vững trong thời gian qua, củng cố nội dung đào tạo sinh thái nhân văn, xây dựng kế hoạch và phát triển mạng lưới nghiên cứu và đào tạo sinh thái nhân văn, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong tình hình mới

Ban Biên tập

1

Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998 Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao

trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên NXB Nông nghiệp, Hà Nội

Trang 10

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CỐNG ĐẬP BA LAI ĐẾN HỆ SINH THÁI NHÂN VĂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

Ngô Xuân Quảng, Nguyễn Xuân Đồng

Phòng Công ngh ệ và Qu ả n lý Môi tr ườ ng, Vi ệ n Sinh h ọ c Nhi ệ t đớ i,

Vi ệ n Hàn lâm Khoa h ọ c và Công ngh ệ Vi ệ t Nam

Ann Vanreusel

Đạ i h ọ c Ghent, V ươ ng qu ố c B ỉ

Ngô Thị Thu Trang

Khoa Đị a lý, Tr ườ ng Đạ i h ọ c Khoa h ọ c Xã h ộ i và Nhân v ă n,

Đạ i h ọ c Qu ố c gia Thành ph ố H ồ Chí Minh

Tóm tắt

Cống đập Ba Lai nối hai xã là xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại) và xã Tân Xuân (huyện Ba Tri), trên sông Ba Lai, tỉnh Bến Tre Huyện Bình

Đại nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bến Tre Cống đập Ba Lai được đưa

vào vận hành từ tháng 4 năm 2002, đã làm thay đổi hoàn toàn các quá trình động lực sông biển và thay đổi đáng kể đặc điểm tự nhiên của các vùng nội đồng Từ đó, các hoạt động sinh kế của người dân tại huyện Bình Đại cũng thay đổi để phù hợp với điều kiện tự nhiên Bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn với các kỹ thuật chính

là kế thừa tài liệu thứ cấp, phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi với

190 hộ dân, nhóm tác giả nhận dạng các tác động của cống đập Ba Lai đến hệ sinh thái nhân văn của huyện Bình Đại, thể hiện rõ nét như: (i) Nhiều hộ dân đã phải chuyển đổi sinh kế để đảm bảo cuộc sống của gia đình, họ phải phát triển thêm các hoạt động mới để tăng thêm thu nhập hoặc chuyển đổi đối tượng sản xuất để phù hợp với

điều kiện môi trường mới Hiện tại có những hộ dân hoạt động sinh kế đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng đi ngược lại với mục tiêu quy

hoạch của đập Ba Lai, nên gặp khó khăn trong việc công khai sản xuất và hợp tác với chính quyền địa phương Điều này cho thấy, xã hội tự lựa chọn và tự đào thải để phù hợp với điều kiện sản suất và lợi nhuận mà họ thu được; (ii) Đời sống của một số hộ dân sống bằng hoạt động khai thác thủy sản đã bị giảm thu nhập so với thời kỳ trước

đó, do sự cạn kiệt dần nguồn thủy sản tự nhiên; (iii) Đập ngăn lưu

thông dòng chảy, dẫn đến ô nhiễm môi trường cục bộ, ứ đọng các chất thải, chất gây ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm do xả thải từ nuôi trồng thủy sản; (iv) Ngoài ra, việc sạt lở đất tại một số khu vực làm cho đời sống của họ bị đe dọa sự an toàn, bấp bênh và không có nơi cư trú

Từ khóa: Đập Ba Lai; Hệ sinh thái nhân văn; Hoạt động sinh kế; Môi

trường tự nhiên

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Huyện Bình Đại nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bến Tre, phía Bắc giáp huyện Gò Công của tỉnh Tiền Giang, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Giồng Trôm và Ba Tri Huyện Bình Đại có 19 xã, 1 thị trấn, dân số 130.998 người, tương ứng mật độ khoảng 311 người/km2 (Cục Thống kê Bến Tre, 2014) (Hình 1)

Hình 1 Vị trí huyện Bình Đại trong tỉnh Bến Tre và đập Ba Lai

trong hệ thống sông Tiền Giang

Sông Ba Lai dài khoảng 55 km, nằm trọn trong tỉnh Bến Tre, đi qua các huyện Châu Thành, Giồng Trôm và đi tiếp giữa hai huyện Bình Đại, Ba Tri, rồi đổ ra cửa Ba Lai, là 1 trong 9 cửa của dòng Cửu Long Dòng chảy sông Ba Lai chịu tác động sâu sắc của yếu tố ngoại lai tự nhiên và nhân sinh, bao gồm việc xây dựng đập thủy điện ở thượng nguồn, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, dẫn đến gây thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn Dự án thủy lợi Bắc Bến Tre có ba hợp phần, với mục tiêu: (i) phòng chống, ứng phó với xâm nhập mặn, cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt; (ii) quản lý dòng chảy và cải thiện hệ thống mùa vụ; (iii) nâng cao năng lực quản lý trong công tác thích

