Là một sinh viên Khoa Lịch sử, em cảm thấy may mắn khi được học tập và được tham gia những hoạt động liên quan đến học thuật, may mắn hơn khi được tham gia thực hiện công trình khóa luận
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Duy Phương
Đà Nẵng, 1/2019
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp luôn là bước ngoặt quan trọng trên chặng đường học tập của sinh viên các trường đại học trên cả nước nói chung và trường đại học Sư phạm
Đà Nẵng nói riêng Những công trình nghiên cứu này sẽ góp phần đi sâu hơn vào các vấn đề của xã hội, mở ra tư duy mới cho các công trình nghiên cứu sau này tiếp tục phát triển
Là một sinh viên Khoa Lịch sử, em cảm thấy may mắn khi được học tập và được tham gia những hoạt động liên quan đến học thuật, may mắn hơn khi được tham gia
thực hiện công trình khóa luận tốt nghiệp: “Chính sách Dân tộc của chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa đối với các đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên (1954 – 1963)”, là một
đề tài ý nghĩa và giá trị
Với lòng biết ơn sâu sắc, đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Duy Phương – Cán bộ hướng dẫn khoa học và cũng là người hướng dẫn tận tình về mặt tài liệu và nội dung để em có thể hoàn thành công trình khóa luận tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm, Thư viện tỉnh Kon Tum đã tạo điều kiện về thời gian, cũng như nguồn tư liệu để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và người thân đã luôn đồng hành cùng em, động viên em thực hiện đề tài này Dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng không tránh khỏi những sai sót mong thầy cô thông cảm và tận tình góp ý Đó sẽ là những bài học kinh nghiệm giúp cho em hoàn thiện hơn trong công tác nghiên cứu sau này
Đà Nẵng, ngày 09 tháng 01 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Quốc Việt
MỤC LỤC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của công trình 7
7 Bố cục đề tài 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN TỘC DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TÂY NGUYÊN (1954 – 1963) 8
1.1 Tổng quan về vùng đất Tây Nguyên 8
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành của vùng đất Tây Nguyên 11
1.2 Vài nét về kinh tế, văn hóa, xã hội 15
1.2.1 kinh tế 15
1.2.2 Văn hóa 18
1.2.3 Xã hội 19
1.3 Chính sách Dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên trước 1954 20
1.3.1 Chính sách Dân tộc thời Lê 20
1.3.2 Chính sách Dân tộc của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn 21
1.3.3 Chính sách Dân tộc của Thực Dân Pháp 25
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC DƯỚI THỜI QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TÂY NGUYÊN (1954 – 1963) 29
2.1 Bối cảnh lịch sử miền Nam Việt Nam và Tây Nguyên giai đoạn 1954-1963 29
Trang 52.2 Chính sách Dân tộc dưới thời Việt Nam Cộng Hòa ở Tây Nguyên 30
2.2.1 Về chính trị 30
2.2.2 Về kinh tế 31
2.2.3 Về văn hóa – xã hội 32
2.3 Đánh giá chung về chính sách Dân tộc của chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa (1954 – 1963) 37
2.3.1 Tích cực 37
2.3.2 Hạn chế 39
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC ẢNH
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.2 Thống kê địa danh truyền thống và địa danh theo cách gọi mới của các
địa phương ở Tây Nguyên 34
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng chung sống Mỗi dân tộc có địa bàn cư trú riêng với những nét khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội riêng biệt Điều đó đòi hỏi nhà nước phải có đối sách hợp lý cho từng dân tộc mới
có thể đoàn kết được nhân dân giữ gìn và xây dựng đất nước lâu bền Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà từ thời dựng nước đến nay, các bậc quân vương luôn luôn chú trọng đề ra các chính sách thích hợp đối với các tộc người trên đất nước Việt Nam nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, trên dưới đồng lòng Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh sức mạnh đoàn kết toàn dân: “Đoàn kết là sức mạnh”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”; đồng thời Người cũng đánh giá cao truyền thống cách mạng của đồng bào miền núi, Người nói: “Đồng bào miền núi có truyền thống cần cù và dũng cảm Trong thời kì cách mạng và kháng chiến đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt” Thực tiễn lịch
sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc cũng đã minh chứng cho điều đó, từ thời phong kiến đến hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng chung của dân tộc làm nên Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi vẻ vang, chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu, đại thắng mùa xuân 1975,… Như vậy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chính sách dân tộc luôn là chính sách lớn và quan trọng của mọi thời đại
Trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, Tây Nguyên là địa bàn sinh sống của phần lớn đồng bào các dân tộc ít người Thành phần dân cư ở Tây Nguyên rất phức tạp gồm nhiều tộc người cùng chung sống, trong đó tộc người Jarai, Hré, Bana chiếm đại đa số,…Địa hình cao nguyên đã phức tạp, hiểm trở, người dân lại có lối sống du canh du cư nên gây rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát dân của nhà nước Bên cạnh đó, Tây Nguyên lại được thiên nhiên ưu ái ban cho nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là tài nguyên rừng – được mệnh danh là “kho vàng xanh” của cả nước Đồng thời, Tây Nguyên còn nắm giữ vai trò địa chính trị - quân sự quan trọng, nằm ở vị trí “bản lề” của bán đảo Đông Dương, Tây Nguyên có tác động to lớn cả về
Trang 8kinh tế - chính trị, an ninh – quốc phòng Do đó vấn đề quản lý vùng Tây Nguyên thông qua việc đưa ra chính sách Dân tộc hợp lý từ các triều đại phong kiến Việt Nam đến thời Pháp thuộc và dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũng vẫn là vấn đề nan giải được giới chính khách quan tâm
Nhận thức được vai trò, ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị, kinh tế của vùng đất Tây Nguyên, ngay từ cuộc kháng chiến chống Pháp cả phe Cách mạng và phe Thực dân Pháp đều luôn muốn khống chế và chiếm cứ vùng đất này Cũng hiểu
rõ điều đó, sau khi lên nắm chính quyền, không chỉ Tổng thống Ngô Đình Diệm mà các đời tổng thống kế nhiệm đã thực hiện hàng loạt các chính sách Dân tộc nhằm kiểm soát chặt chẽ Tây Nguyên Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện những chính sách đó ra sao? Hệ quả của những chính sách đó là gì thì đến này vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập đến
