Do vậy cần coi ngoại thương không chỉ là một nhân tố bổ sungcho kinh tế trong nước mà cần coi sự phát triển kinh tế trong nước phải thíchnghi với lựa chọn phân công lao động quốc tế. Ch
Trang 1CHỦ ĐỀ :
“Chiến lược phát triển ngoại thương từ năm 2000
của Việt Nam”
Trang 2I, Ngoại Thương là gì ?
1 Khái niệm
Ngoại thương- hiểu theo khái niệm phổ thông nhất: là phạm trù kinh tế phảnánh sự trao đổi hàng hóa và các dịch vụ kèm theo giữa nước này với nước kháclấy tiền tệ làm môi giới thông qua hoạt động bán và mua( xuất khẩu- nhậpkhẩu) Toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước được gọi là thương mạiquốc tế
Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được đi kèm việc traođổi các yếu tố sản xuất( ví dụ lao động và vốn), nhất là ngoại thương trong điềukiện hội nhập khu vực và quốc tế
Các nhà kinh tế học còn dùng định nghĩa ngoại thương như là một công nghệkhác để sản xuất hàng hóa và dịch vụ( thậm chí cả các yếu tố sản xuất) Nhưvậy, ngoại thương được hiểu như là một quá trình sản xuất gián tiếp
Ngoại thương là một trong những hoạt động chủ yếu của kinh tế đối ngoại củamột quốc gia Điều kiện để ngoại thương sinh ra, tồn tại và phát triển là:
Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, kèm theo đó
là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp
Sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc
tế giữa các nước
2 Tầm quan trọng của ngoại thương:
Thương mại quốc tế ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trìnhsản xuất, trao đổi hàng hóa
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí quan trọng, nó tạođiều kiện phát huy được lợi thế của từng nước trên thị trường quốc tê Kết quảhoạt động ngoại thương của một nước được đánh giá qua cân đối thu chi ngoại
tệ dưới hình thức “Cán cân thanh toán xuất nhập khẩu”, kết quả này sẽ làm tănghoặc giảm thu nhập của đất nước, do đó mà nó tác động đến tổng cầu của nềnkinh tế Khi cán cân thanh toán có mức xuất siêu sẽ làm cho mức chi tiêu giảm,
từ đó mà tác động đến GDP
Trang 3Ngày nay trong hoàn cảnh sản xuất đã được quốc tế hóa, không một quốc gianào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công laođộng quốc tế và trao đổi hàng hóa với bên ngoài Thêm vào đó, ngày nay ngoạithương không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán với bên ngoài, mà thựcchất là cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công laođộng quốc tế Do vậy cần coi ngoại thương không chỉ là một nhân tố bổ sungcho kinh tế trong nước mà cần coi sự phát triển kinh tế trong nước phải thíchnghi với lựa chọn phân công lao động quốc tế.
Chính vì thế việc trao đổi thương mại cho phép có thể nhập khảunhiều hơn những nguồn lực phục vụ cho sản xuất trong nước, phát triển nghànhnghề hiện đại hơn
- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo pháttriển kinh tế cân đối và ổn định
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân
Nhập khẩu vừa thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàngtiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất
Thúc đẩy sự phân chia thu nhập công bằng hơn từ việc sở hữu cácyếu tố sản xuất và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đó
Tạo việc làm ổn định cho người lao động
b, Vai trò xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệphóa đất nước