Trang 12

nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng Cống đập Ba Lai trên sông Ba Lai là một phần của dự án thủy lợi Bắc Bến Tre, được đặt tại

vị trí nối hai xã là xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại) và xã Tân Xuân (huyện Ba Tri), tỉnh Bến Tre Cống đập dài 544 m, gồm 10 cửa khẩu độ 84 m, vận hành bằng van tự động 2 chiều, có nhiệm vụ: (i) ngăn mặn, giữ ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo đất canh tác; (ii) đảm bảo nguồn cấp nước sinh hoạt cho các huyện Châu Thành, Giồng Trôm và thị xã Bến Tre; (iii) kết hợp phát triển giao thông thủy,

bộ, cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án

Đập Ba Lai có tổng chiều rộng cửa 84 mét, chia làm 10 khoang cửa, hai khoang giữa mỗi khoang rộng 10 mét, 8 khoang còn lại mỗi khoang rộng 8 mét Thời gian mở cống và đóng cống phụ thuộc vào con nước mùa lũ và mùa khô để ngăn mặn Từ tháng 1 đến tháng 6, cống Ba Lai có nhiệm vụ ngăn mặn và trữ ngọt, mỗi tháng xổ cống 2 lần, mỗi lần 1 con nước vào ngày 15 và 29 (âm lịch) Cao điểm giữa mùa mặn có thể chỉ xổ 1 con nước ngày 15 (âm lịch) hoặc không xổ cống Từ tháng 7 đến tháng 12, mỗi tháng xổ cống 2 lần, mỗi lần 2 con nước vào ngày 15, 16 và ngày 29, 30 (âm lịch)

Hệ sinh thái nhân văn huyện Bình Đại nằm dọc một bên bờ hạ lưu sông Ba Lai, trong vùng cửa sông ven biển, vốn là một hệ thống mở, nên phải đón nhận tác động của các yếu tố động lực sông biển hoạt động phức tạp Huyện Bình Đại đã có hệ thống đê bao dọc sông Ba Lai dài 34 km và dọc sông Cửa Đại dài 25 km, có vai trò kiểm soát ngăn chặn mặn xâm nhập để phục vụ các hoạt động kinh tế theo xu hướng ngọt hóa Cống đập Ba Lai chắn ngang dòng sông, được đưa vào vận hành từ tháng 4 năm 2002, đã làm thay đổi hoàn toàn các quá trình động lực sông biển của hệ thống và thay đổi đáng kể đặc điểm tự nhiên của các vùng nội đồng Vùng trên đập hoàn toàn chỉ còn nguồn cấp là nước ngọt, hệ sinh thái mặn, lợ ven sông Ba Lai bị ngọt hóa hoàn toàn

Vấn đề được đặt ra là từ khi cống đập Ba Lai được xây dựng thì các hoạt động sinh kế của người dân tại huyện Bình Đại chuyển đổi

ra sao? Tác động của đập Ba Lai đến người dân có ý nghĩa thật sự hay không? Ảnh hưởng của đập đến hệ sinh thái tự nhiên như thế nào? Đó là những vấn đề mà nhóm tác giả muốn chia sẽ trong bài tham luận này

Trang 13

1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu có kết quả từ cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái

(ecosystem-based approach) thể hiện qua các vùng sinh thái nông

nghiệp với các loại hình sinh kế mặn, ngọt khác nhau Với các phương pháp cụ thể sau:

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn với các kỹ thuật chính là kế thừa tài liệu thứ cấp, phỏng vấn

và điều tra bằng bảng hỏi

Thông tin thứ cấp về điều kiện tự nhiên, môi trường, dân số, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và các số liệu liên quan khác được thu thập từ các cơ quan hành chính các cấp tỉnh, huyện và xã

Nghiên cứu đã thực hiện việc khảo sát bằng bảng hỏi với 190 hộ dân, nhằm tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của đập Ba Lai đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội của người dân Khảo sát được tiến hành đợt 1 vào tháng 9/2015 và đợt 2 vào tháng 6/2016 tại tám xã Long Hòa, Châu Hưng, Thới Lai, Phú Long, Thạnh Trị, Đại Hòa Lộc, Thạnh Phước và Thới Thuận Quy mô mẫu khảo sát trong

điều tra kinh tế - xã hội được áp dụng theo hướng dẫn của Thống kê ứng dụng (Miah, 1993) Tổng số phân phối dưới 5.000 hộ, thì thống

kê khảo sát trên quy mô mẫu 5% của tổng số hộ (khảo sát chi tiết); đối với tổng số phân phối trên 5.000 hộ thì thống kê khảo sát trên quy mô mẫu tính theo công thức có phân phối ở độ tin cậy 95% hoặc 99% (khảo sát đánh giá chung) Vậy, tổng số hộ gia đình trong vùng khảo sát thuộc huyện Bình Đại ước tỉnh khoảng 30.000 hộ

Số mẫu khảo sát được dựa vào công thức của Miah (1993):

2 / 2

Với khoảng 30.000 hộ và với các mức tỷ lệ như trên, tổng số hộ khảo sát ở huyện Bình Đại dự kiến khoảng 190-205 hộ:

