Do trong quá trình tồn tại và phát triển, từ một dạng ban đầu, dưới tác dụng của điều kiện sinh thái khác nhau và các đột biến tự nhiên, dưa chuột đã phân hóa thành nhiều kiểu sinh học b
Trang 1I Tổng quan về họ bầu bí.
II Cây dưa leo.
1 Nguồn tài nguyên di truyền
Nguồn tài nguyên di truyền cây dưa chuột:
Dưa chuột thuộc họ Bầu Bí Curcubitaceae, chi Cucumis, loài C.sativus L., có bộ nhiễm sắc thể
2n = 14 Do trong quá trình tồn tại và phát triển, từ một dạng ban đầu, dưới tác dụng của điều kiện sinh thái khác nhau và các đột biến tự nhiên, dưa chuột đã phân hóa thành nhiều kiểu sinh
học (biotype) Việc phân loại chúng theo đặc tính sinh thái và di truyền học giúp cho công tác
nghiên cứu giống sử dụng đúng đắn và dễ dàng các đối tượng nghiên cứu Các nhà phân loại đã
cố gắng nhiều trong lĩnh vực này, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một bảng phân loại thống nhất (Ram, 2007)
Theo bảng phân loại của Gabaev (1932), loài C.sativus được chiua làm 3 loài phụ:
Loài phụ Đông Á - ssp – Righi dus Gab
Loài phụ Tây Á – ssp – Graciolos Gab
Dưa chuột hoang dại – ssp – Agrostis Gab
Theo đặc điểm quả giống và vùng phân bố, các loài phụ trên được chia thành 14 thứ.Loài phụ Đông Á có 8 thứ, loài phụ Tây Á có 5 thứ và dưa chuột hoang dại hardwikii
Bảng phân loại trên cơ bản là hợp lí nhưng khi sử dụng bản phân loại này thường gặp khó khăn trong chọn giống
Trên cơ sở nghiên cứu sự tiến hóa của loài C.sativus, Filov (1940) đã đưa ra bảng phân loại chính xác hơn Theo bảng này, dạng hoang dại được đưa vào nhóm phụ ssp Agrouis Gab.Các dạng khác thuộc loài trồng trọt và tập trung vào 6 loài phụ mang đặc trưng của sự phân hóa sinh thái rõ rệt Các loài phụ đó gồm:
ssp Europaeo – americanus Fil – loài phụ Âu Mỹ
ssp Occidentali – asiaticus – loài phụ Tây Á
ssp Chinensis – loài phụ Trung Quốc
ssp Indico – Japonicus – loài phụ Ấn – Nhật
ssp Himalaicus Fil – Nhóm Himalaya
ssp Hermaphroditus Fil – Nhóm dưa chuột lưỡng tính
Trang 2Ngoài ra, nhà chọn giống dưa chuột Liên Xô, tiến sĩ Tcachenco (1967) đã phânloài C.sativus thành 3 thứ: dưa chuột thường, dưa chuột lưỡng tính và dưa chuột hoang dại Nhà di truyền học Ba Lan Kubieki (1969) đã chia C.sativus thành 3 thứ:
Var Vulgaris – dưa chuột trồng, gồm 2 nhóm sinh thái địa lý Đông và Tây Á
Var Hermaphroditus – dưa chuột lưỡng tính
Var Hardwikii – dưa chuột hoang dại
Bảng phân loại này mặc dù chỉ dựa trên quan điểm hình thái hực vật nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng trong công tác nghiên cứu giống
Theo Libner Nonneck (1989), C.sativus L đây là một dạng của dưa chuột, là cây rau thương mại quan trọng Một số cây khác cũng được gọi là dưa chuột như: C.flexucosu và C.melo (dưa chuột rắn); dưa chuột Tây Ấn Độ (Gherkin): C.anguria L; dưa chuột tròn C.prophetarum; dưa chuột trắng Trung Quốc Var.conomom hoặc dưa chuột sao: Sicyos angulatus
Jeffrey (1990) đã đưa ra bảng phân loại mới, theo ông, họ Bầu Bí (Cucurbitaceae) bao gồm 118
chi, 825 loài Theo bảng phân loại này, họ Bầu Bí được chia thành 5 họ phụ: Fevilleae,
Melothrieae, Cucurbitaeae, Sicyoideae và Cyclanthereae Các loài trồng trọt quan trọng nhất là Cucurbita L., Cucumis L., Citrullus L., Lagenaria L., Luffa L và Cechium L., được tìm thấy trong họ phụ Sicyoideae (Whitaker & Davis, 1962) Trong đó, loài quan trọng nhất là Cucurbita gồm bí và bí ngô (C.maxima Duch, C.moschata Duch.Ex Lam) Trong loài Cucumis bao gồm dưa chuột (C.sativus L.), dưa lê hoặc dưa thơm (C.melo L.); ở loài Citrullus có dưa hấu
(Citrullus lanatus Thunb); loài Lagenaria có bầu (L.siceraria M.), Sechium có su su và dưa trời (Trichosanthes anguina L.)
