Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của chính sách bảo hộ hiện nay đối với tất cả các quốc gia trên thế giới là làm thế nào để chính sách bảo hộ thực sự mang lại hiệu quả tích c
Trang 1trong quá trình phát triển kinh tế của mọi quốc gia bởi tất cả các quốc gia dù mạnh hay yếu, dù phát triển hay đang phát triển đều muốn xây dựng và phát triển các ngành sản xuất trong nước đồng đều và bền vững Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của chính sách bảo hộ hiện nay đối với tất cả các quốc gia trên thế giới là làm thế nào để chính sách bảo hộ thực sự mang lại hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển với
tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng khả năng phát triển kinh tế chưa cao
Không nằm ngoài xu hướng thế giới, cùng với tiến trình hội nhập toàn cầu hóa đã và đang được diễn ra mạnh mẽ tại Việt nam với sự tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế như ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998), WTO (2006),… và gần đây nhất là sự kiện Việt Nam về
cơ bản đã ký kết Hiệp định TPP (đầu tháng 10/2015) Đây là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức cho sự phát triển kinh tế của đất nước, tạo ra một sân chơi chung và những quy tắc nhằm phát triển thương mại quốc tế Do đó, vấn đề bảo hộ lại được nâng lên một tầm cao mới và quan
trọng trước hết đó chính là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ
Trang 2TRẺ 4
1.1 Khái niệm 4
1.1.1 Bảo hộ là gì? 4
1.1.2 Ngành công nghiệp non trẻ là gì? 4
1.2 Hình thức bảo hộ 5
1.2.1 Chính sách phi thuế quan 6
1.2.2 Bảo hộ bằng thuế 8
1.3 Các lý lẽ của bảo hộ 9
1.3.1 Các lý lẽ kinh tế của bảo hộ 9
1.3.2 Các lý lẽ phi kinh tế của bảo hộ 11
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP NON TRẺ TẠI VIỆT NAM 13
2.1 Tổng quan tình hình bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ ở Việt Nam 13
2.2 Hai ngành công nghiệp non trẻ tiêu biểu tại Việt Nam 13
2.2.1 Ngành sản xuất và lắp ráp ô tô 14
2.2.2 Ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam 19
2.3 Tiềm năng phát triển của các ngành non trẻ trong tương lai 20
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 26
3.1 Đánh giá 26
3.1.1 Cơ hội 26
3.1.2 Thách thức 27
3.2 Đề xuất 27
3.2.1 Xây dựng chính sách thuế quan hợp lý 27
3.2.2 Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ 28
3.2.3 Một số đề xuất liên quan 28
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP NON TRẺ 1.1 Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên: “Bảo hộ mậu dịch là chính sách bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài trên thị trường nước mình”
Tóm lại, Chính sách bảo hộ nói chung trong thương mại quốc tế (Protectionism) là việc chính phủ áp dụng các biện pháp rào cản thuế quan và phi thuế quan cùng những rào cản thương mại khác nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước, đẩy mạnh việc sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài
1.1.2 Ngành công nghiệp non trẻ là gì?
Trên phương diện lý thuyết, một ngành được coi là non trẻ khi nó thỏa mãn điều kiện là ngành
có lợi thế nhờ quy mô Lợi thế nhờ quy mô được hiểu là nếu ngành này mở rộng được quy mô sản xuất thì chi phí trung bình sẽ có khuynh hướng giảm dần Sản xuất càng nhiều thì sẽ tăng
Trang 4còn cao Nếu được bảo hộ bằng các công cụ thuế quan hoặc phi thuế quan trong một khoảng thời gian nhất định thì nó sẽ lớn lên và đủ khả năng để cạnh tranh với các đối thủ từ nước ngoài Trước hết, khái niệm non trẻ khá mơ hồ và hầu như dựa vào những tiêu chí mang tính dự đoán, chủ quan và ngày càng khó chính xác trong một môi trường biến động nhanh chóng như hiện nay Sự mơ hồ này sẽ khiến các nhóm lợi ích nổi lên để tranh quyền lợi bảo hộ, các nhóm này
có thể làm thiên lệch các mục tiêu ban đầu của chính sách công nghiệp
Ví dụ như:
Đối với mặt hàng xe hơi nhập khẩu thì ta cần tiến hành xác định một mức thuế phù hợp với mặt hàng đó và tiến hàng tăng hoặc giảm thuế có lộ trình (để các doanh nghiệp có chiến lược phát triển phù hợp), trong khi tiếp tục cho phép nhập khẩu xe hơi cũ Chính sách vĩ mô ra đời dựa trên những lý thuyết kinh tế vĩ mô định hướng
Muốn đẩy mạnh phát triển ô tô Chính phủ phải đẩy mạnh việc phát triển cơ sở hạ tầng, đường xá cầu cống, bãi đậu xe…
Ngoài ra, còn số mặt hàng không phù hợp với thuần phong mỹ tục, gây ảnh hưởng không tốt như thuốc lá, rượu ngoại,… sẽ được nhà nước các rào cản thuế quan và phi thuế quan
để đưa ra mức lãi suất cao nhằm hạn chế các mặt hàng đó nhập khẩu vào trong nước
Tuy nhiên, việc xác định những tiêu chí cụ thể trong đó lại đòi hỏi gắn liền với thực tế Các nhà hoạch định có thể đặt câu hỏi: “Phải đánh thuế để hạn chế nhập khẩu mặt hàng
xe hơi nhằm hạn chế tiêu dùng và bảo hộ sản xuất trong nước và thuế suất nào là thích hợp?”
