Một đề tài hay về tai nạn thương tích với số liệu đầy đủ về tai nạn thương tích tại Việt Nam. Kết qua nghiên cứu cho thấy: Nguyên nhân hàng đầu do TNTT là tai nạn giao thông với 47,55%; tiếp theo là ngã với 29,5% và thấp nhất là tự tử (0,5%). Về địa điểm xảy ra TNTT, TNTT trên đường đi chiếm tỉ lệ cao nhất với 70,8%. Tiếp theo là xảy ra tại nơi công cộng và tại nhà. Về tỉ lệ các bộ phận bị thương của các trường hợp bị TNTT thì bị thương ở chân tay chiếm tỉ lệ cao nhất vớ 58,4%, xếp thứ hai là đầu, mặt, cổ với 21% và thân mình chiếm 16,6%. Hướng xử trí sau tại nạn thương tích được lựa chọn nhiều nhất là đến bệnh viện tỉnh, thành phố với 67,9%. Tử vong do tai nạn giao thông thì nam vẫn chiếm đa số với 82,4%. Về nhóm tuổi thì tỉ lệ tử vong cao nhất ở nhóm từ 20 đến 39 với 54,9%. Tử vong cao nhất ở nhóm nghề nghiệp lao động tự do, buôn bán (31,1%) và thấp nhất ở nhóm bộ đội, công an (0,3%). Đề tài có trích dẫn Endnote đầy đủ tiện cho việc tham khảo
Trang 2p (p value): Giá trị p
PR (prevalance ratio): Tỉ số hiện mắc
WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế thế giới
UNICEF (The United Nations Children's Fund): Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
Trang 3Bảng 1.1 So sánh nguyên nhân gây TNGT trong 3 năm 2009, 2010, 2011 18
Bảng 1.2 Số mắc TNTT tại thành phố Hồ Chí Minh từ 2007-2010 25
Bảng 1.3 10 tỉnh có số mắc TNGT cao nhất năm 2009 25
Bảng 3.4 Đặc điểm dân số học của mẫu nghiên cứu (n = 338.755) 44
Bảng 3.5 Địa điểm xảy ra TNTT (n = 338.755) 46
Bảng 3.6 Phân bố địa điểm xảy ra TNTT theo giới, nhóm tuổi (n = 338.755) 47
Bảng 3.7 Phân bố địa điểm xảy ra TNTT theo nghề nghiệp (n = 338.755) 48
Bảng 3.8 Tỉ lệ các bộ phận bị thương (n = 338.755) 49
Bảng 3.9 Phân bố tỉ lệ bộ phận bị thương theo giới, nhóm tuổi (n = 338.755) 49
Bảng 3.10 Phân bố tỉ lệ bộ phận chấn thương theo nghề nghiệp (n = 338.755) 50
Bảng 3.11 Phân bố tỉ lệ bộ phận bị thương theo nguyên nhân gây TNTT (n = 338.755) 51
Bảng 3.12 Phân bố tỉ lệ bộ phận bị thương theo địa điểm xảy ra TNTT (n = 338.755) 52
Bảng 3.13 Xử trí sau TNTT (n = 338.755) 52
Bảng 3.14 Phân bố xử trí sau tai nạn theo nguyên nhân xảy ra TNTT (n = 338.755) 53
Bảng 3.15 Phân bố xử trí sau tai nạn theo địa điểm xảy ra tai nạn (n = 338.755) 54
Bảng 3.16 Các nguyên nhân gây ra TNTT (n = 338.755) 55
Bảng 3.17 Phân bố nguyên nhân gây TNTT theo giới, nhóm tuổi (n = 338.755) 55
Bảng 3.18 Phân bố nguyên nhân do TNTT theo nghề nghiệp (n = 338.755) 56
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tỉ lệ TNGT với đặc điểm dân số học (n = 338.755) 58
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tỉ lệ ngã với đặc điểm dân số học (n = 338.755) 59
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tỉ lệ TNLĐ với đặc điểm dân số học (n = 338.755) 60
Bảng 3.22 Đặc điểm dân số học của các trường hợp tử vong (n = 2.063) 66
Trang 4Hình 1.1 Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 10.000 phương tiện 9
Hình 1.2 Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 100.000 dân ở các nước 10
Hình 1.3 So sánh mật độ xe mô tô, gắn máy trên 1.000 người 10
Hình 1.4 So sánh mật độ quốc lộ 11
Hình 1.5 So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011 16
Hình 1.6 Hậu quả TNGT (số vụ, số người chết và bị thương) từ năm 2000 và 2011 16
Hình 1.7 Hậu quả TNGT theo từng khu vực năm 2011 17
Hình 1.8 10 tỉnh có tỷ lệ số vụ TNGT cao nhất năm 2011 17
Hình 2.9 Sơ đồ kỹ thuật chọn mẫu 34
Hình 3.10 Khu vực sinh sống của các trường hợp TNTT tại thành phố Hồ Chí Minh 45
Trang 5Biểu đồ 1.1 Xu hướng bệnh tật tử vong từ 1976 – 2007 14
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ TNTT theo từng năm 46
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ các nguyên nhân gây tai nạn giao thông (n = 161.089) 57
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ các nguyên nhân gây tai nạn lao động (n = 21.401) 60
Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ các nguyên nhân chi tiết của súc vật cắn, đốt, húc (n = 11.170) 62
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ các nguyên nhân gây bỏng (n = 4.547) 63
Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ các nguyên nhân gây ngộ độc (n = 2.968) 63
Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ các nguyên nhân chi tiết của tự tử (n = 1.556) 64
Biểu đồ 3.9 Tỉ lệ các hình thức bạo lực gia đình, bạo lực xã hội (n = 14.794) 65
Biểu đồ 3.10 Tỉ lệ các nguyên nhân khác gây TNTT (n = 21.337) 66
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Câu hỏi nghiên cứu 3
Mục tiêu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến TNTT 5
1.1.2 Các nguyên nhân gây TNTT 6
1.2 Tình hình TNTT 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 14
1.2.3 Tại Thành phố Hồ Chí Minh: 24
1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến TNTT 26
1.3.1 Trên thế giới 26
1.3.2 Tại Việt Nam 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Thiết kế nghiên cứu 33
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 33
2.2.1 Thời gian: 33
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: 33
2.3 Đối tượng nghiên cứu: 33
2.3.1 Dân số mục tiêu 33
2.3.2 Dân số chọn mẫu 33
2.4 Cỡ mẫu 33
2.5 Kỹ thuật chọn mẫu: 34
2.6 Tiêu chí chọn mẫu: 35
2.7 Liệt kê và định nghĩa biến số: 35
2.7.1 Biến số nền 35
2.7.2 Biến số quan tâm: 37
Trang 72.8.1 Công cụ thu thập số liệu: 41
2.8.2 Người thu thập: 42
2.8.3 Kiểm soát sai lệch: 42
2.9 Xử lý số liệu: 42
2.10 Phân tích số liệu: 42
2.11 Vấn đề y đức 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 44
3.1.1 Những đặc điểm dân số học cơ bản 44
3.1.2 Khu vực sinh sống của các trường hợp xảy ra TNTT 45
3.1.3 Tỷ lệ TNTT theo năm 45
3.2 Địa điểm xảy ra TNTT: 46
3.2.1 Địa điểm xảy ra TNTT 46
3.2.2 Phân bố địa điểm xảy ra TNTT theo các đặc điểm dân số học 47
3.3 Các bộ phận bị thương: 48
3.3.1 Tỷ lệ các bộ phận bị thương 48
3.3.2 Phân bố tỉ lệ bộ phận bị thương theo các đặc điểm dân số học: 49
3.3.3 Phân bố tỉ lệ bộ phận bị thương theo nguyên nhân và địa điểm xảy ra tai nạn .51
3.4 Xử trí sau TNTT: 52
3.4.1 Tỷ lệ xử trí sau TNTT 52
3.4.2 Xử trí TNTT phân bố theo nguyên nhân và địa điểm xảy ra tai nạn 53
3.5 Nguyên nhân gây TNTT 54
3.5.1 Nguyên nhân gây TNTT 54
3.5.2 Phân bố nguyên nhân gây ra TNTT theo các đặc điểm dân số học 55
3.6 Nguyên nhân chi tiết gây TNGT 57
3.6.1 Nguyên nhân chi tiết gây TNGT 57
3.6.2 Mối liên quan giữa nguyên nhân TNGT với các đặc điểm dân số học 57
3.7 Mối liên quan giữa tỉ lệ ngã với các đặc điểm dân số học 58
3.8 Nguyên nhân chi tiết gây TNLĐ 60
3.8.1 Tỷ lệ các nguyên nhân gây TNLĐ 60
Trang 83.9 Nguyên nhân chi tiết của súc vật, động vật cắn/đốt/húc 61
3.10 Nguyên nhân chi tiết của bỏng 62
3.11 Nguyên nhân chi tiết gây ngộ độc 63
3.12 Nguyên nhân chi tiết của tự tử: 64
3.13 Các hình thức bạo lực gia đình, bạo lực xã hội: 64
3.14 Nguyên nhân khác gây TNTT 65
3.15 Mô tả đặc điểm của những trường hợp tử vong do TNTT 66
3.15.1 Những đặc điểm dân số học cơ bản: 66
3.15.2 Phân bố nguyên nhân tử vong do TNTT theo các đặc điểm dân số học: 67
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 69
4.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 69
4.2 Nguyên nhân hàng đầu do TNTT 73
4.3 Địa điểm xảy ra TNTT 78
4.4 Tỉ lệ các bộ phận bị thương: 81