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm vàcải thiện đời sống nhân dân
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoạigiữa các nước
Trang 4Ngoài ra ngoại thương còn một số vai trò khác như:
- Thương mại thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Sử dụng tốt nhất mọi khả năng, tiềm năng sản xuất trong nước, khuyếnkhích các khu vực kinh tế phát huy lợi thế so sánh của mình dù là lao động haytài nguyên khác
3 Tổng quan về ngoại thuơng Việt Nam
- Những năm đầu thế kỷ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam cóđiều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiệncho đất nước hào nhập với nền kinh tế thế giới
- Sau Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VIII(1996) hoạt động hội nhậpkinh tế của Vệt Nam diễn ra ngày càng nhanh và mạnh
Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tếtoàn diện
Từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương
4.Những lợi thế phát triển ngoại thưởng của Việt Nam
a.Lợi thế về vị trí địa lý
-Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, là vùng có tốc độ tăng trưởngkinh tế cao nhất thế giới, bình quân mỗi nước ở khu vực này mức tăng trưởngkinh tế đạt 6-7%/năm
-Có biên giới đất liền với nhiều nước: Trung Quốc, Lào, Campuchia và bờbiển dài 3.444km
-Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế, ven biển, đặcbiệt từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè dễ cập bến an toàn -Nhiều sân bay lớn như: Sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Đà Nẵng, sân bayNội Bài,… nằm ở vị trí lý tưởng, cách đều thủ đô các thành phố quan trọngtrong vùng Đông Nam Á
Vị trí địa lý thuận lợi cho phép ta mở rộng quan hệ kinh tế ngoại thương
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
b.Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
-Về đất đai: Diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 Km2 trong đó có tới
50% là đất vào nông nghiệp và ngư nghiệp
Khi hậu nhiệt đới mưa nắng điều hòa cho phép chúng ta phát triển nônglâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới
Chiều dài bờ biển 3.260km, diện tích sông ngòi và ao hồ hơn 1 triệu ha,cho phép phát triển ngành thủy sản xuất khẩu và phát triển thủy lợi, vận tải biển
và du lịch
Trang 5-Về khoáng sản: Dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thungoại tệ đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và là nơi thu hút nhiềuvốn đầu tư nước ngoài Than đá trữ lượng cao, khoảng 3,6 tỷ tấn; mỏ sắt với trữlượng vài trăm triệu tấn; cả ba miền Bắc, Nam,Trung đều có nguồn clanh-ke đểsản xuất xi măng dồi dào
c.Lợi thế về lao động
-Đây là thế mạnh của nước ta, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm
2011 dân số Việt Nam gần đạt ngưỡng 88 triệu người, trong đó có 51,4 triệuđang trong độ tuổi lao động
-Lao động dồi dào, giá nhân công rẻ; tỷ lệ thất nghiệp lớn( tính đến hết tháng6/2014 ở khoảng 1.84%) Lao động là một lợi thế cơ bản để phát triển cácngành hàng sử dụng nhiều lao động như dệt, may, chế biến nông lâm thủy sản,lắp ráp sản phẩm điện, điện tử
5.Những hạn chế trong việc phát triển ngoại thương của Việt Nam
-Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người của ta thấp so với bình quâncủa thế giới, chỉ khoảng 0,1 ha/ người Tuy sản lượng lương thực cao nhưngtrước hết phải đảm bảo nhu cầu của gần 90 triệu dân nên không thể tạo ra mộtnguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao hơn của sự phát triển kinh tế