Theo Tatlioglu (1993), chi Cucumis nằm ở hai vùng địa lý khác nhau:
Nhóm Châu Phi: chiếm phần lớn các loài, được trồng phổ biến ở Châu Phi và Trung Đông đến Pakistan và Nam Ả Rập
Nhóm Châu Á: dưa chuột (Cucumis sativus) được tìm thấy ở các vùng thuộc phía đông và nam dãy Himalaya Các giống dưa chuột đang trồng ở Việt Nam nằm trong nhóm này
1 Quỹ gen:
Trang 3 Nhóm quả ngắn: có chiều dài dưới 11cm, đường kính 2,5 - 3,5cm Nhóm này có hời gian sinh trưởng ngắn (65 – 80 ngày tùy thuộc thời vụ trồng) năng suất khoảng 15 – 20 tấn/ha (7-8 tạ/sào) Ngoài ăn tươi, dạng này sử dụng chủ yếu cho chế biến đóng hộp nguyên quả
Đại diện cho nhóm này là giống dưa chuột Tam Dương (Vĩnh Phú) và Phú Thịnh (Hải Hưng)
Nhóm quả trung bình: gồm hầu hết các giống địa phương trồng trong nước và giống H1 (giống lai tạo) Quả có kích thước 13-20 x 3,5 -4,5 Thời gian sinh trưởng 75-85 ngày, năng suất 22-25 tấn/ha Một số giống trong nhóm này (H1, Yên Mỹ, Nam Hà) có thể sử dụng để chế nhỏ đóng lọ thuỷ tinh
Trong số các giống nhập nội có 2 nhóm được trồng phổ biến:
Nhóm quả rất nhỏ (hay dưa chuột bao tử): cho sản phẩm để chế biến là quả 2-3 ngày tuổi Khối lượng trung bình được sử dụng là 150-220 quả/kg Phần lớn các giống thuộc nhóm này là dạng cây 100% hoa cái (Gynoecious) như F1 Marinda, F1 Dụna, F1 Levina (Hà Lan) và 1 số giống của Mỹ Riêng giống Mirinda quả mọc thành chùm 3-5 quả trên mỗi kẽ lá Mặc dù năng suất không cao (2-5 tấn/ha), song giá trị thương phẩm lớn nên trồng các giống này vẫn có hiệu quả
Nhóm quả to: gồm các giống lai F1 của Đài Loan và Nhật Bản Các giống của Đài Loan có kích thước 25-30 x 4,5-5cm, quả hình trụ, màu xanh nhạt, gai trắng
Các giống Nhật Bản quả dài hơn (30-45 x 4,5cm) quả nhăn hoặc nhẵn, gai quả màu trắng, vỏ quả xanh đậm Những giống thuộc nhóm này có năng suất khá cao, trung bình từ 30-35 tấn/ ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 50tấn/ ha Phần lớn các giống này được sản xuất theo đơn đặt hàng của các công ty nước ngoài
2 Phân loại:
a) Nhóm dưa trồng giàn: Canh tác phổ biến ở những nơi có điều kiện làm giàn Các giống dưa trong nhóm này có:
Các giống lai F1:
- Giống Mummy 331: Nhập nôi từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt đầu cho thu hoạch 35-37 NSKG, trái suông đẹp, to trung bình (dài 16-20 cm, nặng 160-200g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm chất ngon,…
- Giống 759: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35-37 NSKG, trái thẳng,
to trung bình, gai trắng, màu trái hơi nhạt,…
- Mỹ Trắng: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển và phân nhánh tốt, cho thu hoạch 35-37 NSKG, tỉ lệ đậu trái cao, trái to trung bình, màu trắng xanh,…
- Mỹ Xanh: Nhập nội từ Thái Lan, cây sinh trưởng tốt, chống chịu tốt hơn giống Mỹ Trắng,…
Trang 4- Happy 2 và Happy 14: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển mạnh nên cần giàn cao, cây cho 100% hoa cái, có 10% cây đực cho phấn,…
Các giống dưa leo địa phương:
- Dưa leo xanh: tăng trưởng khá, ít đâm nhánh nên phải trồng dày, cho trái rất sớm (32-35 NSKG), trái to trung bình, vỏ xanh trung bình, gai đen, cho năng suất 20-40 tấn/ha,…