4.5 Xử trí sau TNTT 82
4.6 Mối liên quan giữa 3 nguyên nhân hàng đầu gây TNTT với các đặc điểm dân số học của đối tượng 83
4.6.1 Mối liên quan giữa tỉ lệ tai nạn giao thông với các đặc điểm dân số học: 83
4.6.2 Mối liên quan giữa tỉ lệ ngã với các đặc điểm dân số học: 85
4.6.3 Mối liên quan giữa tỉ lệ tai nạn lao động với các đặc điểm dân số học: 88
4.7 Tỉ lệ tử vong do các nguyên nhân gây TNTT 90
4.8 Mặt mạnh và mặt hạn chế của đề tài 92
4.9 Tính mới và tính ứng dụng của đề tài 93
KẾT LUẬN 94
KI N NGH Ế Ị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Phụ lục 1: Phiếu TNTT
Phụ lục 2: Danh sách các đơn vị gửi số liệu TNTT
Phụ lục 3: Mã hoá TNTT
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn thương tích (TNTT) là một vấn đề y tế công cộng ngày càng pháttriển trên phạm vi toàn cầu và phòng chống TNTT từ lâu đã là mối quan tâm chungcủa các chuyên gia y tế và cộng đồng quốc tế Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO),TNTT là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở độ tuổilao động, mỗi năm có 5 triệu người tử vong và 10 triệu người tàn tật do TNTT gâyra
Tại Việt Nam, TNTT cũng là một trong những vấn đề y tế công cộng nổicộm Tỉ lệ tử vong do TNTT đứng hàng thứ 3 (11%) sau tim mạch (18%) và nhiễmkhuẩn (15%) Thống kê từ báo cáo tình hình TNTT định kỳ của ngành y tế cho thấymỗi năm trung bình cả nước có khoảng 840.000 trường hợp mắc TNTT, 38.482 ca
tử vong do TNTT, tương đương với tỉ suất tử vong là 46,6/100,000 người Trong đó,khoảng 12.000 người tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 4.000 trẻ em bị đuốinước (điều tra quốc gia TNTT ở Việt Nam năm 2010 (VNIS)[3]
Tình trạng TNTT tại Việt Nam lại xu hướng biến động không ổn định, luônthay đổi theo thời gian Theo báo cáo của Trung tâm Phòng chống TNTT tại ViệtNam so sánh số liệu của 51 tỉnh/thành phố có báo cáo tình hình TNTT hai năm
2008 và 2009 cho thấy: tỉ lệ mắc TNTT tăng 3,09%, tỉ lệ tử vong do TNTT giảm7,56 %, tỉ lệ mắc tai nạn giao thông giảm 1,44%, tỉ lệ tử vong do tai nạn giao thônggiảm 9,61%, tỉ lệ mắc đuối nước giảm 12,9%, tỉ lệ tử vong do đuối nước giảm8,3% Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2011 tại 53 tỉnh/thành phố có tổng số mắcTNTT là 551.380 với tỷ suất mắc là 740,3/100.000 người, tổng số tử vong là 4.665với tỷ suất tử vong 6,26/100.000 (chiếm tỉ lệ 0,8% so với tổng số mắc TNTT) 10tỉnh có số mắc TNTT cao nhất lần lượt là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, BìnhThuận, Bến Tre, Bình Dương, Đồng Tháp, An Giang, Long An, Thái Bình, KiênGiang[24] Các nguyên nhân chính gây TNTT có thể kể đến là tai nạn giao thông(TNGT) chiếm đến 40%, tiếp theo là tai nạn lao động (TNLĐ), súc vật cắn, ngã và
Trang 10đuối nước Trong số các trường hợp TNGT tới cấp cứu tại cơ sở y tế thì có đến29,8% số nạn nhân bị chấn thương sọ não[25]
Đây cũng là vấn đề mà thành phố Hồ Chí Minh hiện đang phải giải quyết Từnăm 2003, chính quyền thành phố đã tiến hành triển khai chương trình phòng chốngTNTT trên toàn thành phố và bước đầu cũng đã thu được một số kết quả khả quan.Trong giai đoạn 2003 – 2005, xu thế TNTT tại TP Hồ Chí Minh có khuynh hướnggiảm dần Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình hình TNTT có xu hướng giatăng, đặc biệt là TNTT trẻ em và tai nạn giao thông Theo báo cáo kết quả hoạtđộng và số liệu TNTT của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh trong ba năm 2008,
2009, 2010 thì mặc dù tỷ lệ tử vong do TNTT có giảm nhưng số mắc TNTT lại tănglên Cụ thể, năm 2009 số tử vong giảm 2,47% so với năm 2008 và năm 2010 số tửvong giảm 1,54% so với năm 2009 nhưng tỷ lệ mắc TNTT năm 2009 lại tăng 4,6%
so với năm 2008, và năm 2010 tăng 16,74% so với 2009[20-22]
Với xu thế biến động như vậy, việc xác định các nguyên nhân chính yếu gây
ra TNTT và tử vong do TNTT là một việc làm hết sức quan trọng Thực vậy, mộtkhi đã xác định được các nguyên nhân chính của TNTT, chính quyền thành phố HồChí Minh nói chung cũng như ngành y tế thành phố nói riêng mới đề ra được cácchính sách, chiến lược can thiệp phù hợp nhằm giảm dần số mắc và tử vong doTNTT trong các năm sắp tới
Từ những nhận định trên, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm xác định nhữngnguyên nhân mắc và tử vong hàng đầu do TNTT tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2007 đến năm 2011 Trên cơ sở đó, ngành y tế thành phố sẽ có được cái nhìn toàndiện hơn về thực trạng TNTT trên địa bàn quản lý và đưa ra một số khuyến nghị,giải pháp phù hợp hơn cho các chương trình can thiệp chẳng hạn như tăng cườnggiám sát TNTT, chăm sóc chấn thương, xây dựng cộng đồng an toàn…từ đó làmgiảm gánh nặng bệnh tật do TNTT gây ra, cũng như làm tiền đề cho các nghiên cứukhác sâu rộng hơn sau này
Trang 11Câu hỏi nghiên cứu
Những nguyên nhân mắc và tử vong hàng đầu do TNTT tại thành phố Hồ ChíMinh từ năm 2007 đến năm 2011 là gì?
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Địa điểm xảy ra TNTT
Trên đường điTại nhà
Trường họcNơi làm việcNơi công cộng
Hồ ao, sông biểnKhác
Nguyên nhân
Tai nạn giao thông
NgãTai nạn lao động
Súc vật, động vật: đốt, húc, cắn…
Đuối nước
BỏngNgộ độc
Tự tửBạo lực gia đình, xã hội
Đa chấn thươngKhác
Xử trí
Tự chữa
Sơ cứu tại chỗ
Cở sở KCB tưTrạm Y tế
BV quận/huyện
BV tỉnh/Thành phố
BV Trung ươngKhác
Tử vong
DÀN Ý NGHIÊN CỨU
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến TNTT
Theo Trung tâm nghiên cứu chính sách và phòng chống chấn thương(CIPPR-The Center for Injury Policy and Prevention Research)[9] định nghĩa một
số khái niệm sau đây:
Tai nạn: là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên
ngoài gây nên các tổn thương/thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn củanạn nhân Có hai loại tai nạn:
- Tai nạn không chủ định: thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoántrước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối
- Tai nạn có chủ định: như chiến tranh, bạo lực, tự tử, bạo hành thường có nguyênnhân và có thể phòng tránh được
Thương tích: không phải là tai nạn mà là sự tổn thương của cơ thể ở các
mức độ khác nhau gây nên, bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể
là các tác động cơ học, nhiệt, điện, hóa học, chất phóng xạ ) quá ngưỡng chịu đựngcủa cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mấtnhiệt Thương tích có thể lý giải được và có thể phòng tránh được Tuy nhiên, khó
có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thương tích cho nên chúng tathường gọi chung là TNTT
TNTT: là những tổn thương có chủ định hoặc không chủ định liên quan đến
va chạm giao thông, ngã, tai nạn lao động, va chạm, điện giật, chất hóa học, nhiệt
độ dẫn đến bị vết thương chảy máu, rách da, bong gân, phù nề, xây xát, gãy xương,gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tựtử…khiến nạn nhân phải cần đến sự chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học/nghỉ làm ítnhất 1 ngày hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày hoặc dẫn đến tử vong
Trang 14Phân loại mức độ TNTT: TNTT có thể được phân thành các mức độ sau
đây:
- TNTT nhẹ: người bị tai nạn cần khám và điều trị, cần phải nghỉ học-nghỉ làm
việc hoặc ngừng hoạt động trong ít nhất 1 ngày
- TNTT khá nặng: người bị tai nạn nằm viện hoặc dùng thuốc ít nhất 9 ngày.