Trong thực tế, ở Tây Nguyên, sau sự kiện Fulro đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về chính sách dân tộc ở vùng đất này Dù Đảng và Nhà nước đã quan tâm nhiều hơn đến các chính sách đối với cộng đồng đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây Nhưng với sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước đòi hỏi một lần nữa, Đảng và Nhà nước cần quan tâm nghiên cứu để thay đổi chính sách dân tộc cho phù hợp Hiện nay trên thế giới, vấn đề xung đột sắc tộc đang là vấn đề thời sự nóng bỏng, là nguyên nhân của nhiều cuộc nội chiến đẫm máu Nước ta trong giai đoạn hiện nay đã và đang xúc tiến hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Để đề ra chính sách dân tộc mới sáng tạo và đúng đắn, chúng ta cần nhìn lại chính sách dân tộc mà
đế quốc Mỹ - một cường quốc hàng đầu, đã từng áp dụng ở Tây Nguyên Từ việc phân tích những mặt làm được và hạn chế của nó, cũng như tác động của nó đến đời sống con người Tây Nguyên, chúng ta có thể phát huy mặt tốt và tránh được những sai lầm không đáng có
Thông qua nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn phần nào các chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ Nhất, phân tích những mặt đã đạt được cũng như hạn chế của các chính sách trên Từ đó, công trình góp phần bổ sung, hoàn thiện chính sách Dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, đề tài cũng là một trong những lĩnh vực chưa được nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam, với việc lựa chọn đề tài này tác giả mong muốn trên cơ sở tập hợp tư
Trang 9liệu có liên quan, đóng góp thêm một góc nhìn mới về chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, giúp bổ sung thêm một nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này Đồng thời, trong những năm gần đây, chúng ta đã
có sự nhìn nhận lại về chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và công nhận nó như một thực thể chính trị đã từng tồn tại ở miền Nam Việt Nam; nghiên cứu về chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và những vấn đề xoay quanh nó đang là một hướng nghiên cứu rất mới
Chính vì những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài Chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (1954 – 1963) để làm nghiên cứu mặc dù nguồn tài liệu còn rất hạn hẹp
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu sớm nhất về vấn đề này chủ yếu là của các tác giả ở miền Nam - giới trí thức, công nhân viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền
Sài Gòn Tác phẩm của tác giả Paul Nưr (1966), Sơ lược về chính sách Thượng vụ
trong lịch sử, Sài Gòn, đã trình bày khái quát về các chính sách của chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa từ năm 1954 đến năm 1966 đối với dân tộc thiểu số vùng miền núi Nam Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng đánh giá những mặt tích cực, cũng như hạn chế trong chính sách Dân tộc của chính quyền đương thời, đưa ra những kiến nghị Tuy nhiên, tác giả mới dừng lại ở những chủ trương, biện pháp mà chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cần đề ra, còn việc thực hiện và hiệu quả của các chính sách đó đến đâu đối với sự chuyển biến kinh tế - xã hội của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên lại chưa được tác giả đề cập
Công trình của Toan Ánh, Cửu Long Giang (1974), Cao Nguyên Miền Thượng,
NXB Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh, đã cho chúng ta một bức tranh khá toàn diện về Tây Nguyên từ nguồn gốc tộc người, thành phần dân cư, đặc điểm địa lý, đời sống kinh
tế, xã hội cho đến các phong tục tập quán của các tộc người nơi đây Đây là công trình nghiên cứu công phu về vùng đất và đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Công trình này giúp tác giả hiểu thêm về đời sống, phong tục, tập quán của các tộc người Tây Nguyên Từ đó, tác giả nhận thức rõ ràng hơn tác động của chính sách Dân tộc do chính quyền Ngô Đình Diệm đề ra đối với các tộc người bản địa Tây Nguyên
Trang 10Nguyễn Tuấn Triết (2007), Tây Nguyên, Những chặng đường lịch sử - văn hóa,
viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Nội dung cuốn sách đề cập đến lịch sử và văn hóa vùng đất Tây Nguyên qua các chặng đường lịch sử từ trước công nguyên tới sau năm 1975 Trong đó tác giả dành riêng một chương để nói tổng quan về địa lý và dân
cư vùng Tây Nguyên
Tác giả Nguyễn Duy Thụy (1/2010), “Mấy nét về chính sách kinh tế, xã hội của
Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Đắk Lắk trước ngày giải phóng ”, Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử Tác giả tập trung nghiên cứu về chính sách của chính quyền Sài gòn đối với
tỉnh Đăk Lăk (Buôn Mê Thuột) – là tỉnh trọng điểm kinh tế của Tây Nguyên Trong
đó, Nguyễn Duy Thụy trong việc phân tích chính sách về kinh tế, đặc biệt lưu tâm đến: Chính sách “Dinh điền”, “Đồn điền”, “Chương trình kiến điền Thượng” Đối với chính sách về xã hội, Nguyễn Duy Thụy khẳng định, Chính quyền Mỹ - Diệm không những đàn áp dã man những người cộng sản, đánh phá phong trào đấu tranh của quần chúng, ra sức thủ tiêu quyền tự do dân chủ, chia rẽ tôn giáo mà còn tiến hành nhiều biện pháp mua chuộc tầng lớp trên, trí thức, binh lính, thành lập tổ chức chính trị phản động mang màu sắc dân tộc gọi là “tự trị Mỹ”, “lực lượng đặc biệt người Thượng ”, “FULRO” (Front unifié de Lutte du Racé Oppimées - Mặt trận Thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức)
Tác giả Nguyễn Văn Tiệp (2013), “Mấy nhận xét về chính sách Dân tộc đối với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa dưới thời tổng
thống Ngô Đình Diệm (1954- 1963)”, Tạp chí Science & Technology Development,
Vol 16, No.X1- 2013 Trong bài viết này, tác giả đã nêu được bối cảnh lịch sử, trình bày một cách khái quát các chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa dưới thời Ngô Đình Diệm đối với đồng bào các dân tộc thiếu số ở Tây Nguyên, cũng như
đã có đánh giá về các chính sách đó Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài viết, tác giả chưa thể cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về vùng đất và con người Tây Nguyên Trong phần trình bày các chính sách, tác giả cũng chỉ nêu tên các chính sách
và có một số nhận xét, chứ chưa đi sâu phân tích, cũng như chưa đưa ra được các sự kiện lịch sử địa phương để minh chứng cho các đánh giá của mình Tuy nhiên, tác giả chưa đề ra bất kì kiến nghị cũng như góp ý nào để góp phần hoàn thiện chính sách Dân tộc đương thời
Trang 11Thủy Xá, Hỏa Xá trong lịch sử Việt Nam, Lê Thị Hải Hiền, Đại học Sư phạm
TP Hồ Chí Minh, năm 2014 Nội dung công trình luận văn thạc sĩ này đề cập đến lịch sử hình thành của vùng đất Tây Nguyên từ thế kỉ XV – XIX Công trình đã tập trung làm rõ nguồn gốc hình thành của Tây Nguyên và khái quát những nét đặc trưng nhất của vùng đất Thủy Xá, Hỏa xá về phương diện lịch sử, văn hóa trong thời kỳ phong kiến Đại Việt Công trình này giúp tác giả có thêm căn cứ để xác minh nguồn gốc của các tộc người Tây Nguyên, cũng như quá trình ra đời của vùng đất Tây Nguyên trong lịch sử Tuy nhiên, hạn chế của công trình này là chỉ tập trung làm rõ phần lịch sử hình thành chứ chưa đề cập làm sáng tỏ vấn đề kinh tế - văn hóa và đời sống xã hội của nhân dân vùng đất Thủy Xá, Hỏa xá xưa