- Dưa Tây Ninh: tăng trưởng mạnh, đâm nhánh mạnh, hoa cái xuất hiện trên dây nhánh nên cho thu hoạch trễ (40-42 NSKG), trái to dài hơn dưa leo xanh, vỏ xanh trung bình, có sọc, 2 đầu hơi nhỏ hơn,…
b) Nhóm dưa trồng trên đất: Trồng phổ biến ở những nơi không có điều kiện làm giàn hay diện tích trồng lớn và canh tác trong mùa khô, phần lớn là giống địa phương:
- Dưa chuột: cây bò dài 1-1.5m, cho thu hoạch rất sớm (30-32 NSKG), nhiều trái và mau tàn Trái nhỏ, ngắn (dài 10-12cm, nặng <100g), màu xanh nhạt, vỏ nhanh chuyển màu vàng sau thu hoạch, thị trái mỏng, ruột to, ăn ngon giòn,…
- Dưa leo Phụng Tường: Tăng trưởng khá và ra nhánh mạnh, cho trái sớm (32-35 NSKG), trái dài trung bình, màu xanh trắng, gai đen, ruột đặc,…
2.Đặc điểm cây dưa leo
Dưa chuột là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, là cây rau truyền thống, nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều nước Những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, dưa chuột là cây rau chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới Những nước dẫn đầu về diện tích gieo trồng và năng suất là: Trung Quốc, Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ , Hà Lan,Thỗ Nhĩ Kỳ, Balan, Aicập và Tây Ban Nha Dưa chuột được trồng từ châu Á, Châu Phi đến 63O vĩ bắc Ở nước ta những năm gần đây dưa chuột đã trở thành cây rau quan trọng trong sản xuất
Trước đây dưa chuột được dùng như một loại quả tươi để giải khát là chủ yếu Khi thị trường trong nước và thế giới được mở rộng, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú thì việc đa dạng hoá cách sử dụng là tất yếu Ngày nay dưa chuột được sử dụng rộng rãi trong bữa ăn thường nhật dưới dạng quả tươi,
sào,trộn salat, cắt lát, muối chua, đóng hộp… Dưa chuột còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng Vì vậy giống dưa chuột cũng phải phong phú đa dạng để phù hợp với những yêu cầu khác nhau như giống chuyên dùng cho chế biến, giống dùng để ăn tươi , dùng để xuất khẩu…
a) nguồn gốc và phân loại thực vật
a.1/ Nguồn gốc:
Dưa chuột (Cucumis sativus) nằm trong họ bầu bí có nguồn gốc ở Châu Á
và Châu Phi, chi dưa chuột bao gồm một số loài như dưa gai, dưa mật, dưa thơm
Trang 5(anguria, melo và sativus) Dưa chuột là loại rau truyền thống Nhiều tài liệu cho biết dưa chuột có nguồn gốc ở miền tây Ấn Độ Cũng có ý kiến cho rằng dưa chuột còn
có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng trọt khoảng 3000 năm nay Dưa chuột được đưa đến một số vùng phía Tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu Dưa chuột được giới thiệu ở Trung Quốc rất sớm có thể 100 năm hoặc hơn trước công nguyên
Trong giai đoạn Roma dưa chuột có giá trị phát triển phương pháp trồng dưới mái che, Charlemagne đã trồng dưa chuột, và đến thế kỷ 13 dưa chuột được dưa đến nước Anh, Columbus đã gieo trồng dưa chuột ở Haiti trong chuyến du lịch đường biển lần thứ 2 của ông Người Tây Ban Nha đã phát hiện ra cây dưa chuột của địa phương trong thời gian bọn thực dân thống trị lâu dài ở thập kỷ 16
a.2/ Phân loại thực vật học
Giới (regnum) : Plante
Ngành(divisio): Magnoliophyta
Lớp (class) : Magnoliopsida
Bộ (ordo) : Cucurbitales
Họ (familia) : Cucurbitaceae Juss
Chi (genus) : Cucumis
Loài (species) : C sativus
Tên khoa học của dưa chuột : Cucumis sativus L.
