Lượng của sự vậtbiểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ,trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm… Trong thực tế lượng của sự vật thường được xá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -BÀI TIỂU LUẬN
LỚP 58C.OT NHÓM 1
Chủ đề : Quy luật Lượng và Chất về vấn đề phát
triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Giáo viên h ướng dẫn : Trịnh Công Tráng
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu - 2
I Quan niệm của lượng và chất trong triết học Mac-lênin - 3
1 Chất là gì? - 3
2 Lượng là gì? - 4
3 Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất - 5
a Tiểu sử thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất - 5
b Chất mới ra đời quy định lượng mới - 5
4 Ý nghĩa phượng pháp luận - 5
II Sự phát triển nguồn nhân ở Việt Nam - 6
1 Khái niệm - 6
a Những nhận thức chung về ngồn nhân lực - 6
b Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế- xã hội hiện nay - 10
2 Thực trạng nhân lực Việt Nam - 10
3 Phương hướng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt Nam - 16
4 Ý nghĩa - 24
III Vận dụng quy luật lượng chất trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam - 25
1 Những chuyển biến cơ bản - 25
2 Những sai lầm , hạn chế - 25
3 Thành công - 26
4 Giải pháp - 27
a Đào tạo nguồn nhân lực phải là động lực cho sự đổi mới sáng tạo của một quốc gia - 27
b Một số giả pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân - 30
5 Ý nghĩa thực tiễn - 32
IV Kết luận - 33
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ,con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối quan hệ có tính lặp lại củacác hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật” Với tư cách là phạmtrù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của khoa học, phảnánh sự liên hệ của sự vật và tính chỉnh thể của chúng Các quy luật của tự nhiên,của xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tính khách quan Con ngườikhông thể tạo ra hoặc tự xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhận thức và vận dụng nótrong thực tiễn Quy luật từ những thay đổi về lượng dễ đến sự thay đổi về chấtđược gọi là quy luật lượng-chất là một trong ba quy luật của phép biện chứngduy vậ, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển Với tính chất đóquy luật lượng và chất đã chiếm giữ vị trí quan trọng trong vai trò phương phápluận của triết học Mác- Lênin Nhận thức được quy luật này có ý nghĩa rất quantrọng trong hoạt động thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng Quyluật lượng - chất là vấn đề đã được nhiều nhà triết học từ trước đến nay rất quantâm, nhưng đến khi chủ nghĩa Mác ra đời thì quy luật này mới được trình bàymột cách khoa học, có hệ thống với các cơ sở lý luận đầy đủ nhất Hiện nay cảnước đang quan tâm đến vấn đề giáo dục, với mong muốn nước ta sớm có đượcmột nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của đấtnước Hơn nữa, phát triển nguồn nhân lực đang trở thành đòi hỏi bức thiết hàngđầu trên chặng đường công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay của đất nước Thựctrạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất cơ hội đang đếnvới đất nước Không mau chóng khắc phục được yếu kém này, có nguy cơ khóvượt qua những thách thức mới, sẽ kéo dài sự tụt hậu của đất nước với nhiều hệlụy nan giải Cho nên hôm nay nhóm em sẽ trình bày về vấn đề “ Quy luật Lượng
và Chất trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam:
Trang 5Chất có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộctính, những yếu tố cấu thành quy định Thuộc tính của sự vật là những tính chất,những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật Đó là những cái vốn có của sựvật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và pháttriển của nó Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ đượcbộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng khác.