-Về tài nguyên; Tuy nước ta có nguồn tài nguyên phong phú nhưng phân bốtản mạn Hơn nữa Giao thông vận tải kém nên khó khai thác, trữ lượng chưa xácđịnh và chưa có khoáng sản nào có trữ lượng lớn để trở thành mặt hàng chiếnlược Tài nguyên rừng, biển,thủy sản bị khai thác quá mức mà không đượcchăm bồi
-Vị trí địa lý đẹp, lý tưởng nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém., các hải cảng ít vànhỏ, đường sá và phương tiện giao thông lạc hậu
-Trình độ quản lý kinh tế, xã hội kém, bộ máy chính quyền kém hiệu quả,quan liêu, tham nhũng; chính sách Pháp luật không rõ ràng, thiếu đồng bộ lạihay thay đổi gây cản trở cho quá trình đổi mới kinh tế
-Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề công nhân còn thấp cho nên năngsuất lao động thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao
-Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình độthấp, hàng hóa của Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trường quốctế
Trang 6II, Chiến lược ngoại thương của Việt Nam từ năm 2000 đến nay
1,Giai đoạn 2000 – 2002
Trong giai đoạn này, Việt Nam và Hoa Kỳ kí Hiệp định thương mại vàotháng 7-2000, và có hiệu lực từ ngày 10-12-2001 đã tạo nhiều thay đổi trongngoại thương Việt Nam Hơn nữa, cuối năm 2001, Trung Quốc gia nhập WTOcũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngoại thương Việt Nam
a, Năm 2000
Xuất khẩu:
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh: cả nước đạt kimngạch xuất khẩu trên 14,3 tỉ USD, tăng 24% so với năm 1999 Các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt kim ngạch xuất khẩu trên 6,9 tỉ USD, vàcác doanh nghiệp trong nước xuất khẩu trên 7,4 tỉ USD
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của nước ta đạt 180 USD/năm, mức chuẩn quốc gia có nền ngoại thương phát triển bình thường
Nhập khẩu:
Nhập khẩu trong năm 2000 đạt 15,2 tỉ USD, tăng 30,8% so với năm 1999.Trong đó:
- Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt gần 2,5 tỉ USD
- Xăng dầu trên 2 tỉ USD
- Nguyên liệu dệt may và da trên 1,3 tỉ USD
- Nhập khẩu linh kiện xe máy tăng khá mạnh với gần 1,6 triệu bộ và kimngạch trên 700 triệu USD, tăng gần 77%
Nhập siêu trong năm là 892 triệu USD, chiếm khoảng 6,2% kim ngạch xuấtkhẩu Các doanh nghiệp trong nước là những đơn vị nhập siêu khá lớn (3,45 tỉUSD) trong khi các doanh nghiệp nước ngoài xuất siêu trên 2,5 tỉ USD
b, Năm 2001
Xuất khẩu:
Trang 7Kim ngạch xuất khẩu đạt 15,1 tỉ USD, tăng 4,5% so với năm 2000 Trong đó,khu vực trong nước đạt 8,35 tỉ USD (tăng 9,3%) và khu vực có vốn đầu tư nướcngoài (không kể dầu thô) là 3,75 tỉ USD (tăng 8%)
Thị trường xuất khẩu:
+ Tỷ trọng của Hoa Kỳ trong xuất khẩu của Việt Nam còn nhỏ, chỉ khoảng7% với gần 1 tỷ USD năm 2001
+ Nhật bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta Kim ngạch xuấtkhẩu sang Nhật Bản đã tăng bình quân 22%/năm trong giai đoạn 1996 – 2000 từ
950 triệu USD lên 2,6 tỉ USD, riêng năm 2001 đã giảm 3% so với năm 2000+ Kim ngách xuất khẩu vào Nga đạt trên 200 triệu USD
+ Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Iraq đạt trên 300 triệu USD
+ Indonesia, kim ngạch thương mại 2 chiều của hai nước đã tăng từ 520triệu USD năm 2000 lên gần 600 triệu trong năm 2001