1.2 Hình thức bảo hộ
Bảo hộ mậu dịch: Là thuật ngữ trong kinh tế học quốc tế chỉ việc áp dụng nâng cao một số tiêu
chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường,… hay việc áp đặt thuế suất nhập khẩu sao cho đối với một số mặt hàng nhập khẩu nào đó, để bảo vệ ngành sản xuất các mặt hàng tương tự trong một quốc gia
Về lý thuyết:
Trang 5 Việc áp đặt các tiêu chuẩn nói trên thuộc về lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, được các chính phủ áp dụng khi các báo cáo thống kê và các phân tích kinh tế-xã hội cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của việc nhập khẩu đối với sản xuất trong nước dường như lớn hơn so với lợi ích
mà việc này
Việc bảo hộ mậu dịch đem lại lợi ích nhất thời cho các nhà sản xuất trong nước, đảm bảo được mục tiêu xã hội là đảm bảo được công ăn việc làm cho một số nhóm người lao động nào đó
Trên thực tế:
Các yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của một chính phủ trong bảo hộ mậu dịch Còn một thực tế khác là điều trái ngược xảy ra ngay tại quốc gia kêu gọi chủ trương tự do thương mại toàn cầu Các nhà sản xuất Hoa Kỳ - thay vì tăng cường hiệu năng sản xuất để nâng cao tính cạnh tranh, lại sẵn sàng chi tiền để vận động những nhà lập pháp và hành pháp nhằm đưa ra những luật lệ bất bình đẳng Việc làm đó bị coi là cổ
vũ cho chủ nghĩa bảo hộ chứ không phải là tự do mậu dịch
Mặt trái của nó là làm cho các nhà sản xuất trong nước có cơ hội đầu cơ trên giá bán hàng (hay cung cấp dịch vụ) ở mức có lợi nhất cho họ hoặc không có các biện pháp nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Điều này đem lại thiệt hại cho người tiêu dùng xét theo mục tiêu dài hạn
1.2.1 Chính sách phi thuế quan
Có các công cụ như hạn ngạch, cấm vận thuương mại, yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, các biện pháp khác, …
Trang 6 Yêu cầu về nhãn mác hàng hóa;
Các quy định về môi trường
Theo quy định của WTO, việc áp dụng các rào cản kỹ thuật phải không tạo ra trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế; không phân biệt đối xử, phải minh bạch, tiến tới hài hòa hóa; nên sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế và thừa nhận lẫn nhau về thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn Tuy nhiên, trên thực tế, đặc biệt là ở các nước phát triển, công cụ này vẫn được sử dụng rất tinh
vi để bảo hộ sản xuất nội địa
1.2.1.1.3 Cấm vận thương mại
Có thể cấm một số mặt hàng hoặc tất cả mặt hàng không tốt lưu truyền trong quốc gia mình
1.2.1.1.4 Tỷ lệ nội địa hóa
Có thể buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải sử dụng tới nguồn lực của nước mình trong quá trình sản xuất
1.2.1.1.5 Biện pháp khác
Ngoài ra còn có thể sử những quy định về thủ tục hành chính, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, bảo
vệ mội trường và kiểm soát ngoại hối Điều đó có thể giúp những chi phí phát sinh lớn đối với người sản xuất nước ngoài và bảo vệ nhà sản xuất trong nước
1.2.1.2 Hạn chế:
Theo quy định của WTO, cấm vận thương mại và hạn ngạch nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao, gây hạn chế lớn đối với thương mại quốc tế Do đó, nhìn chung, WTO không cho phép sử dụng
Trang 7Tuy vậy, trong một số trường hợp, các quốc gia vẫn có thể sử dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nước khi:
Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;
Cần thiết để đảm bảo đạo đức xã hội;
Cần thiết để bảo vệ con người, động vật, thực vật;
Liên quan đến xuất nhập khẩu vàng bạc;
Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ;