- TNTT nặng: người bị tai nạn phải nằm viện hoặc dùng thuốc 10 ngày trở lên.
- TNTT nguy hiểm: người bị nạn bị di chứng (mất chức năng một số cơ quan).
- TNTT gây chết người.
Trường hợp bị thương được nghỉ phép: là những chấn thương mà nạn
nhân cần đến sự chăm sóc y tế, hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm việc hoặc hạn chế sinhhoạt bình thường tối thiểu một ngày
Tử vong do thương tích: là những trường hợp tử vong do nguyên nhân
thương tích trong vòng một tháng sau khi xảy ra tai nạn
Vụ tai nạn: là những vụ việc xảy ra do va chạm, đổ xe, lật thuyền, sập nhà,
hầm lò Một vụ tai nạn có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại về vật chất hoặc người.Một vụ tai nạn có thể không có nạn nhân hoặc có thể có nhiều hơn một nạn nhân
1.1.2 Các nguyên nhân gây TNTT
TNGT: là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người,
xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thôngcông cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông cộng cộng nhưng do chủquan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuấtkhông kịp phanh tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ
Đặc điểm: Xảy ra trên đường cộng cộng dành cho người và phương tiện giao
thông đi lại Có hậu quả là 1 hoặc nhiều người bị chết hoặc bị thương Có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan Như vậy TNGT được tính là tất cả các trường
hợp xảy ra trên các tuyến đường bao gồm đường bộ, thuỷ, đường sắt, hàng không
TNLĐ: là những trường hợp chấn thương xảy ra do tác động của các yếu tố
nguy hiểm độc hại trong lao động gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nàocủa cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động gắn
Trang 15liền với việc thực hiện nhiệm vụ lao động trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặcthu dọn sau khi làm việc TNLĐ bao gồm các tai nạn xảy ra trong các lĩnh vực sảnxuất công, nông, lâm, ngư nghiệp
Tai nạn trong trường học: các trường hợp chấn thương xảy ra trong khuôn
viên của trường như: trong lớp học, sân trường, khu luyện tập thể thao, hành lang,khu vệ sinh
Ngã: bao gồm tất cả các trường hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao
thông và lao động
Súc vật cắn, đốt, húc: là trường hợp bị các loại động vật tấn công con người
như: chó, mèo, rắn, châu, bò
Đuối nước/ngạt: đuối nước là bị ngạt do chìm trong chất lỏng nhưng không
tử vong, nạn nhân cần đến chăm sóc y tế hoặc đôi khi gây ra các biến chứng khác
cho nạn nhân Chết đuối là trường hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất
lỏng (như: nước, xăng, dầu…)
Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng
nóng, chất rắn nóng, lửa Các chấn thương da do sự phát xạ tia cực tím hoặc phóng
xạ, điện, hoá chất…
Ngộ độc: là những trường hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc tố
dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cấp cần có sự chăm sóc y tế
Tự tử: là trường hợp chấn thương, ngộ độc, hoặc ngạt…do chính nạn nhân
tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính họ
Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm doạ hoặc
đánh đập người, nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến chấn thương, tử vong, tổnthương tinh thần, chậm phát triển
Khác: là trường hợp khác ngoài các trường hợp trên như: sét đánh, sặc bột,
Trang 16TNTT làm ít nhất 5,5 triệu người chết và gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn, ởnhiều nước số người bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% tổng số bệnh nhân,thiệt hại ước tính hàng nghìn tỉ đô la Mỹ, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân TheoWHO, trong năm 2002, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 người chết do cácloại thương tích[40] Theo báo cáo gánh nặng bệnh tật của thế giới năm 2008, tỷ lệ
tử vong do thương tích ở trẻ em ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cao hơn
3, 4 lần so với ở các quốc gia thu nhập cao và có sự khác biệt lớn giữa các loại hình
tử vong do thương tích
Tình hình TNGT
Trong các nguyên nhân gây TNTT, TNGT đường bộ gây ra số ca tử vong với
tỷ lệ cao, hàng năm lấy đi sinh mạng của khoảng 1,2 triệu người, và làm bị thương
và tàn tật hơn 20-50 triệu người, khoảng 60% trong số đó tập trung ở khu vực ChâuÁ-Thái Bình Dương, nơi mà số phương tiện giao thông chỉ chiếm 16% của thế giới.Trong 8 năm (1987-1995), số tử vong do tai nạn đường bộ ở đây tăng đến 40%.Hơn 90% số trường hợp tử vong do TNGT trên thế giới xảy ra ở các nước có thunhập thấp và trung bình Trong đó, trẻ em, người đi bộ, đi xe đạp và người cao tuổi
là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất Chi phí cho TNGT làkhổng lồ Ở các quốc gia đang phát triển, chỉ riêng TNGT đường bộ mỗi năm chiếmkhoảng 1%–2% tổng sản phẩm quốc nội (khoảng 100 tỉ đô la Mỹ), hoặc gấp hai lầntổng số tiền viện trợ phát triển mà các quốc gia đang phát triển trên toàn thế giớinhận được Vì vậy rất cần phải có các đáp ứng chi phí hiệu quả và có mục tiêu tốt[38] Và nếu xu hướng này tiếp tục, TNGT được dự đoán sẽ trở thành một trongnăm nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vào năm 2030.Cụ thể, số người chết và tàntật hàng ngày do TNGT đường bộ trên thế giới sẽ tăng hơn 60% vào năm 2020, loạitai nạn này sẽ đứng hàng thứ 3 trong những nguyên nhân gây TNTT sau bệnh timmạch và bệnh trầm cảm[39]
Một nghiên cứu tại các quốc gia thu nhập thấp đánh giá các biện pháp canthiệp nhằm làm giảm TNTT tại nhà và khi giao thông trên đường phố Nghiên cứunày cũng đánh giá hiệu quả của các phương pháp phòng chống TNTT đang được
Trang 17triển khai tại các nước đang phát triển áp dụng cho các quốc gia thu nhập thấp Kếtquả cho thấy các biện pháp sau mang lại hiệu quả trong phòng chống TNTT thắtdây an toàn trên xe ô tô, đội mũ bảo hiểm xe đạp, xe máy, lái xe với vận tốc giớihạn, sử dụng biển báo qua đường cho người đi bộ, chiếu đủ sáng cho đường, phânluồng cho người đi bộ với xe cộ, các biện pháp nâng cao khả năng nhận biết chongười lưu thông trên đường, như sử dụng các sản phẩm phản quang, thiết bị an toànđơn giản[30].
Tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng đến mức Đại hội đồng Liên hiệpquốc thông qua Nghị quyết A/RES/64/255 ngày 02/3/2010 tuyên bố giai đoạn 2011-
2020 là “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ” là nguyên nhân gây ra cái chếtkhoảng 1,3 triệu người và 50 triệu người bị thương trên thế giới mỗi năm Có trên90% tai nạn xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, nơi chỉ có 48%phương tiện giao thông trên thế giới Theo WHO (2009), Myanma có tỷ lệ ngườichết do TNGT tương đối cao: 15,67 người/10.000 phương tiện, Việt Nam là 5,36người/10.000 phương tiện, tỷ lệ này thấp ở Nhật: 0,73 người/10.000 phương tiện.Năm 2011 tỷ lệ số người chết do TNGT ở Việt Nam giảm còn 2,94 người/10.000phương tiện (hình 1 và hình 2)
Hình 1.1 Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 10.000 phương tiện
Trang 18Hình 1.2 Tỷ lệ người tử vong do TNGT trên 100.000 dân ở các nước
Hình 1.3 So sánh mật độ xe mô tô, gắn máy trên 1.000 người
Hàn Quốc là một trong những nước có hạ tầng giao thông khá tốt ở châu Á
So sánh đường quốc lộ, Việt Nam còn rất khiêm tốn, mật độ chỉ có 0,05km/km2 và0,2 km/1.000 dân, trong khi Thái Lan là 0,11km/km2 và 0,9 km/1.000 dân (BĐ5)
Trang 19Hình 1.4 So sánh mật độ quốc lộ
Các nước đều có những quy định khi điều khiển xe trên đường như giới hạntốc độ, bắt buộc đội nón bảo hiểm, thắt dây an toàn khi lái xe, không điều khiển xekhi uống rượu, v.v… Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, có 40% các quốc gia bắtbuộc đội mũ bảo hiểm, 57% các quốc gia bắt buộc thắt dây an toàn khi điều khiển
xe Còn về giới hạn tốc độ xe, có 62% các quốc gia giới hạn bằng hoặc dưới50km/giờ trong đô thị, chỉ có 2% cho phép tốc độ xe lưu thông trong đô thị lớn hơn90km/giờ, như: Iraq, Lebanon, Quatar, riêng Oman cho phép lưu thông trong đô thịđến 120km/giờ.[28]
Tình hình TNTT do súc vật cắn/đốt/húc
TNTT do súc vật cắn/đốt/húc mà cụ thể là chó, mèo cắn người cũngchiếm tỷ lệ cao tại các nước nghèo Ngoài các thương tích do chó, mèo gây ranạn nhân còn có nguy cơ mắc bệnh dại Tại các quốc gia nơi bệnh dại là mộtdịch bệnh địa phương như Ấn Độ, Trung quốc và nhiều vùng của châu Phi,một vết chó cắn có thể không nghiêm trọng nhưng lại có thể gây tử vong.Bệnh dại là nguyên nhân phổ biến thứ 10 gây tử vong do nhiễm trùng trêntoàn thế giới Trên 99% trong số 55.000 người chết hàng năm do bệnh dạixảy ra ở châu Á và châu Phi[39]
Tình hình đuối nước
Theo WHO, trong năm 2000 có 450.000 trường hợp đuối nước trêntoàn thế giới, trong đó có 97% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có
Trang 20thu nhập trung bình và thấp[36] Theo UNICEF, 50% các trường hợp đuốinước dẫn đến tử vong, một trong những nguyên nhân phải kể đến là do nạnnhân bị đuối nước thường không được can thiệp y tế kịp thời[37].
