1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hãy trình bày vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế đánh giá thực trạng vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế của việt nam với thực trạng khai thác như trên thì để phát huy có hiệu

14 422 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 28,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người rừng cây, các động vật, thực vật

Trang 1

NHÓM 09

Đề tài : Hãy trình bày vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế? Đánh giá thực trạng vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế của Việt Nam? Với thực trạng khai thác như trên thì để phát huy có hiệu quả việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế Việt Nam cần quan tâm vấn đề gì?

Trang 2

I Vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế.

1.1 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên.

Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (rừng cây, các động vật, thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí )

Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường

1.2 Đặc điểm của tài nguyên thiên nhiên.

Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực của tự nhiên, bao gồm đất đai, không khí, nước, các loại năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất… Con người có thể khai thác và sử dụng những lợi ích do tài nguyên thiên nhiên ban tặng để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của mình

Đặc điểm thứ nhất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên là sự phân bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất, phụ thuộc vào cấu tạo địa chất, thời tiết, khí hậu của từng vùng Ví dụ như Nga, Mỹ và các nước Trung Đông do những hiện tượng dị thường về địa lý đã tạo nên những mỏ dầu lớn nhất thế giới, hoặc ở lưu vực sông Amazon là những khu rừng nguyên sinh lớn, hiện được coi là lá phổi của thế giới Đặc điểm thứ hai là đại bộ phận các nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao hiện nay đều đã được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Những khu rừng nhiệt đới cần khoảng thời gian từ 50 năm đến 100 năm cho cây cối có thể sinh sôi và trưởng thành Để tạo ra các bể dầu và khí đốt cần có chuỗi thời gian liên tục kéo dài từ 10 triệu đến 100 triệu năm cho các quá trình tích tụ hội đủ sáu thành phần Cũng tương tự như vậy, quá trình hình thành các loại khoáng sản như Niken, sắt, đồng, voonffram đá phải trải qua hàng thế kỷ

Đặc điểm thứ ba là quy mô của nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định qua trữ lượng thăm dò và trữ lượng khai thác Tuy nhiên, phần đóng góp của tài nguyên thiên nhiên vào tổng sản lượng quốc gia được xác định qua khả năng khai thác hàng năm và được tích luỹ vào vốn sản xuất chỉ khi tài nguyên đó được khai thác

Trang 3

Chẳng hạn, nguồn than ở Việt Nam có trữ lượng thăm dò là 3,6 tỷ tấn và trữ lượng khai thác là 2 tỷ tấn Tuy nhiên khả năng khai thác hàng năm từ 5 đến 6 triệu tấn Đặc điểm cuối cùng là quá trình sinh trưởng phát triển của tài nguyên thiên nhiên gần với môi trường tự nhiên, chúng tạo nên sự cân bằng trong thiên nhiên Do tài nguyên thiên nhiên là sản phẩm của tự nhiên nên khi con người khai thác tức là lấy

đi sản phẩm của tự nhiên, nếu khai thác không phù hợp với quy luật của tự nhiên làm cạn kiệt tài nguyên, làm biến đổi bất lợi cho môi trường

Từ những đặc điểm trên có thể nói rằng, đặc tính cơ bản của tài nguyên thiên nhiên

là tính chất quý hiếm nên đòi hỏi con người trong quá trình khai thác, sử dụng phải luôn có ý thức bảo tồn, tiết kiệm và hiệu quả

1.3 Phân loại tài nguyên thiên nhiên.

1.3.1 Phân loại theo công dụng.

Mục đích phân loại tài nguyên thiên nhiên theo công dụng là xác định vai trò của những tài nguyên thiên nhiên trong quá trình hoạt động kinh tế cũng như đời sống con người Theo công dụng có thể chia nguồn tài nguyên thiên nhiên thành 7 loại sau:

1.3.1.1 Nguồn năng lượng.

Nguồn năng lượng lại có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Theo tính chất thương mại là nguồn năng lượng được sử dụng phổ biến ở các nước (đặc biệt

là các nước công nghiệp phát triển) bao gồm các nguồn năng lượng mới: dầu hỏa, khí đốt, than đá, thủy điện, uraniom, địa nhiệt, mặt trời, sức nước, sức gió Năng lượng phi thương mại là năng lượng được sử dụng để tạo ra nhiệt năng và chỉ còn được sử dụng ở các nước đang phát triển bao gồm củi đốt và năng lượng sinh khói (rơm rạ, thân cây các loại, phân súc vật…)

Toàn bộ nguồn năng lượng được sử dụng trong hoạt động giao thông, sản xuất điện năng, phục vụ các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, từ điện năng, nguồn năng lượng lại tiếp tục đi vào phục vụ cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế cũng như đời sống con người

Mức độ đánh giá chính xác quy mô nguồn năng lượng là sự phản ánh khác nhau giữa trữ lượng thăm dò và trữ lượng có khả năng khai thác Khả năng khai

Trang 4

thác/năm là chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp trực tiếp của nguồn năng lượng vào kết quả hoạt động của nền kinh tế

1.3.1.2 Các loại khoáng sản.

Các loại khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác và công nghiệp sản xuất các loại vật liệu như công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ Trong số 16 loại khoáng sản chủ yếu được sản xuất trên thế giới hiện nay, các nước đang phát triển dẫn đầu thế giới về sản xuất bô-xít, phốt phát và chiếm tỷ trọng lớn về sản xuất coban, cromit, thiếc, đồng trong khi đó các nước công nghiệp phát triển cung cấp các loại khoáng sản chủ yếu: kiềm, lưu huỳnh, quặng sắt, niken và kẽm

1.3.1.3 Nguồn tài nguyên rừng.

Rừng vừa có giá trị kinh tế vừa phải có giá trị bảo vệ môi trường Về mặt kinh tế, rừng cho sản phẩm gỗ, ngoài ra rừng còn cho chúng ta các sản phẩm động thực vật: thịt thú rừng, những cây dược liệu quý, những loại cỏ có hương thơm, dầu thực vật,

vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại

Những sản phẩm này của rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùng rừng núi của các nước đang phát triển Rừng còn có giá trị bảo vệ môi trường: chống xói mòn, lụt lội, điều hòa khí hậu, chống sự thiêu đốt của mặt trời, tạo môi trường rất quan trọng nhưng khó định lượng hơn giá trị kinh tế Hai mặt này thường có mâu thuẫn với nhau

Từ xưa đến nay con người thường có nhu cầu sử dụng gỗ và đất đai Do khai phá rừng để trồng trọt, diện tích đất rừng tự nhiên đang bị giảm dần, những dải rừng đang bị đe dọa Nguồn tài nguyên thường được đánh giá qua các chỉ tiêu: Diện tích

có rừng chê phủ (triệu ha); Tổng trữ lượng gỗ rừng (triệu m3); trữ lượng gỗ/ha có rừng che phủ

1.3.1.4 Nguồn đất đai.

Đất đai có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho các công trình xây dựng nhà ở và các tuyết giao thông trên bộ Ở Việt Nam, đất có khả năng canh tác là 9,5 triệu ha, trong đó đã sử dụng 7 triệu ha, thực tế đất có thể huy động thêm từ 2 đến 2,5 triệu ha, nhưng phần lớn là đất dốc bị xói mòn và thoái

Trang 5

hóa Hệ số sử dụng đất trồng cây còn thấp, mới chỉ đạt chỉ số trung bình trong cả nước là 1,3 Bên cạnh đó, thời gian qua do nhiều khu công nghiệp và đô thị mới đang hình thành nên đất canh tác bị xâm lấn, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng

bị co hẹp nhanh chóng

1.3.1.5 Nguồn nước.

Nước là nguồn tài nguyên không thể thiếu trong sản xuất và đời sống, là cơ sở để xây dựng hệ thống thủy điện, vận tải thủy, tạo bể chứa, đập tràn phục vụ tưới tiêu,

là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho đời sống con người

Việt Nam có nguồn nước phong phú, có 9 hệ thống sông ngòi với lưu lượng dòng chảy 840 tỷ m3/năm, ngày mưa bình quân 100 ngày/năm Bên cạnh đó còn có nhiều hồ, đầm lầy và các mạch nước ngầm Tuy vậy, mặt hạn chế là mưa theo mùa

và tài nguyên nước phân bố không đồng đều giữa các vùng Ở các vùng núi nước rất hiếm, ở các vùng ven biển lại thiếu nước ngọt vào mùa khô Mặt khác, nhiều nguồn nước đã bị ô nhiễm, việc cung cấp nước sạch ở nhiều vùng nông thôn và đô thị đang gặp rất nhiều khó khăn

1.3.1.6 Biển và thủy sản.

Với hơn 3200 km bờ biển chạy suốt chiều dài đất nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong vận tải biển Hoạt động nuôi và đánh bắt hải sản cũng có ý nghĩa to lớn, vừa tạo ra nguồn thu nhập, vừa là nguồn dinh dưỡng của đa số nhân dân Một số sinh vật biển như cá, tôm, cua, sò, hến có giá trị cao trên thị trường thế giới Ngoài ra cá vùng ven biển còn có điều kiện phát triển nghề làm muối, trồng và sản xuất các sản phẩm từ cói

1.3.1.7 Khí hậu.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng và ẩm, độ ẩm bình quân hàng năm là 87%, rất thuận lời cho trông cây nông nghiệp và hoa quả nhiệt đới Điều kiện khí hậu kết hợp với nguồn nước và đất đai đã cung cấp các loại nông sản có giá trị xuất khẩu: lúa gạo, cao su, cà phê, chè, thuốc lá, tơ tằm, thịt và các sản phẩm chăn nuôi Tuy vậy, một vấn đề đang đặt ra với Việt Nam hiện nay là phải hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí từ các chất thải công nghiệp, khí thải từ các phương tiện giao thông, ô nhiễm do tàn phá rừng…

Trang 6

1.3.2 Phân loại theo khả năng tái sinh.

Tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, song một cách tổng quát có thể phân thành hai loại là tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn

Tài nguyên hữu hạn là các loại tài nguyên có giới hạn nhất định về trữ lượng giảm dần cùng với quá trình khai thác, sử dụng của con người Tài nguyên không thể tái tạo và nhóm tài nguyên có thể tái tạo

Nhóm tài nguyên không thể tái tạo là những tài nguyên có quy mô không thay đổi như đất đai và những tài nguyên khi sử dụng sẽ mất dẫn hoặc biến đổi tính chất hóa, lý như các loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, than đá, dầu mỏ…Khi chúng ta khai thác lên một thùng dầu thì cũng có nghĩa là trữ lượng dầu thế giới bị giảm đi một thùng Còn nếu như có thể tái tạo thì cũng phải trải qua một quá trình hàng triệu năm

Nhóm tài nguyên có thể tái tạo, bao gồm nguồn rừng, thổ nhưỡng, các loại động, thực vật trên cạn và dưới nước… Nguồn tài nguyên này, sau khi khai thác có thể được tái sinh, phục hồi, tiếp tục sinh sôi, nảy nở dưới những tác động tích cực của cong người

Tài nguyên vô hạn là các loại tài nguyên có thể tự tái tạo liên tục, không cần đến sự tác động của con người, ví dụ như sự tuần hoàn tự nhiên của nước, không khí, hay tài nguyên này được khai thác, thì cuối cùng quá trình tự nhiên sẽ tự tái tạo lại một cách vô tận Con người có thể lợi dụng sức đẩy của gió làm cối xay, sức nước làm thủy điện… Tuy nhiên, nếu chúng ta khai thác một cách bừa bãi thì cuối cùng nguồn tài nguyên này cũng sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng, không thể tái tạo kịp ngay trong thời đại của chúng ta đang sống và có thể một số loại tài nguyên bị cạn kiệt hay một số loài sinh, thực vật bị tuyệt chủng trước khi chưa kịp tái tạo

Trang 7

Từ cách phân loại trên, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được các chiến lược khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp

lý, hiệu quả, đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế trước mắt, lâu dài với bảo vệ môi trường

1.4 Vai trò của tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế.

Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực trong quá trình sản xuất, cung cấp yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới thì nếu không có tài nguyên thì sẽ không có sản xuất, cũng như sự tồn tại của con người Tuy nhiên với tăng trưởng và phát triển kinh tế tài nguyên chỉ là điều kiện cần

Tài nguyên thiên nhiên trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và

sử dụng có hiệu quả Tài nguyên thiên nhiên góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế như vùng lúa, vùng than, dầu mỏ…

Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tích lũy vốn và phát triển ổn định: Việc tích luỹ vốn của hầu hết các nước đòi hỏi trải qua một quá trình lâu dài, có liên quan tới tiết kiệm trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên có những nước được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên với trữ lượng lớn và đa dạng nên nhanh chóng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, tăng thu nhập ngoại tệ, tạo tích luỹ vốn nhờ vào khai thác xuất khẩu các nguồn này

Tuy nhiên:

Tài nguyên thiên nhiên không phải là động lực mạnh cho phát triển kinh tế

Nhiều nước hầu như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và mạnh mẽ Ví dụ : Nhật Bản, Singapore…

Nhưng ngược lại một số nước có nguồn tài nguyên rất phong phú song vẫn chưa phát triển được Ví dụ : các nước châu Phi, OPEC…

II Thực trạng tình hình sử dụng của một số tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam.

2.1 Tài nguyên rừng.

Trang 8

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN & PTNT) chỉ hơn 5 năm (2012-2017) diện tích rừng tự nhiên bi mất do chuyển đổi sử dụng tại các dự án được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng giảm, còn lại do phá rừng trái pháp luật là 11%

Từ tổng hợp 58 tỉnh, thành phố cả nước cho thấy trong 5 năm qua các cơ quan nhà nước đã phê duyệt chuyển mục đích sử dụng rừng gần 38.300 ha Trong đó rừng tự nhiên gần 19.000 ha, rừng trồng 15.800 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp trên 3.500 ha Đáng lưu ý, một số vụ phá rừng nghiêm trọng ở Tây Nguyên, Quảng Nam, Bình Định, Nghệ An,… được phát hiện chậm Theo Bộ NN & PTNT, chính việc xử lý thiếu kiên quyết , không nhất quán, thậm chí có biểu hiện né tránh trách nhiệm, làm ngơ tiếp tay cho phá rừng, gây thiệt hại đối với tài nguyên rừng Chỉ trong 5 năm (tính đến 2013), khu vực Tây Nguyên mất đến hơn 130.000 ha rừng (trong số 2,84 triệu ha) Trong đó rừng tự nhiên mất hơn 107.400 ha, rừng trồng mất trên 22.200 ha.Trong 5 năm qua các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho hơn 700 dự án trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích gần 216.000 ha, trong đó

có hơn 100.000 ha chuyển sang trồng cao su Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp lợi dụng dự án để chiếm phá, khai thác rừng hoặc không đủ năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm khiến rừng bị tàn phá, lấn chiếm trái phép

Từ đầu năm 2017 đến nay phát hiện 757 vụ, tăng 88 vụ (13%), diện tích rừng bị thiệt hại gần 420 ha, tăng 145 ha (trên 50%) so với cùng kỳ 2016 Tại Đắk Nông, diện tích rừng bị phá từ đầu năm đến nay tới 225 ha, tăng gần 100 ha so với cùng

kỳ năm ngoái

2.2 Tài nguyên đất.

Kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2015 cho thấy:

Tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.123.077 ha, trong đó 31.000.035 ha đất

đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, chiếm 93,59% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.123.042 ha đất chưa được sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên

Trong đó, nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 27.302.206 ha, chiếm 82,43% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,07% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích là 3.697.829 ha, chiếm 11,16% tổng diện tích tự nhiên và

Trang 9

chiếm 11,93% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất chưa sử dụng có diện tích là 2.123.042 ha, chiếm 6,41 % tổng diện tích tự nhiên cả nước

Nhìn chung diện tích đất nông nghiệp của cả nước tăng khoảng 21.201 ha, trong đó đất trồng cây lâu năm tăng lên còn đất trồng cây hàng năm thì giảm, diện tích đất trồng lúa giảm 3.230 ha do chuyển dịch qua đất trồng cây lâu năm, hằng năm, quá trình đô thị hóa ,… Diện tích đất lâm nghiệp cả nước giảm khoảng 4.227 ha giảm chủ yếu là do đất lâm nghiệp chuyển sang các loại đất trồng cây lâu năm, đất sản xuất kinh doanh, đất công cộng,… Diện tích đất phi lâm nghiệp tăng khoảng 14.239 ha tăng là do chủ yếu là đất chuyên dùng và đất ở Diện tích đất chưa sử dụng giảm 35.384 ha trong đó đất đồi núi chưa sử dụng giảm 34.139 ha, đất bằng chưa sử dụng giảm 1.272 ha, đất núi đá không có rừng tăng 27 ha Diện tích đất chưa sử dụng giảm là do dung cho các mục đích nông nghiệp, phi công nghiệp phù hợp với phát triển kinh tế xã hội

2.3 Tài nguyên nước.

Lượng nước hằng năm sử dụng cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m3, cho công nghiệp khoảng 17,3 tỷ m3, cho dịch vụ là 2 tỷ m3, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m3 Tính đến năm 2030 cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng nông nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%

Nhu cầu dùng nước sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng nước chảy ổn định

Nước ta hiện nay có trên 600 đô thị với trên 60 công ty cấp nước và trên 240 hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở các thành phố, tỉnh và thị xã trực thuộc tỉnh Tổng công suất thiết kế của các nhà máy cấp nước là 3,2 triệu m3/ ngày Đối với các thị xã nhỏ, các huyện lị mới có khoảng 25% có hệ thống cấp nước tập trung với công suất là 433.000 m3/ngày

Ở khu vực nông thôn nơi tập trung 80% dân số cả nước, ở dây người ta sử dụng tất

cả các nguồn nước: giếng khoan, giếng đào, nước mưa, nước ao hồ Chưa thống kê được đầy đủ nhu cầu sử dụng nước ở khu vực này, nhưng chắc chắn khối lượng nước cần sử dụng là rất lớn

Trang 10

Đến nay, nước ta đang có hàng trăm khu công nghiệp tập trung với nhu cầu cấp nước bình quân là 50 m3/ ha/ ngày đêm và trong tương lai lượng nước cung cấp cho các khu công nghiệp là không nhỏ

Nông nghiệp là ngành sử dụng nước nhiều nhất Lượng nước sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi năm 2000 chiếm tới 85% lượng nước tiêu thụ Năm 2010, lượng nước dùng cho nông nghiệp khoảng trên 90 tỉ m3 Tuy vậy, cơ sở hạ tầng phân phối nước sau các công trình đầu mối của ta hiện đã xuống cấp, gây thất thoát nước dẫn đến lãng phí tài nguyên nước

Thực tế hiện nay nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất gia tăng đã đẩy nhanh tốc độ khai thác khai thác nước (đặc biệt là nước ngầm) và theo dự báo đến năm 2025, 2/3 người trên thế giới có thể sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước trầm trọng Chất lượng nước giảm do gia tăng chất thải, nước thải gây ô nhiễm nguồn nước Các chất thải công nghiệp trong hoạt động khai khoáng, từ các nhà máy hóa chất, phân bón,thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp cùng với sự thiếu hiểu biết của người sử dụng đang làm suy giảm mạnh chất lượng nước, kể cả nước mặt và nước ngầm

2.4 Tài nguyên biển.

Phần lớn diện tích bờ biển nước ta đã được đưa vào sử dụng để khai thác hoặc nuôi trồng thuỷ sản

Khai thác cát ven biển làm vật liệu xây dựng cũng được tiến hành ở nhiều nơi do loại cát này giàu thạch anh, ít tạp chất, nhưng thuộc loại cát mặn, nên việc sử dụng chúng vẫn có nhiều hạn chế và mang tính địa phương Các mỏ vật liệu xây dựng khác tìm thấy ở đáy biển với trữ lượng lớn nhưng việc khai thác chúng đòi hỏi công nghệ cao và bảo vệ vùng biển, nên chưa được tiến hành

Nghề làm muối ở nước ta đã có từ lâu đời và là nghề còn thủ công Hiện nay hoạt động làm muối từ nước biển được tiến hành trên khoảng 60.000 ha ruộng muối biển Muối biển không chỉ rất cần cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, mà còn cho các ngành công nghiệp và y học Ngoài ra, nước biển để nuôi trồng thủy sản, để phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh,…

Vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển du lịch biển, ven biển và đảo với nhiều loại hình du lịch khác nhau Du

Ngày đăng: 25/02/2019, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w