Năm 2017, tác giả cùng nhóm của mình đã thực hiện công trình nghiên cứu khoa học sinh viên “Vùng đất Tây Nguyên dưới thời Nguyễn 1802 -1858” Công trình này đã khái quát được bức tranh khá hoàn chỉnh về diện mạo vùng đất và các tộc người Tây Nguyên dưới thời Nguyễn Kế thừa công trình trên, tác giả đưa vào chương I của khóa luận “Chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với các đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên (1954 – 1963)” những hiểu biết về điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, cũng như vài nét về kinh tế - văn hóa – xã hội Tây Nguyên; chính sách Dân tộc của triều Nguyễn đối với vùng đất Tây Nguyên
Ngoài ra, còn có một số công trình, bài báo khoa học hay bài nghiên cứu khác cũng có phần nào đề cập đến vấn đề các chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích khái quát các chính sách Dân tộc của chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa đã thực hiện hòng kiểm soát và khai thác nguồn lợi từ vùng đất Tây Nguyên Đồng thời đề tài cũng nghiên cứu để làm rõ về nguyên nhân, bối cảnh và hệ quả do chính sách Dân tộc của nền Đệ Nhất Cộng Hòa Gòn đề ra; từ đó rút ra đánh giá, nhận xét về các chính sách đó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau: Tìm hiểu khái quát về các tộc người Tây Nguyên, về nguồn gốc và địa vực cư trú, cũng như vài nét về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa của họ; Nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, nội dung cụ thể, cũng như tác động của chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ Nhất đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các chính sách của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (1954 – 1963)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: vùng đất Tây Nguyên
- Về thời gian: từ 1954 – 1963
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đứng trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp lịch sử:
+ Trình bày những chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo một trình tự thời gian và không gian cụ thể
+ Tiếp cận, sử dụng tư liệu từ việc quan sát, nghiên cứu các tài liệu, văn kiện lịch sử;
- Phương pháp Logic: Đặt các sự kiện, hiện tượng trong mối liên hệ với nhau
và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phân tích chúng… để tìm ra được ý nghĩa, bản chất của sự kiện lịch sử
- Sử dụng kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan như văn hóa học, khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, nhân học, văn học, dân tộc học, địa lý
Trang 13học… để tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về lịch sử và văn hóa của tộc người Tây Nguyên thời Nguyễn
6 Đóng góp của công trình
Nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần bồi lấp một mảng trống vắng trong lịch sử dân tộc, vì từ trước đến nay có rất nhiều những công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề Tây Nguyên nhưng chủ yếu là nghiên cứu trên phương diện dân tộc học, nhân học mà chưa có nhiều công trình sử học nghiên cứu về vấn đề này Đề tài cũng sẽ cho ta thấy vị thế của Tây Nguyên trên bàn cờ chính trị - quân sự tại Việt Nam thời điểm 1954 -1963 và các chính sách họ dùng để cai trị Tây Nguyên, là tài liệu có ích đối với những người quan tâm đến đề tài hoặc những lĩnh vực riêng mà đề tài đã đề cập và nghiên cứu Đặc biệt là đối với sinh viên khoa Lịch Sử và giáo viên lịch sử ở các trường phổ thông có thêm tài liệu học tập và giảng dạy cho bài giảng thêm sinh động khi nhắc đến các tộc người thiểu số trong lịch sử Việt Nam
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục khóa luận
có ba chương nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách Dân tộc dưới thời Việt Nam Cộng Hòa
ở Tây Nguyên (1954 – 1963)
Chương 2: Chính sách Dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (1954 – 1963)
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH DÂN TỘC DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TÂY NGUYÊN (1954 – 1963)
1.1 Tổng quan về vùng đất Tây Nguyên
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên ở giữa vĩ tuyến 11°B và 15°30’B, bao trùm trên
450 cây số từ Bắc xuống Nam ( gần ¼ nước Việt Nam) và lan rộng từ Tây sang Đông khoảng 150 cây số [43, tr.3]; phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào)
và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia) Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng 53.471 km² [5, tr.11]
Vùng núi Tây Nguyên với dãy Trường Sơn chạy dọc xương sống, là hệ núi chủ đạo cho toàn bộ khu vực Do đó có sự phân chia địa hình, khí hậu giữa sườn Đông và sườn Tây rất rõ rệt Vùng núi Tây Nguyên rất giàu có về hệ động thực vật với sự đa dạng về giống loài, nguồn tài nguyên rừng phong phú, nguồn khoáng sản giàu có Điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài cây công nghiệp, lâm sản có giá trị về kinh tế, y học, môi trường
Địa hình vùng Tây Nguyên đa dạng hơn các vùng khác Đó là các dãy cao nguyên có độ cao thấp khác nhau liền kề nhau như: Cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plong, cao nguyên Kon Hà Nừng, P leiku cao khoảng 800m, cao nguyên M’Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, c a o n gu yê n Mơ Nông cao khoảng 800 - 1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di linh cao khoảng 900 - 1000m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng các tỉnh Đắk Lắk, Đăk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với Lâm Đồng), Trung Tây Nguyên với độ cao
Trang 15thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng Bắc, Nam Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400 - 500m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên
1000m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao
Tây Nguyên gồm nhiều tiểu vùng, nhưng phổ biến là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên và chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng
4 năm sau, khí hậu khô và lạnh, độ ẩm thấp, thường có gió cao nguyên từ cấp 4 đến cấp 6 Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu ẩm và dịu mát, rất thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển Nhiệt độ trung bình hàng năm 24oC; lượng ánh sáng dồi dào, cường độ ổn định Tổng lượng bức xạ mặt trời trung bình hàng năm 240-250 kcal/cm2
Số giờ nắng trung bình 2.200 - 2.700 giờ/năm Biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ từ 15 – 200C, mùa mưa biên độ từ 10 – 15oC) Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900 - 2.000mm, tập trung chủ yếu trong mùa mưa Nói chung, vì chịu ảnh hưởng luân chuyển của gió mùa, nên phần lớn đất đai cao nguyên chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới
Về phần tài nguyên thiên nhiên, một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Tây Nguyên, đó là tài nguyên đất Toàn vùng có diện tích tự nhiên là 13.085km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen Tây Nguyên có 1,8 triệu ha đất đỏ bazan (chiếm 33,08% diện tích toàn vùng) tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp; có 91.000ha đất phù sa, 52.000ha đồng cỏ tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H20 từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá) [25] Sự đồng nhất cao giữa phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất.Tây Nguyên là đầu nguồn của 4 hệ thống sông lớn: Thượng sông Xê Xan, thượng sông Srêpok, thượng sông Ba và sông Đồng Nai Tổng lưu lượng nước mặt là 50 tỷ mét khối Chế độ dòng chảy chịu tác động của khí hậu Nguồn nước ngầm tương đối lớn nhưng nằm sâu, giếng khoan trên 100 mét Cùng với hàng trăm hồ chứa nước và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đăk Lăk một mạng lưới sông, hồ khá dày
Trang 16đặc Ngoài ra, có các nguồn nước ngầm, tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan
và trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới hai dạng: Nước lỗ hỏng và nước khe nứt Tây Nguyên là vùng đất giàu tài nguyên rừng Ở Cao Nguyên, rừng chiếm 4/5 đất đai, nhưng phần lớn không thuộc loại rừng nguyên thủy nên hiếm cây cổ thụ Hơn nữa, dân Thượng lại hay đốt rừng làm rẫy, khi đất hết màu họ dời sang vùng đất khác
để đốt nữa, cho nên rừng ít gỗ to và quý Những cây lớn nhất không mấy khi cao quá
30 thước Rừng ở Tây Nguyên phong phú, đa dạng bao gồm rừng rậm, rừng thưa,
rừng toàn một loại cây, rừng cỏ lau
Tây Nguyên có tiềm năng lớn về rừng, nhưng về khoáng sản thì lại khá nghèo nàn về chủng loại Đáng kể nhất là quặng bôxit với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn, chiếm 90% trữ lượng bôxit cả nước, phân bố chủ yếu ở Đắc Nông, Gia Lai Kon Tum Việc khai thác quặng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp của vùng Vàng có 21 điểm vàng trữ lượng khoảng 8,82 tấn phân bố ở Kon Tum, Gia Lai Ngoài ra còn các loại đá quí, các mỏ sét gạch ngói phân bố ở Chưsê - Gia Lai và Bản Đôn - Đắk Lắk, than bùn và than nâu phân bố ở Biển Hồ, làng Bua,
làng Vệ - Gia Lai, Chư Đăng - Đắk Lắk
Tóm lại, Tây Nguyên là vùng đất “Quan hà bách nhị do thiên thiết”, có thể hiểu
là nơi địa hình hiểm yếu, một người địch được 200 người [3] Với địa hình rừng núi
hoang vu, hiểm trở đó, Tây Nguyên đặc biệt phù hợp với lối đánh truyền thống của dân tộc Việt – chiến tranh du kích Trong khi đó, địch lại gặp nhiều khó khăc trở ngại trong việc thiết lập các cơ sở quân sự, bày bố trận địa ở đây Lại nằm ở vị trí chiến lược trọng yếu – “nóc nhà của Đông Dương”, Tây Nguyên có khả năng khống chế cả một vùng rộng lớn – miền Trung Việt Nam, Hạ Lào, Bắc Campuchia Chưa kể, Tây Nguyên còn là nơi sinh sống của khoảng 20 sắc tộc thiểu số và có tài nguyên thiên nhiên dồi dào Các sắc tộc thiểu số nơi đây dù chưa từng học qua con chữ, chưa từng được đào tạo qua trường lớp hay huấn luyện về quân sự Nhưng họ là những người dũng cảm, nắm rõ từng lối mòn miền sơn cước, lại rất anh dũng thiện chiến Thực tế lịch sử đã chứng minh điều đó, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, những người con Tây Nguyên đã hăng hái xung phong tham gia trong các phong trào kháng chiến chống Pháp, lập nhiều công trạng và được vinh danh là anh hùng, dũng sĩ diệt Pháp được ghi danh trong lịch sử dân tộc như Y Jut H'Wing (gọi ngắn gọn là Y Jút), Jhao ( tên thật Y Yên), N’Trang Gưh (tên là Gưh, họ H`Đơt), vua Lửa Ôi Ất, N’Trang
Trang 17Lơng,…
Đặt Tây Nguyên lên cán cân chính trị - quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định “Ai chiếm được Tây Nguyên sẽ làm chủ Việt Nam và Đông Dương” [32]
Đối với ta, Tây Nguyên chính là quân pháo (炮) trên bàn cờ chiến cuộc với Mỹ Đại
Tướng Võ Nguyên Giáp sau này có nhận định, “Tây Nguyên là một địa bàn chiến
lược vô cùng quan trọng Đối với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở nước ta, Tây Nguyên không chỉ là căn cứ địa, mà sẽ là bàn đạp, là nơi phát động những chiến dịch tiến công lớn của các binh đoàn chủ lực để tạo ra những đột biến có tính chất bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược” [39] Nếu làm chủ được Tây
Nguyên, ta sẽ dễ dàng tiến xuống làm chủ dải đồng bằng hẹp ven biển Nam Trung
bộ, hình thành thế chia cắt chiến lược, khiến hai đầu không ứng cứu được cho nhau Còn với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm coi Tây Nguyên là quân tượng (像) trên bàn cờ chiến cuộc với quân Giải phóng miền Bắc Việt Nam, giữ được Tây Nguyên là then chốt để phòng thủ Nam Trung Bộ và đầu não chính quyền ở Sài Gòn Đồng thời, chúng có thể khai thác nguồn lợi dồi dào từ Tây Nguyên Nguyễn
Văn Thiệu từng tuyên bố: ((khối người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 1,5%, nếu được
tổ chức, hướng dẫn sẽ biến thành một lực lượng hùng hậu Cho nên, chúng ta không lãng quên, bằng mọi cách phải nắm lấy Tây Nguyên, để động viên đồng bào Thượng góp phần vào công cuộc chống cộng)) [53, tr.410]
1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành của vùng đất Tây Nguyên
Đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu về Tây Nguyên đều đồng tình với quan điểm cho rằng cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có nguồn gốc từ tộc người Mélanésien và Indonésie Những nhóm người này sống phân tán ở những vùng
có khí hậu, thổ nhưỡng, môi trường sống khác nhau, nên mỗi một nhóm người hình thành nét đặc trưng riêng về tính tình, ngôn ngữ, bản sắc, phong tục Hơn nữa, do sự cách trở của núi rừng rộng lớn, lại ít có sự giao lưu giữa các tộc người, khiến họ chỉ sinh sống quanh quẩn trong các khu tự trị của mình
Cũng vì thế, từ cuối thế kỉ XV cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, Tây Nguyên không
có một lực lượng quân đội chính quy, hay công trình phòng ngự quân sự nào để chống
sự tấn công từ bên ngoài Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, đồng bào miền Thượng luôn luôn chịu sự tấn công, bành trướng của các nước láng giềng Trong cuốn
Trang 18Cao nguyên Miền thượng có nêu: “Các đời vua sau nước Lâm Ấp tiếp tục đàn áp các
bộ lạc Thượng, chiếm cứ đất đai của họ, nhất là đời vua Phạm Văn và liên tiếp đưa quân ra Bắc đánh phá” Nhiều trận đánh nhau dữ dội giữa dân tộc Mạ với Phù Nam,
tộc người Gia-Rai, Ê đê với Lâm Ấp nhằm giành đất đai sinh sống buộc họ phải di
cư lên vùng cao nguyên ẩn náu Dù vậy, cuộc sống của họ không yên ổn, nhà nước Lâm Ấp, Phù Nam luôn tổ chức các đợt tấn công lên vùng cao nguyên cướp nô lệ, của cải, sản vật quý
Tuy nhiên ở giữa hai vùng do Phù Nam và Lâm Ấp chiếm cứ còn có những khu
vực riêng biệt, độc lập của các bộ tộc sơ khai “Do địa hình hiểm trở và phòng thủ
nên sự xâm nhập của hai nước này vào khu vực này rất khó khăn Những vùng này gọi là vùng “giang sơn người Mạ” và vùng ảnh hưởng của Vua Lửa, Vua Nước” [1,