Tình hình ngã
Theo báo cáo toàn cầu của WHO, trong năm 2004, ước tính 424.000người ở tất cả mọi lứa tuổi đã tử vong do ngã trên toàn thế giới Ngã đứngthứ 12 trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ từ 15 –19 tuổi,trong đó 66% tử vong là do ngã từ trên cao xuống Ngã là nguyên nhân gâyTNTT không tử vong lớn nhất ở TE và là loại thương tích thường gặp tạitrường học, TNTT do ngã là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc phảinghỉ học và điều trị ngắn ngày tại các cơ sở y tế[37] Mặc dù không gây ranhững tổn thất lớn về sức khỏe, nhưng ảnh hưởng do phải nghỉ học và điềutrị y tế cho các trường hợp TNTT do ngã cũng rất đáng lưu ý
Tình hình ngộ độc
Theo báo cáo của WHO về TNTT, trong năm 2004 ngộ độc cấp gây
ra hơn 45.000 ca tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi, chiếm13% các ca ngộ độc gây tử vong trên thế giới Thống kê tại 16 quốc gia thunhập cao và trung bình, ngộ độc là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong sau TNTT
do TNGT đường bộ, bỏng và đuối nước[37] Đối với các quốc gia thu nhậpthấp và trung bình, số trường hợp tử vong do ngộ độc còn cao gấp 4 lần sovới các quốc gia thu nhập cao
Tình hình bạo lực gia đình
Trang 21Hàng năm, hơn 1,6 triệu người trên toàn thế giới tử vong do bạo lực,
4000 người chết vì bạo lực mỗi ngày, trong đó 90% các trường hợp xảy ra ởcác quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Tổ chức Y tế thế giới đã ướctính khoảng 53.000 TE tử vong do bạo lực hàng năm, 73 triệu trẻ bị bắt buộcquan hệ tình dục (7%) và 150 triệu trẻ bị lạm dụng tình dục dưới các hìnhthức đụng chạm ở cả trẻ trai và gái dưới 18 tuổi (14%)[37]
Đối với các nguyên nhân gây TNTT khác, một nghiên cứu đã cho thấytại các nước nghèo đói, tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân này đều cao hơn sovới các nước phát triển Cụ thể, tỷ lệ tử vong do lửa hoặc hoả hoạn cao gấp
11 lần, đuối nước cao gấp 6 lần, ngộ độc cao gấp 4 lần và ngã cao hơnkhoảng 6 lần[30]
Thực trạng số liệu TNTT trên thế giới
Mặc dù là vấn đề y tế công cộng lớn tại nhiều quốc gia, nhưng theoWHO, trong tổng số 193 quốc gia thành viên, hiện nay chỉ có 109 quốc giacung cấp những số liệu đăng ký cần thiết có thể sử dụng được cho WHO dướidạng mã hóa các TNTT theo Phân loại Bệnh tật Quốc tế Thêm vào đó, chấtlượng của các số liệu vẫn là một vấn đề đáng phải bàn Ở các quốc gia đangphát triển, số liệu thống kê về số mắc và tử vong do các nguyên nhân gâyTNTT như đuối nước, bỏng, ngộ độc, TNGT đường bộ, động vật hoặc côntrùng cắn/đốt vẫn không đầy đủ và còn nhiều thiếu sót Bên cạnh đó, các sốliệu về đánh giá các can thiệp và chi phí thương tích cũng còn hạn chế
Các số liệu TNTT thu được tại bệnh viện cũng gặp vấn đề tương tự.Tại các quốc gia có thu nhập cao, nguồn số liệu về TNTT thường đầy đủtrong khi tại các quốc gia có tỉ lệ thương tích cao nhất lại hạn chế Việc thiếu
số liệu chung về chăm sóc y tế, đặc biệt là về nhập viện và chăm sóc chấnthương chi phí cao, khiến cho việc đánh giá gánh nặng thương tích gặp nhiềukhó khăn tại một số quốc gia Bên cạnh đó, thiếu số liệu còn cản trở quy trìnhphân tích đúng và cụ thể việc tiếp cận của các nạn nhân TNTT với dịch vụ y
tế cũng như cản trở quy trình phân tích bản chất thương tích của các nạnnhân Một tỷ lệ lớn các ca tử vong do chấn thương xảy ra ngoài bệnh viện tạicác quốc gia đang phát triển, cho nên nhiều ca tử vong và các thương tích
Trang 22khác không được tính trong các hệ thống thu thập số liệu tại các quốc gia này.
Do đó một mục tiêu quan trọng trong việc phòng chống thương tích là thiếtlập các ước lượng đáng tin cậy về mức độ và mô hình thương tích và tử vong
ở trẻ em, đặc biệt là tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Để làmđược việc này, khối lượng, chất lượng và tính sẵn có của số liệu quốc gia vàkhu vực cần được tăng lên Việc này phải được thực hiện thông qua sự kếthợp giữa các hệ thống thu thập số liệu tốt hơn, giám sát bệnh viện được cảithiện, có nhiều điều tra dựa vào cộng đồng hơn và các nghiên cứu phù hợpkhác[39]
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, TNTT đang dần trở thành một trong những nguyênnhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện Thống kê tình hình tử vong dobệnh tật và TNTT tại bệnh viện năm 1976 – 2007 của Cục Y tế dự phòng vàMôi trường, Bộ Y tế cho thấy xu hướng tỉ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễmgiảm mạnh, từ 53,06% năm 1976 đến 15,41% năm 2007 Ngược lại, tử vong
do TNTT có xu hướng tăng nhanh, từ 2,23% năm 1976 tăng đến 24,47% năm
2007 Bình quân mỗi ngày có khoảng 3000 người chết và 100 người bịthương gây tàn tật suốt đời, trong đó nguyên nhân do TNGT đứng hàng đầu,sau tai nạn giao thông là các tai nạn cộng đồng đặc biệt ngộ độc, chết đuối,cháy bỏng, điện giật Xu hướng bệnh tật tử vong theo nguyên nhân trình bàytại biểu đồ 1.1[17]
Trang 23Biểu đồ 1.1 Xu hướng bệnh tật tử vong từ 1976 – 2007
Tại Bệnh viện Lê Lợi, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, con số nhập viện do tai nạn,thương tích trong năm 2005 là: 11.863 trường hợp/ 25.541 trường hợp đến cấp cứu,chiếm tỉ lệ 46,44% Qua năm 2006, con số bệnh nhân cấp cứu vì tai nạn, thươngtích vẫn chưa giảm và tập trung chủ yếu ở tuổi trẻ (chiếm 71%), đây lại chính lànhóm tuổi chiếm đa số trong phân bố dân số của Việt Nam và cũng là lực lượngchính tham gia sinh hoạt xã hội và lao động[4]
Tại Việt Nam mô hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do TNTT tuỳ thuộc vàotừng lứa tuổi khác nhau Từ sơ sinh cho đến tuổi dậy thì, đuối nước là nguyên nhânnổi bật gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi Từ sau lứa tuổi dậy thì, TNGT đường bộbắt đầu nổi bật và sau đó tăng nhanh theo tuổi Đối với trẻ nhỏ TNGT thường xảy rakhi đang đi bộ; trẻ lớn hơn TNGT xảy ra khi đang đi bộ và đi xe đạp; từ tuổi 15 trởlên, nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TNGT là do đi xe máy Đối với hầu hết cáctrường hợp TNGT, chấn thương sọ não là hậu quả nghiêm trọng nhất và nguy cơ tửvong và tàn tật của những nạn nhân bị chấn thương sọ não là rất cao [3] Đội mũbảo hiểm là một cách phòng chống hiệu quả đối với các chấn thương đầu, đặc biệt
là chấn thương sọ não Bên cạnh đó, tổn thương chân, tay và một số vị trí khác cũngchiếm tỉ lệ khá cao
Tình hình TNGT
Trang 24Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng đang trongquá trình được cải thiện và nâng cấp, do đó tình hình TNGT hiện nay đang diễnbiến khá phức tạp Theo tổng hợp 11 tháng đầu năm 2011 của Bộ Giao Thông VậnTải trên cả nước đã xảy ra 12.123 vụ TNGT, làm chết 10.129 người, bị thương9.287 người So với cùng kỳ năm 2010 giảm 356 vụ tai nạn (-2,85%), giảm 259người chết (-2,49%), tăng 257 người bị thương (+2,85%) Dựa vào số liệu trên tathấy tuy số vụ tai nạn và số người chết có giảm nhưng không nhiều và số người bịthương lại ngày càng tăng lên Theo thống kê của cuộc Điều tra Liên trường về chấnthương ở Việt Nam (VMIS) cho thấy chấn thương do tai nạn giao thông đường bộtrở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở những nhóm từ 15 tuổi trở lên [3,27]
So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011
Hình 1.5 So sánh tình hình TNGT năm 2001 và 2011
