1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận nhận định sau bằng số liệu thực tế của việt nam “tác động của tăng trưởng kinh tế của việt nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011 2017 rất nhỏ so với các giai đoạn trước”

31 212 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài luận này nhóm 4 sẽ làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo trong hai giai đoạn 1986-2010 và 2011- 2017 để thấy rằng nhận định cho rằng “Tác động của t

Trang 1

Chủ đề 4: Bình luận nhận định sau bằng số liệu thực tế của Việt Nam:

“Tác động của tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đến giảm nghèo giai

đoạn 2011-2017 rất nhỏ so với các giai đoạn trước”

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Trang 2

3

MỤC LỤC

A LỜI NÓI ĐẦU 5

B NỘI DUNG 6

I THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM 6

1 Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1986–2010 6

1.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986–2010 6

1.1.1 Giai đoạn 1986–1990 6

1.1.2 Giai đoạn 1991 – 2010 7

1.2 Thực trạng giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 1986-2010 9

1.2.1 Giai đoạn 1986–1990 9

1.2.2 Giai đoạn 1991 – 2010 9

1.3 Đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo 1986 – 2010 12

1.3.1 Dựa trên động thái thay đổi tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân và tỷ lệ nghèo 12 1.3.2 Dựa trên hệ số co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng GEP 13

1.3.3 Dựa trên chỉ số thu nhập IR 14

2 Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 15

2.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011–2017 15

2.2 Thực trạng giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2011-2017 16

2.3 Đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo 2011-2017 20

2.3.1 Dựa trên động thái thay đổi tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân và tỷ lệ nghèo 20 2.3.2 Dựa trên hệ số co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng GEP 21

2.3.3 Dựa trên chỉ số thu nhập IR 21

3 Nhận xét về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo của hai giai đoạn 21

II GIẢI PHÁP 25

1 Tạo môi trường tăng trưởng nhanh, bền vững và xóa đói giảm nghèo 25

1.1 Tạo môi trường pháp lý bình đẳng 25

1.2 Tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 25

1.3 Tạo môi trường xã hội hướng về trợ giúp người nghèo 26

2 Phát triển kết cấu hạ tầng 27

2.1 Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch 27

2.2 Xây dựng kết cấu hạ tầng quy mô lớn 27

Trang 3

4

2.3 Huy động nguồn lực 27

2.4 Bảo vệ môi trường 27

2.5 Tăng khả năng tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ kết cấu hạ tầng 27

3 Phát triển các ngành và các lĩnh vực theo hướng tăng trưởng cao và xóa đói giảm nghèo 28

3.1 Tạo cơ hội cho người nghèo tăng thu nhập 28

3.1.1 Phát triển nông nghiệp – nông thôn để xóa đói giảm nghèo trên diện rộng 28 3.1.2 Phát triển công nghiệp, đô thị để tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người nghèo 28

3.2 Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng 28

3.3 Phát triển mạng lưới an sinh xã hội 29

4 Huy động và phân bổ nguồn lực 29

4.1 Huy động nguồn đầu tư 29

4.2 Chi tiêu ngân sách 30

4.2.1 Chi vốn đầu tư từ Ngân sách 30

4.2.2 Chi thường xuyên từ Ngân sách 30

4.3 Chi cho xóa đói giảm nghèo 30

5 Tiếp tục thực hiện chiến lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo 31

5.1 Tổ chức thực hiện 31

5.2 Giám sát và đánh giá 31

III KẾT LUẬN 31

C TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 4

5

A LỜI NÓI ĐẦU

Trong các chương trình kinh tế - xã hội và các chiến lược phát triển kinh tế thì hầu hết các quốc gia đều nhấn mạnh vào việc tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh Nhưng có thật sự chỉ cần tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh thì nó sẽ là đầu tầu, kéo theo việc giải quyết các vấn đề cơ cấu kinh tế và các vấn đề xã hội khác?

