THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NƯỚC TA HIỆN NAY 3.1 Quy mô và phân bố lực lượng lao động 3.2 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động 3.3 Chất lượng nguồn lao động 3.4 Việc làm 3.5 Thiếu việc làm và thất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Giáo viên: Th.s Nguyễn Thu Hà Lớp: 01
Nhóm: 06
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU:
1.1Giới thiệu
1.2Đối tượng nghiên cứu
1.3Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu chung
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
1.4Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Về không gian
1.4.2 Về thời gian
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cơ sở lý luận
2.2 Cơ sở thực tiễn
PHẦN III THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1 Quy mô và phân bố lực lượng lao động
3.2 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động
3.3 Chất lượng nguồn lao động
3.4 Việc làm
3.5 Thiếu việc làm và thất nghiệp
3.6 Đánh giá chung về nguồn lao động của Viết Nam
PHẦN IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1Giới thiệu
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề lao động - việc làm có vai trò quan trọng,mang tính cấp thiết, lâu dài đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế Trong thời gian qua, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và địa phương trong việc giải quyết việc làm cho người lao động đã mang lại những thành công nhất định Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những khó khăn và thách thức cần phải giải quyết Vì vậy,việc làm rõ thực trạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cấp bách
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta bên cạnh những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đã chú trọng nhiều biện pháp tạo việc làm cho người lao động, xem việc giải quyết vấn đề lao động - việc làm
là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội Việt Nam hiện đứng thứ 13 thế giới về dân số, với hơn 88 triệu người (2012) Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao và ngày một tăng nhanh Lực lượng lao động cả nước năm 2012 là 52,3 triệu người, khăn 624 nghìn người
so với năm 2011 (1,2%)[2] Mỗi năm nước ta giải quyết khoảng một triệu việc làm mới Tuy nhiên, hằng năm nguồn nhân lực được bổ sung thêm hơn 1 triệu lao động, cộng với số người chưa được giải quyết việc làm năm trước làm gia tăng tỉ lệ người thất nghiệp, trong khi đó chất lượng lao động còn nhiều hạn chế càng gây khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.Vì vậy, việc làm rõ thực trạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết
1.2Đối tượng nghiên cứu : Lao động Việt Nam
1.3Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu chung:Nhằm đánh giá thực trạng các yếu tố tác động đến
nguồn lao động của Việt Nam
1.3.2 Mục tiêu cụ thể:
Phân tích thực trạng các yếu tố môi trường tác động đến nguồn lao động
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động
1.4Phạm vi nghiên cứu
Trang 4- Về không gian: tại Việt Nam
- Thời gian: 1989 - 2014
Trang 5PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cơ sở lý luận
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, trong quá trình lao động , con người dùng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động
để tác động vào yếu tố tự nhiên, biến đổi chúng và làm cho chúng trỏ thành có ích cho đời sống con người
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động ở các nước là khác nhau Nước ta theo Bộ luật Lao động (2002) , độ tuổi lao động tối đa đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ từ 15- 55 tuổi
Nước ta thường sử dụng khái niệm: Lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp
2.2 Cơ sở thực tiễn
Do yêu cầu thực tế của quá trình phát triển đất nước đi trên con đường công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Chúng ta cần một đội ngũ lao động đông đảo có trình độ tay nghề cao Nhưng để phát huy được khả năng của đội ngũ cán bộ đó chúng ta cần phải ngày càng đẩy mạnh công tác đào tạo và quản lý đội ngũ đó Việc làm này là yếu tố cần thiết trong điều kiện hiện nay
Tuy nhiên để xây dựng đội ngũ lao động và quản lý đó là cả một quá trình phức tạp, nó còn phụ thuộc vào khả năng nhận thức của người lao động, khả năng đào tạo của các trung tâm giáo dục và đào tạo
Nhưng cũng phải nói đến điều kiện môi trường như cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp Và chế độ Chính sách của Nhà nước có thong thoáng phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ đó phát triển
Hơn nữa chúng ta cần phải quan tâm đến tình hình thế giới khi đất nước ta đang trên con đường hội nhập kinh tế thế giới nên phải đào tạo đội ngũ lao động và quản lý phù hợp với điều kiện hiện đại
Trang 6PHẦN III THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1 Quy mô và phân bố lực lực lượng lao động