Trang 25Hình 1.6 Hậu quả TNGT (số vụ, số người chết và bị thương) từ năm 2000 và 2011
Hình 1.6 cho thấy TNGT tăng cao trong giai đoạn 2000-2002 và có xu hướnggiảm từ năm 2003 đến nay Dù số vụ TNGT ĐB có giảm, nhưng số người chết gầnnhư không giảm, cho thấy mức độ TNGT ĐB ngày càng thảm khốc hơn (BĐ2) Tỷ
lệ người chết trên một vụ TNGT ĐB ở Việt Nam so với các nước trong khu vực caohơn rất nhiều; năm 2011 tỷ lệ này của Việt Nam là 0,83, Thái Lan: 0,17, Malaysia:0,02
Hình 1.7 Hậu quả TNGT (số vụ, số người chết và bị thương) theo từng khu vực
năm 2011
Trang 26Xét theo khu vực, TNGT phần lớn xảy ra ở phía Nam, khoảng trên 40% số
vụ TNGT trên cả nước, nhiều nhất là ở Long An, Bình Định và Tây Ninh, theothống kê 10 tháng đầu năm 2011 (BĐ3 và BĐ4) Thế nhưng tỷ lệ về số người chết
do TNGT ĐB cao nhất lại ở Tây Nguyên: 4,42 người/trên 10 ngàn phương tiện,trung bình tỷ lệ này của cả nước là 3,84, vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằngNam bộ thấp, tương ứng là 1,8 và 2,4 mặc dù đây là hai vùng có số lượng phươngtiện lưu thông tập trung cao So với cùng kỳ 2011, 6 tháng đầu năm 2012 giảm21,63% số vụ TNGT ĐB, nhưng một số tỉnh thành có số người chết do TNGT tăngcao bất thường như Đồng Nai tăng 37,6%, Bạc Liêu tăng 35,3%, Lai Châu tăng23,1%
Hình 1.8 10 tỉnh có tỷ lệ số vụ TNGT cao nhất năm 2011
Phân tích các vụ TNGT ĐB trong những năm gần đây, nguyên nhân gây rachủ yếu là do người điều khiển các phương tiện giao thông Thống kê từ năm 2009-
2011, nguyên nhân gây TNGT nhiều nhất là do ý thức người điều khiển là chính, tỉ
lệ 61,78% (2009) và lên đến 79,2% (2011), trong đó, do chạy xe sai làn đườngchiếm 26,30% - 31,44%, kế đến là vượt ẩu 12,41%-19,40%, chạy quá tốc độ16,21% - 18,34%, lái xe khi say rượu
Bảng 1.1 So sánh nguyên nhân gây TNGT trong 3 năm 2009, 2010, 2011
Trang 27Năm 2012 là năm đầu tiên Tp.HCM tổ chức “Năm an toàn giao thông”,trước đó, tháng 9 hàng năm được chọn là “Tháng an toàn giao thông” nhằm đẩymạnh việc giảm ùn tắc và TNGT Bên cạnh nhiều giải pháp được Nhà nước triểnkhai, để góp phần làm giảm thảm họa TNGT, mỗi người cần tự ý thức bảo vệ mìnhbằng việc tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông.
Tình hình TNLĐ
Trang 28Tai nạn lao động trong năm 2011 cướp đi sinh mạng của 574 người và khiếnhơn 1.100 người “thập tử nhất sinh” Bên cạnh đau thương tang tóc của nhiều giađình, những người gặp nạn trở thành gánh nặng của người thân và xã hội vì khôngcòn khả năng lao động Năm 2011 cả nước có hơn 6.000 người bị tai nạn lao độngtrong đó 574 người tử vong Hậu quả của tai nạn lao động đang để lại gánh nặng đốivới gia đình và xã hội bởi người gặp nạn khó có khả năng phục hồi[13] Thống kêcủa Cục an toàn Lao động (Bộ Lao động - Thương binh & xã hội) cho thấy trongnăm qua cả nước xảy ra 5.896 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) khiến hơn 6.000 ngườigặp nạn Các địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn trong quá trình lao động dẫnđến chết người nhất rơi vào TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Quảng Ninh,
Đà Nẵng, Thái Nguyên… Ngành nghề xảy ra nhiều TNLĐ nghiêm trọng là khaithác mỏ, xây dựng, thợ gia công kim loại, thợ cơ khí, thợ vận hành máy,… Tổng phítổn do TNLĐ xảy ra trong năm 2011 lên đến gần 300 tỉ đồng, thiệt hại về tài sảnhơn 5,8 tỉ đồng Mặc dù cơ quan chức năng đã cảnh báo cũng như tiến hành thanhkiểm tra liên tục nhưng ý thức chấp hành an toàn trong quá trình lao động ở nhiềunơi vẫn bị bỏ ngỏ, hơn 30% nguyên nhân xảy ra TNLĐ xuất phát từ sự lơ là của cácchủ doanh nghiệp Để hạn chế tối thiểu số vụ TNLĐ xảy ra đồng thời nâng cao ýthức của người lao động, chủ doanh nghiệp, nhiều chuyên gia cho răng nhà nướccần đưa nội dung An toàn vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy tại cáctrường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Tại mỗi doanh nghiệp cần có vàhoàn thiện bộ máy làm công tác an toàn vệ sinh lao động, thực hiện đo kiểm môitrường lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động Bên cạnh
đó cũng cần tuyên truyền, chia sẻ thông tin về tầm quan trọng và lợi ích của vấn đềbảo vệ sức khỏe người lao động; phát triển bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, hình thành quỹ bồi thường TNLĐ và nâng cấp hệ thống y tế, phục hồi chứcnăng cho người lao động bị tai nạn
Tình hình té ngã
Ở Việt Nam, ước tính số người trên 65 tuổi hiện nay là 6,7% (khoảng 5,5triệu người) và theo Tổ chức Y tế Thế giới[30] thì có tới 28 – 35% người trên 64
Trang 29tuổi bị té ngã hằng năm Như vậy tại Việt Nam, ước tính có khoảng 1,5 – 1,9 triệungười cao tuổi té ngã mỗi năm Hậu quả quan trọng nhất của té ngã là gãy xương(trong đó gãy cổ xương đùi là rất nặng nề) Điều này rất dễ xảy ra ở người cao tuổi
do bệnh loãng xương chiếm tỷ lệ khá cáo Gãy xương gây ra nhiều biến chứng và dichứng, tiêu tốn rất nhiều tiền của cho quá trình chăm sóc và điều trị Lý do ngườigià dễ bị té ngã là do sức khỏe giảm sút, cơ quan vận động suy giảm chức năng(thoái hóa khớp, viêm đa khớp, cơ teo yếu, rối loạn dáng đi ), giảm đáp ứng với cáctình huống xảy ra trong sinh hoạt, rối loạn thăng bằng, sa sút trí tuệ, giảm thị lực,mắc một số bệnh mãn tính Ngoài ra, nơi ở, điều kiện sống không an toàn như: nhàchật chội, nền trơn, thiếu ánh sáng, khu vực thiếu thông thoáng, trẻ em đông, nuôisúc vật nhiều… dễ tác động gây tai nạn cho người già Phòng tránh tai nạn ở ngườigià phải phối hợp nhiều biện pháp với nhau Thứ nhất là phải thay đổi môi trườngsống cho phù hợp với sức khỏe người già như nhà cửa thông thoáng, nền nhà vàthảm chùi chân chống trơn, nhà vệ sinh nên gần phòng ngủ, trong nhà đủ ánh sáng,không thả súc vật như chó, mèo trong nhà, cẩn thận với sự nô đùa của trẻ em (dễ vachạm xô ngã người già) Ngoài ra, người già cần dùng giày dép phù hợp, nên códụng cụ trợ giúp để đi lại (nhất là những người mắt kém, khớp thoái hóa, yếu cơ).Thứ hai là tăng tập luyện, dinh dưỡng hợp lý để tránh té ngã Tập luyện làm tăngcường sức mạnh của cơ, cải thiện thăng bằng và dáng đi Tập dưỡng sinh là một yếu
tố tích cực Tập thể dục, đi bộ, bơi lội… là những hình thức được lựa chọn Tuynhiên, cần khám sức khỏe để được tư vấn hình thức tập luyện phù hợp
Ngoài ra, té ngã cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tai nạnthương tích cho trẻ em bởi vì trẻ rất hiếu động, vì thế tai nạn xảy ra với trẻ làchuyện thường ngày Trong đó, theo báo cáo thống kê của cơ quan y tế mới đây, téngã là tai nạn thường gặp nhất Theo thống kê của cơ quan y tế cho biết trong số37.580 trường hợp bị tai nạn thương tích khiến trẻ phải nhập viện ở TP.HCM từtháng 10.2006 đến tháng 10.2007, thì có đến 21.615 trường hợp do té ngã Chỉ riêngBệnh viện (BV) Chấn thương chỉnh hình (TP.HCM), từ đầu năm đến nay cũng đãtiếp nhận 4.938 trường hợp trẻ em té ngã đến khám, trong đó có 1.360 trường hợp
Trang 30nặng phải nhập viện để can thiệp ngoại khoa Bác sĩ Trần Thanh Mỹ - Giám đốc
BV Chấn thương chỉnh hình cho biết: “Té ngã là nguyên nhân thường gặp nhấttrong số tai nạn thương tích ở trẻ em, nhất là té ngã trong sinh hoạt và vui chơi Đặcbiệt, tại các khu vui chơi, dù mức độ an toàn cao, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơgây tai nạn thương tích cho trẻ em, nhất là nguy cơ té ngã”