tr.86] Có lẽ, sau nhiều thế kỉ sống dưới quyền cai trị của Lâm Ấp, Phù Nam, người
Mạ đã rút khỏi đồng bằng sông Cửu Long lên sinh sống ẩn náu vùng Cao nguyên và lập ra giang sơn riêng – Giang sơn người Mạ gồm vùng Đồng Nai thượng, Đồng Nai trung và Cao nguyên Di Linh
Ngoài việc tranh giành đất đai của các bộ tộc miền Thượng, Chân Lạp và Chiêm
Thành thường xuyên nổ ra các cuộc đấu tranh, đụng độ lẫn nhau “Năm 1149, vua
Chàm Harivarman tiến đánh Chân lạp, thừa thắng tiến đánh các bộ lạc Thượng và chiếm miền Cao nguyên Năm 1150, được coi là niên hiệu quan trọng trong các bộ lạc ở cao nguyên, đánh dấu sự chiếm đóng của người Chàm trong vòng 300 năm”
[2, tr.89] Năm 1470, vua Chiêm là Trà Toàn đem quân đi đánh Đại Việt Năm 1471, đích thân vua Lê Thánh Tông đem quân đi dẹp, quân Chiêm bại trận, phá được thành Chà Bàn, Trà Toàn bị bắt sống, sát nhập 3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương Nam Bàn được coi là lãnh thổ thuộc phạm vi ảnh hưởng của Pơtao Pui (vua Lửa) và Pơtao Ia (vua Nước) Sau đó, người Việt đã Hán Việt hóa các chức danh này thành Hỏa Xá và Thủy Xá Theo Mộc bản triều Nguyễn, sách Đại Nam thực lục chính
Trang 19biên đệ tam kỷ, quyển 5, mặt khắc 11 thì vị trí địa lý của hai nước Thủy Xá và Hỏa
Xá được chép lại như sau: “Nước Thủy Xá, phía tây giáp nước Hỏa Xá Phía đông
giáp đồn Phúc Sơn thuộc tỉnh hạt Phú Yên và giáp thuế man ở Thạch Thành Phía Bắc giáp hoang man ở Bình Định” Còn đất Hỏa Xá: “Phía nam và phía Bắc đều giáp Lạc man Giao giới của Thủy Xá và Hỏa Xá là hai quả núi đứng cao, địa thế như nóc nhà” Hằng năm, cả hai nước Thủy xá và Hỏa xá đều cống nạp các sản vật
cho triều đình Đại Việt
“Sau khi chiến thắng Chiêm Thành, triều đình nhà Lê lo cải tổ hành chính và đặt quan lại đối với những vùng đất chiếm được Còn vùng Cao nguyên chỉ ấn định một đường biên giới không cho người Thượng xuống đồng bằng” [1, tr.90] Nhưng
các tộc người thiểu số Tây Nguyên vẫn thường xuống đồng bằng cướp phá trong những năm đói kém gọi là “loạn Đá Vách” Đại Việt cử Bùi Tá Hãn và sau này là Nguyễn Cư Trinh đề ra các chính sách trấn an sự cướp bóc lương thực ở đồng bằng của người Đá Vách Nhờ vậy, tình hình tràn xuống cướp bóc của người Đá Vách không còn
Từ một vùng đất với sự tự trị của các bộ tộc, bộ lạc, các tiểu vương quốc của người Giarai, Êđê dần đã trở thành nơi xâm chiếm của các nước Lâm Ấp, Chiêm Thành và sau này được đặt dưới sự bảo hộ của Đại Việt Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo
ở đây
Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều đồng bào thuộc các tộc người thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân
Kỷ Dậu (1789) Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thuở ban đầu Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Bana của Nguyễn Nhạc Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã có công giúp đỡ, che chở triều Tây Sơn trong công cuộc phù
Lê, diệt Trịnh, chống Thanh, đánh Nguyễn Sau này, khi nhà Tây Sơn sụp đổ, sự truy
Trang 20lùng, giết hại tàn bạo của nhà Nguyễn khiến cho con cháu nhà Tây Sơn chạy đi ẩn náu khắp nơi, chạy lên vùng núi cao nguyên Tại đây, một lần nữa, các tộc người thiểu số Tây Nguyên lại che chở, giúp đỡ, quý mến và bảo vệ con cháu nhà Tây Sơn Nhìn chung, vùng đất Tây Nguyên trước thời Pháp thuộc vốn là vùng đất tự trị của các dân tộc thiểu số, chỉ có một số ít tiểu vương quốc sơ khai của người Giarai, Êđê Vùng đất Tây Nguyên luôn bị các nước xung quanh lấn chiếm, cướp đất, cướp bóc và dần dần trở thành sự bảo hộ lần lượt của Lâm Ấp rồi Đại Việt Tuy nhiên, vì vùng đất rộng lớn, địa bàn hiểm trở, cho nên sự quản lí của nhà nước Đại Việt đối với Tây Nguyên còn khá lỏng lẻo và chưa được quan tâm nhiều như vùng đồng bằng Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta tại Đà Nẵng Đến ngày 6/6/1884, triều Nguyễn kí với Pháp bản hiệp ước Patenotre đánh dấu sự mở đầu thời kì đen tối trong lịch sử dân tộc – thời Pháp thuộc Từ 1859 đến 1867, sau khi làm chủ Nam Kỳ, người Pháp bắt đầu tổ chức những cuộc thám hiểm quy mô trên vùng đất này Nhưng trước đó, ngay từ thời Nguyễn, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên Tây Nguyên Năm 1895, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định sáp nhập Tây Nguyên vào lãnh thổ hành chánh Đông Dương nhưng vẫn để các tộc người thiểu
số Tây Nguyên sinh hoạt theo văn hóa truyền thống của họ Chỉ từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 (1945), Tây Nguyên trở thành khu vực quân sự chiến lược giữa quân đội Pháp và phong trào Việt Minh Với luận điệu bảo đảm an ninh trật tự trên vùng đất này, ngày 27/05/1946 chính quyền thuộc địa Pháp thành lập một lãnh thổ tự trị dành cho người Tây Nguyên, gọi là “Pays Montagnard du Sud Indochinois” (Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương), viết tắt là PMSI, đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của người Pháp, biệt lập với người Kinh ở đồng bằng
“Tây Nguyên lúc này được hưởng một quy chế đặc biệt - có nền hành chính
riêng, những tòa án phong tục riêng và chương trình giáo dục riêng dành cho người thiểu số Chính quyền Thực dân tuyển chọn và đào tạo những thanh thiếu niên thuộc các gia đình vọng tộc người Tây Nguyên và Chăm vào Collège Sabatier (trường trung học cấp hai) ở Buôn Ma Thuột và Lycée Yersin (trường trung học cấp ba) ở Đà Lạt, một số khác được tuyển vào các đơn vị quân sự địa phương” [54] Mục đích của
người Pháp trước hết là nâng cao trình độ dân trí của người thiểu số để sau đó giúp
họ quản trị vùng đất này Ngoài ra, từ 1923 đến 1938, người Pháp cũng đã đầu tư rất
Trang 21nhiều vào những dự án phát triển cơ sở hạ tầng nhằm củng cố sự cai trị và khai thác tài nguyên trên Tây Nguyên
Lo sợ Tây Nguyên bị sáp nhập vào lãnh thổ Nam Kỳ, vua Bảo Đại yêu cầu chính quyền thuộc địa Pháp thừa nhận chủ quyền của triều đình Huế trên vùng đất này và
đã được chấp nhận Ngày 21/05/1951, Tây Nguyên được Pháp nhìn nhận trực thuộc Hoàng Triều Cương Thổ (Domaine de la Couronne), do Bảo Đại lãnh đạo, nhưng
được hưởng một quy chế đặc biệt : không ai có quyền sang nhượng lãnh thổ này cho
một quốc gia khác nếu không có sự đồng ý của nhà vua và cộng đồng người Tây Nguyên được xác nhận không phải là người Kinh (non-annamites) [54] Hoàng Triều
Cương Thổ trên danh nghĩa là một lãnh địa tự trị, trong thực tế mọi quyền quyết định đều do người Pháp chủ động Nói cách khác, Tây Nguyên là một vùng tự trị trực thuộc Pháp
Trong quy chế mới này, để bảo đảm cho người Tây Nguyên nếp sống tự do theo truyền thống, người Pháp hạn chế tối đa, nếu không muốn nói là cấm hẳn, mọi phong trào di dân của người Kinh vào lãnh thổ này, trừ những nhân viên hành chánh và quân
sự được người tuyển mộ lên làm việc nhưng phải trở về đồng bằng khi hợp đồng mãn hạn Chính vì thế, cho tới năm 1953, chỉ có khoảng 35.000 người Kinh sinh sống trên một khu vực chạy dài từ cao nguyên Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc đến Lâm Đồng, đa