Thực tế cho thấy rằng nhiều nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao nhưng những vấn đề về xã hội thì rất phức tạp, thu nhập bình quân tăng cao nhưng đời sống của nhân dân không được cải thiện, thậm chí còn thấp hơn Khoảng cách về giàu nghèo cũng ngày càng tăng thêm

Phát triển kinh tế bao gồm 3 nội dung: tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và phúc lợi cho con người Trong nội dung phúc lợi cho con người bao gồm 3 vấn đề: bất bình đẳng, đói nghèo và điều kiện sống khác Trong bài luận này nhóm 4 sẽ làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo trong hai giai đoạn 1986-2010 và 2011-

2017 để thấy rằng nhận định cho rằng “Tác động của tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đến giảm nghèo giai đoạn 2011-2017 rất nhỏ so với các giai đoạn trước” là chưa chính

xác và tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để phát triển kinh tế Để từ

đó có những biện pháp vừa tăng trưởng kinh tế nhanh mà còn nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, để từ đó có thể đưa ra được những chính sách phát triển toàn diện cho quốc gia trong những giai đoạn tiếp theo của tiến trình phát triển đất nước

Trang 5

Năm năm đầu (1986-1990) là giai đoạn chuẩn bị và đổi mới một cách từ từ theo

phương thức "vừa làm, vừa học hỏi, rút kinh nghiệm" Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng

kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới 3

chương trình phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được

đánh giá là thành công bước đầu nhằm cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN Năm 1988 nhập 450 nghìn tấn lương thực thì đến 1989 là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới với sản lượng 1.5 triệu tấn Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vu, giảm nông nghiệp

Giai đoạn 1986-1990: đây được xem là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế với mức tăng trưởng trung bình 4,7%/năm Kế hoạch 5 năm 1986-1990 đã chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất

8,7 8,1

8,8 9,5 9,3

8,2

5,8 4,8

6,8 6,9 7,1 7,3

7,8 8,4 8,2 8,5

6,31 5,32 6,78

Trang 6

7

1.1.2 Giai đoạn 1991 – 2010

Trong 5 năm (1991-1995), nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và tương đối toàn diện,làm tiền đề chuẩn bị cho công cuộc CNH – HĐH đất nước Năm 1992-1995 giai đoạn tăng trưởng nhanh với mức tăng trưởng bình quân 8,7%/năm

mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9,5% Trong giai đoạn từ 1991-1995 có hơn 1401

dự án FDI với tồng vốn đầu tư hơn 20 tỷ USD, bình quân xuất khẩu mỗi năm tăng 27%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng Siêu lạm pháp trong thời kỳ này đã được kiềm chế và đẩy lùi

Mười năm tiếp theo (1996-2005) là giai đoạn đổi mới theo chiều sâu và tương đối toàn diện Khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực (1997) và suy thoái kinh tế Mỹ (năm 2001) đã tác động nhất định đến tăng trưởng kinh tế của nước ta, mặc dù lúc đó độ mở của nền kinh tế Việt Nam chưa rộng Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 1992-1997 đạt 8,77%/năm Thời kỳ 1998-2001 chỉ tăng 6,05%/năm Việt Nam đứng vững trong cuộc khủng hoảng tài chính của khu vực Đông Nam Á và hồi phục lại trong giai đoạn 2001-

2005 với mức bình quân 7.65% Tuy không bị ảnh hưởng lớn bởi cuộc khủng hoảng nhưng Việt Nam vẫn chịu sự tác động tới một số lĩnh vực: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm mạnh cả về số mới đăng ký cũng như số đưa vào thực hiện (năm 1999 chỉ có 289 dự

án và 1,548 tỷ USD) Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế đều giảm sút

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã mở rộng được quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới: một trong số 25 thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp Tác Á-Âu (ASEM) Đặc biệt hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức được ký kết và có hiệu lực (2001) mang lại nhiều lợi ích to lớn: Mở cửa cho thị trường xuất khẩu Việt Nam vào Mỹ

với thuế suất thấp từ 40% còn lại 4% Hàng hoá Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng như

các nước khác Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng mạnh Cụ thể, kim ngạch xuất nhập khẩu cũng không ngừng tăng lên, năm 2001 đạt trên 15 tỷ USD xuất khẩu và trên 16

tỷ USD nhập khẩu, năm 2002 lần lượt là trên 16,5 tỷ và 19,3 tỷ USD Lạm phát tiếp tục giảm từ 2 con số xuống còn 1 con số Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng đã định, năm 2002 tỷ trọng nông nghiệp còn khoảng 23% GDP, công nghiệp đạt cao nhất 38,6% và dịch vụ 35,5%

Trong giai đoạn 2006-2010, với hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện đáng kể tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Nhiều nhà máy công nghiệp lớn, kỹ thuật cao, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp được ra đời và đi vào hoạt động hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở tất cả các vùng, miền trong cả nước Nhờ vậy, nền kinh tế trong giai đoạn này đã đạt được một số dấu hiệu tích cực:

