Vai trò của Công nghiệp đối với phát triển kinh tế: Công nghiệp được thừa nhận là ngành chủ đạo của nền kinh tế; có vị trí, vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế, thể hiện qua: 2.
Trang 1Đề tài: Hãy trình bày vai trò của Công nghiệp với phát triển kinh
tế? Đánh giá vai thực trạng vai trò của Công nghiệp với phát triển kinh tế ở Việt Nam Để ngành Công nghiệp phát huy được vai trò của mình trong việc tạo động lực phát triển kinh tế thì Việt Nam cần quan tâm những vấn đề gì?
Trang 2I.Vai trò của Công nghiệp với phát triển kinh tế?
1 Khái niệm
Công nghiệp:
Theo Liên Hợp Quốc: Công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp bao gồm cả 3 loại hình:
- Công nghiệp khai thác tài nguyên
- Công nghiệp chế biến
- Các dịch vụ sản xuất theo sau nó
Phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về mọi mặt của nền kinh tế, là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ, hoàn thiện của hai vấn đề kinh
tế và xã hội của mỗi quốc gia
2 Đặc điểm và ảnh hưởng của công nghiệp
2.1 Đặc điểm:
a Sản xuất công nghiệp bao gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tác động vào đối tượng lao động nguyên liệu
- Giai đoạn 2: Chế biến nguyên liệu tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng
Cả hai giai đoạn đều sử dụng máy móc
b Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ:
Đòi hỏi nhiều kĩ thuật và lao động trên một diện tích nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm
c Sản xuất công nghiệp bao gồm nhiều ngành phức tạp, được phân công tỉ mỉ và có
sự phối hợp giữa nhiều ngành để tạo ra sản phẩm cuối cùng.
- Công nghiệp nặng (nhóm A) sản phẩm phục vụ cho sản xuất
- Công nghiệp nhẹ (nhóm B) sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và đời sống của con người
* Điểm khác nhau giữa nông nghiệp và công nghiệp:
- Đối tượng
lao động
- Đặc điểm
- Cây trồng, vật nuôi
- Phân tán theo không gian; chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện tự
- Khoáng sản, tư liệu sản xuất
- Tập trung cao độ; ít chịu ảnh hưởng của điều kiện
Trang 3sản xuất nhiên; các giai đoạn phải
theo trình tự bắt buộc
tự nhiên; các giai đoạn có thể tiến hành đồng thời, có thể tách xa nhau về mặt không gian
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố công nghiệp.
Tự nhiên, kinh tế, chính trị: gần biển,sông, đầu mối giao thông vận tải, đô thị, lựa chọn các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất, cơ cấu ngành công nghiệp
Đây là nhân tố quan trọng, tạo điều kiện hay trở ngại
- Khoáng sản: Trữ lượng, chất lượng, chủng loại, phân bố chi phối quy mô, cơ cấu,
tổ chức các xí nghiệp công nghiệp:các nhà máy xi măng tập trung nơi có nguồn đá
- Khí hậu, nước: Phân bố, phát triển công nghiệp: luyện kim màu, dệt, nhuộm, thực phẩm,
- Đất, rừng, biển: Xây dựng xí nghiệp công nghiệp
- Dân cư, lao động: ngành cần nhiều lao động (dệt may) phân bố ở khu vực đông dân, các ngành kĩ thuật cao (điện tử) nơi có đội ngũ lành nghề
- Tiến bộ khoa học kĩ thuật: thay đổi quy luật phân bố xí nghiệp, việc khai thác và
- Thị trường (trong nước và ngoài nước): Lựa chọn vị trí các xí nghiệp, hướng
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật: Đường giao thông, thông tin, điện nước
- Đường lối, chính sách: ảnh hưởng quá trình công nghiệp hóa phân bố công nghiệp hợp lí, thúc đẩy công nghiệp phát triển
3 Vai trò của Công nghiệp đối với phát triển kinh tế:
Công nghiệp được thừa nhận là ngành chủ đạo của nền kinh tế; có vị trí, vai trò
to lớn đối với sự phát triển kinh tế, thể hiện qua:
2.1 Công nghiệp tăng trưởng nhanh và làm gia tăng nhanh thu nhập quốc gia
- Công nghiệp là ngành có năng suất lao động cao, cao hơn hẳn các ngành kinh tế khác