b/ Đặc điểm thực vật học:
b.1/ Rễ
b.2/ Thân
b.3/ Lá
b.4/ Hoa
b.5/ Quả
b.6/ Hạt
b.1/ Rễ
Rễ của dưa chuột có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m, rễ nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai Rễ dưa phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt
30 - 40 cm, hầu hết tập trung ở phần đất 15-20cm
b
b 2/ 2 Thâ Th n
Thân thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn để bám khi bò, tua cuốn màu xanh lục nhạt, mảnh, tiết diện gần tròn, mặt trên có rãnh ở giữa Thân có màu xanh lục nhạt, tiết diện đa giác, có 5 gân dọc Thân và tua cuốn có lông cứng màu trắng Thân chính thường phân nhánh; cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập nhánh ngang Sự phân nhánh của dưa còn chịu ảnh hưởng của nhiệt
độ ban đêm Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0.5 - 2,5 m
Trang 6b 3/ 3 Lá L
Lá đơn, to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuống lá rất dài 5-15 cm; rìa lá nguyên hay có răng cưa Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi Phiến lá dài 10-16 cm, rộng 10,5-15,5 cm; xẻ 5 thùy theo kiểu chân vịt với 3 thùy có dạng tam giác, 2 thùy cạn; ở lá non phiến lá có thể xẻ 7 thùy với 3 thùy có dạng tam giác, 4 thùy cạn; thùy giữa to hơn các thùy còn lại; đáy lá hình tim; mép lá
có răng cưa nhỏ màu trắng Lá màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới Gân lá chân vịt với 5-7 gân chính nổi rõ ở mặt dưới, gân phụ tạo thành hình mạng Cuống lá
có tiết diện đa giác, màu xanh lục, dài 8-20 cm, mặt trên có rãnh ở giữa và có 5 gân dọc Trên cuống lá và 2 mặt phiến lá phủ đầy lông cứng màu trắng Ở nách lá có hệ thống đặc biệt, gồm có: 1 tua cuốn và 1 hoa cái riêng lẻ, hay 1 tua cuốn và 1 cụm 5-6 hoa đực
b.4/ Hoa
Đơn tính cùng cây hay khác cây Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5-7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính Có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây
Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở
Hoa đực: Cuống hoa dạng sợi màu xanh lục, dài 1-2 cm, phủ đầy lông tơ trắng Lá đài 5, đều, màu xanh lục nhạt, phủ dày đặc lông dài trắng; ống đài hình chuông cao 0,6-0,8 cm, có 10 đường gân dọc; 5 thùy dạng tam giác hẹp cao 0,8-1 cm, rộng 0,1-0,2 cm Tiền khai đài van Cánh hoa 5, đều; mặt trên vàng đậm, mặt dưới vàng nhạt; dính nhau phía dưới thành ống hình chuông cao 0,6-0,8 cm và dính vào lá đài, sau khi tách khỏi đài tràng hoa chia 5 thùy dạng ngọn giáo đỉnh có 1 gai nhọn màu xanh lục, kích thước 1,5-2 cm x 1-1,5 cm; bìa nhăn, 2 mặt có lông mịn màu trắng, mặt dưới có 5-6 gân màu xanh lục nhạt Tiền khai cánh hoa 5 điểm Nhị 5, đều,
4 nhị dính nhau ở bao phấn thành 2 cặp, 1 nhị rời, đính ở nơi tiếp giáp giữa đài và tràng trên 1 vòng trước cánh hoa Chỉ nhị ngắn 0,1-0,2 cm, dẹp, màu xanh lục nhạt Bao phấn khúc khuỷu, màu vàng, cao 0,3-0,4 cm, 1 ô, hướng ngoại, đính đáy, mở bằng một đường nứt cong queo, chung đới kéo dài 1 đoạn 1 mm màu xanh lục nhạt sau đó chia 2 thùy màu vàng Hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình cầu có 1-3 lỗ, hay hình bầu dục có 2 rãnh dọc, kích thước 62,5-75 µm Đĩa mật to, màu vàng, chia 3 thùy xen kẽ nhị, nằm trên đế hoa và dưới nhị