số là quân nhân, công chức làm việc trong các cơ quan hành chánh của Pháp, một số khác đến canh tác hoa màu để phục vụ người Pháp tại đây và chỉ tập cư quanh các thị trấn lớn như Đà Lạt, Buôn Ma Thuột
1.2 Vài nét về kinh tế, văn hóa, xã hội
1.2.1 kinh tế
Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, bộ mặt kinh tế Tây Nguyên cơ bản đã
có nhiều thay đổi Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vùng đất Tây Nguyên bị bòn rút cả về nhân lực và vật lực Một mặt, thực dân Pháp ra sức khai thác nguồn lợi trù phú vốn có của núi rừng Tây Nguyên Mặt khác, chúng cũng không bỏ qua nguồn nhân công dồi dào nơi đây Người dân Tây Nguyên phải sống trong cảnh nghèo đói, thiếu thốn, bị buộc phải làm việc trong các đồn điền Pháp với những đồng lương ít
ỏi Song nhìn về một khía cạnh khác, chúng ta cũng phải công nhận rằng dưới sự cai trị của thực dân Pháp, phương thức kinh tế tư bản chủ nghĩa đã du nhập vào Tây
Trang 22Nguyên tạo nên những chuyển biến rõ rệt trong đời sống kinh tế của các tộc người nơi đây
Nông nghiệp là ngành có chuyển biến lớn nhất Tây Nguyên được biết đến là một vùng đất khu biệt và chỉ mới được biết đến trong lịch sử Việt Nam kể từ sau sự kiện vua Lê Thánh Tông đánh bại Chiêm Thành năm 1471, phong cho vua nước Nam Bàn (tên gọi của vùng đất Tây Nguyên lúc bấy giờ) là Nam Bàn Vương Các tộc người Tây Nguyên vốn sống trong một nền kinh tế tự cấp tự túc, canh tác nương rẫy, tra hạt, chọc lỗ Phương thức canh tác lạc hậu, phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên, mang màu sắc tâm linh huyền bí Nông cụ thì đơn sơ gồm có con dao phát rẫy, chiếc gậy chọc lỗ, ống đựng hạt giống và cái gùi Cây trồng là các lúa rẫy, các loại ngũ cốc, bầu, bí,…Họ không biết sử dụng trâu để cày bừa, dùng phân bón trong trồng trọt Đến nửa đầu thế kỉ XX thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp gần một thế kỷ, nền kinh tế của các tộc người Tây Nguyên đã có những chuyển biến mới Nằm ngoài ý muốn của thực dân Pháp, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã manh nha hình thành ở Tây Nguyên Kinh tế đồn điền đưa đến việc hình thành ở đây một lực lượng công nhân nông nghiệp Họ có thể là những người đồng bào thiểu số xin vào làm trong các đồn điền, gắn liền với nền sản xuất tư bản hoặc ký hợp đồng làm theo mùa vụ, bán sức lao động để lấy lương Làm việc trong các đồn điền, các công nhân người đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên được tiếp cận với những tiến
bộ khoa học – kĩ thuật mà Pháp ứng dụng vào canh tác trong đồn điền Trước hết là giống mới, thực dân Pháp ưu tiên trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao trong đồn điền như cà phê, cao su, hồ tiêu và một số giống cây như ngô, đậu tương,…Trong quá trình thâm canh, thực dân Pháp đã đưa vào các đồn điền trên Tây Nguyên các loại phân bón, thuốc trừ sâu, một số loại máy móc và công cụ lao động mới Được tiếp cận với những thành tựu mới trong nông nghiệp và thấy được hiệu quả của chúng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cũng đã áp dụng một số phương pháp mới vào canh tác Bên cạnh các đồn điền của Pháp, một số công nhân sau khi hết hạn hợp đồng với đồn điền Pháp hoặc số ít tay sai của Pháp có gốc là tộc người bản địa Tây Nguyên cũng học hỏi Pháp trồng các vườn cà phê, cao su Họ cũng đã biết dùng sức kéo, dùng phân chuồng để bón cho cây trồng
Về cơ bản, chăn nuôi của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vẫn theo lối truyền thống Đối với đại gia súc (trâu, bò, dê), họ nuôi theo hình thức thả rông
Trang 23Họ buộc vào cổ con vật một chiếc lục lạc bằng tre có khắc kí hiệu riêng làm dấu rồi thả con vật sống tự do trong rừng gần nhà, chỉ khi cần họ mới vào rừng tìm về Còn với lợn và gia cầm thì được nuôi theo hình thức bán thả rông Tức là, họ sẽ thả con vật đi ăn vào sáng sớm, chiều sẽ lùa vào chuồng trại riêng nằm cách xa nhà đối với tộc người Bana hoặc nhốt ngay dưới sàn nhà sàn (kiểu nhà truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói riêng, của các dân tộc ít người Việt Nam nói chung) đối với hầu hết các tộc người còn lại ở Tây Nguyên Với hình thức chăn nuôi đơn giản như vậy, các tộc người Tây Nguyên gần như không cho vật nuôi ăn, cũng không mất công chăm sóc Nhưng cũng vì vậy mà năng suất chăn nuôi của họ rất thấp, đồng thời cũng có rủi ro bị thú rừng ăn thịt, gia súc đi quá xa nên không tìm được, thậm chí là bị người của buôn làng khác bắt mất Sản phẩm có được từ chăn nuôi không được dùng để phục vụ cuộc sống thường nhật, mà chỉ dùng để đãi khách quý, cúng tế thần linh trong các lễ nghi Đặc biệt, một số tộc người Tây Nguyên nổi tiếng với nghề thuần dưỡng voi như Ê – đê, M’nông ở bản Đôn – Easup Voi rừng săn bắt được, họ dùng làm voi mồi, voi săn, để vận chuyển hàng hóa, để kéo gỗ, để
đi lại,… Đôi khi họ cũng bán voi, hoặc cưa lấy ngà dùng làm nguyên liệu chế tác đồ trang sức quý Họ huấn luyện voi rừng làm chiến tượng trong các cuộc chiến tranh
bộ lạc, thị tộc,… Trong sản xuất, voi được họ dùng để phá rừng, nhổ cây lớn ở nơi làm rẫy
Bao bọc bởi bốn bề là núi cao, địa hình hiểm hóc, Tây Nguyên từ lâu vẫn khá biệt lập với bên ngoài Thêm vào đó, các sắc tộc Tây Nguyên vẫn duy trì lối sống tự cấp tự túc nên việc trao đổi mua bán gần như không tồn tại Thỉnh thoảng nếu họ muốn trao đổi vật phẩm với nhau thì chỉ áp dụng một hình thức trao đổi duy nhất là
vật đổi vật Tuy nhiên, thực dân Pháp do nhu cầu phục vụ chiến tranh và sự phát triển
của bộ máy chính quyền, các đô thị, các trung tâm hành chính cũng phát triển theo với tốc độ cao, được mở rộng nhanh chóng, đông thời hành loạt các trung tâm mới được xây dựng tới mọi quận huyện [53, tr.423] Song hành cũng hệ thống hành chính,
chợ len lỏi đến các huyện xã với quy mô lớn nhỏ khác nhau Nhờ đó, các tộc người Tây Nguyên có thể dễ dàng đem những mặt hàng nông – lâm – thổ sản ra chợ bán, cũng như thuận tiện hơn trong việc mua về những mặt hàng thiết yếu cho gia đình Nói cách khác, phải đến thời Pháp thuộc, thương nghiệp mới thực sự phát triển và trở thành một ngành kinh tế chính của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Trang 241.2.2 Văn hóa
Tây Nguyên là vùng đất của gần 20 tộc người thiểu số Họ phân bố thưa thớt trên các cao nguyên của khu vực Tây Nguyên, sinh sống ở những điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, cảnh quan môi trường khác nhau nên hình thành ở mỗi dân tộc một sắc thái văn hóa riêng nằm trong không gian văn hóa chung, không gian văn hóa Tây Nguyên Về cơ bản, thực dân Pháp muốn giữ những hủ tục lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây để dễ bề cai trị, nên chúng thi hành chính sách bảo tồn những phong tục, tập quán cổ truyền Do đó, văn hóa của các tộc người thiểu số Tây Nguyên