+ Kim ngạch xuất khẩu chính ngạch qua các khu kinh tế cửa khẩu giữa cáctỉnh của việt Nam và Trung Quốc không ngừng tăng trưởng qua các năm: tạicửa khẩu Lào Cai, năm 2001, giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc
là 106 triệu USD
Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu năm 2001 đạt 16 tỉ USD, tăng 2,8% so với năm 2000.Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 11,24 tỉ USD (giảm 0,4%) và khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,76% (tăng 9,3%)
Thị trường nhập khẩu của nước ta chủ yếu là các nước Đông Nam Á,chiếm 73,7% hàng hóa nhập khẩu Trong đó Singapore là thị trường lớn nhất2,478 tỉ USD
Nhập siêu tuy còn cao nhưng đã giảm so với năm 2000 Nếu tính cả dầu thônăm 2001, nhập siêu là 800 triệu USD, chiếm 5,2% giá trị xuất khẩu (năm 2000,nhập siêu là 8%) Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu là 2,889 triệu USD,chiếm 34,5% giá trị xuất khẩu của khu vực
c, Năm 2002
Xuất khẩu:
Trang 8Theo Bộ Thương Mại, năm 2002 cả nước đạt kim ngạch xuất khẩu 16,5 tỉ USD,tăng gần 10% so với năm 2001 Riêng thành phố Hồ Chí Minh, kim ngạch xuấtkhẩu là 8,4 tỉ USD, chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước
- Thị trường xuất khẩu:
+ Trong số 23 thị trường có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD, có 10thị trường đạt mức tăng trưởng xuất khẩu từ 10% trở lên Một số thị trường mới,tuy kim ngạch xuất khẩu chưa cao nhưng mức tăng rất đáng khích lệ như ĐanMạch, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp và các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất+ Riêng thị trường Mỹ, sau một năm thực hiện Hiệp định thương mại, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỉ USD Có thể thấy rõ qua bảng sau:
Mặt hàng 2000 2002 Mặt hàng 2000 2002Thủy sản 301 616 Hạt các loại 51 71
Kim ngạch nhập khẩu năm 2002 đạt gần 19,7 tỉ USD, tăng 21,8% so với năm
2001 Trong đó kim ngạch nhập khẩu vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là hơn7,3 tỉ USD chiếm hơn 37% kim ngạch nhập khẩu của cả nước
so với mức tăng trưởng xuất khẩu tăng 26% Các sản phẩm công nghiệp chế tạo
Trang 9chiếm tới 75% tổng giá trị nhập khẩu từ Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu là các sảnphẩm máy móc và thiết bị giao thông, nguyên liệu và vật tư phục vụ cho sảnxuất trong nước và xuất khẩu Nhập khẩu hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 10%tổng kim ngạch xuất khẩu.
Mức nhập siêu là 3,03 tỉ USD, phản ánh sự gia tăng nhập khẩu nguyên liệu vàmáy móc, thiết bị để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất trong hiện tại và tương lai.2,Giai đoạn 2003-2005
Có thể nói, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này đãđạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế trong nướcphát triển, hình thành nhiều ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, tạo việc làm chongười lao động, tạo cơ sở và khuyến khích các nước hợp tác kinh tế và đầu tưvào Việt Nam Hoạt động xuất nhập khẩu đã từng bước nâng cao vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế
Tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn 2003-2005 nói chung
có nhiều điểm khởi sắc, có sự tăng trưởng trong cả nhập khẩu, xuất khẩu, sảnphẩm mang thương hiệu Việt Nam ngày càng chiếm được chỗ đứng trong lòngngười tiêu dùng trong nước và trên thế giới Từ năm 2003 và nhất là trong năm