Hoa cái: Cuống hoa dạng sợi, màu xanh lục, phủ đầy lông trắng ngắn, dài 4-7,5 cm Lá đài và cánh hoa như hoa đực, nhưng mỗi thùy của cánh hoa có 3-5 gân và
có kích thước 2-2,5 x 1-1,5 cm Lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu noãn Lá noãn 3, bầu dưới 3 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trắc mô đặc biệt Bầu noãn hình trụ màu xanh lục, dài 2-4 cm, phủ lớp màu trắng như sáp, có 10 sọc dọc màu xanh đậm, rải rác có những nốt sùi (những nốt sùi này là những lông che chở đa
Trang 7bào ngắn đáy phình to); 1 vòi nhụy hình trụ ngắn 0,2 cm, màu xanh lục nhạt; 3 đầu nhụy màu vàng nhạt, mỗi đầu nhụy chia 2 thùy Đĩa mật màu vàng chia 3 thùy, bao quanh gốc vòi nhụy
b
b 5/ 5 Quả
Lúc còn non có gai xù xì, khi quả lớn gai từ từ mất đi Quả từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm), khi chín quả chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh
Quả chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200-500 hạt/quả
b
b 6/ 6 Hạt Hạ
Hạt dưa chuột dạng bẹt hình oval dài 10-15mm Vỏ hạt nhẵn trắng đến đen Mỗi cạnh hạt có một rãnh, phôi được bao quanh bởi ngoại nhũ, phôi lớn hai lá mầm tiêu hoá nội nhũ hoàn toàn
Khối lượng 1000 hạt khoảng 25g
c/ Đặc điểm sinh thái của cây dưa leo
Dưa leo thuộc nhóm ưa nhiệt, nhiệt độ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng
là 30oC và nhiệt độ ban đêm 18 – 21oC Dưa có phản ứng với độ dài ngày khác nhau tùy theo giống, thông thường ngày ngắn kích thích cây ra lá và trái, vì vậy điều kiện thời tiết vùng đồng bằng cho phép dưa leo ra hoa trái quanh năm
Yêu cầu về độ ẩm đất của dưa leo rất lớn Dưa chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm trái trở nên đắng Tuy nhiên
ẩm độ không khí cao lại giúp cho bệnh đốm phấn phát triển mạnh
3 Kĩ thuật trồng và chăm sóc
3.1 Thời vụ:
- Vụ Xuân là vụ chính, gieo hạt cuối tháng giêng, đầu tháng 2 Nếu gieo sớm hơn, thời tiết quá lạnh sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng và cây sinh trưởng yếu Nếu gieo muộn gặp nhiệt độ cao và mưa sớm làm giảm tỷ lệ quả, năng suất sẽ thấp
- Vụ Hè: gieo tháng 4 đến tháng 7, thu hoạch tháng 6 đến tháng 9, tháng 10
- Vụ Đông: gieo hạt cuối tháng 9, đầu tháng 10, thu hoạch trung tuần tháng 11 đến giữa tháng 12
- Trong thời vụ gieo trên thì năng suất cao nhất là vụ xuân, thấp nhất là vụ hè
3.2 Làm đất, bón phân:
Dưa chuột phát triển tốt trên các loại đất thịt nhẹ, cát pha thoát nước tốt và giữ được ẩm Thích hợp là đất có pH 6,4-7 Do bộ rễ phát triển yếu nên phải làm đất kỹ,
Trang 8dọn sạch cỏ gốc rạ, cây của vụ trước Sau khi cày bừa, tiến hành lên luống ngay, tránh gặp mưa, nhất là vào vụ đông Rạch hàng chia luống (rãnh rộng 0,3m)
- Mùa mưa: lên liếp rộng 1,2-1,8 m trồng 2 hàng