Địa điểm thường xảy ra ngã là trong nhà, gần nhà và xung quanh nhà Xéttheo nhóm tuổi, có thể thấy địa điểm nơi xảy ra ngã có liên quan đến lứa tuổi Vớitrẻ nhỏ và người cao tuổi, phần lớn thời gian là ở nhà hoặc gần nhà Khi tuổi tăngdần, phạm vi hoạt động tăng lên, cách xa nhà hơn và ngã cũng vì thế mà xảy ra ởnhiều nơi hơn như khu vực trường học (nhóm 10 - 14 tuổi), vườn/ruộng, côngtrường (nhóm 15 - 49 tuổi) và một số khu vực khác
Tình hình bạo lực gia đình
Bên cạnh các loại TNTT trầm trọng như TNGT, TNLĐ hay ngã thì tình trạngbạo lực vẫn là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội hiện nay, đặc biệt bạo lựctrẻ em gây hậu quả TNTT khá trầm trọng không chỉ ảnh hưởng tới thể chất mà cònảnh hưởng lâu dài đến tinh thần của trẻ Theo báo cáo tình trạng trẻ em thế giớicủa Unicef năm 2009[35], hiện có khoảng 500 triệu trẻ em bị ảnh hưởng của bạolực chiếm khoảng ¼ tổng số trẻ em trên thế giới Đối với nước ta, tình trạng bạo lựctrẻ em trong những năm gần đây diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng Tronghai năm 2008-2009, cả nước đã xảy ra 5.956 vụ (bình quân gần 3.000 vụ một năm),trên 100 vụ giết trẻ em và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và xử lý,trong đó có một số vụgây bức xúc trong dư luận xã hội Nhiều trẻ em bị chính cha
mẹ, người thân, thầy cô giáo, người sử dụng lao động và những người có tráchnhiệm nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em có hành vi bạo lực trẻ em Bên cạnh đó, tìnhtrạng bạo lực ở trong và ngoài trường học của học sinh vẫn tiếp tục xảy ra đanglànỗi bức xúc của xã hội, chưa làm an lòng các bậc phụ huynh và những nguời quantâm đến sự nghiệp bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em Hiện tượng bạo lực của họcsinh không phải là một hiện tượng mới, song thời gian gần đây, hiện tượng này xảy
ra ở một số trường học đã bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng như:
Trang 31học sinh đánh nhau gây thương tích, thậm chí tử vong Giáo viên sử dụng các biệnpháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh; họcsinh hành hung thầy, cô giáo Đối tượng học sinh đánh nhau có cả nữ sinh, khôngphải chỉ có các nam sinh nóng nảy, thiếu kiềm chế, thâm chí nữ sinh đánh nữ sinhtheo kiểu hội đồng Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đầu năm học2009-2010 đến nay, trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1.598 vụ việc học sinh đánhnhau ở trong và ngoài trường học Các nhà trường đã xử lý kỷ luật khiển trách 881học sinh, cảnh cáo 1.558 học sinh, buộc thôi học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 nămhọc) 735 học sinh Theo số lượng trường học và học sinh hiện này thì cứ 5.260 họcsinh thì xảy ra một vụ đánh nhau và cứ 9 trường học lại xảy ra một vụ học sinh đánhnhau Cứ 10.000 học sinh thì có một học sinh bị kỷ luật khiển trách, cứ 5.555 họcsinh thì có một học sinh bị kỷ luật cảnh cáo vì đánh nhau; cứ 11.111học sinh thì cómột học sinh bị buộc thôi học có thời hạn vì đánh nhau Trong số các vụ việc họcsinh đánh nhau được phân tích ở trên, phần lớn là vụ việc xích mích nhỏ giữa cáchọc sinh, các em dùng tay, chân đánh nhau nhưng được sự can ngăn kịp thời nênkhông để xảy ra hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên trong số đó vẫn có những vụ việcxảy ra mang tính chất hoặc gây hậu quả nghiêm trọng Đáng lưu ý là các hiệntượng, vụ việc: Học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn, quay phim rồi tunglên mạng, coi như là một “chiến tích” để thể hiện mình trước mọi người (xảy ra ở
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quãng Ngãi, An Giang ) Học sinh đánh nhau có sửdụng hung khí, gây thương tích nặng cho bạn, có vụ việc xảy ra chết người (nămhọc 2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người ở trong vàngoài trường học) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực nêu trên, trướchết phải kể đến nhận thức của các gia đình, cộng đồng về vấn đề bảo vệ trẻ em chưađầy đủ và phần nào đó còn bị xem nhẹ; nhiều thói quen, phong tục, tập quán có hạicho trẻ em chưa được các cấp, các ngành quan tâm đấu tranh loại bỏ như đánh con
là việc ”bình thường” Việc ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột đối với trẻ em chưađược cộng đồng chủ động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng xử lý,can thiệp kịp thời vì họ không muốn có sự ”rắc rối ”liên quan đến họ Nhận thức về
Trang 32sự nguy hại nhiều mặt và hậu quả lâu dài, nghiêm trọng của các hành vi xâm hạitình dục, bạo lực đối với trẻ em chưa được cảnh báo đúng mức, đa phần những trẻ
em bị ngược đãi, xâm hại và bị bóc lột có tâm lý mặc cảm, tự ty hoặc tâm lý thù hậnđối với xã hội và sau này khi trưởng thành nhiều em trong số đó cũng ứng xử tương
tự đối với người khác
Tình hình đuối nước
Là nguyên nhân hàng đầu thứ hai gây tử vong và chủ yếu xảy ra ở lứa tuổitrẻ em Theo kết quả giám sát của Bộ Y tế trong 5 năm 2005 – 2009 trẻ dưới 19 tuổi
tử vong do đuối nước trung bình mỗi năm trên 3.500 trẻ, trong năm 2008 đã có
3523 em bị chết đuối, chủ yếu xảy ra ở trẻ 0 – 14 tuổi (2968 trẻ), trong đó lứa tuổi
tử vong do đuối nước cao nhất 5 – 14 tuổi (1811 trẻ) Tại các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long như Đồng Tháp hay xảy ra vào tháng 8 - 9 là bắt đầu mùa nước lên Địađiểm xảy ra nhiều nhất là ở ao, hồ (tới 63%), sau đó đến sông, mương/kênh (28,3%)[16]
Tình hình bỏng
Bỏng xảy ra nhiều nhất là vào các tháng mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 trongnăm Hầu hết các trường hợp do vô tình gây ra chiếm 86,5% Các nguyên nhân chủyếu gây bỏng gồm có bỏng nhiệt ướt (83%), bỏng điện (8,7%), bỏng nhiệt khô(6,1%) và bỏng hoá chất (2,2%)[5] Bỏng được gia đình tự điều trị sau đó đưa đếnbệnh viện, không qua y tế tuyến cơ sở Đáng lưu ý là đại đa số những trường hợpnày đều xử trí sơ cấp cứu sai
Tình hình ngộ độc
Ngộ độc là nguyên nhân gây tử vong do TNTT đứng vị trí thứ tư[5] Hiệnnay chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu sâu và trên diện rộng về tình trạng ngộ độc.Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng TNTT có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi,thuộc mọi thành phần kinh tế xã hội
Thực trạng số liệu về TNTT tại Việt Nam
Tương tự như các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới, Việt Nam cũnggặp khó khăn trong công tác thu thập, thống kê số liệu về TNTT Công tác báo cáo,
Trang 33thu thập số liệu TNTT tại các tỉnh/thành trong cả nước vẫn còn nhiều hạn chế Theobáo cáo giám sát của Trung tâm Phòng chống Tai nạn Thương tích Việt Nam thì cáctỉnh/thành phố thiếu báo cáo số liệu TNTT tính đến ngày 13/5/2011, 11/63tỉnh/thành phố chưa gửi báo cáo nguyên nhân tử vong theo sổ A6-YTCS năm 2010,
06 tỉnh/thành phố đã gửi báo cáo nhưng không đủ số huyện/xã, 10/63 tỉnh/thànhphố chưa gửi báo cáo số liệu TNTT quý I/2011 Đó là một trong những lý do khiếntình hình TNTT theo báo cáo sẽ thấp hơn so với thực tế Chính vì vậy việc giám sátchặt chẽ và chính xác các số liệu là một việc làm cần cải thiện hơn nữa [25]