- Số hộ khảo sát trong đợt 1 là 100 hộ;

- Số hộ điều tra trong đợt khảo sát 2 là 90 hộ

Trang 14

Dữ liệu thu được từ phiếu điều tra được xử lý thống kê bằng phần mềm MS Excel (2007) Nghiên cứu cũng đã tiến hành phỏng vấn nhanh lãnh đạo các cấp và hộ gia đình theo mẫu phiếu điều tra trong hai giai đoạn 2002-2005 và 2010-2015 Các kết quả phỏng vấn nhanh

là nền tảng giúp nhóm tác giả tổng hợp và có cách nhìn bao quát nhất

về tác động của đập Ba Lai trên địa bàn huyện Bình Đại

2 KẾT QUẢ

Tác động của cống đập Ba Lai đến hệ sinh thái nông nghiệp huyện Bình Đại trong thời gian nghiên cứu thể hiện rõ nét ở sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất, chuyển đổi sinh kế, cũng như sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, xâm nhập mặn và sạt lở đất

2.1 Thay đổi môi trường và tài nguyên thiên nhiên của huyện Bình Đại từ khi có cống đập

2.1.1 Vấn đề sạt lở đất và thay đổi cấu trúc sinh thái

+Gây sạt lở, xói mòn, bồi lấp đất đai trong khu vực: Việc ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của một con sông đã làm đổi chiều bản chất của dòng chảy Sự thay đổi này đã làm sạt lở, xói mòn, bồi lấp theo chiều ngược lại Các kênh rạch, sông phía sau đập chắn thuộc các xã Thới Thuận, Thạnh Phước, Đại Hòa Lộc, một phần của xã Thạnh Trị bị bồi lấp ngược lại các khu vực phía trên đập bị sạt lở

và xói mòn Một số hộ bị mất đất (đất ở, đất vườn, đất nuôi trồng thủy sản)

+Thay đổi cấu trúc sinh thái: Nếu như trước đây toàn bộ khu vực Bình Đại có khoảng 6 tháng nước ngọt và 6 tháng mặn, hiện nay khu vực phía sau đập gần như bị mặn hóa hoàn toàn, ngược lại khu vực trên đập lại gần như bị ngọt hóa (chỉ có khoảng 1 tháng nước lợ) Sự thay đổi này đã kéo theo một hệ sinh thái mới phát triển Các loài thực vật, động vật thích nghi với hệ sinh thái lợ mặn

đã dần biến mất ở khu vực trên đập (như đước, mắm, tôm sắt, các loại cua, còng, cá bống sao, cá kèo, cá úc ), thay vào đó là các loài

cá nước ngọt xuất hiện gần như quanh năm (cá rô phi, cá lòng tong,

cá sặc, cá dầm )

2.1.2 Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên tự nhiên

Trong tổng số hộ được phỏng vấn, có 150 hộ (chiếm 78,94% tổng

số hộ) đưa ra 224 ý kiến cho rằng, kể từ thời kỳ có đập Ba Lai tới nay,

Trang 15

nguồn lợi thủy sản trong khu vực giảm, số hộ còn lại (21,05%) không cho ý kiến (không rõ) Nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi thủy sản trong

tự nhiên giảm được người dân đưa ra là do tác động của đập, chiếm đến 72% (mất đường di chuyển, mất nơi cư trú, ô nhiễm môi trường từ khi có đập, kênh rạch bị bồi lấp) Và do tác động ngoài đập, như ngư

cụ khai thác hoặc khai thác quá mức chiếm 21% Tỷ lệ các ý kiến về nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong khu vực giảm trình bày ở Hình 2

Hình 2 Tỷ lệ % ý kiến về nguyên nhân giảm

nguồn lợi thủy sản tự nhiên Nguồn: Kết quả điều tra, tháng 9/2015 và 6/2016

Sự suy giảm nguồn lợi thủy sản cũng được đánh giá cả về số lượng loài cũng như kích thước cá thể Tất cả các ý kiến về loài bị tác động, đều cho rằng, các loài cá nguồn gốc lợ - mặn giảm đi rất nhiều Trong tất cả những loài bị suy giảm, các loài sau đây được nhắc đến

nhiều nhất: cá chẽm (Lates calcarifer), cá kèo (Pseudapocryptes borneensis), cá bồng sao (Boleophthalmus boddarti), cua (Scylla paramamosain), tôm sú (Penaeus monodon), cá bông lau (Pangasius krempfi), cá dứa (Pangasius polyuranodon), cá ngát (Plotosus canius), tôm sắt (Parapenaeopsis cf cultirostris), cá úc (Arius sp.), ba khía (Episesarma chentongense, Episesarma versicolor), còng (Uca forcipata, Uca cf annulipes), tôm bạc (Penaeus merguiensis, Metapenaeus tenuipes)

Ngoài ra, ở khu vực thượng nguồn đập Ba Lai thuộc các xã Long Hòa, Châu Hưng, Thới Lai, Phú Long nhiều ý kiến cho

Ngày đăng: 26/02/2019, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w