2004, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã phục hồi trở lại nhưng cho thấy rõ làtrong tương lai ở tầm dài hạn, các cải cách cơ cấu căn bản nhằm tăng mức cungtổng thể và phát triển ngoại thương là điều kiện sống còn để Việt Nam có thểphát triển nhanh, bền vững, rút ngắn sự tụt hậu với các nước láng giềng
2.1,Năm 2003
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết vào năm 2001 đã tạo nên mộtlực đẩy rất lớn đối với tăng trưởng thương mại, và nền kinh tế đã vuột xa hơnrất nhiều so với những dự đoán kinh tế trước đây
2.1.1,Xuất khẩu
Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu Việt nam năm 2003 ước tính đạt20,149 tr usd, tăng 20,6% so với năm 2002 Trong dó khu vực kinh tế trong ước
Trang 10chiếm 49,6% (giảm 3,3% so với năm 2002) Điều này cho thấy đầu tư nướcngoài vào Việt nam đang tăng
a) Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
Dầu thô đạt tên 17 triệu tấn chỉ tăng gần 1,6% so với năm 2002, than đátăng 20%, dệt may tăng 20,5%; gạo tăng 17,7% so với năm 2002
Tuy nhiên có một số mặt hàng nông sản lại giảm như hạt tiêu( giảm 4,5nghìn tấn), hàng rau quả (giảm 69,7 triệu USD), chè giảm 18,4 nghìn tấn Cóthể lý giải điều này do tình hình hạn hán năm này diễn ra gay gắt, giá cả thịtrường biến động khiến cho năng suất, sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩunong sản không tránh khỏi những tác động Còn theo Bộ thương mại, nguyennhan cơ bản là do sức cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường quốc tế cònyếu, riêng xuất khẩu rau quả, Việt Nam lệ thuộc khá nhiều vào thị trường Trungquốc
b) Thị trường xuất khẩu:
Hoa Kỳ: năm 2003, hoa kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ViệtNam Sau hơn 2 năm, kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sang hoa kỳ tăng gấp
4 lần, từ 1,05 tỷ usd lên 4,55 tỷ Usd năm 2003 Sự tăng trưởng xuất khẩu củaViệt Nam sang Hoa Kỳ đã đóng góp 77% trong tổng mức tăng trưởng xuất khẩu(19%) năm 2003 của Việt Nam Năm 2003, xuất khẩu các sản phẩm này vẫntiếp tục tăng trưởng cao: hàng dệt may tăng 119,3% đạt 1,97 tỷ usd, hàng giàydép tăng 27,5% đạt 282 triệu usd, hàng điện tử và vi tính tăng 865,3% đạt 47triệu usd , đồ gỗ tăng 44,9% đạt 116,5 triệu usd
Trang 11 Cũng như năm 2002, thị trường xuất khẩu thứ 2 là Nhật Bản 2,9 tỷ đô la
mỹ, thứ 3 là Trung Quốc 1,88 tỷ USD, tiếp đến là Úc với 1,42 tỷ USD
2.1.2,Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu năm 2003 đạt trên 25,25 tỷ đô la may, tăng 27,9% sovới năm 2002 Trong đó hàng thô hoặc mới sơ chế chiếm 20,9% giảm so vớinăm 2002, hàng chế biến hoặc đã tinh chế chiếm 78,36%
Nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất tăng 28% trong khi nhóm hàng tieudùng tăng 26,69%
Thị trường:
Trung Quốc từ vị trí thứ 5 trong năm 2002 đã trở thành thị trường nhập khẩulớn nhất vào Việt Nam năm 2003 Nhật bản, đài loan, Singapore vẫn là nhữngthị trường nhập khẩu chủ yếu
Hoa Kỳ: tình hình năm 2003 đã có thay đổi lớn: lần đầu tiên, tốc độ tăngtrưởng nhập khẩu từ Hoa Kỳ đã lớn hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việtnam sang thị trường này(nhập khẩu từ Việt Nam từ Hoa Kỳ tăng 97%, trong khixuất khẩu sang Hoa Kỳ chỉ tăng 64,5%) Cùng với mức tăng trưởng cao hơn củanhập khẩu so với xuất khẩu thì xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2003