Cần thiết để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên khan hiếm;
Ngoài ra, được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; bảo vệ cán cân thanh toán Các nhà sản xuất trong nước có cơ hội đầu cơ trên giá bán hàng ở mức có lợi nhất cho hoặc không có các biện pháp nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Điều này đem lại thiệt hại cho người tiêu dùng
Hạn chế quan hệ trao đổi quốc tế, xu hướng đóng cửa và tự cung tự cấp Kết quả là có thể sẽ khiến cho thương mại thế giới bị thu hẹp và mang lại tổn thất cho tất cả các bên
Không đưa ra được nhiều ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài nên sẽ khó có sự đầu tư, phát triển của các nhà sản xuất đó đối với mình
1.2.2 Bảo hộ bằng thuế
Thuế xuất nhập khẩu hoặc thuế quan là tên gọi chung để gọi hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu
1.2.2.1 Ưu điểm
Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế
có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường
Trang 8 Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến tranh thương mại
Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chột, chẳng hạn nông nghiệp giống như các chính sách về thuế quan của Liên minh Châu Âu đã thực hiện trong chính sách nông nghiệp chung của họ
Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vũng mạnh để có thể cạnh tranh song phẳng trên thị trường quốc tế
Thuế xuất nhập khẩu có thể được dùng để tăng thu ngân sách cho nhà nước Tùy từng nhu cầu mà một hay vài mục đích của việc bảo hộ bằng thuế được đề cao
1.3.1 Các lý lẽ kinh tế của bảo hộ
Quan điểm ủng hộ bảo hộ dựa trên các lập luận về: (i) Bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ; (ii) Tạo nguồn thu cho quốc gia; (iii) Khắc phục những khuyết tật của thị trường và (iv) Khuyến khích sản xuất nội địa và tạo công ăn việc làm
1.3.1.1 Bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ
Trong tất cả các lập luận bảo hộ, lý lẽ có tính thuyết phục nhất đối với các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách là bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ Lập luận này lần đầu tiên được
Trang 9đưa ra bởi Alexander Hamilton2 vào năm 1791 Kể từ đó, nhiều nước đã sử dụng để giải thích cho hàng rào bảo hộ cao của nước mình Về lý thuyết, theo nhà kinh tế học E.Wayne Nafziger, một ngành được xem là non trẻ với điều kiện ngành đó có lợi thế về quy mô, mang lại nhiều lợi ích kinh tế bên ngoài và có thể vay mượn công nghệ Lợi thế về quy mô nghĩa là khi mở rộng quy mô sản xuất sẽ giảm được chi phí trung bình và tăng khả năng cạnh tranh Khi ngành công nghiệp còn non trẻ, nhà nước nên bảo hộ tạm thời để giảm bớt sức cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và để ngành này có thời gian học hỏi cách thức sản xuất với giá thành đủ thấp để cạnh tranh Lập luận này cho rằng các ngành có thể học hỏi từ chính việc tự sản xuất và đường chi phí của nó sẽ thấp xuống khi tích lũy được kinh nghiệm sản xuất Một khi đã lớn mạnh, nó sẽ tự lực phát triển mà không cần phải trợ giúp nữa
1.3.1.2 Tạo nguồn thu cho quốc gia
Lý lẽ này chủ yếu được đưa ra để giải thích cho việc bảo hộ bằng hảng rào thuế quan và tương đương thuế quan Lý lẽ này đặc biệt được nhấn mạnh ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế nhập khẩu là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước Đối với các quốc gia mới dành được độc lập hoặc chính phủ còn non trẻ, mức sống của người dân thấp có thể có nguyên nhân từ khả năng của chính phủ trong việc cung ứng hàng hóa công cộng Do vậy, doanh thu từ thuế nhập khẩu cao có thể giúp các nước này phát triển hệ thống phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, quốc phòng, ngăn ngừa bệnh dịch, cải thiện đời sống nhân dân Và do đó, về nguyên tắc, các chính phủ mới