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính trong đó mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chấtcủa sự vật Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất Chất và sự vật có mối quan hệchặt chẽ, không tách rời nhau Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sựvật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật Chất của sự vật đượcbiểu hiện qua những thuộc tính của nó Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nàocũng biểu hiện chất của sự vật Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản vàthuộc tính không cơ bản
Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Chínhchúng quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nàochúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi Những thuộc tính
Trang 6của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác Sự phân chiathuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mangtính chất tương đối, tùy theo từng mối quan hệ Chất của sự vật không những quyđịnh bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữacác yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Trong hiện thực các sự vậtđược tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác nhau.Mỗi sự vật có vô vàn chất: vì sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩatương đối, song sự vật có vô vàn thuộc tính nên có vô vàn chất Chất và sự vậtkhông tách rời nhau: chất là chất của sự vật, còn sự vật tồn tại với tính quy định
về chất của nó Chất biểu hiện trạng thái tương đối ổn định của sự vật, là sự kếthợp tương đối trọn vẹn, hoàn chỉnh, bền vững các thuộc tính của sự vật, làm cho
sự vật này không hòa lẫn với sự vật khác mà tách biệt cái này với cái khác Chấtluôn gắn liền với lượng của sự vật
Ví dụ: Một chiếc iphone có rất nhiều thuộc tính như nhắn tin, gọi điện, soạn thảovăn bản; xem thời gian, ngày tháng, giải trí
2.Lượng là gì:
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt
số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như cácthuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành
nó Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó Lượngcủa sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người Lượng của sự vậtbiểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ,trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…
Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lượng
cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây hay một phân tửnước bao gồm hai nguyên tử hydro liên kết với một nguyên tử oxy,… bên cạnh
đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát nhưtrình độ nhận thức tri của một người ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một
Trang 7công dân, trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượngcủa sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hoá.
Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tửhợp thành nguyên tố hoá học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) cónhững lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng,chiều cao của sự vật) Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số
về lượng không ổn định mà thường xuyên biến đổi cùng với sự vận động biếnđổi của sự vật, đó là mặt không ổn định của sự vật
Ví dụ: Tính trừu tượng như: Dân tộc ta có lòng yêu nước nồng nàn
3 Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
a Tiểu sử thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất:
Mọi sự vật của thế giới đều có mặt chất va lượng Chúng là hai tính quy địnhvốn có của sự vật và thống nhất hữu cơ với nhau trong giới hạn độ Chất là mặttương đối ổn định , lượng là mặt biến đổi thường xuyên hơn Trong giới hạn độcủa sinh vật không ngừng biến đổi , song chưa làm cho sự vật chuyển sang chấtmới Lượng biến đổi đến mức vượt quá độ tới điểm nút thì phá vỡ chất cũ, chấtmới được hình thành
b Chất mới ra đời quyết định lượng mới:
Chất mới ra đời quy định lượng mới nó thể hiện ở quy mô mới, mức độ, nhịpđiệu mới của sự vật
Những chất mới lại tiếp tục biến đổi đến một mức độ nào đó phá vỡ chất cũ chấtmới lại được hình thành
Quá trình đó lặp đi lặp lại không ngừng tạo nên cách thức, cơ chế, hình thái của
sự phát triển là tõ sù thay đổi dần dần về lượng dẫn đến thay đổi về chất vàngược lại
4.Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành nhữngthay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra các kết luận có ý nghĩa phương phápluận sau đây :
Trang 8- Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹdần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển vềchất Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phảibiết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Tronghoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như "tích tiểu
thành đại", "năng nhặt, chặt bị", "góp gió thành bão", - Quy luật của tự nhiên
và quy luật của xã hội đều có tính khách quan Song quy luật của tự nhiên diễn
ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạtđộng có ý thức của con người- Trong hoạt động con người còn phải biết vậndụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy Sự vận dụng này tùy thuộc vào việcphân tích đúng đắn những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan, tùytheo từng trường hợp cụ thể, từng điều kiện cụ thể hay quan hệ cụ thể Mặt khác,đời sống xã hội của con người rất đa dạng, phong phú do rất nhiều yếu tố cấuthành Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thứcliên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật Do đó, trong hoạt động phải biết cáchtác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sởhiểu rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó Chẳng hạn, trên cơ sở hiểu biếtđúng đắn về gen, con người có thể tác động vào phương thức liên kết giữa cácnhân tố tạo thành gen làm cho gen biến đổi Trong một tập thể cơ chế quản lý,lãnh đạo và quan hệ giữa các thành viên trong tập thể ấy thay đổi có tính chấttoàn bộ thì rất có thể sẽ làm cho tập thể đó vững mạnh
II Sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam:
1 Khái niệm:
a Những nhận thức chung về nguồn nhân lực:
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển linh
tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trongcác nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyếtđịnh trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiệnđại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác cácnguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc
Trang 9hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con ngườiViệt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáodục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọngnhất - nguồn năng lực nội sinh Vậy nguồn nhân lực là gì?Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên HợpQuốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nănglực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồmthể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồnlực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác:vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực lànguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngườicho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể pháttriển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xãhội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cưtrong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức làtoàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ
tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trênhai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việctheo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ;
về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lànhnghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổilao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy
Trang 10theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải
là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cựctìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, nhữngngười trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu:nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng laođộng xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm laođộng sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cảivật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', mộtnguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triểnNguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triểncác nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhấtcho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư
có tinh chiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cáchhiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực Theo quan niệm của Liênhiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềmnăng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho conngười, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năngnghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực vàphẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng
Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực củacon người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khaithác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công laođộng và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội
Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia:chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thểlực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến
Trang 11đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triểnnguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện conngười vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đếnvấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một
người lao động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng vớimột ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuậtnhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.Giữa chất lượng NNL và NNL CLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mốiquan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đếntổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL CLC là bộ phận cấu thành đặcbiệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn vềNNL CLC không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân
Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị
trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức:chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làmviệc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với
Như vậy, NNL CLC cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thểlực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tìnhcảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức
và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL đặc biệt là NNLCLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gầnđây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựatrên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sởhiện đại và nâng cao chất lượng NNL Trong đó động lực quan trọng nhất của sựtăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNL CLC,
Trang 12tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề,kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốnnhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyếtliệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL CLC, có môi trường pháp lýthuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị- xã hội ổn định
b Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con ngườithì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên" ( Power Shift-Thăngtrầm quyền lực- Avill Toffer)
2 Thực trạng nhân lực Việt Nam:
Vấn đề nguồn nhân lực thực chất là vấn đề con người Xây dựng nguồn nhânlực Việt Nam tức là xây dựng con người Việt Nam có đủ tầm vóc, tố chất, tiêuchuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa công bố dân số Việt Nam là 87 triệu người,xếp thứ 13 trên thế giới về dân số Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hiệpquốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam có thể đạt ngưỡng 100 triệu người.Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiệnnay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á thamgia xếp hạng Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm vànăng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếphạng Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 75
Trang 13Nguồn nhân lực từ nông dân: Nông dân Việt Nam chiếm khoảng hơn 61
triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước Cả nước có khoảng113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làngnghề, 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn
100 nước Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biếntích cực
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác,chưa được tổ chức đầy đủ Người nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa Họđều tự làm Đến lượt con cháu họ cũng tự làm Có người nói rằng, nghề trồng lúa
là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được Ở các nướcphát triển, họ không nghĩ như vậy Mọi người dân trong làng đều được hướngdẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng Hiện có từ 80 đến 90%lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa đượcđào tạo Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rấtyếu kém Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước tavẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyềnthống, hiệu quả sản xuất thấp Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhàkhoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động
ở nông thôn dôi ra, không có việc làm Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi nămnhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp,xây dựng đô thị
Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo, chonên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu côngnghiệp, công trường Tình trạng hiện nay là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêmtrọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dưthừa rất nhiều; chất lượng lao động rất thấp
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do khâu tổ chức lao động và quyhoạch lao động trong nông thôn chưa tốt Chính sách đối với nông nghiệp, nôngdân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tínhkhuyến khích và tính cạnh tranh
Nguồn nhân lực từ công nhân: Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay có khoảng 10 triệu người (kể cả khoảng 500 nghìn công nhân đang làm
Trang 14việc ở nước ngoại, tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngànhnghề ở nước ngoài và 2 triệu hộ lao động kinh doanh cá thể) Số công nhân cótrình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người Nhìn chung,công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nóichung
Cả nước, tính đến năm 2007, có 262 trường dạy nghề, 599 trung tâm dạynghề Trường trung cấp công nghiệp đến năm 2008 là 275 Theo số liệu mớithống kê được, tính đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng dạynghề, 303 trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề; hơn 1.000 cơ sở khác
có tham gia dạy nghề Dạy nghề trình độ trung cấp từ 75,6 nghìn tăng lên 360nghìn người; có khoảng 600 nghề có nhu cầu đào tạo Đến cuối năm 2010, cảnước có 123 trường cao đẳng dạy nghề; 303 trường trung cấp nghề; 810 trungtâm dạy nghề, hơn 1.000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề Dạy nghề trình độtrung cấp từ 75,6 nghìn tăng lên 360 nghìn người
Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nhânlàm việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong cácngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%
Vì đồng lương còn thấp, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phảikiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làmnghề thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người vừa làcông nhân, vừa không phải là công nhân
Nhìn chung, qua hơn 25 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến tíchcực, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từngbước Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sốngcủa giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện Bên cạnh đó, sự phát triển củagiai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năngnghề nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tácphong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhânxuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống "Địa vị chính trịcủa giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ"1
Trang 15Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã hộitrong quá trình đổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triểncủa giai cấp công nhân Việt Nam Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trongphát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống, tâm tư,tình cảm của công nhân; những chính sách về giai cấp công nhân tuy đã banhành, nhưng chưa sát hợp với tình hình thực tế của giai cấp công nhân Trong cácdoanh nghiệp và người sử dụng lao động, không ít trường hợp còn vi phạm chínhsách đối với công nhân và người lao động.
Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức: Nếu tính sinh viên đại
học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trongnhững năm gần đây tăng nhanh Riêng sinh viên đại học và cao đẳng phát triểnnhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002: 1.020,7 nghìnngười; năm 2003: 1.131 nghìn người; năm 2004: 1.319,8 nghìn người Năm2005: 1,387,1 nghìn người; năm 2006 (mới tính sơ bộ: prel): 1,666, 2 nghìnngười,… Cả nước có khoảng 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư;5.253 phó giáo sư; 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt độngkhoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có49% của số 47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viên trung cấpchuyên nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông;gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, thì có khoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30%thực sự làm chuyên môn Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện cókhoảng 300 nghìn người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng
200 giáo sư, tiến sĩ đang giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới
Số trường đại học tăng nhanh Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có 143trường đại học, đại học, học viện2; 178 trường cao đẳng; 285 trường trung cấpchuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề Cả nước hiện có 74 trường và khốitrung học phổ thông chuyên với tổng số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương và 7 trường đại học chuyên Tỷ lệ học sinh trung họcphổ thông chuyên so với tổng dân số của cả nước đạt 0,05%, còn chiếm rất thấp
so với thế giới
Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển Vào năm học
2007-2008, cả nước có gần 6 nghìn cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33
Trang 16trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáodục ngoài công lập.
Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càngtăng Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6% (năm
2000 là 11,8%), trong đó, tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%, học sinh trung cấpchuyên nghiệp là 18,2%, học nghề là 31,2%, sinh viên cao đẳng, đại học là11,8%
Cả nước có 1.568/3.645 học sinh đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc giatrung học phổ thông năm học 2007-2008
Đầu năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã trình lên Thủ tướngChính phủ Việt Nam dự án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-2020 ở
cả trong nước và ngoài nước
Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là 76.200
tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với thực hiệnnăm 2007
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức,viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũngtăng nhanh:
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìnngười làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương12)
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàngnghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí vàhàng chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia cáccông đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo chí,hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39 nghìnngười; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là 13.536người
Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sáchpháp luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có 43 tiến sĩ luật
Trang 17(chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩ luật (chiếm 10,08%),
43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223 đại họckhác (chiếm 27,06%), 64 người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa chuyên mônkhác (chiếm 7,77%),… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật sư trên 24nghìn người dân)
Trí thức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơ quantrung ương và địa phương cũng tăng nhanh
Tổng nhân lực các hội, liên hiệp hội, viện, trung tâm (NGO) hiện có 52,893người
Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức đãdẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ tríthức, công chức, viên chức còn yếu kém và bất cập Đa số công chức, viên chứclàm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của mộtcông chức, viên chức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học,ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công việc Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp
ra trường chưa có việc làm; không ít đơn vị nhận người vào làm, phải mất 1-2năm đào tạo lại Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứngđược công việc Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao độngquốc tế thừa nhận Năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là 161.411 người.Theo ước tính, mỗi tấm bằng đại học, người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn nhànước đầu tư khoảng 30 triệu đồng Như vậy, với tỷ lệ 63% số sinh viên ra trườngchưa có việc làm, cho thấy kinh phí đầu tư của sinh viên thất nghiệp (161.411sinh viên x 63% x 70 triệu), ít nhất thất thoát 7.117 tỷ đồng (trong đó, 4.067 tỷđồng của dân và 3.050 tỷ đồng của nhà nước)
Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở lên Con số này cóthể nói tương đương với 2,6 triệu trí thức nước nhà
Nói tóm lại, nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức (trong đó cócông chức, viên chức) ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiều bất cập Sự bất cập này
đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm đổi mới,kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so với kinh tế thế giới thì cònkém xa Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàn tài chính quốc tế