1.2.3 Tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Sơ lược về thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ươngcủa Việt Nam Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyệnbao gồm:
- Quận (19): 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp,Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức
- Huyện (5): Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè
Toàn thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 259 phường, 58
xã và 5 thị trấn Với tổng diện tích 2.095,01 km², theo kết quả chính thức điều tradân số ngày 01/04/2009 dân số thành phố là 7.162.864 người, mật độ 3.419người/km² Lượng dân cư này tập trung chủ yếu trong nội thành, gồm 5.881.511người, mật độ lên tới 11.906 người/km² Trong khi đó các huyện ngoại thành chỉ có1.281.353 người, đạt 801 người/km² Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phảiđối mặt với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh Trong nội ôthành phố, đường giao thông trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc Hệ thống giaothông công cộng kém hiệu quả Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm dophương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất
Tình hình TNTT tại thành phố Hồ Chí Minh
Báo cáo kết quả giám sát TNTT tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 –
2010 của tác giả Trần Thị Ngọc đã mô tả số mắc và số chết do TNTT tại TP Hồ ChíMinh theo các năm như sau sau[18]:
Trang 34Nguồn: Trung tâm phòng chống TNTT [24]
Đến năm 2010, 2011 thành phố Hồ Chí Minh cũng đứng đầu cả nước về sốmắc TNGT
Theo thống kê của bệnh viện Chợ Rẫy (2003 – 2007) trung bình mỗi năm có27.802 nạn nhân, mỗi ngày có 76 nạn nhân; cứ 19 phút lại có một nạn nhân bị tainạn giao thông vào bệnh viện…Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong
Trang 35do TNGT cao là do công tác cấp cứu tiền bệnh viện tại thành phố vẫn còn yếu kém.Kết quả khảo sát bước đầu của Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thôngđường bộ tại Việt Nam về chăm sóc y tế tiền bệnh viện trong đáp ứng với TNGTcho thấy các thông tin về cấp cứu còn chậm, không đáp ứng được nhu cầu về “thờigian vàng” trong cấp cứu; cấp cứu tại hiện trường còn thấp, phần lớn do cộng đồngthực hiện; đánh giá kỹ thuật cấp cứu ban đầu cho thấy có tới 34,8% bệnh nhânkhông được xử trí cấp cứu và các xử trí thông thường chỉ đạt yêu cầu chuyên môndưới 50% Trong khi đó năng lực của hệ thống cấp cứu trước bệnh viện hiện naychủ yếu do trung tâm cấp cứu 115 đảm nhận, cứu hỏa, cảnh sát, nhân dân chưa thamgia hệ thống cấp cứu trước bệnh viện Cũng đã xuất hiện một số các công ty vậnchuyển cấp cứu tư nhân nhưng với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu vận chuyển bệnh nhânnặng về nhà, trang thiết bị, trình độ cấp cứu còn nhiều bất cập Trước thực trạngtrên, nhu cầu về một hệ thống cấp cứu trước bệnh viện kiểu mới ở Việt Nam là thực
sự cấp thiết để đáp ứng các tiêu chí: chuyên nghiệp hơn và đáp ứng được với cấpcứu nội, ngoại, sản, nhi, chấn thương, thảm họa, khủng bố[8]
1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến TNTT
1.3.1 Trên thế giới
Một nghiên cứu ở Bangladesh vào năm 2003 phát hiện ra rằng 70% các giađình bị suy giảm thu nhập hộ gia đình và thực phẩm sau cái chết của thành viêntrong gia đình đó trong một vụ TNGT Nạn nhân và các thành viên gia đình của họthường xuyên gặp trầm cảm, lo âu, liên quan đến rối loạn giấc ngủ trong nhiều nămsau khi tai nạn xảy ra Nghiên cứu cũng ước tính chi phí quốc gia cho TNGT baogồm cả thiệt hại về tài sản, hành chính, y tế và chi phí con người được ước tínhkhoảng 644 triệu đô la Mỹ mỗi năm Tương đương 1,5% tổng sản phẩm quốcnội[34]
Một nghiên cứu tại bệnh viện ở Nepal, tại Sri Lanka, số lượng người uốngrượu bia lái xe tăng từ 1.494 người vào năm 1984 lên 5667 người vào năm 1999.Thông tin từ cảnh sát cũng chỉ ra hơn 10% người lái xe có uống rượu Và có 12% sốnạn nhân cấp cứu vì TNGT do say rượu Trong một nghiên cứu tại bệnh viện ở
Trang 36Nepal đã cho thấy rằng hầu hết các thương tích giao thông đường bộ xảy ra trongngày cuối tuần và gần 17% các tai nạn xảy ra do ảnh hưởng của rượu [29]
Nghiên cứu tại Thái Lan vào năm 2003, tỉ lệ tử vong do TNGT bắt đầu tăngvào cuối những năm 1980 Khoảng 80% nạn nhân là người đi xe máy và 50% trong
số đó bị tổn thương ở đầu Để giảm tử vong liên quan đến xe máy, luật đội mũ bảohiểm cho người đi xe máy được thi hành năm 1994 Do đó số người bị tổn thươngđầu giảm 41,1% và tử vong giảm 20,8%[31]
Một nghiên cứu mang tính khả thi nhằm giám sát chấn thương do TNGT tạiBangalore và Pune ở Ấn Độ được thực hiện bởi Hội đồng nghiên cứu y khoa Ấn Độvào năm 2006-2007 Các dữ liệu cho thấy người đi xe hai bánh thường xuyên bịthương, chiếm 30% trong tất cả các nạn nhân TNGT Dữ liệu từ bộ phận cảnh sát
Ấn Độ cho thấy rằng xe máy chiếm 44% trong tất cả các vụ TNGT năm 2001 vàdần dần tăng lên đến hơn 68% trong năm 2007 [40]
Nghiên cứu tại Nepal năm 2007 cho thấy, rất khó để thống kê một cách chínhxác số vụ TNGT Chỉ có những vụ tai nạn chấn thương nghiêm trọng và có tranhchấp thì mới nằm trong báo cáo của cảnh sát Tổng số vụ TNGT tại Nepal vào năm
2006 là 1752, trong số đó 102 trường hợp đã tử vong, 345 bị thương nặng Tuynhiên qua một thời gian dài thì không có trong báo cáo của cảnh sát, do đó khôngphản ánh được tình trạng thực tế Vì vậy nếu muốn nắm rõ con số thực tế thì cầnphải tiến hành điều tra trên chính nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân[32]
Theo dự án Gánh nặng bệnh tật toàn cầu của WHO năm 2004, trên toàn thếgiới ước tính có 424.000 người thuộc mọi lứa tuổi tử vong do ngã Đa số các ca tửvong do ngã là người lớn[30] Các số liệu về tử vong do ngã được WHO công bốcho thấy khác biệt quan trọng giữa các khu vực, và giữa các quốc gia trong khu vực.Các quốc gia thu nhập cao ở châu Mỹ, châu Âu và các khu vực Tây Thái BìnhDương có tỷ lệ tử vong trung bình vào khoảng 0,2-1,0 trên 100.000 dân trẻ em dưới
20 tuổi Tuy nhiên, các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở cùng khu vực báocáo tỷ lệ cao hơn gấp ba lần Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở các khuvực Đông Nam Á và Đông Địa Trung Hải có tỷ lệ trung bình cao nhất lần lượt là
Trang 372,7/100.000 dân và 2,9/100.000 dân Rất có khả năng rằng mức này cao hơn nhiều ởmột số nơi khác, tuy nhiên cũng có khả năng tình trạng phân loại sai số liệu đã xảy
ra [39]
1.3.2 Tại Việt Nam
Năm 2003, nghiên cứu “Đặc điểm chấn thương do TNGT của người dân đếnđiều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Bến Lức từ tháng 1/2003 đến tháng 1/2004” của
Lê Thị Hồng Thi cho kết quả tỉ lệ nạn nhân bị TNGT ở nhóm tuổi từ 16 – 25 chiếm
tỉ lệ cao (38,7%), tỉ lệ nạn nhân là nam nhiều hơn nữ (71,8% so với 28,2%)[23]
Năm 2003, cuộc Điều tra Liên trường về Chấn thương ở Việt Nam (VMIS)của Lê Vũ Anh và cộng sự là một cuộc điều tra mang tính quốc gia về các trườnghợp tử vong do tất cả mọi nguyên nhân và những thông tin về các chấn thươngnghiêm trọng ở mọi lứa tuổi của người dân Việt Nam Nghiên cứu này được thựchiện thông qua việc đến thăm và phỏng vấn trực tiếp các hộ nằm trong mẫu đại diệngồm 27.000 hộ gia đình thuộc tất cả tám vùng sinh thái của Việt Nam Điều tra viên