Trang 4- Công nghiệp là ngành có giá trị gia tăng lớn, năng suất lao động là yếu tố quyết định nâng cao thu nhập, thúc đẩy nhanh tăng trưởng công nghiệp và đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc gia Công nghiệp có vai trò quan trọng này là do thường xuyên đổi mới và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hơn nữa, giá cả sản phẩm công nghiệp thường ổn định và cao hơn so với các sản phẩm khác ở cả thị trường trong và ngoài nước
- Công nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội mà không ngành nào có thể thay thế được (máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất, công cụ, đồ dùng sinh hoạt…)
- Công nghiệp là ngành chiếm tỉ trọng cao trong GDP
2.2 Công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất và trang bị kĩ thuật cho các ngành kinh tế:
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm công nghiệp, một bộ phận sản phẩm công nghiệp sản xuất có chức năng là tư liệu sản xuất Do đó, nó còn là ngành tạo ra tác động hiệu quả dây chuyền đến các ngành kinh tế khác và tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế
2.3 Công nghiệp cung cấp đại bộ phận hàng tiêu dùng cho dân cư:
Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đáp ứng nhu cầu
cơ bản của con người Công nghiệp khác hơn, cung cấp những sản phẩm tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng (ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi, giải trí ) khi thu nhập dân cư tăng gắn với quá trình phát triển kinh tế thì nhu cầu con người lại cao hơn và mới hơn Chính sự phát triển của công nghiệp mới đáp ứng những nhu cầu thay đổi này và đồng thời nó lại hướng dẫn tiêu dùng của con người
2.4 Công nghiệp góp phần đắc lực vào việc thay đổi phương pháp tổ chức, phương pháp quản lý sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội:
- Phương pháp tổ chức sản xuất theo chiều dọc và theo chiều ngang:
+ Theo chiều dọc: tạo dựng các mối liên hệ từ nơi khai thác hoặc nơi sản xuất nguyên liệu đến nơi chế biến và phân phối sản phẩm
+ Theo chiều ngang: tạo mối liên hệ trong một xí nghiệp chuyên môn hóa mở mang sang nhiều xí nghiệp có liên hệ về sản phẩm và thị trường, mở rộng không gian sản xuất và dịch vụ
- Phương pháp sản xuất dây chuyền và sản xuất hàng loạt nâng cao chất lượng
và hạ giá thành sản xuất
Trang 5- Rèn luyện tác phong công nghiệp (từ nề nếp sản xuất đến lề lối làm việc, từ cách suy nghĩ đến tác phong của người lao động) Do đó Công nghiệp góp phần cải tạo xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
2.5 Công nghiệp cung cấp nhiều việc làm cho xã hội:
Dưới tác động của công nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp được nâng cao tạo điều kiện dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp Sự phát triển của công nghiệp làm mở rộng nhiều ngành sản xuất mới, khu công nghiệp mới và cả các ngành dịch vụ đầu vào và đầu ra sản phẩm công nghiệp, và như vậy thu hút lao động nông nghiệp và giải quyết việc làm cho xã hội
2.6 Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa:
- Đối với nông nghiệp: Công nghiệp có vai trò to lớn để thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn:
+ Công nghiệp vừa tạo ra thị trường, vừa tạo ra những điều kiện cần thiết cho nông nghiệp phát triển
+ Công nghiệp chế biến làm tăng giá trị và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
+ Công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động
+ Phát triển công nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho 1 bộ phận lao động trong nông nghiệp
Vì công nghiệp cung cấp cho nông nghiệp những yếu tố đầu vào quan trọng như phân bón hóa học, thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu bệnh, máy móc, phương tiện vận chuyển làm tăng năng suất Hơn nữa, công nghiệp còn góp phần làm tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp, bằng cách cho phép vận chuyển nông sản nhanh chóng tới thị trường tránh hư hỏng, tăng gia sản xuất nhiều hơn; bảo quản, dự trữ lâu hơn để chờ cơ hội tăng giá Mặt khác, công nghiệp còn có vai trò rất lớn trong việc tạo ra
cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
- Đối với dịch vụ: công nghiệp tác động đến các ngành như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thương mại, du lịch, đầu tư tài chính… Công nghiệp là tác nhân quyết định đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội
Trang 62.7 Công nghiệp tạo điều kiện khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên, làm thay đổi sự phân công lao động, làm giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng:
- Công nghiệp phát triển góp phần khai thác triệt để tài nguyên: dưới lòng đất, trên mặt đất và dưới đại dương
- Công nghiệp làm cho không gian kinh tế biến đổi sâu sắc, tạo dựng các trung tâm kinh tế mới, chuyển hóa chức năng của nhiều đô thị
- Làm giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn, thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn
2.8 Công nghiệp có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản xuất vật chất nào sánh được, góp phần vào việc mở rộng sản xuất, thị trường lao động và giải quyết việc làm:
- Danh mục sản phẩm mà ngành công nghiệp tạo ra ngày càng nhiều
- Góp phần giải quyết việc làm (cả trực tiếp và gián tiếp)
2.9 Công nghiệp đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân:
- Tích lũy cho nền kinh tế bao gồm nguồn tài chính, nhân lực và trình độ khoa học công nghệ
+ Tăng nguồn ngân sách cho nhà nước, tăng tích lũy cho các doanh nghiệp
và nâng cao đời sống nhân dân
+ Nâng cao chất lượng nguồn lao động
+ Thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển
- Sự phát triển công nghiệp là thước đo trình độ phát triển, biểu thị sự vững mạnh của nền kinh tế, phát triển công nghiệp là điều kiện quyết định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
II Đánh giá vai thực trạng vai trò của Công nghiệp với phát triển kinh tế ở Việt Nam.
1 Thực trạng:
Nhìn một cách tổng quát, trong những năm đổi mới vừa qua, đi đôi với tăng trưởng và ổn định, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ Xu hướng của quá trình này là công nghiệp tăng nhanh và nền kinh tế được hiện đại
Trang 7hóa Nếu năm 1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước là 8,15% thì năm
2007 ước đạt 8,44%, trong đó, ứng với thời gian trên, khu vực nông - lâm - thủy sản
là 4,3% và 3,0%, khu vực công nghiệp - xây dựng là 12,6% và 10,4%; khu vực dịch
vụ là 7,14% và 8,5%
Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thực hiện gắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng da dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu Từng bước phát triển các ngành khai thác các nguồn lực của nền kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
và một số hàng công nghiệp nặng cần thiết Các sản phẩm công nghiệp quan trọng đều tăng khá như điện, thép, phân bón, dầu thô, xi măng, than… Sự phát triển này
đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế: tỷ trọng GDP tính theo giá thực tế trong khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 23,2% năm 1996 lên 41,0% năm 2005, 41,6% năm 2006 và năm 2007 ước đạt 41,7% (năm 2007 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống mức khoảng 20,9% và khu vực dịch vụ tăng lên khoảng 37,6%)
Tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP tăng dần thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế quốc dân (năm 2007 chỉ tính riêng khu vực công nghiệp chiếm khoảng 34,6%) Đây là năm thứ ba liên tiếp ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao
- Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 1997-2007
+ Về giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá so sánh năm 1994) năm 2007 ước tăng 17,1% so với năm 2006, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 10,3%; khu vực ngoài nhà nước tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%
Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp cũng chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến từ 83,9% năm 2006 lên khoảng 84,4% năm 2007 Đối với nhóm ngành chế biến nông, lâm, thủy, hải sản, nhất là chế biến thực phẩm và đồ uống đóng góp quan trọng vào cơ cấu chế biến với tỷ trọng là 21,0% năm 2006 và khoảng 21,3% năm 2007 Lợi thế so sánh trong các ngành chế biến, chế tạo sử dụng nhiều lao động đã được khai thác với ưu thế của ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu so với các sản phẩm xuất khẩu thô Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu đã có những thay đổi cơ bản, theo hướng vừa không ngừng nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Nhiều sản phẩm công nghiệp không chỉ đáp ứng cơ bản nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế như điện, than, phân
Trang 8bón, sắt thép… mà còn tham gia vào xuất khẩu và chiếm tỷ trọng cao (76,3%) như: mặt hàng nhựa, dệt may, điện tử và linh kiện máy tính, thủ công mỹ nghệ…
Đặc biệt, các sản phẩm cơ khí xuất khẩu cũng là lần đầu tiên được bổ sung vào danh sách 10 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD (năm
2007 sảnphẩm cơ khí tăng trưởng trên 120% so với năm 2006, đem lại kim ngạch xuất khẩu trên 2,2 tỷ USD) Đứng đầu danh sách nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD phải kể đến là dầu thô (trên 8,4 tỷ USD); tiếp theo là dệt may (7,7 tỷ USD); giày dép (3,9 tỷ USD)
Chuyển dịch của khu vực công nghiệp theo hướng hình thành, phát triển một
số ngành và sản phẩm mới thay thế nhập khẩu, ở khía cạnh hiệu quả kinh tế, một số lọai sản phẩm được sản xuất ra với khối lượng ngày càng lớn như: lắp ráp ôtô, xe máy, đồ điện tử, đường, xi măng… đã cung cấp cho thị trường nội địa, vốn cần thiết cho đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, nhiều mặt hàng có chất lượng cao đã chiếm lĩnh thị trường trong nước Mặt khác, khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) trong nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ cao Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, tập trung vào nhóm ngành chế biến thực phẩm và dầu khí, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng xuất khẩu của nước ta và có vị trí chủ yếu trong một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực Khu vực này đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ, xây dựng mô hình tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác tiềm năng và huy động các nguồn lực tốt hơn vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH…
Ba nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu trong khu vực công nghiệp trong thời gian qua là do:
Một là, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống luật
pháp và chính sách thương mại, thông qua mối quan hệ giữa các chính sách thuế và các chính sách khác như trợ cấp, đầu tư…và trên thực tế đã cải thiện rõ môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh;
Hai là, nhiều doanh nghiệp đã và đang tận dụng mọi cơ hội để vươn lên
trong môi trường cạnh tranh, giành lấy và mở rộng thị phần trên thị trường
Ba là, ở giai đoạn trước mắt đã định hướng đúng việc tập trung vào nhóm
các sản phẩm có lợi thế so sánh trong xuất khẩu và khả năng cạnh tranh cao, có nguồn gốc từ nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng, thực phẩm như hàng may mặc, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, dầu thô, than đá…
Trang 9Bên cạnh những ngành được hưởng lợi, với tư cách là thành viên của WTO, thì những ngành bị ảnh hưởng tiêu cực là những ngành bị cắt giảm thuế quan nhiều nhất, như mía đường, ô tô, giấy…; hoặc một số ngành phải chịu sự cạnh tranh gay gắt nhất từ phía hàng nhập khẩu, như thép, giấy, hóa chất, phân bón…
Nhất là mặt hàng dệt may.