cho đến thời Pháp thuộc gần như chẳng có gì thay đổi
Địa hình của Tây Nguyên đa phần là đồi núi, địa hình từ mặt phẳng nghiêng cho đến dốc núi cheo leo Do đó, các tộc người Tây Nguyên đều sinh sống trong những ngôi nhà sàn Mỗi tộc người lại có riêng cho mình một cách thiết kế nhà sàn riêng, mang dáng dấp đặc trưng cho dân tộc mình Nhưng chung quy lại, nhà sàn đều được dựng trên một hệ thống cột trụ vững trãi, các chân nhà sàn có thể đều nhau hoặc cao thấp khác nhau để phù hợp với mặt phẳng địa hình, có sàn cách mặt đất từ 1 – 2,5 mét để tránh thú giữ và mái thì lợp bằng cỏ gianh hoặc cọ Cầu thang bắc lên nhà thường được chạm trổ tinh vi, thì khi phần nội thất lại khá sơ xài Gần như các sắc tộc Tây Nguyên chẳng mảy may quan tâm đến việc trang trí nội thất như người Kinh Trong nhà sàn, họ đặt một bếp lửa ở trung tâm và nhiều bếp lửa nhỏ khác tùy theo số thành viên trong gia đình Dưới sàn nhà được họ tận dụng nuôi gia súc, gia cầm Phục sức của các sắc tộc Tây Nguyên cũng khá đơn giản nhưng không kém phần độc đáo Nét chung nhất trong trang phục truyền thống các dân tộc Tây Nguyên nói chung là đàn ông đóng khố, mặc áo chui đầu hoặc áo choàng quấn, phụ nữ mặc
áo, váy, bên cạnh đó được điểm xuyến thêm một số trang sức làm đẹp trên cơ thể theo quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc Trang phục của các tộc người Tây Nguyên thường được tô điểm bằng những dải hoa văn chỉ màu, họa tiết hình sóng, hình thoi, hình động – thực vật cách điệu,…Trang sức là các vòng bằng đồng, nhôm, nanh hoặc vuốt thú, lông chim,…
Trang 25Khác với người Kinh, các tộc người bản địa Tây Nguyên theo chế độ Mẫu hệ Quyền thừa kế và việc thờ cúng cha mẹ được giao cho con gái Khi kết hôn, nhà gái phải mang sính lễ đến nhà trai hỏi cưới và sau khi cưới người con trai sang ở rể bên nhà gái
Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh nên với họ bất kì cái gì cũng có linh hồn, cũng do đó mà hệ thống thần linh của họ rất nhiều, đa dạng, trong đó cao nhất là Yang (ông trời) Trong việc ma chay, các tộc người thiểu số Tây Nguyên cũng rất khác người Kinh Họ quan niệm chết là sự giải thoát, người sống cần mừng cho người chết Vì vậy, đám tang không có cảnh khóc thương, mà ta chỉ bắt gặp cảnh vui chơi, ăn uống suốt mấy ngày phát tang
1.2.3 Xã hội
Vùng đất Tây Nguyên là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á
và một phần Nam Đảo Trong đó, các nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Á là Ba Na,
Xơ Đăng, Cơ Ho, M’Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ măm…và các nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Đảo là J’rai, Ê Đê, Chu ru, Raglei Các thành phần này thường được gọi là cư dân bản địa Tây Nguyên (12 thành phần tộc người) Các dân tộc phân
bố trải dài từ Bắc xuống Nam Tây Nguyên Từ cuối thế kỉ XVIII, người Kinh bắt đầu đặt chân lên Tây Nguyên với số lượng ít ỏi, phân bố thưa thớt Tài liệu của Viện
Quốc gia thống kê chính quyền Sài Gòn cho biết dân số Tây Nguyên năm 1956 có
530.000 người Năm 1963, mật độ dân số toàn vùng Tây Nguyên là 15 người/km2, trong đó vùng thấp nhất là Quảng Đức (5 người/km2), cao nhất là Đà Lạt - Tuyên Đức (26 người/km2) Thành phần dân cư chủ yếu là nông dân Đặt dưới ách thống trị của thực dân Pháp, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã xuất hiện các tầng lớp mới như binh lính, công chức, người buôn bán, công nhân trong các đồn điền…[18, tr.61-70]
Cho đến đầu thế kỷ XIX, các sắc tộc Tây Nguyên vẫn tồn tại ở hình thái xã hội nguyên thủy chuyển dần sang xã hội có giai cấp và không đồng đều giữa các vùng Tiến bộ nhất có lẽ là thiết chế xã hội của người Gia – rai và Ê – đê với tên gọi Thủy
Xá, Hỏa Xá – một dạng nhà nước sơ khai Buôn, làng là đơn vị cơ bản của xã hội Làng được điều hành bởi một hội đồng đặc biệt gồm một vài người cao tuổi có uy tín gọi là già làng, đứng đầu là chủ làng Già Làng có vai trò đặc biệt quan trọng trong
Trang 26làng Họ là những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, cho nên tiếng nói của họ rất có trọng lượng, có thể quy tụ mọi người trong làng Xã hội của các tộc người Tây Nguyên được quản lý bởi luật tục
1.3 Chính sách Dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên trước
1954
1.3.1 Chính sách Dân tộc thời Lê
Năm 1471, Lê Thánh Tông chiếm vùng đất Đàng Trong, đánh dấu mốc lịch sử Tây Nguyên trở thành một phần lãnh thổ Đại Việt Đến năm 1545, vua Lê Trang Tông bổ nhiệm Bùi Tá Hán giữ chức Trấn quận công, cai trị vùng phiên trấn ở phía Nam Trong bối cảnh mới tiếp cận vùng đất này, chính sách quản lý của Nhà nước phong kiến Việt Nam ở Tây Nguyên còn mang tính chất thăm dò để dần dần củng cố thế đứng và từng bước mở rộng tầm ảnh hưởng của triều đình Bùi Tá Hán không áp đặt một bộ máy cai trị can thiệp sâu vào đời sống xã hội mà tôn trọng tính tự trị ở mức độ cao của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vì thế, tạo ra sự phát triển ổn định
ở vùng này
Bùi Tá Hán thực hiện những chính sách về hành chính và kinh tế cho Tây
Nguyên, gồm: chia vùng đất mới này thành bốn nguyên (Dà Bông, Cù Ba, Phu Bà,
Ba Tơ); thay mặt triều đình ban hành chính sách trọng dụng các vị tù trưởng; đặt chức danh giao dịch cho các thủ lĩnh để trông coi, quản lý hành chính từng vùng; đến năm 1558 thu phục và tấn phong cho các thủ lĩnh có uy tín cao như Hỏa Xá, Thủy
Xá (Sadet Lửa và Sadet Nước); đặt ra chức cai quan và côn quan cho mỗi nguyên, riêng nguyên Dà Bông có hai cai quan và hai côn quan để thực thi nhiệm vụ thu thuế; định mức thuế khóa cho mỗi nguyên bằng tiền thay cho sản vật, các buôn làng chỉ nộp đủ định mức thuế, ngoài ra không phải nộp thêm gì nữa [25, tr.196, 197, 199]
Chính sách của Bùi Tá Hán đối với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên lúc bấy giờ chỉ giới hạn trong phạm vi thuế khóa và thương mại; việc phân chia địa giới hành chính với một vài chức quan cũng chỉ hướng đến mục tiêu này Trên thực tế, triều đình Đại Việt không can thiệp vào cơ cấu xã hội của cộng đồng các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên Những buôn làng nơi đây vẫn sống với văn hóa, tín ngưỡng, phong tục và kết cấu xã hội ngàn đời của mình Họ chỉ có thêm trách nhiệm thuế khóa với triều đình và được
Trang 27hưởng các nguồn lợi từ việc trao đổi mua bán với người Kinh
1.3.2 Chính sách Dân tộc của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn
Tây Nguyên vốn dĩ nằm ngoài tầm hiểu biết của người Việt, cũng như chính quyền phong kiến Việt Nam Đến thời vua Lê Thánh Tông, chúng ta mới thấy ghi chép đầu tiên về Tây Nguyên trong lịch sử Việt Nam dưới tên gọi Nam Bàn Từ thế
kỷ XV, Các tộc người Tây Nguyên bắt đầu lần lượt về với lãnh thổ Đại việt nhưng nhà cầm quyền ta lại bận rộn với việc nội chiến, phân tranh, chống ngoại xâm nên vẫn họ tự lập, tự tồn tại Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá, hai vị thủ lĩnh của Thủy Xá và Hỏa Xá đã chịu thần phục các chúa Nguyễn ở Huế Cứ 5 năm một lần hai vị thủ lĩnh này cho người mang cống vật đến cống nộp tại tỉnh Phú Yên