đã giảm nhiều và kim ngạch nhập khẩu đã tăng lên bằng 29% kim ngạch xuấtkhẩu Giảm xuất siêu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ có thể là một sựđảm bảo lành mạnh cho cán cân thương mại giữa 2 nước
2.2,Năm 2004
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2004 tăng khá so với năm 2003,tổng trị giá xuất, nhập khẩu cả năm ước tính đạt 57,5 tỷ usd, tăng 26,7% so vớinăm trước, trong đó xuất khẩu tăng 28,9% và nhập khẩu tăng 25% Trong khikim ngạch xuất khẩu năm 2004 tăng khoảng 10,5 tỷ Usd, thì kim ngạch nhậpkhẩu tăng 14,7 tỷ Usd
2.2.1 Xuất khẩu
Trang 12Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 ước tính đạt 26 tỷ usd tăng 28,9% so bớinăm 2003 và là mức cao nhất trong những năm gần đây ( năm 2000 tăng 25,5%;năm 2001 tăng 2,8%; năm 2002 tăng 11,2%; năm 2003 tăng 20,8%) Kim ngạchxuất khẩu không kể dầu thô đạt 23,3 tỷ usd tăng 24,3% so với năm trước, trong
đó khu vực kinh tế trong nước đạt 11,74 tỷ usd tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài đạt 8,6 tỷ usd tăng 35,7% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt đượctrong năm này là một kỷ lục cao nhất trong vòng 8 năm qua
a) Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Năm 2004, ngoài 4 mặt hàng là dầu
thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản có kim ngạch trên 2 tỷ usd còn có thêm 2 mặthàng mới là hàng điện tử, máy tính và sản phẩm gỗ đạt kim ngạch trên 1 tỷ usd
và các mặt hàng nông sản truyền thống có kim ngạch xuất khẩu khá như gạo, càphê, cao su và hạt điều là những mặt hàng đóng góp quyết định cho tăng trưởngxuất khẩu
Dầu thô: nhờ biến động giá dầu trên thế giới, nên sản lượng của mặt hàngvốn chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu quốc gia (chiếm 21,8% trongtổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước) đạt mức kỷ lục cao trong năm nay Xuấtkhẩu dầu thô ước tính cả năm đạt 19,6 triệu tấn với trị giá 5,67 tỷ usd tăng14,1% về lượng nhưng tăng 48,3% về trị giá so với năm 2003 Đây là năm cókhối lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu dầu thio cao nhất từ trước tới nay.Kim ngạch xuất khẩu dầu thô chiếm tới hơn 1/5 kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam trong năm 2004 và mức giá bình quân là 290usd/tấn
Hàng dệt may: kim ngạch trong năm 2004 là 4,39 tỷ usd tăng 17,2%.Việc EU bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam trong năm 2005
là một cơ hội lớn cho ngành công nghiệp này khi Việt Nam chưa là thành viêncủa WTO và xuất khẩu vào mỹ đang chịu hạn ngạch Tuy vậy, trên thực tế, ViệtNam xuất khẩu sang thị trường này 11 tháng qua mới đạt con số 676 triệu usd( tính cả cho EU mở rộng) nên cả năm ước tính chỉ bằng khoảng 3/4 mục tiêuxuất khẩu vào thị trường này trong năm
Trang 13Ba thị trường trọng tâm của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam chiếm tỷtrọng gần 94% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Đó là Mỹ (chiếm56,6%) tăng 22%, các nước Châu Á khác ( chiếm 21,4%) và EU ( chiếm 15,7%)tăng 32% Xuất khẩu vào 2 thị trường Mỹ và EU có tốc độ tăng trưởng khá cao
đã và đang được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, nhất là từ sau khi Hiệpđịnh thương mại Việt Mỹ được ký kết Hơn nữa, việc EU bãi bỏ hạn ngạch dệtmay với Việt Nam bắt đầu từ năm 2005 đang mở ra một triển vọng mới chongành công nghiệp dệt may nhưng đồng thời cũng gặp thách thức lớn trongcạnh tranh với Trung Quốc, Ấn Độ khi WTO bãi bỏ hạn ngạch dệt may vớicác nước thành viên