Trong hai năm đầu (2006-2007) Việt Nam đã tiến thêm được một bước trên chặng đường phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Sang những năm cuối của thời kỳ kế hoạch, nhất là từ Quý II năm 2007 mặc dù lạm phát trong nước bắt đầu tăng cao,

Trang 7

8

tiếp đến là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động không thuận đến nền kinh tế nước ta, nhưng Việt Nam đã sớm vượt qua và vẫn giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng khá với mức tăng trưởng bình quân trong cả thời kì 2006-2010 khoảng 7%; mặt bằng kinh tế - xã hội được nâng lên đáng kể Điều này được chứng minh qua những chỉ tiêu trong một số lĩnh vực lớn như sau:

Thứ nhất, quy mô và năng lực sản xuất của các ngành đều tăng GDP (tính theo giá trị so sánh) năm 2010 gấp 2 lần so với năm 2000; (tính theo giá trị thực tế tính bằng đồng

đô la Mỹ) ước đạt trên 101 tỉ USD, gấp hơn 3,2 lần năm 2000 (31,2 tỉ USD); (theo giá thực

tế bình quân đầu người) ước khoảng 1.160 USD, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra là 1.050–1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp và trở thành nước có mức thu nhập trung bình Hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá

Thứ hai, cấu trúc kinh tế đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn sáng sủa hơn trong tầm nhìn dài hạn Giao lưu kinh tế quốc tế phát triển Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thời

kỳ 2006-2010 đạt 56 tỉ USD/năm, bằng 2,5 lần thời kỳ 2001-2005 và tăng 17,2%/năm Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng ngày càng tăng, từ 4 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD năm 2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010.Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA ngày càng tăng và có nhiều thuận lợi Vốn FDI thực hiện năm 2006 đạt 4,1 tỉ USD, năm 2007 đạt 8,0 tỉ, năm 2008 đạt 11,5 tỉ USD, chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu

tư toàn xã hội, cao hơn rất nhiều so với năm trước Năm 2009 và 2010, mặc dù vốn đăng

ký giảm nhưng vốn FDI thực hiện vẫn đạt 10 tỉ USD vào năm 2009 và khoảng 11 tỉ vào năm 2010 (tăng 157,5% so với năm 2006) Thời kỳ 2006-2010, FDI thực hiện tăng bình quân 25,7%/năm

Thứ ba, các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế trong những năm cuối kỳ kế hoạch Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân 5 năm ở mức khoảng 28% GDP, bội chi ngân sách bình quân chỉ 5,7% An ninh tài chính quốc gia được bảo đảm, ước tính đến cuối năm 2010 dư nợ chính phủ chiếm khoảng 44,5% GDP

Dư nợ ngoài nước của quốc gia so GDP ở mức an toàn cho phép Chính sách tiền tệ điều hành linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô Hệ thống ngân hàng thương mại có sự phát triển cả về quy mô và chất lượng tín dụng; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của hầu hết các ngân hàng đều đạt chuẩn mực quốc tế trên 8% Cán cân thanh toán quốc tế thặng dư khá cao trong những năm đầu của kỳ kế hoạch, còn 2 năm cuối (2009-2010) tuy có mức thiếu hụt, nhưng không bị phá vỡ cân đối

Thứ tư, tổng vốn đầu tư được huy động đưa vào phát triển kinh tế - xã hội 5 năm qua theo giá hiện hành đạt khoảng 3.062 nghìn tỉ đồng (tăng 14,4% so với kế hoạch) bằng 42,7% GDP, gấp hơn 2,5 lần so với 5 năm trước đó (2001-2005)

Trang 8

9

1.2 Thực trạng giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 1986-2010

Bảng: Tỷ lệ hộ nghèo phân bố theo thành thị, nông thôn và theo các vùng trên cả

nước giai đoạn 1986-2010

Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Lúc này nền kinh tế nước ta còn nhiều biến động, khủng hoảng, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ 15 đến 18-12-1986) đã đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong thập niên đầu

cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng trong thời kì đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đưa ra ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Kết quả là, từ chỗ thiếu ăn triền miên (năm 1988, năm ta phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo), đến năm 1990, chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân và thay đổi cán cân xuất - nhập khẩu