Đến thời điểm 1/7/2014, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước là 53,7 triệu người Mặc dù có sự tăng lên đáng kể về tỷ trọng lực lượng lao động khu vực thành thị, nhưng đến nay vẫn còn 70,2% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn Bên cạnh đó, 56,9% tổng số lực lượng lao động của cả nước tập trung ở 3 vùng là Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, và Đồng bằng sông Cửu Long Nữ giới chiếm 48,6% tổng số lực lượng lao động của cả nước, tương ứng với 26,1 triệu người
Nguồn: [3]
Ở cấp toàn quốc, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 77,5% Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn (81,2%) cao hơn khu vực thành thị (70%) Bên cạnh đó, có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giữa nam và nữ, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của 4 nữ
là 73,4% và thấp hơn 8,5 điểm phần trăm so với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam Đáng chú ý, trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao nhất ở hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc (85,8%) và Tây Nguyên
Trang 7(84%), thì tỷ lệ này lại thấp nhất ở hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của
cả nước là Hà Nội (70,2%) và thành phố Hồ Chí Minh (65,4%)
Trang 83.2 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động
Cơ cấu lực lượng lao động theo nhóm tuổi phản ánh tình trạng nhân khẩu học và kinh tế-xã hội Lực lượng lao động của Việt Nam tương đối trẻ, một nửa (50,2%) số người thuộc lực lượng lao động từ 15-39 tuổi
Nguồn: [3]
Có sự khác nhau đáng kể về phân bố lực lượng lao động theo tuổi giữa khu vực thành thị và nông thôn (Hình 1) Tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động nhóm tuổi trẻ (15-24) và già (55 tuổi trở lên) của khu vực thành thị thấp hơn của khu vực nông thôn Ngược lại, đối với nhóm tuổi lao động chính (25-54) thì tỷ lệ này của thành thị lại cao hơn của khu vực nông thôn Mô hình này phản ánh xu hướng, nhóm dân số trẻ ở khu vực thành thị có thời gian đi học dài hơn so với khu vực nông thôn và người lao động ở khu vực nông thôn ra khỏi lực lượng lao động muộn hơn so với khu vực thành thị
3.3 Chất lượng nguồn lao động
Chất lượng nguồn lao động nước ta đã được cải thiện, có đóng góp đáng
kể cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đất nước và còn có sự khác biệt lớn giữa các vùng lãnh thổ
Trang 9Về trình độ học vấn của lực lượng lao động: Nhìn chung trong cả nước, trình độ học vấn của lực lượng lao động ngày càng được nâng cao Tỉ lệ người chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học không ngừng giảm
Theo kết quả Điều tra lao động – việc làm năm 2012, trong tổng số 52,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có gần 9 triệu người đã được đào tạo, chiếm 16,8% tổng lực lượng lao động
Trang 10Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào nhưng đa số là lao động không có tay nghề và chuyên môn kĩ thuật Bảng 4 cho thấy xu hướng giảm dần tỉ lệ lao động không có trình độ chuyên môn kĩ thuật so với tổng dân số, từ 92,7% năm 1989 xuống còn 83,2% năm 2012, giảm 9,5% qua hơn 20 năm Nhìn chung, xu hướng này là tiến bộ; tuy nhiên, mức giảm của tỉ lệ lao động không có trình độ chuyên môn kĩ thuật còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Đối với công nhân kĩ thuật, tăng từ 2,2% lên 6,3% giai đoạn 1989-2009, nhưng sau đó lại giảm xuống còn 4,7% năm 2012 Mức độ tăng này là chậm so với yêu cầu và không ổn định, điều này đặt
ra những nhiệm vụ là cần mở rộng và hoàn thiện hệ thống dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân
Nguồn: [2]
3.4 Việc làm
Biểu 2 thể hiện phân bố số người có việc làm theo giới tính và vùng và
tỷ số việc làm trên dân số của quý 2 năm 2014 Trong tổng số lao động đang làm việc của cả nước có 70,6% lao động đang sinh sống tại khu vực nông thôn và lao động nữ chiếm 48,7% Trong các vùng lấy mẫu, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tương ứng 22,2% và 19,4% số người có việc làm của cả nước Tỷ số việc làm trên dân số của quý 2 năm 2014 đạt 76,2%
Trang 11Nguồn: [3]
Quý 2 năm 2014 số người có việc làm tăng 312,2 nghìn người so với quý
1 năm 2014 Trong 8 vùng chọn mẫu, 3 vùng có số người có việc làm giảm so với quý 1 năm 2014, trong đó giảm nhiều nhất ở Đông Nam Bộ (giảm 75 nghìn lao động); 5 vùng còn lại tăng so với quý 1 năm 2014, trong đó tăng nhiều nhất là ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (tăng 108,2 nghìn lao động) So với quý 2 năm 2013 số người có việc làm tăng 436,1 nghìn người, tương ứng với 0,8% 6 Quý 2 năm 2014,
tỷ số việc làm trên dân số là 76,2%, có sự chênh lệch đáng kể về tỷ số việc làm trên dân số giữa thành thị và nông thôn Tỷ số việc làm trên dân
số thành thị thấp hơn nông thôn 12,5 điểm phần trăm Số liệu của các vùng cho thấy, tỷ số việc làm trên dân số cao nhất ở Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, và thấp nhất ở hai vùng kinh tế phát triển nhất nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Nguồn: [3]