Giày dép: kim ngạch xuất khẩu cả năm 2004 là 2,69 tỷ usd (tăng 19% sovới năm 2003) Đối với mặt hàng này, cơ cấu thị trường xuất khẩu nghiêngmạnh về EU (chiếm 66%), cạnh đó thị trường Mỹ mặc dù kim ngạch thấp hơn
EU và chỉ chiếm 15,5% tổng kim ngạch giày dép nhưng đang có tốc độ tăng khátốt và trở thành nước lớn thứ hai về nhập khẩu giày dép của Việt Nam
Hải sản: kim ngạch xuất khẩu cả năm 2004 là 2,408 tỷ úd (tăng 9,48% sovới năm 2003) Trong 11 tháng đầu năm 2004, sk hải sản sang Nhật đạt 698triệu usd ; Mỹ: 530 triệu usd ; Hàn Quốc: 129 triệu usd ; Đài Loan: 98 triệu Usd
; Hồng Kong: 78 triệu usd
Trong năm vừa qua Việt Nam bị hai vụ kiện bán phá giá về tôm đông lạnh ởthị trường Hoa Kỳ và xe đạp ở thị trường Liên Hiệp Âu châu Hậu quả là trị giátôm của Việt Nam xuất cảng qua Mỹ giảm 30% trong năm 2004 so với 2003
Gạo: kim ngạch xuất khẩu cả năm là 4,063 tỷ usd ( tăng 6,64% so vớinăm 2003 ) Trong năm nay, Việt Nam vẫn tiếp tục ổn định được sản lượng gạoxuất khẩu, bởi vựa lúa lớn nhất của Việt Nam là vùng đồng bằng sông cửu long
ít bị ảnh hưởng của thời tiết, khi hậu thay đổi bất thường như nhiều vùng sảnxuất lúa gạo khác trên thế giới Và đến nay, gạp xuất khẩu của Việt Nam đã có
uy tín nhất định trên thị trường thế giới Hơn nữa, nhiều khu vực có nhu cầu
Trang 14nhập khẩu gạo với khối lượng lớn như các nước ở châu Phi, châu Mỹ đang quanrâm nhiều hơn đến gạo xl của Việt Nam vì giá thành rẻ hơn so với gạo cùng loạicủa Thái Lan và các nước khác Bên cạnh những thành công của xuất khẩu năm
2004, trong năm nay chúng ta cũng cần phải hết sức quan tâm đến hiệu quả xuấtkhẩu Nhiều mặt hàng có sự gia tăng vượt bậc nhưng hiệu quả thực tế còn rấtthấp
b) Thị trường xuất khẩu chủ yếu
Có 2 thị trường xuất khẩu của Việt Nam đạt được trên 1 tỷ usd trong nămnay là Anh(1,01 tỷ usd) và Đức(1,064 tỷ usd) Nhật Bản, Trung Quốc và Úc vẫn
là những thị trường xuất khẩu lớn Riêng thị trường Mỹ đã có sự tăng mạnh:tăng 27,6% so với năm 2003, đạt mức 5,024 tỷ usd Thị trường Châu Á chiếmgần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tuy vậy, xuất khẩu vào thịtrường châu Á vẫn còn một số vấn đề đáng quan tâm Trước hết là tỷ lệ hàngxuất khẩu vào khu vực Trung Nam Á, Tây Á còn rất nhỏ Xuất khẩu của ViệtNam vào Tây Á chỉ chiếm 1,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; xuất khẩu vàoTrung Nam Á còn thấp, chỉ chiếm 0,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 tăng cao do:
Kinh tế thế giới phục hồi và sự tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đãtăng cầu nhập khẩu của các nước về lượng, kéo theo tăng giá có lợi cho cácnước xuất khẩu
Các mặt hàng công nghiệp và nông sản xuất khẩu tăng cao so với nămtrước
Kết quả tích cực của các hoạt động mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuấtkhẩu của Chính phủ và các cơ quan liên quan, đặc biệt là công tác xúc tiếnthương mại
2.2.2.Nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu năm 2004 ước tính đạt 31,25 tỷ usd tăng 25% so vớinăm trước , trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 20,55 tỷ usd tăng25,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 10,97 tỷ usd, tăng 24,4%
Trang 15Nhìn chung, nhập khẩu hàng hoá có cơ cấu tích cực, nhập chủ yếu để phục vụsản xuất trong nước.
a) Mặt hàng nhập khẩu: trong tổng kim ngạch nhập khẩu, hàng tư liệu sản
xuất ước tính đạt 29,8 tỷ usd( chiếm tỷ trọng 94,6%), tăng 26,3% so với 2003;riêng nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu ước tính đạt 21,4 tỷ usd, chiếm tỷ trọng68%, tăng tới 38,8%; nhập khẩu hàng tiêu dùng chiếm tỷ lệ nhỏ và chỉ tăng5,3% Tuy nhiên, nhập khẩu năm nay tăng cao chủ yếu do yếu tố giá Chỉ tínhriêng 8 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có thống kê về lượng, kim ngạch khoảng8,7 tỷ usd, tăng 2,8 tỷ usd so với năm 2003, trong đó riêng do tăng giá là 2,3 tỷusd
b) Thị trường nhập khẩu chủ yếu: Trung quốc là thị trường nhập khẩu lớn
nhất của Việt Nam, nhập khẩu tĂng 46,4% so với năm 2003; Hàn quốc tăng27,96%; Đài Loan tăng 26,85%; Singapore tăng 25,82% và Nhật Bản tăng19,1% Như vậy, Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta.Nhập siêu cả năm 2004 là 5,52 tỷ usd, bằng 21,2% kim ngạch xuất khẩu ( tỷ lệnày năm 2003 là 25%)
2.3,Năm 2005
Năm 2004 vừa kết thúc với những thành tựu ngoạn mục của nền kinh tếViệt Nam, tạo đà tăng trưởng quan trọng cho năm 2005, năm đặc biệt quantrọng quyết định thành công của kế hoạch 5 năm 2001-2005 Sản xuất côngnghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao Xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhậpsiêu liên tục giảm Đâu tư nước ngoài tăng khá, tập trung chủ yếu trong dịch vụcông nghiệp
2.3.1 Xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2005 có tốc độ tăng trưởng cao nhờ cảgiá và khối lượng xuất khẩu tăng Xuất khẩu hàng hoá đạt 32,44 tỷ usd, tăng
Trang 1622,4% so với 2004 Xuất khẩu dịch vụ đạt 5,65 tỷ usd, tăng 10,5% so với năm
2004, bằng 12% GDP
a) Các mặt hàng xuất khẩu chính
% tổng kim ngạch: Dầu thô(23%), hàng dệt may (15%), giày dép (9,3%),hải sản (8,5%), điện tử máy tính(4,5%), gạo(4,3%), cao su (2,4%) và cà phê(2,2%)
Các mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là dầu thô (40,7%), cà phê(24,7%), than đá (20,7%), cao su (17,9%), chè (15,9%), gạo (14,5%), và hạtđiều (12,5%) Các mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăng mạnh bao gồm than
đá (53,8%), gạo (28,1%), lạc nhân (26,1%) và cao su (11,9%)
Nhóm hàng nguyên liệu thô, sơ chế và gia công vẫn chiếm tỷ trọng khálớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu Đây là những nhóm mặt hàng xuất khẩu cógiá trị gia tăng thấp và giá trị xuất khẩu dễ bị giảm sút mạnh theo biến động củathị trường thế giới Các điều kiện hỗ trợ xuất khẩu cũng còn nhiều hạn chế, bấtcập Kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu còn thiếu và chưa đảm bảochất lượng; công tác thông tin, dự báo giá cả, phân tích nguồn hàng, thị trườngcòn yếu và chưa kịp thời; hoạt động xúc tiến thương mại tuy tiến bộ song cònthiếu tính chuyên nghiệp cao Khả năng liên kết, xâu chuỗi, hỗ trợ nhau trong
Trang 17hoạt động xuất nhập khẩu giữa các doanh nghiệp trong nước còn yếu; vai tròcác hiệp hội ngành hàng còn chưa thật sự được phát huy.
b) Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam cũng tiếp tục được mở rộng
Năm 2005, Việt Nam đã xuất khẩu vào 16 thị trường với kim ngạch trên
500 triệu usd, trong đó có tới 6 thị trường với kim ngạch ước đạt trên 1 tỷ usd:
Mỹ (5,82 tỷ usd), Nhật Bản ( 4,46 tỷ usd ), Trung quốc (2,99 tỷ usd), Úc (2,59
tỷ usd), singapore (1,66 tỷ usd) và Đức (1,05 tỷ usd) Tính chung kim ngạchxuất khẩu vào 16 thị trường lớn nhất ước đạt 24,91 tỷ usd, chiếm tới 77,3% tổngkim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2005
Hầu hết thị trường xuất khẩu vào các khu vực, lãnh thổ đều có sự tăngtrưởng kim ngạch khá cao, từ 15% đến 65%, trong đó Châu Á tăng 21,3%(riêng các nước ASEAN tăng 42,6%) Châu Âu tăng 6,7% ( riêng EU tăng8,1%), châu Mỹ tăng 21,7%, châu Đại Dương tăng 51% và châu Phi tăng83,9% Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2005 có sự chuyển dịch tương đối rõnét với thị phần tăng tại các khu vực/nước như ASEAN, Úc, Nhật Bản, giảmmạnh tại EU, và giảm nhẹ tại thị trường Mỹ, Trung Quốc
2.3.2,Nhập khẩu