- Mùa nắng: lên liếp rộng 0,4-0,7m; cao 20-30 cm trồng 1 hàng
- Đất ương cây con nên trộn phân hữu cơ, tro trấu và đất phơi khô đập nhuyễn theo tỷ
lệ 1: 1: 1
Lượng phân bón cho dưa chuột trên 1 hécta như sau:
- Phân chuồng mục: 20 tấn
- Đạm urê: 150kg
- Supe lân: 200kg
- Kali: 150kg
Đất hơi chua, pH dưới 5, 0 có thể bón thêm 30kg vôi bột/sào (khoảng 840kg/ha) Bón lót: 1/2 phân chuồng + 60-70 kg kali, nên bón theo rãnh trước khi trồng 5-7ngày
Bón thúc: 7 ngày sau khi gieo: (7 ngày SKG) urê pha nước tưới 20 kg
15 ngày SKG: làm cỏ, bón phân (1/2 phân chuồng còn lại, urê 60 kg + kali 40 kg) kết hợp cắm chà cho cây lên giàn
25 ngày SKG khi dưa bắt đầu ra hoa rộ: bón 60 kg urê + 40 - 50 kg kali
Ngoài ra, còn còn thể dùng phân urê pha nước tưới định kỳ 7 ngày/lần cho dưa
nhất là sau khi bắt đầu hái trái Có thể dùng phân phun qua lá 7 ngày/lần Nếu thấy dây dưa chậm phát triển
Phân bón lót được bỏ vào hốc, đảo đều, và lấp một lớp đất nhẹ
3.3 Gieo hạt:
Hạt gieo hai hàng trên luống với khoảng cách 60-70cm, mỗi hốc cách nhau 40cm Mật độ trồng 33.000 hốc /ha Mỗi hốc gieo 3 hạt, sau để lại 2 cây Giống lai F1 để 1 cây Lượng hạt để gieo cho 1 sào Bắc Bộ là 50g (1,3kg/ha) Giống lai F1 có thể rút bớt lượng hạt gieo (30-40g/sào hay 1kg/ha) Đối với dưa chuột vụ xuân, gieo hạt đúng vào lúc trời đang rét cho nên để bảo vệ cây con tốt, cần phải ươm cây con ở nơi khuất gió Trước khi gieo hạt cần thúc mầm Dùng nước ấm ngâm hạt giống vài giờ, sau đó vớt ra, gói vào miếng vải xô, bên ngoài miếng vải cuộn một ít rạ ướt Cuộn xong bỏ vào 1 cái chậu tráng men hoặc bát sứ, để bát vào cạnh bếp duy trì nhiệt độ ở mức 25-300C Hàng ngày lấy ra nhúng vào nước lã 1 lần Quá trình thúc mầm tiến
Trang 9hành trong 36-48 tiếng Hạt gieo sâu 1-1,5cm, rắc một lớp đất mịn lên trên, sau đó phủ một lớp mùn mục hoặc trấu lên trên trước khi tưới ẩm lên hạt gieo Tốt nhất nên gieo trong bầu để tiết kiệm hạt giống; nên gieo thêm 3-5% số cây để trồng dặm Để đảm bảo cho cây con bén dễ nhanh, khi đánh cây con đem trồng cần giữ bầu đất ở rễ
3.4 Chăm sóc
+ Xới, xáo, làm giàn:
Sau khi trồng hoặc gieo hạt, cần xới xáo 2-3 lần để phá váng và làm tơi đất Khi cây lớn 10-15cm tiến hành vun gốc để cây ra rễ mới, chắc gốc khỏi đổ và không bò lan ra đất
Khi cây lớn 30cm, thân cuốn lại là bắt đầu phải làm giàn Thân dưa chuột vươn ra rất nhanh, nhưng sức leo của thân cây yếu nên tiến hành buộc cây vào giàn Cứ 2-3 ngày buộc 1 lần Giàn dược làm bằng nứa cắm hình chữ “X” mỗi gốc cây dưa chuột cắm một cọc, đối diện hàng bên cắm một cọc, hai cọc giao nhau được buộc lại bằng lạt Các cọc nứa được nối với nhau bởi thanh ngang để giàn chắc
+ Tưới nước đủ ẩm sau khi gieo Chủ động tưới tiêu, không để cho cây bị thiếu nước hoặc ngập úng Mùa nắng tưới 1 ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều Tăng cường lượng nước tưới và diện tích tưới xung quanh gốc khi cây lớn, nhất là thời kỳ