có thể sử dụng thuế quan để tối đa hóa ích lợi xã hội, mà lợi ích này thậm chí cũng làm lợi cho
cả thế giới
1.3.1.3 Khắc phục những khuyết tật của thị trường
Lập luận về bảo hộ còn được đưa ra trên cơ sở khẳng định rằng thị trường trên thực tế là không hoàn hảo và còn tồn tại những khuyết tật Các khuyết tật này tạo ra sự khác biệt giữa chi phí cá nhân và chi phí xã hội của bảo hộ Khi xét đến chi phí xã hội của bảo hộ, các nhà kinh tế hường giả định rằng đường chi phí và lợi ích của xã hội cũng chính là đường chi phí và lợi ích cá nhân,
do đó, nhiều ngoại ứng tích cực của bảo hộ chưa được tính đến như: ảnh hưởng lan tỏa của các ngành được bảo hộ đến sự phát triển của các ngành khác ( công nghiệp hỗ trợ, các dịch vụ cung
Trang 10cấp cho người lao động xung quanh nhà máy, khu công nghiệp, ); ích lợi xã hội phụ của việc tạo thêm việc làm cho người lao động,
1.3.1.4 Khuyến khích sản xuất và tạo công ăn việc làm
Mục tiêu của bảo hộ là khuyến khích ngành sản xuất nội địa Đương nhiên, lý lẽ khuyến khích sản xuất sẽ được nhắc đến khi một quốc gia dựng lên hàng rào nhập khẩu Các doanh nghiệp khi thấy được nhiều lợi ích hơn trong sản xuất một mặt hàng sẽ tăng cường đầu tư vào ngành đó hơn Bên cạnh việc khuyến khích phát triển bản thân ngành được bảo hộ, sự phát triển của một ngành còn có tác dụng khuyến khích một số ngành khác phát triển như: công nghiệp hỗ trợ, các dịch vụ cung cấp cho người lao động xung quanh nhà máy, xí nghiệp,
Lý lẽ tạo công ăn việc làm thông qua việc bảo hộ bằng thuế quan không được các nhà kinh tế ủng hộ với lý do phân bổ nguồn lực không hiệu quả Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đặc biệt là khi chưa đánh giá hết về các ngoại ứng tích cực của việc phát triển một ngành thay thế hàng xuất khẩu, một số biện pháp phi thuế quan thực sự có tác dụng tạo công ăn việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp
1.3.2 Các lý lẽ phi kinh tế của bảo hộ
Các lập luận phi kinh tế ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ liên quan đến các mục tiêu phi kinh tế mà các quốc gia muốn theo đuổi Đó là: (i) Phân phối lại thu nhập; (ii) Vần đề an ninh quốc gia; (iii) Các lý lẽ khác
1.3.2.1 Phân phối lại thu nhập
Như đã phân tích trong phần đánh giá tác động của bảo hộ, thuế quan và nhiều công cụ bảo hộ khác có tác dụng phân phối lại thu nhập trong xã hội Thuếquan đánh vào hàng nhập khẩu xa xỉ
sẽ chuyển bớt thu nhập của người tiêu dùng giàu có vào ngân sách nhà nước Chính phủ có thể
sử dụng nguồn thu này để phát triển các chương trình phúc lợi cho người nghèo, phát triển kinh
tế nông thôn, và qua đó, giúp choviệc phân phối thu nhập trở nên bình đẳng hơn
1.3.2.2 Vấn đề an ninh quốc gia
Trang 11Lí lẽ về an ninh quốc gia được đưa ra trên cơ sở nhận định rằng nguồn cung cấp hàng hóa nước ngoài sẽ bị suy giảm trong thời gian có mâu thuẫn quốc tế Vì vậy, một quốc gia cần bảo vệ những ngành sản xuất các sản phẩm cần thiết để tự chủ các mặt hàng này Thêm vào đó, điều
gì sẽ xảy ra khi một nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào hàng nhập khẩu từ nước ngoài? Nguy
cơ trước hết và trực tiếp nhất là sự biến động thường xuyên của giá cả hàng hóa theo thị trường thế giới có thể ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định của nền kinh tế Thứ hai, sự lệ thuộc về kinh