đã đến thăm các hộ gia đình để thực hiện phỏng vấn theo bộ câu hỏi về các trườnghợp tử vong do tất cả các nhóm nguyên nhân (bệnh truyền nhiễm, bệnh mạn tính vàchấn thương) và về các trường hợp chấn thương không gây tử vong xảy ra trongnăm trước đó Tất cả các dữ liệu đã được phân tích để xác định các mô hình bệnh tật
và tử vong khác nhau theo lứa tuổi, giới tính và nguyên nhân Báo cáo này thể hiệncác kết quả phân tích số liệu theo những nhóm tuổi khác nhau Là một cuộc điều trađược thực hiện trực tiếp tại các hộ gia đình trong cộng đồng, nghiên cứu này đã loại
bỏ được những sai lệch có liên quan đến các hệ thống báo cáo tại bệnh viện và các
hệ thống theo dõi dựa vào các cơ sở y tế khác Nghiên cứu này đã cung cấp những
số liệu nền cơ bản nhất về chấn thương ở Việt Nam, do vậy nên được tiến hành định
kỳ (sau khoảng một vài năm) để có thể thấy được xu hướng biến thiên của tình hìnhchấn thương, cũng như giám sát được hiệu quả của các chương trình can thiệp ở cấpquốc gia hay khu vực Kết quả nghiên cứu cho thấy chấn thương không gây tử vong
ở nam cao hơn hẳn nữ (7.064 so với 3.945) Tỉ suất tử vong do thương tích chung ởViệt Nam là 88,3%/100.000, ở nam là 123 và nữ là 56 Chấn thương giao thông
Trang 38đứng hàng đầu với tỉ suất không gây tử vong là 1.409/100.000 và ở nam gấp 1.8 lần
nữ Ngã là nguyên nhân đứng thứ 2 với tỉ suất 1.322, sau đó là bị động vật cắn(1.105), vật sắc (950) Các kết quả sơ bộ cho thấy rằng chấn thương nổi lên như làmột gánh nặng bệnh tật và tử vong hàng đầu tại Việt Nam[2]
Một nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại khu vực Đông Nam Bộ của Đỗ VănDũng và cộng sự vào năm 2011, khảo sát khoảng 4.000 hộ gồm 19.153 người thuộc
3 tỉnh thành, kết quả cho thấy tỉ suất chấn thương là 570, chiếm tỉ lệ cao hơn cácbệnh truyền nhiễm và bệnh mãn tính[15]
Năm 2011, nghiên cứu về tình hình cấp cứu TNTT tại bệnh viện Việt Đức từnăm 2009 – 2010 của Nguyễn Đức Chính và cộng sự, kết quả cho thấy có tổng số62.229 trường hợp khám cấp cứu tại bệnh viện do TNTT trong 2 năm Trong đónam có 45.393 trường hợp, chiếm 72,9%, nữ có 16.836 trường hợp, chiếm 27,1%.Tuổi từ 20 đến 59 có 44.255 bệnh nhân, chiếm 71,1% TNGT có 35,753 trường hợp,chiếm 57,5%, trong đó có 12.038 bệnh nhân chấn thương sọ não, chiếm 33,7%, sốchấn thương sọ não do không mang mũ bảo hiểm chiếm 27,3% TNGT liên quan xemáy có 14.484 trường hợp, chiếm 40,5% Tử vong và nặng về có 2.220, trong đóchủ yếu do chấn thương sọ não có 1.525 trường hợp chiếm tỉ lệ 69%[12]
Năm 2011, theo báo cáo của Bộ Y Tế về gánh nặng bệnh tật và chấn thươngtại Việt Nam năm 2008, DALYs do chấn thương không chủ định ở nam cao hơn 2,5lần ở nữ (1.229 so với 505) Trong số các chấn thương không chủ định, tai nạn giaothông gây ra gánh nặng bệnh tật lớn nhất trong tổng gánh nặng bệnh tật với 4% ở
nữ và 8% ở nam Ngã và đuối nước cũng là hai nguyên nhân chính của gánh nặng
do chấn thương không chủ định ở cả hai giới[5]
Năm 2011, một nghiên cứu khảo sát hậu quả TNTT ở trẻ em dưới 15 tuổinhập viện tại quận Tân Phú của Lê Nữ Thanh Uyên, Trần Thiện Thuần, kết quả chothấy đa số các trẻ em nhập viện là do nguyên nhân té ngã chiếm tỉ lệ 65%, địa điểm58,8%, tỉ lệ chấn thương đầu, mặt cổ 50,4%, hầu như chấn thương ngoài da 75,6%[26]
Trang 39Năm 2011, theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng và Môi trường, tổng hợp từcác nghiên cứu nổi bật về TNTT trong năm 2011[14], tỉ lệ mắc tai nạn giao thông(TNGT) vẫn đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm 39,4%, giảm1,6% so với năm 2008 Tiếp theo là tai nạn lao động 15,1%, ngã 12,3%, bạo lực6,9% Một số nguyên nhân có xu hướng tăng gồm ngộ độc, ngã Như vậy, năm
2009 tỷ lệ mắc tai nạn thương tích tăng so với năm 2008 nhưng tỷ lệ tử vong do tainạn thương tích có giảm Tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn giao thông, đuối nướcgiảm Nhóm tuổi từ 20-60 là nhóm tuổi mắc và tử vong do tai nạn thương tích caonhất Nam giới có tỷ lệ mắc và tử vong do TNTT cao gấp 3 lần nữ giới Tai nạn giaothông chiếm tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất so với các loại hình tai nạn khác Tỷ lệTNGT nhập viện chiếm 34,3%, tỷ lệ chấn thương sọ não chiếm 25,3%
Năm 2012, một số nghiên cứu nổi bật về TNTT từ năm 2006 – 2011, của CụcQuản lý Môi trường y tế [14]:
Nghiên cứu “Đánh giá tình hình sử dụng bia rượu ở bệnh nhân tai nạn giaothông tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 3năm 2011”, kết quả cho thấy đối tượng nhập viện đa số ở nhóm tuổi 20 – 29 tuổi(trên 50%), người lái xe máy (72,7%) trong đó 40,5% chấn thương sọ não Đốitượng có uống rượu từ 20 – 29 tuổi (44,7%), đa số là nam giới (98,3%)
Nghiên cứu về “Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ đến cấp cứu và điềutrị tại 43 bệnh viện ở Việt Nam vào năm 2010” kết quả cho thấy có 117.317 trườnghợp TNGT, nam giới (73%), chấn thương sọ não do TNGT chiếm 17,8%, trong đónam giới 78,8%
Nghiên cứu “Tình hình tai nạn giao thông tại 03 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng vàBình Dương năm 2006 – 2007”, kết quả: Nam giới chiếm 69,6%, độ tuổi 15 – 49chiếm đa số (73,7%), tỉ lệ nạn nhân bị thương ở đầu/mặt/cổ chiếm 44,8%
Năm 2012, nghiên cứu giải pháp can thiệp phòng chống TNTT cho học sinhtiểu học dựa vào nhà trường tại Thành phố Đà Nẵng của tác giả Nguyễn ThúyQuỳnh, kết quả cho thấy[19]: tỷ suất TNTT không tử vong của học sinh là387/100.000 Sáu nguyên nhân gây TNTT là ngã, TNGT, bỏng, đuối nước, động vật
Trang 40tấn công Trong đó 3 nguyên nhân hàng đầu là ngã, TNGT và bỏng Hai nguyênnhân chính gây tử vong do TNTT là đuối nước và ngã Một số yếu tố liên quan: họcsinh nông thôn có nguy cơ TNTT cao gấp 2 lần học sinh thành thị; TNTT ở nam caogấp hơn 2 lần so với nữ ở hầu hết các nguyên nhân TNTT; TNTT xảy ra nhiều nhất
ở trên đường phố, đường làng (31,5%), thứ nhì ở nhà (29,6%) và thứ ba ở trường(21,7%) Trường học xảy ra ngã nhiều nhất, chiếm 38,2% các trường hợp TNTT ởtrường TNGT xảy ra nhiều trên đường phố, đường làng (80%); bỏng chủ yếu tạinhà, chiếm hơn 93,3%
Như vậy, chúng ta có thể thấy, qua hơn 10 năm thực hiện nghị định của chínhphủ về phòng chống TNTT, với sự phối hợp của nhiều ban nghành, mặc dù đã đạtđược những kết quả nhất định, song công tác phòng chống tai nạn thương tích ởViệt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao, con số báo cáo về TNTThàng năm vẫn còn khá cao, vẫn chiếm hàng đầu trong các nguyên nhân nhập viện,
tử vong, đặc biệt là TNGT Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về phòng chốngtai nạn thương tích dù có chuyển biến nhưng vẫn chưa cao vẫn đang là một mốithách thức lớn
Một điều đáng lo ngại nữa được đặt ra là còn có hàng trăm ngàn trường hợp bịtai nạn thương tích không dẫn đến tử vong mỗi năm đang cần được điều trị và cóthể phải chăm sóc lâu dài … Những con số này được tích lũy hàng năm và tạo ramột gánh nặng lớn cho Việt Nam trong việc chăm sóc và cung cấp các phúc lợi xãhội cho nhóm này Đây chính là gánh nặng khổng lồ mà hệ thống y tế cũng như cácgia đình, cộng đồng và xã hội đang phải gánh chịu Ngoài ra, các di chứng do TNTTcũng sẽ làm mất đi cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho gia đình của nạn nhân vàgóp phần đẩy họ vào nguy cơ đói nghèo