Hình 2 biểu thị tỷ trọng lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế của từng vùng Số liệu cho thấy, thành phố Hồ Chí Minh có cơ cấu kinh tế phát triển cao nhất, với 97,4% lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Ở các khu vực miền núi và ven biển, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực "Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản" còn khá cao, con số này ở Tây Nguyên là 72,8%, Trung du và miền núi phía Bắc
là 69,8% và Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 55,2%
Trang 13Nguồn: [3]
3.5 Thiếu việc làm và thất nghiệp
Đến thời điểm 1/7/2014, cả nước có 1140,2 nghìn người thiếu việc làm và 876,1 nghìn người thất nghiệp trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên Bên cạnh đó, có tới 86,3% người thiếu việc làm sinh sống ở khu vực nông thôn và 55% người thiếu việc làm là nam giới Có 54,9% số người thất nghiệp sinh sống ở khu vực thành thị và 54,8% người thất nghiệp là nam giới Trong quý 2 năm 2014, số thất nghiệp thanh niên từ 15-24 tuổi chiếm 43,9% trong tổng số người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị (39,8%) thấp hơn khu vực nông thôn (48,9%) Trong khi đó, số người thiếu việc làm từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 19,7% trong tổng
số người thiếu việc làm Thất nghiệp thanh niên đang trở thành vấn đề quan tâm của xã hội, thanh niên được xem là một trong những nhóm lao động dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động được tính cho nữ từ 15-54 tuổi và nam từ 15-59 tuổi Quý 2 năm 2014, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (3,26%) cao hơn nông thôn (1,2%), và có sự chênh lệch không đáng kể về tỷ lệ thất nghiệp giữa nam và nữ
Tỷ lệ thiếu việc làm của cả nước diễn ra theo xu hướng cao ở những tháng đầu năm và thấp hơn ở những tháng tiếp theo, nguyên nhân của hiện tượng này là do các cơ sở sản xuất thường giãn việc vào đầu năm và đẩy mạnh sản xuất vào cuối năm
Trang 14Tỷ lệ thất nghiệp của các vùng rất khác nhau và cao nhất đối với Hà Nội (3,87%)
Nguồn: [3]
3.6 Đánh giá chung về nguồn lao động của Việt Nam
- Ưu điểm:
Nhìn chung quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang trên
đà phát triển, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến tích cực, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từng bước Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện
Trình độ lao động cũng đã tăng qua các năm, chính phủ cũng đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là 76.200 tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với thực hiện năm 2007
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định, góp phần thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta vẫn còn cao
- Nhược điểm:
Trang 15 Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn
Sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống.[1]
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động ở nông thôn dôi ra, không có việc làm Từ năm 2000 đến năm
2007, mỗi năm nhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp
để phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do khâu tổ chức lao động và quy hoạch lao động trong nông thôn chưa tốt Chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích và tính cạnh tranh
Về đặc trưng vùng, miền của người lao động tham gia xuất khẩu lao động: Theo số liệu thống kê cho thấy số lượng lao động tham gia đi xuất khẩu lao động của các tỉnh, thành phố khu vực niềm Bắc và miền Trung chiếm 95%, số lao động này chủ yếu sống ở nông thôn, trung du
và miền núi Đây là lực lượng lao động “4 không” - không nghề, không ngoại ngữ, không tác phong công nghiệp và không có kinh tế
Trang 16PHẦN IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
- Đẩy mạnh các chính sách giáo dục – đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ, đẩy mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo
- Phát triển các trường dạy nghề để đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của việc học hỏi, nâng cao trình độ, tay nghề
- Tiến hành điều tra, khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất lượng nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp, địa phương và cả nước;bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm
vi cả nước và trong từng ngành, từng cấp
- Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhân lực; đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt lý, nhìn rõ đúng sai, kịp thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực Tổ chức bộ máy quản lý nhân lực từ trung ương đến địa phương Nhân sự cho bộ máy này phải là những chuyên gia giỏi về nghiên cứu nhân tài, nhân lực trong và ngoài biên chế nhà nước
- Xây dựng chế độ tiền lương, chính sách chăm sóc sức khỏe cho nhân viên một cách hợp lý Cần có chế độ thưởng, phạt công khai, rõ ràng theo năng lực và thành tích cá nhân như các doanh nghiệp Nhật áp dụng cho nhân viên của mình sẽ tạo động lực cho nhân viên phát huy hết khả năng mà họ đang có
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực và chuyên giao công nghệ hiện đại về Việt Nam