tế có thể sẽ dẫn đến những sức ép về chính trị hoặc quân sự, nhất là đối với các nước đang phát triển
1.3.2.3 Các lý lẽ khác
Có nhiều lý lẽ khác giải thích cho việc đặt ra các hàng rào bảo hộ của các quốc gia: Một vài quốc gia có thể vì niềm kiêu hãnh, lòng tự hào dân tộc để hạn chế nhập khẩu và tự sản xuất trong nước, nhiều quốc gia dựng lên hàng rào nhập khẩu để trả đũa cho những chính sách bảo hộ của các nước khác trước đó, hoặc thậm chí trong nhiều trường hợp, lý do bảo hộ có nguồn gốc từ các vấn đề chính trị
Trang 12CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP NON TRẺ TẠI VIỆT NAM
2.1 Tổng quan tình hình bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ ở Việt Nam
Từ khi chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam phải thực hiện những cam kết khi tham gia hội nhập Theo một số đánh giá, mức thuế suất cuối cùng phải giảm 23% so với mức thuế suất bình quân hiện hành Thông thường mức thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu được xem như sự bảo hộ danh nghĩa cho các sản phẩm sản xuất trong nước Như vậy, một vấn đề đặt ra là mức bảo hộ hữu hiệu cho sản xuất trong nước sẽ như thế nào?
Ở Việt Nam, tỷ suất bảo hộ hữu dụng đối với sản xuất hàng hóa thương mại (cụ thể như hàng công nghiệp chế tạo) đã giảm đáng kể theo thời gian Nhưng mức độ bảo hộ hữu dụng vẫn còn cao hơn so với các nền kinh tế chính của Đông Á Hơn nữa, trong sự giảm tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa (NRP - nominal rate of protection) và tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP - effective rate of protection) gần đây, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa trung gian đóng vai trò quan trọng hơn nhiều so với việc giảm thuế đối với hàng hóa sau cùng
Ảnh hưởng đối trọng của các biện pháp được thực hiện nhằm xoa dịu sự thiên lệch chống xuất khẩu trong cơ chế chính sách thương mại (hoàn thuế nhập khẩu, ưu đãi thuế doanh thu và ưu đãi thuế thu nhập) có tầm vóc nhỏ hơn nhiều so với tác động tăng giá của cơ cấu thuế quan nhập khẩu hiện nay Vì thế, vẫn có sự thiên lệch chống xuất khẩu rõ ràng trong cơ cấu biện pháp khuyến khích, cho dù mức độ thiên lệch đã giảm đáng kể trong những năm gần đây Trớ trêu thay, những ngành hàng công nghiệp nhẹ như dệt may, gốm sứ, giày dép và hàng hóa thể thao, vốn là cái nôi khai sinh các doanh nghiệp xuất khẩu ở các nước Đông Á lại nằm trong số những ngành có sự thiên lệch chống xuất khẩu cao hơn bình quân (do thuế nhập khẩu rất cao)
Một số ngành công nghiệp non trẻ ở Việt Nam được Nhà Nước bảo hộ như ngành ô tô, ngành công nghiệp phần mềm, Dưới đây là phân tích hai ngành tiêu biểu trong các ngành công nghiệp non trẻ tại Việt Nam
2.2 Hai ngành công nghiệp non trẻ tiêu biểu tại Việt Nam
Trang 132.2.1 Ngành sản xuất và lắp ráp ô tô
2.2.1.1 Tổng quan tình tình bảo hộ của Nhà nước trong ngành sản xuất và lắp ráp ô tô
Tại Việt Nam, chính sách bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ đang được đẩy mạnh Ngành công nghiệp ô tô là điển hình, nước ta đang áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu (Import Substitution- IS) trong ngành sản xuất xe hơi
Trong quá trình phát triển kinh tế trước khi có thể bắt đầu sản xuất một số loại xe/ thiết bị của
xe mà Việt Nam phải nhập khẩu thời kỳ đầu, chính phủ cần áp dụng một số chính sách thích hợp nào đó để hạn chế nhập khẩu, thực tế là gây khó khăn cho việc nhập khẩu xe hơi nhằm tạo
cơ hội cho sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất xe hơi non trẻ trong nước Các chính sách