Đại Nam liệt truyện ghi “Bản triều (chỉ các chúa Nguyễn) buổi đầu cho là địa giới
Phú Yên, nên cứ 5 năm một lần sai người tới nước đó cho các phẩm vật (áo gấm, mũ gấm, nồi đồng, sanh đồng và đồ sứ như chén đĩa…) hai nước được ban cho tức thì đem các phương vật (kỳ nam, sáp vàng, lộc nhung, mật gấu và voi đực) sang dâng
[31, tr.46] Như vậy chúng ta có thể thấy được một điều rằng, các dân tộc ở vùng đất Tây Nguyên đã sớm về với lãnh thổ nước ta, nhưng chính quyền phong kiến thời bấy
giờ chưa quan tâm và có chính sách gì đối với vùng đất này Cụ thể "Trong khoảng
thời gian từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX các sắc tộc Jarai - Bahnar - Sédang - Rhade
có nhiều biến dộng lớn lao, sắc tộc này đàn áp sắc tộc kia đén nỗi một vài bộ lạc nhỏ
đã lâm vào tình trạng hầu như bị tiêu diệt mà triều đình Việt Nam không biết tới" [44,
tr.173] Phải đến thời nhà Nguyễn, nước ta mới thực sự có quan hệ bang giao với Tây Nguyên dưới tên gọi hai phiên quốc Thủy Xá Hỏa Xá Cũng từ đó, nhà nước mới có
sự quan tâm đến việc quản lý vùng đất này Cụ thể, chính sách Dân tộc mà nhà Nguyễn áp dụng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói riêng, các tộc người thiểu số trên đất nước ta nói chung, được gọi là chính sách Nhu Viễn
Do tính chất tự nhiên và lịch sử nên vùng núi thường là địa bàn cư trú chính của đại đa số các tộc người thiểu số Các bộ tộc ở Tây Nguyên có một số đã thần phục nhà Nguyễn, nhưng một số vẫn thường nổi lên chống đối, tiêu biểu như Man Đá
Vách Đại Nam thực lục ghi nhận, “từ triều Gia Long đến Tự Đức không năm nào
người man Thạch Bích không gây rối” Châu bản triều Tự Đức ghi chép, “chỉ riêng
Trang 28dưới triều Tự Đức đã có 43 cuộc bạo loạn, cướp phá do người Man Thạch Bích gây ra” Do đó ngay từ thời Gia Long, triều đình tổ chức ra các Trấn Nam hay Sơn Phòng
Trấn có vai trò như đơn vị phòng thủ quân sự Sơn Phòng được chia ra làm hai khu quân sự lớn Đó là, Nghĩa Biên - phòng vệ biên giới Quảng Ngãi Đứng đầu Nghĩa Biên là một chánh lãnh binh và 01 phó lãnh binh Hai viên chức này trực tiếp chỉ huy
07 đồn (bảo) và 07 cơ Đứng đầu mỗi cơ là một Chánh quản cơ và hai sĩ quan phụ tá; mỗi cơ có 7 đại đội, quân số mỗi đội có 4 cai, 8 bếp và 45 lính cơ dưới quyền chỉ huy của một chánh suất đội, có một phó suất đội làm phụ tá Như vậy quân số của đơn vị Nghĩa Biên gồm: 02 tướng; 14 sĩ quan cao cấp; 98 sĩ quan thuộc cấp; 588 hạ sĩ quan
và cai; 2.205 binh sĩ Định Biên, khu vực phòng thủ Bình Định Cơ cấu tổ chức tương
tự như Định Biên, song quy mô nhỏ hơn với 3 đồn, 4 trung đoàn Công cuộc xây dựng Tĩnh Man Trường Luỹ kéo dài từ thời Lê Trung hưng đến tận đời Thành Thái Qui mô, tính chất, cơ cấu tổ chức Tĩnh Man liên tục được nâng lên do tính chất quan trọng của khu vực này, nhất là các cuộc cướp phá của giặc Đá Vách diễn ra liên tục… Bên cạnh những biện pháp phòng thủ nói trên, nhà Nguyễn sẵn sàng sử dụng
lực lượng quân sự để đàn áp những nhóm dân chống lại triều đình Năm 1831, "ác
Man ở Quảng Nam lén xuống nguồn Chiên Đàn giết hại nhân dân, đốt nhà cướp của rồi bỏ đi [31 ,tr.187] Vua sai Đoàn Văn Trường tổng lãnh đại binh, vệ uý Bùi Công
Huyên, vệ úy Mai Công Ngôn cùng một số tướng lính khác đi chi viện cho Phan
Thanh Giản (là hiệp trấn Quảng Nam) Minh Mệnh dụ bảo bộ binh "Quân Man ấy từ
trước ở tản mác các thung lũng, nhân lúc sơ hở, chúng lại lén lút đến đánh cướp mà thôi Nay chúng dám tụ họp kháng cự quan quân, thì đã là hung hăng không sợ hãi
gì Cần phải kịp thời đập tắt ngay” [31 ,tr.195]
Năm 1830, dưới thời vua Minh Mạng, vùng đất Tây Nguyên được chính thức sát nhập vào lãnh thổ nước ta Trong đó, hai nước Thủy Xá, Hóa Xá của người Êđê
và Giarai trở thành Phiên thuộc hay Thuộc Quốc, còn các tộc người còn lại thì trở thành Thuộc Mar của ta Về Thủy Xá và Hỏa Xá dưới triều Nguyễn, đây không phải
là hai nhà nước với các vị “Vua” như các tài liệu sau này ghi chép Thủy Xá đông giáp nước Hỏa Xá, tây giáp huyện Sơn Bốc, nam giáp man Diên Điên, bắc giáp Lai Man Chỗ quốc trưởng nước ấy ở 3 mặt ngăn núi, 1 mặt đồng ruộng, trong có 100 nhà dân Quốc trưởng ở nhà tranh 7 gian, ở phía đông dân cư, không đặt thành quách Trong nhà làm gác thờ thần, gia quyến nô lệ chỉ độ 14 hay 15 người mà thôi Nước
Trang 29Hỏa Xá chỗ Quốc trưởng ở cách nước Thủy Xá 3 ngày đường Về nhà tranh và gia quyến, nô lệ, dân cư cũng đại lược giống nước Thủy Xá, duy làm riêng một đền làm chỗ thờ thần, đất đều đồng rộng, không có núi sông hiểm trở gì Không quân đội, không quan tư, không pháp luật, không chữ viết, không thuế khoá, cai trị bằng lối thắt nút [16, tr.708] Đấy chỉ là hai bộ lạc như nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông
cho rằng “Có những dạng lãnh địa bao trùm nên nhiều đơn vị cư trú, chịu sự gắn kết
và quản lý của một số điểm trung tâm, được dựng nên bởi thế lực của một cá nhân hay một nhóm người trên mặt đời sống tinh thần, vật chất lẫn tâm linh như Thủy Xá, Hỏa Xá” [41, tr.12-13] Khi đã thông tỏ tình hình, Minh Mệnh nhờ sứ giả nói với
quốc trưởng ấy rằng: "uy đức triều đình đến xa, mọi phương chầu phục Trước còn
cách trở chưa thông đường tiến cống Nay nếu sai sứ đến thông hiếu, triều đình tất cũng khen nhận ? nếu không muốn thì cũng không bắt ép" [33, tr.710] Nước Hoả
đã gửi cho phiên vương một tù nhân làm nô, 1 chiếc ngà voi, 1 chiếc sừng tê giác để làm đồ đáp tặng Nhà Nguyễn phong cho hai Quốc trưởng là Hoả Quốc Vương và Thuỷ Quốc Vương
Như vậy, về mặt chính trị, nhà Nguyễn một mặt thiết lập hệ thống phòng thủ trước sự xâm nhập của các bộ tộc Tây Nguyên còn chưa khuất phục, mặt khác sử dụng chiêu bài mua chuộc, lấy lòng nhằm quy phục các thuộc Mar, phiên quốc Thủy
Xá Hỏa Xá
Triều đình nhà Nguyễn đã ban hành chính sách về ngôn ngữ đối với các sắc tộc Tây Nguyên ngay từ khi lên nắm quyền Có ngôn ngữ thì không chỉ là sự giao lưu, bang giao giữa hai bên mà đó còn là điều kiện thuận lợi cho sự truyền bá văn hóa Việt đối với đồng bào nơi đây Thời vua Gia Long, để hiểu rõ dân tình và biết được rõ ràng, chính sách các văn bản từ các thuộc Thuộc Quốc, Thuộc Mar Ông cho tuyển chọn từ các thành trấn một số thông dịch viên để dịch tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đảm nhiệm các công tác thông ngôn, thông sự, hướng dẫn sứ bộ
và phiên dịch các văn bản do các tộc người thiểu số Tây Nguyên gửi đến Để ghi nhận chức năng và nhiệm vụ của những người này, Vua đã xếp vào hạng Bát Phẩm và Cửu Phẩm , tức là tương đương với quan huyện nhỏ cở các địa phương, điều này cho thấy triều đình đã rất coi trọng lực lượng này và đưa họ vào bộ máy hành chính của nhà nước cấp Trung Ương Trong cuốn Cao Nguyên Miền Thượng cũng ghi chép rằng:
"Các thông dịch viên được làm việc chung thành một hội đồng " Như vậy, ta cũng