ra hoa, trái rộ; cần thoát nước tốt trong mùa mưa.Nếu trời nắng có thể tháo nước vào ruộng Mỗi tuần tháo nước một lần Trước và sau khi tháo nước, chú ý bón thúc phân đầy đủ để cây tiếp tục cho quả Đặc điểm của cây dưa chuột là đòi hỏi nhiều phân, nhưng không chịu được phân đặc nên cần chú ý thực hiện: bón nhiều lần nhưng dùng phân pha loãng Trường hợp không có phân chuồng hoặc phân bắc có thể thay bằng phân đạm hoá học Nếu gặp mưa, đất ẩm, dùng cuốc nhỏ bổ hốc giữa 2 gốc cây, bón phân và lấp đất, kết hợp làm cỏ và loại bỏ lá già, lá bị bệnh Sau mỗi lần thu, nếu có nước phân loãng tưới cho cây sẽ kéo dài thời gian thu hoạch quả
3.5 Phòng trừ sâu bệnh:
Ngoài việc chọn giống tốt, khi trồng dưa leo cần chú ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh:
a) Sâu hại:
Sâu hại quan trọng gồm có:
- Bọ trĩ hay bù lạch (Thrips palmi) nên phun thuốc vào buổi chiều, dùng một trong các loại thuốc sau: Confido, Oncol hoặc Sherpa phun trước khi ra hoa
- Bọ rầy dưa (Aulacophora similis)
Trang 10- Rệp dưa
- Ruồi đục lá (sâu vẽ bùa), bọ rầy, sâu ăn lá dùng: Karate, Lannate, Polytrin, Confido, phun khi chúng mới xuất hiện, tránh giai đoạn cây đang ra hoa rộ
b).Bệnh:
Bệnh hại quan trọng gồm có:
- Bệnh héo rũ, chạy dây (nấm Fusarium sp ) có thể sử dụng: Daconil, Til super, Curzate hoặc Derosal để phun ngừa
- Bệnh chết héo cây con, héo tóp thân (nấm Rhizoctonia solani) Ngoài việc xử lý đất các loại thuốc có gốc đồng như Sulphate đồng, Benlate C 2,5 g/1 lítnước tưới vào hốc trước khi trồng Có thể phun ngừa khi cây còn nhỏ bằng: Bonaza, Ridomil hoặc Derosal
- Bệnh thối trái non (nấm Choanephora cucurbitarum)
- Bệnh thán thư (nấm Colletotrichum lagenarium)
-Bệnh sương mai (nấm Pseudoperonospora cubensis) là bệnh nguy hiểm, gây hại cho dưa chuột ở tất cả các vùng trồng Vào thời kỳ có nhiệt độ thấp (dưới 20oC) và độ ẩm không khí cao, bệnh gây các vết thâm vuông cạnh trên mặt lá, làm chết các tế bào, dẫn tới khô lá.Có thể dùng: Ridomil, Aliette, Derosal hay Mancozeb
3.6 Thu hoạch:
Thời kỳ thu hái của dưa chuột chủ yếu phụ thuộc vào đặc tính của giống và mục đích
sử dụng
Dưa ăn trái tươi thu hoạch lúc trông ngon nhất, vỏ có màu xanh mượt, còn lớp phấn trắng, suông đẹp và đầu quả còn cánh hoa chưa rụng (7-10 ngày tuổi) Nếu để quả già
sẽ ảnh hưởng tới sự ra hoa, đậu quả của các lứa tiếp theo, năng suất sẽ giảm Quả nên thu vào buổi sáng để buổi chiều tưới thúc nước phân Thời kỳ rộ quả, có thể thu 2-3 ngày một đợt
3.7 Để giống:
Để làm giống, ruộng dưa chuột giữa các giống khác nhau, phải có khoảng cách cách ly ít nhất 2km Mỗi cây lấy 3-4 quả giống Sau khi thu lứa đầu quả thương phẩm, để những quả giữa thân làm giống Các hoa cái khác vặt hết để tập trung dinh dưỡng nuôi quả giống
Quả giống 25-30 ngày tuổi, thu về để chín sinh lý 4-5 ngày Bổ dọc quả, lấy thìa con cạo hạt ngâm vào chậu nhựa một ngày đêm, sau đó đãi kỹ, phơi 3-4 nắng nhẹ.Hạt cất vào lọ, chum vại, dưới có một lớp vôi bột, nắp kỹ, có thể sử dụng sau 3-4 năm cất giữ