IS này có thể thực hiện thông qua các công cụ thuế quan hoặc phi thuế quan
Việt Nam cũng đang tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Theo một số nguồn tin, khi đàm phán xong, thuế nhập khẩu ô tô từ các nước thành viên TPP cũng sẽ giảm về mức 0% theo lộ trình 10 năm Trong khi đó, từ năm 2018, Việt Nam sẽ
mở cửa thị trường ô tô cho các nước khu vực ASEAN là thành viên AFTA, với thuế suất thuế nhập khẩu giảm về 0%, đã được công bố rộng rãi từ lâu và hầu hết mọi người đều biết đến Cũng chính từ thực tế này, các hãng lắp ráp xe ô tô kiến nghị lên chính phủ những chính sách mới có lợi cho xe lắp nhưng lại gây khó cho xe nhập Hệ quả lợi ích giữa các doanh nghiệp kinh doanh
xe nhập và xe lắp ráp càng tiến xa về hai cực, không tìm thấy điểm chung
Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành phân tích, "Triển vọng này khó xảy ra, bởi nếu người dân dễ mua xe hơi, Chính phủ sẽ lo lắng về lượng phương tiện tăng cao, lại đánh thêm
các thuế, phí để hạn chế" Trong khi đó, hãng lắp ráp yên tâm hơn khi mọi chính sách đều hướng tới bảo hộ ngành nội địa Tuy nhiên, về mặt kinh doanh thì ngay cả xe lắp ráp cũng khó
có cuộc cách mạng về giá, bởi lẽ mặt cạnh tranh lớn nhất của xe lắp ráp hiện nay so với xe nhập khẩu đó chính là giá cả rẻ hơn Nhưng chỉ là rẻ hơn so với xe nhập khẩu, hoàn toàn không rẻ đối với thu nhập người dân Việt Nam
2.2.1.2 Thành tựu đạt được
Trang 14Sau hơn 20 năm xây dựng, với những chính sách bảo hộ của Nhà nước, bước đầu Việt Nam đã
có một ngành công nghiệp “lắp ráp” ô-tô cung cấp một số phụ tùng cho sản xuất, lắp ráp ô-tô trong nước Quãng thời gian không phải ngắn, ngành công nghiệp ô-tô Việt Nam cũng đã quy
tụ được một số tập đoàn ô-tô lớn trên thế giới như Ford, Mercedes, Toyota… và cũng đã “hình thành” lên 18 doanh nghiệp FDI và 38 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất với năng lực khoảng 460 nghìn xe/năm, bao gồm đầy đủ các chủng loại xe con, xe tải, xe khách… Và ở mức
độ nào đó cũng đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu ô-tô trong nước theo mục tiêu đề ra mới chỉ về mặt số lượng
Bên cạnh đó, cũng cần ghi nhận thời gian qua, ngành công nghiệp này cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc lắp ráp ô-tô và sản xuất một số phụ tùng, linh kiện… Đây có lẽ sẽ là
“tiền đề quan trọng” cho việc xây dựng và phát triển ngành sản xuất - chế tạo ô-tô theo định hướng và quy hoạch trong tương lai Tuy nhiên, thực tế để ngành công nghiệp ô-tô phát triển theo những kế hoạch đã định quả thật cũng không phải đễ thực hiện trong một sớm một chiều Hiện chúng ta vẫn đang loay hoay trong quy hoạch, định hướng và phát triển Chúng ta vẫn chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hoá giữa các doanh nghiệp trong việc sản xuất, lắp ráp ô-tô và sản xuất phụ tùng linh kiện Và cũng chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn
Phát triển được các dòng xe bus và xe tải nhẹ Cho dến nay các dòng xe này đã đạt được
tỷ lệ nội địa hóa chấp nhận được
Phát triển một số thương hiệu ô tô Việt Nam như Trường Hải, Vinaxuki, phần lớn là xe bus, xe tải nhẹ, xe van,…
Nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất linh kiện phụ tùng xe cho hãng xe trong nước tạo công ăn việc làm cho người lao động với thu nhập ổn định cho 70000 nghìn lao động mỗi năm và đóng góp nguồn ngân sách quốc gia
2.2.1.3 Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu kể trên thì ngành còn tồn tại rất nhiều mặt hạn chế của các chính sách bảo hộ dẫn đến chưa phát huy được vai trò bảo hộ và phát triển ngành công nghiệp ô tô của nước nhà