Đó là kết quả tổng hợp của việc phát triển sản xuất, thực hiện chính sách khoán trong nông nghiệp, xóa bỏ chế độ bao cấp, tự do lưu thông và điều hòa cung cầu lương thực thực phẩm trên phạm vi cả nước Sản lượng lương thực năm 1988 đạt 19,50 triệu tấn (vượt năm 1987 hơn 2 triệu tấn) và năm 1989 đạt 21,40 triệu tấn

1.2.2 Giai đoạn 1991 – 2010

Đầu thập niên 1990, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ

em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%) Ngay đầu năm 1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào xoá đói giảm nghèo Tổng bí thư Đỗ Mười khi đó rất quan tâm đến chương trình này, ông lo

Trang 9

tư cơ sở hạ tầng và sắp xếp lại dân cư; định canh định cư, di dân và kinh tế mới; hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc khó khăn ; hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo

Bên cạnh đó chương trình 135 cũng được ra đời nhằm hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn phát triển kinh tế xã hội, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng Chương trình 135 chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn I (1997-2006): Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch, nâng cao đời sống văn hóa

Giai đoạn II (2006-2010): Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương trình 135 Mục tiêu của chương trình: tạo chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường, cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước, đến năm 2010 trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%

Năm 2001, Chương trình 135 được sáp nhập với Chương trình 120 thành Chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2010 Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược toàn diện về tăng trưởng

và xoá đói giảm nghèo" Đây là chiến lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố Đến năm 2004, Chính phủ Việt Nam

áp dụng Chương trình 134 là chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

Nội dung chính của chiến lược xóa đói giảm nghèo 2001 – 2010 với mục đích đầu

tư hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo có tư liệu và phương tiện sản xuất, dịch vụ, nâng cao thu nhập; tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và mạng lưới an sinh xã hội; đảm bảo xóa đói giảm nghèo bền vững Chiến lược này chia làm 2 giai đoạn

Giai đoạn 2001 – 2005: bao gồm các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo,

xã nghèo và các dự án hỗ trợ trực tiếp xóa đói giảm nghèo

Trang 10

11

Giai đoạn 2006 – 2010: có 3 nhóm chính sách: Một là nhóm chính sách, dự án để tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập Hai là nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội Ba là nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức

Kết quả là giai đoạn 1990 đến 2010, cùng với các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, các chính sách xóa đói giảm nghèo đã được triển khai

và giành được những kết quả rất quan trọng, thành tựu xóa đói giảm nghèo đã góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Đây là một chương trình quan trọng nằm trong chương trình thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc Đảng, Nhà nước ta đã ban hành chính sách giảm nghèo kịp thời, đúng thực tiễn Năm 2010, Chương trình 135 giai đoạn 2 kết thúc, các mục tiêu cơ bản đã đạt được: giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30% và tăng thu nhập lên 3,5 triệu đồng/hộ/năm góp phần tạo nên diện mạo mới về kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số Những kết quả đó được Chính phủ và cộng đồng quốc tế ghi nhận của mô hình giảm nghèo ở Việt Nam

Bảng: Kết quả các chương trình, dự án giảm nghèo thực hiện

STT Chương trình, dự án Kết quả đạt được Chỉ tiêu đề ra

1 Tín dụng ưu đãi hộ

nghèo

Ước đạt 6,2 triệu lượt hộ vay;

bình quân 7-8 triệu VNĐ/hộ, đạt 103,3% kế hoạch

6 triệu lượt vay

3 Dạy nghề cho người

nghèo

Ước 4 năm dạy nghề miễn phí cho 150.000 người nghèo, đạt 100% kế hoạch 5 năm, 60% có việc làm

150.000 lượt người nghèo

4 Hỗ trợ khám chữa bệnh 4 năm có 52 triệu lượt người

nghèo được cấp thẻ BHYT, đạt trên 90%

100% người nghèo được cấp thẻ BHYT

5 Miễn, giảm học phí Ước 5 năm có 10 triệu học sinh

nghèo được miễn học phí; 2,8 triệu HS được cấp sách giáo khoa

Miễn, giảm học phí 19 triệu lượt

HS nghèo, trong

đó có 9 triệu HS tiểu học

Trang 11

8 Hỗ trợ xây dựng CSHT

xã đặc biệt khó khăn bãi

ngang ven biển, hải đảo

4 năm đã đầu tư xây dựng 2.000 công trình hạ tầng phục

vụ sản xuất ở 273 xã (ước 5 năm có khoảng 2.500 công trình)