Hai là, cơ cấu sản xuất công nghiệp dịch chuyển chậm, công nghiệp phụ trợ
kém phát triển dẫn đến tình trạng các ngành sản xuất phụ thuộc quá nhiều vào thị trường thế giới
Ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta còn thiếu; trình độ kỹ thuật
công nghệ lạc hậu đã trở thành rào cản lớn nhất đối với khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong khu vực công nghiệp
Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến hiệu quả thấp, tăng trưởng kinh tế phát triển thiếu bền vững, nhiều vấn đề xã hội, môi trường chưa được giải quyết hiệu quả Vì vậy, cần phải có những cải cách đột phá, tập trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục cải cách hành chính triệt để, khắc phục những mặt trái của
cơ chế “một cửa”, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước cương quyết và hiệu quả Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, làm minh bạch, lành mạnh hóa môi trường kinh doanh
Thứ hai, sớm xây dựng chiến lược phát triển các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng
giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn 2030, trong đó, vấn đề cốt lõi là tái cơ cấu các DN, các loại dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao và phát triển logistics xanh, nhằm tận dụng hiệu quả các cơ hội mang lại từ hội nhập
Thứ ba, nhanh chóng đầu tư phát triển hệ thống logistics của Việt Nam, bao
gồm: Cơ sở hạ tầng logistics, thể chế pháp luật về phát triển dịch vụ logistics, phát triển các DN cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics… nhằm đẩy nhanh quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả, thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Thứ tư, nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ (1-2% GDP) để Việt Nam
sớm có những đột phá về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại giá trị cao cho xuất khẩu của Việt Nam
Trang 10Thứ năm, cùng với việc đổi mới thế chế, hoàn thiện hệ thống chính sách
nhằm phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cần có các biện pháp để chuyển dần từ gia công sang sản xuất, xuất khẩu, giảm và tiến tới hạn chế mức thấp nhất xuất khẩu sản phẩm thô, khoáng sản; tăng xuất khẩu sản phẩm tinh chế, có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao
Trong 10 năm qua, công nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật Giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam sau 10 năm qua tăng cao gần 3,5 lần, từ 0,34 triệu tỷ đồng lên 1,17 triệu tỷ đồng với tỉ trọng đóng góp vào GDP duy trì ổn định khoảng 31 - 32%, và trở thành ngành đóng góp nhiều nhất cho ngân sách nhà nước Công nghiệp luôn là ngành xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam với tỷ trọng ở mức xấp
xỉ 90% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước qua các năm Cơ cấu xuất khẩu của các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực với tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ mức 46,7% năm 2000 lên 97,3% vào năm 2015, trong khi nhóm ngành khoáng sản giảm liên tục, từ 22% năm 2007 xuống còn 7,7% vào năm 2010 và 2,7% năm 2015 Trong những năm gần đây, các ngành như: điện tử, dệt may và da giày đã trở thành 3 ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế với tỷ trọng chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Mặc dù vậy, trong những năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp đang có xu hướng chậm lại, từ trung bình 14,3%/năm của giai đoạn 2006
-2010 giảm xuống 10%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015 và giảm hầu hết trong các nhóm ngành công nghiệp; tốc độ tăng năng suất lao động của ngành công nghiệp giai đoạn 2006 - 2015 khoảng 2,4%/năm, chậm hơn tốc độ tăng bình quân chung của nền kinh tế là 3,9%
Năng suất lao động công nghiệp Việt Nam bị bỏ xa so với các nước phát triển và các nước trong khu vực Năng suất lao động của Nhật Bản cao gấp 39 lần của Việt Nam, Singapore cao gấp 26 lần, Hàn Quốc cao gấp 16 lần và Trung Quốc cao gấp 2 lần So với các nước đang phát triển trong khu vực thì Malaysia cao gấp 6,5 lần, Thái Lan và Phi-lip-pin cao gấp 1,5 lần Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng trong công nghiệp đạt thấp, tỷ trọng giá trị gia tăng ngành công nghiệp trong GDP giảm từ 32% năm 2010 xuống còn khoảng 28% năm 2015
Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 101 trong tổng số 143 nước về chỉ số giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo theo bình quân đầu người Đây là những vấn đề đáng lo ngại khi mà Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa
Tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam chậm và chưa thực sự bền vững: