Chỉ số phát triển con người HDI là khái niệm do UNDPChương trình pháttriển của Liên hợp quốc đưa ra, với một hệ thống cơ sở lý luận và phương pháptính nhằm đánh giá và so sánh mức độ ph
Trang 1Đề bài : Có ý kiến cho rằng: Chỉ số phát triển con người HDI của Việt nam hiện nay
có tốc độ tăng trưởng chậm Trong đó sự đóng góp của yếu tố thu nhập và giáo dục vào sự thay đổi HDI rất nhỏ Hãy bình luận ý kiến trên ?
Trang 2I.Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, các quốc gia với chiến lược đặt trọng tâmvào phát triển con người Phát triển con người vừa là phương tiện, vừa là mụctiêu phát triển kinh tế và mục đích của phát triển là tạo môi trường cho phépngười dân được hưởng thụ một cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe và sáng tạo Chỉ số phát triển con người (HDI) là khái niệm do UNDP(Chương trình pháttriển của Liên hợp quốc ) đưa ra, với một hệ thống cơ sở lý luận và phương pháptính nhằm đánh giá và so sánh mức độ phát triển kinh tế xã hội giữa các quốc gia
và vùng lãnh thổ trên phạm vi thế giới
Có ý kiến cho rằng: Chỉ số phát triển con người HDI của Việt nam hiện nay có tốc
độ tăng trưởng chậm Trong đó sự đóng góp của yếu tố thu nhập và giáo dục vào
sự thay đổi HDI rất nhỏ
Trong những năm qua, chỉ số HDI ở nước ta có tăng nhưng HDI của nước tatrong những năm gần đây đang ở tình trạng có các chỉ số thành phần vận độngkhông điều: giữa chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế ,chỉ số giáo dục chỉ số tuổi thọ vàchỉ số kinh tế có tăng lên ,song trong giai đoạn 2001-2005,chỉ số giáo dục giảm đibằng 1/3 mức tăng của chỉ số kinh tế.Lấy giá trị HDI mà ta đang đạt năm 2005,đem so sánh và đặt biệt so với các nước trong khu vực thì chỉ số HDI nướ ta vẫnthấp, ví dụ xét năm 2005 chỉ đạt 0.714 Malaysia đạt giá trị này nướ ta 17 năm,Philippines trước 17 năm , thái lan trước 14 năm ,trung quốc trước 6 năm Điềunày cho thấy trong khi ta cố gắng vươn lên thì các quốc gia khác cũng cố gắngvươn lên với tốc không những không kém mà còn có xu hướng nhanh hơn ta HDI là một chỉ số có ý nghĩa quan trọng, chúng ta phải nghiên cứu vấn đềnày nhằm hiểu thêm và nắm rõ được các yếu tố phát triển con người cũng nhưtìm ra các giải pháp góp phần nâng cao chỉ số HDI ,nâng cao trình độ phát triểncon người ở Việt Nam trong thời gian tới Một điều có thể khẳng định được rằng
sự phát triển về kinh tế luôn phải song hành với những tiến bộ về xã hội và pháttriển con người Chỉ số HDI của Việt Nam đang dần được cải thiện, xếp thứ116/182 nước trong Báo cáo phát triển con người năm 2009 và xếp thứ 113/169nước trong Báo cáo phát triển con người năm 2010 Sự cải thiện về chỉ số HDI
Trang 3của Việt Nam liên tục tăng nhưng có dấu hiệu ngày càng chậm so với các quốc giakhác.Để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này nhóm chúng em đã lựa chọn chuyên đề : Chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam hiện nay có tốc độ tăngtrưởng chậm Trong đó sự đóng góp của yếu tố thu nhập và giáo dục vào sự thayđổi HDI rất nhỏ.
II.Mục tiêu nghiên cứu về HDI
Trong đề tài nghiên cứu này ,nhóm em nghiên cứu về Chỉ số phát triển conngười (HDI) ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016 và các yếu tốảnh hưởng đến chỉ số HDI ,qua đó đánh giá trình độ phát triển con người củanước ta hiện nay Đánh giá Chỉ số phát triển con người là một việc làm hết sứccần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.Trong nghiêncứu cũng như trong giải quyết những vấn đề thực tiễn, việc so sánh Chỉ số pháttriển con người của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới là rấtcần thiết ,từ đó tìm ra những thế mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần phảikhắc phục ,từng bước cải thiện Chỉ số phát triển con người
III.Kết quả nghiên cứu
1.Lý luận chung về Chỉ số phát triển con người (HDI)
1.1.Định nghĩa phát triển con người
Khái niệm Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) làchỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một sốnhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát
về sự phát triển của một quốc gia
1.2 Cách tính HDI
HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người Nó đo thành tựu trungbình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
Trang 41 Sức khỏe (LEI): Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trungbình.
2 Tri thức (EI): Được đo bằng số năm đi học bình quân (MYSI) và số năm đihọc kỳ vọng (EYSI)
3 Thu nhập: Mức sống đo bằng GNI bình quân đầu người
Chỉ số của các tiêu chí trên được tính bằng các công thức sau: (cách tính này đượcUNDP áp dụng từ năm 2010)
Chỉ số HDI được tính theo công thức: HDI=1/3 (HDI1+HDI2+HDI3)
+)HDI3 là chỉ số tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh
Chỉ số HDI có giá trị từ 0 đến 1 HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển conngười càng cao, trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càngthấp
Trên bình diện quốc tế, Liên hiệp quốc phân loại những nước có HDI từ dưới 1,0đến 0,9 là những nước có mức độ phát triển con người cực cao; từ dưới 0,9 đến0,8 là những nước có mức độ phát triển con người cao; từ dưới 0,8 đến 0,5 lànhững nước có mức độ phát triển con người trung bình; và dưới 0,5 là nhữngnước có mức độ phát triển con người thấp
2.Thực trạng và đánh giá Chỉ số phát triển con người tại Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2016.
2.1.Đánh giá các tiêu chí cấu thành HDI
Trang 52.1.1 Tiêu chí thu nhập ( Khả năng tài chính )
GNI là tổng thu nhập quốc dân (viết tắt theo tên tiếng Anh là Gross NationalIncome) là tổng thu nhập từ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân của mộtnước tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Như vậy, GNI = GDP + Thu lợi tức nhân tố từ nước ngoài – Chi trả lợi tức nhân tố
ra nước ngoài GNI là thước đo tổng hợp lớn nhất của thu nhập quốc dân GNI chỉ
rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn cùa cải đã làm ra
GNI bình quân đầu người được tính bằng GNI chia cho tổng số dân cùa nước đó ởcùng thời điểm Việc tính GNI/người có ý nghĩa rất lớn Thông qua chỉ tiêu này cóthể đánh giá không chỉ khả năng và trình độ phát triển kinh tế mà cả mức sốngcủa mỗi người dân ở từng nước
GNI đầu người của Việt Nam và thế giới trong giai đoạn 2011-2016 theo WorldBank, phương pháp Atlas (đơn vị USD)
GNI/người của Việt Nam GNI/người của thế giới
Trang 620110 2012 2013 2014 2015 2016 2000
Việt Nam Column1
Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2016 bình quânđạt khoảng 5,91%, mặc dù có thấp hơn so với mục tiêu 6,5% - 7%, tuy nhiên trongbối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, thách thức thìđây là mức tăng khá cao và được xếp vào nhóm các quốc gia có tốc độ tăngtrưởng hàng đầu của thế giới và khu vực Đặc biệt, Việt Nam đã đạt mức tăngtrưởng 6,68% năm 2015, là mức cao nhất trong vòng 8 năm qua Năm 2016, tăngtrưởng kinh tế giảm còn 6,21% chủ yếu là do ảnh hưởng của giá dầu và tăngtrưởng thương mại thấp
Quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 191,3 tỷ USD vào năm 2015 và tăng lên 201,3 tỷUSD vào năm 2016 Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người trong 5 năm qua cũng tăngcao, đạt bình quân 24%/năm và tăng từ 1.752 USD/người năm 2012 lên mức2.173 USD/người năm 2016
Những cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được đảm bảo, lạm phát được kiểmsoát Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,6%vào năm 2015 mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ qua Trong năm 2016, mặc
Trang 7dù lạm phát đã tăng lên mức 4,74%, nhưng vẫn thấp hơn so với mức mục tiêu lạmphát 5% mà Quốc hội đã đề ra Trên thị trường tiền tệ, lãi suất và tỷ giá được điềuchỉnh linh hoạt, về cơ bản phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễnbiến lạm phát trong từng thời kỳ
Bình quân cả giai đoạn, xuất khẩu tăng trưởng khoảng 18%/năm và trở thànhđộng lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế những năm vừa qua Đến nay, ViệtNam có trên 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 8sản phẩm đạt trên 5 tỷ USD Về cơ cấu xuất khẩu, tỷ trọng các mặt hàng thô vàmới sơ chế giảm mạnh, trong khi tỷ trọng mặt hàng tinh chế tăng lên đáng kể Thịtrường xuất nhập khẩu được mở rộng với kim ngạch ngày càng tăng lên đã củng
cố thị trường truyền thống, khơi thông nhiều thị trường tiềm năng Cán cânthương mại được cải thiện rõ rệt, kể từ năm 2012, đã chuyển sang trạng tháithặng dư sau nhiều năm thâm hụt liên tục
Có được những thành tựu trên là nhờ các chủ trương, đường lối phát triển đúngđắn của Đảng, Nhà nước như tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.Đồng thời, Việt Nam đã tranh thủ tốt các nguồn lực từ bên ngoài khi chủ động kýkết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương thế hệmới, chính thức thực hiện theo lộ trình những cam kết của khu vực Cộng đồngKinh tế ASEAN (AEC) từ đầu năm 2016, ký kết và thực hiện nhiều hiệp định vềthuế, hải quan,… Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang nỗ lực tái cơ cấu nền kinh tế,(trong đó ưu tiên các trọng tâm là tái cơ cấu Đầu tư công; hệ thống ngân hàngthương mại; các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; ngân sách nhà nước và nợcông; và tài cơ cấu ngành, lĩnh vực sản xuất…), đồng thời đẩy mạnh cải cách thủtục hành chính, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nâng cao năng suất, chấtlượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Bảng HDI của Vi t Namệt Nam
HDI của Vi t Namệt Nam Xếp hạng của Vi t Namệt Nam
Trang 82015 0.684 187
Nguồn: https://countryeconomy.com/hdi/vietnam
http://www.hdr.undp.org/en/countries/profiles/VNM
2.1.2.Tiêu chí y tế và chăm sóc sức khỏe
Mức tuổi thọ : có cuộc sống trường thọ,mạnh khỏe là một tiêu chí để đánh giá về
sự phát triển của con người Và chỉ số tuổi thọ đã được chọn làm thước đo chotiêu chí này Chỉ số tuổi thọ được tính như sau :
Chỉ số tuổi thọ trung bình T =
( Với quy ước : 85 là giá trị cực đại và 25 là giá trị cực tiểu của tuổi thọ )
Tuổi thọ bình quân trung bình của Việt Nam :
(Theo Tổng cục thống kê Việt Nam)
Tuổi thọ
(Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF)
Trang 9Philippin 69.06 0.755 <VN
Việt Nam trong so sánh với một số nước ASEAN và châu Á 2016
Ở bảng, tuổi thọ trung bình Việt Nam hơn các nước: Malayxia,Thailand,Indonexia, Philippi, Ấn Độ, Mianma
Những thành tựu đạt được :
Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người lao động nói chung vàphụ nữ nói riêng đã được quan tâm hơn,tình hình sức khỏe nhân dân cónhiều cải thiện hơn Vì vậy,trong thời gian vừa qua,Việt Nam có chỉ số tuổithọ tương đối lạc quan Tính ra trong 6 năm, từ năm 2010 đến năm 2016,
ta đã nâng tuổi thọ bình quân lên 3 tuổi
Việt Nam cũng có thứ hạng cao về tuổi thọ trên thế giới ( T=0.865,tuổi thọ bình quân 76.25, xếp thứ 56 trong tổng số 138 nước, vùng lãnhthổ theo khảo sát được WEF thực hiện và xếp thứ 3 trong khu vực ĐôngNam Á sau Singapore và Brunây )
Để đạt được thành tựu như vậy,nước ta đã làm tốt công tác chămsóc bà mẹ và trẻ sơ sinh Tỉ lệ chết mẹ giảm mạnh từ 69/100000 năm 2010xuống còn 58/100000 năm 2015.Bên cạnh đó, Việt Nam còn đạt đượcnhững kết quả đáng khích lệ trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1tuổi và tỉ lệ tử vong dưới 5 tuổi Tỉ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi giảm đáng
kể từ 15.8% năm 2010 xuống còn 14.94% năm 2014, tỉ lệ chết trẻ em dưới
5 tuổi giảm còn 23.8% năm 2010 Với những kết quả thu được ở trên, ViệtNam được kì vọng sẽ giảm được 2/3 tỉ lệ trẻ em tử vong trước năm 2020
Trang 10 Thủ tục khám chữa bệnh còn rườm rà, nhất là đối với những ngườidùng Bảo hiểm y tế, họ phải mất nhiều ngày mới hoàn thành một quy trìnhkhám chữa.
Bên cạnh đó, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang là một yếu tố gâynhức nhối trong thời gian qua
Kết luận về chỉ tiêu tuổi thọ :
Chỉ số tuổi thọ đo lường thành tựu tương đối về tuổi thọ ở một nước Chỉ sốnày của Việt Nam là đáng lạc quan Ta có thể thấy, Việt Nam chỉ có GDP tính theođầu người xếp thứ 124 và HDI xếp thứ 116 trên thế giới nhưng lại có thứ hạng vềtuổi thọ khá cao Tuổi thọ trung bình năm 2016 là 76.25,xếp hạng 56 trên thế giới.Chỉ số tuổi thọ T=0.865 và nó đã góp phần giúp cải thiện chỉ số và thứ hạng116/188 của HDI Trong thời gian tới nước ta cần phát huy những điểm mạnh này
và khắc phục những vấn đề bất cập còn tồn tại để đến năm 2020 đạt được mụctiêu tuổi thọ trung bình là 75 tuổi
2.1.3.Tiêu chí giáo dục
Xếp hạng phát triển con người của Việt Nam năm 2016 có chút phát triển, vẫnđứng trong nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình và xếp thứ116/187 nước được khảo sát
Nhưng chỉ số HDI hàng năm có tốc độ tăng trưởng chậm so vs tốc độ tăng trướngcủa 1 số nước phát triển và so vs toàn thế giới
Một trong số các nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng HDI chậm là do giáo dụcvẫn chưa đc tốt và hiệu quả
Tốc độ tăng HDI và đóng góp của các chỉ số thành phần (từ 2010 – 2015)
Tốc độtăng (%)
Đóng góp(điểm %)
Đóng góp(%)
Chỉ số
Chỉ số
Trang 113.Kết luận về trình độ phát triển con người tại Việt Nam hiện nay và những kiến nghị các giải pháp nâng cao Chỉ số HDI.
Trang 123.1.Đánh giá trình độ phát triển con người của Việt Nam 3.1.1.Giai đoạn từ năm 1990 – 2009
Trang 13Chỉ số HDI Việt Nam từ 1990 đến 2009
(Nguồn: Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam)
Theo bảng trên ta có thể thấy, chỉ số HDI của Việt Nam tăng dần đều qua từngnăm, chỉ có giai đoạn 1992 và 2009 là giảm so với năm trước đó, tuy nhiên chúng
ta đã khắc phục và tăng mạnh hơn với những năm tiếp theo Việt Nam cũng xuấtsắc vượt lên từ quốc gia có chỉ số phát triển con người thấp lên nhóm các nước cóchỉ số trung bình và cũng đang nằm ở top đầu của nhưng nước có chỉ số HDI trungbình Đặc biệt hơn, giai đoạn 1999-2001 có sự tăng trưởng vượt trội so với năm
cũ trước đó (tăng 19.8%), thứ hạng cũng nhảy vọt 14 bậc Lý giải cho sự tăngtrưởng xuất sắc này, là do đây là năm cuối cùng hoàn thành kế hoạch 5 năm lầnthứ 6, kế hoạch mà nhà nước ta đã áp dụng một cách rất hiệu quả, bên cạnh đóđây cũng đang là giai đoạn kinh tế Việt Nam phát triển và vươn lên một cáchmạnh mẽ nhất GDP tăng lên đáng kể, cũng nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ này màđầu thế kỉ XXI, nước ta bắt đầu được nhận nhiều hơn sự đầu tư từ các quốc gianước ngoài, các chế độ cũ được giảm thiểu đáng kể thay vào đó là các chính sáchmới có hiệu quả hơn Giai đoạn này cũng là giai đoạn nước ta chuyển mình từnước kém phát triển sang nhóm nước đang phát triển, có thể nói rằng đây là mộtgiai đoạn rất thành công của Việt Nam cả về kinh tế lẫn xã hội
Tiếp theo đó là giai đoạn đầu thế kỉ XXI, nước ta vẫn giữ được mức tăng trưởngđều sau khi vươn lên một cách mạnh mẽ như vậy, chứng tỏ đây không hề là một
sự phát triển bong bóng Tuy nhiên việc tăng trưởng đều đều như trên cũng thểhiện việc những tồn đọng còn lại của nước ta vẫn chưa được giải quyết Kháchquan hơn ta có thể nhìn vào xếp hạng của nước ta so với thế giới, gần như không
có sự thay đổi đáng kể, dậm chân tại chỗ và không có sự vươn lên Đương nhiênviệc này một phần do sự tác động khá lớn từ nền kinh tế thế giới Khủng hoảng tàichính 2007-2008 đã gây ra hậu quả không nhỏ với hầu hết các nước trên thế giới,đặc biệt với một nền kinh tế còn đầy non trẻ như Việt Nam thì vấn đề này làkhông thể tránh khỏi Bên cạnh đó sau một giai đoạn vươn lên phát triển quá
Trang 14mạnh mẽ của Việt Nam, việc bị chững lại sau đó là điều tất yếu Ngoài những vấn
đề khách quan trên còn vấn đề chủ quan do chính bộ máy lãnh đạo sai lầm củanước ta trong những năm đó khiến nền kinh tế bị chững lại và phát triển lênkhông đáng kể, chúng ta có thể xem rõ hơn ở bảng thể hiện sự tăng trưởng GDPcủa Việt Nam dưới đây:
Dựa vào bảng trên ta có thể thấy, năm 2009 mức tăng trưởng GDP đạt tỉ lệthấp nhất sau 30 năm kể từ năm 1988, đây chính là hậu quả và ảnh hưởng củakhủng hoảng kinh tế tác động đến nền kinh tế Việt Nam và cả những chính sáchsai lầm của lãnh đạo đã dẫn đến tình trạng này, chính vì điều đó mà chỉ số HDI giaiđoạn này có xu hướng giảm Tuy nhiên, bằng sự thay đổi bộ máy nhà nước cũngnhư cố gắng khắc phục nền kinh tế thì đến 2011, kinh tế VN đã ổn định và tiếp tụctăng trưởng đều
3.1.2 Giai đoạn từ 2010 đến nay