2.500 công trình

1.3 Đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo 1986 – 2010

1.3.1 Dựa trên động thái thay đổi tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân và tỷ lệ

nghèo

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thay đổi nghèo được thể hiện trước hết qua mối quan hệ tương quan giữa tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và thay đổi

tỷ lệ nghèo, xảy ra 4 trường hợp:

TH1: Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người < tốc độ giảm nghèo

 Tăng trưởng vì người nghèo, có lợi hơn cho người nghèo, tức là tác động đồng thuận của tăng trưởng kinh tế đối với giảm nghèo là mạnh

TH2: Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người > tốc độ giảm nghèo

 Tăng trưởng kinh tế có làm cho tỷ lệ nghèo giảm nhưng ít hơn, tăng trưởng có lợi hơn cho người giàu

TH3: Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người = tốc độ giảm nghèo

 Tăng trưởng kinh tế có tác động đến giảm nghèo ở mức trung bình, thu nhập được tái phân phối đồng đều cho cả người giàu và người nghèo

TH4: Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp trong khi tỷ lệ nghèo tăng lên

 Tăng trưởng kinh tế đã “bần cùng hóa” thêm người nghèo

Bảng: Tốc độ tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 1986-2010

Năm

Tăng trưởng

Giảm nghèo Thu nhập

bình quân (USD/người)

Tốc độ tăng trưởng GDP/người (%)

Tỷ lệ nghèo đói (%)

Mức giảm so với năm trước (%)

Trang 12

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê

Dựa trên số liệu của bảng trên ta thấy được rằng giai đoạn 1986-2010 nước ta có tốc

độ tăng trưởng thu nhập lớn hơn so với tốc độ giảm nghèo Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân duy trì ở mức trung bình Trong khi đó tỷ lệ nghèo duy trì ở mức cao trong nhiều năm, mặc dù có xu hướng giảm đi nhưng tốc độ giảm nghèo trung bình của cả giai đoạn lại mang dấu âm Hay nói một cách khác mô hình tăng trưởng kinh tế đã làm bần cùng hóa thêm người nghèo

1.3.2 Dựa trên hệ số co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng GEP

Thước đo tốt nhất để thấy được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo chặt chẽ như thế nào là tính độ co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng kinh tế Độ co giãn này thể hiện bằng phần trăm thay đổi tỷ lệ nghèo khi có 1% tăng trưởng thu nhập đầu người

Công thức tính độ co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng như sau:

𝐺𝐸𝑃 = % tỷ lệ nghèo đói

% thu nhập bình quânViệc tính toán độ co giãn có thể cho kết quả âm hoặc dương và không ổn định theo thời gian

TH1: GEP > 0

 Tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ nghèo cùng chiều, tăng trưởng tăng làm đói nghèo tăng

và ngược lại, tốc độ tăng trưởng giảm làm giảm đói nghèo

TH2: GEP < 0

Trang 13

14

 Tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ nghèo ngược chiều, tăng trưởng kinh tế của quốc gia có lan tỏa tốt cho xóa đói giảm nghèo

Theo bảng “Tốc độ tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 1986-2010”

ta tính được hệ số co giãn của giảm nghèo đến tăng trưởng của giai đoạn 1986-2010 như sau:

GEP1=

14,2 − 31,631,6

4408 − 14531453

= −0,27

Như vậy, ở giai đoạn 1986-2010 khi có 1% thu nhập bình quân đầu người tăng thì

sẽ giảm 0,27 % tỉ lệ nghèo Hay nói một cách khác là tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ nghèo là ngược chiều nhau, trong trường hợp này tăng trưởng kinh tế của quốc gia có lan tỏa tốt cho xóa đói giảm nghèo

1.3.3 Dựa trên chỉ số thu nhập IR

Chỉ số này cho thấy sự tương quan giữa mức thu nhập bình quân chung và mức thu nhập bình quân của người nghèo Công thức tính cụ thể là:

IR =Mức thu nhập bình quân của người nghèo

Mức thu nhập bình quân của toàn xã hội 𝑥 100

IR cho biết ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đối với đời sống của những hộ nghèo Nếu IR càng cao thì chứng tỏ thu nhập của người nghèo càng gần với mức thu nhập bình quân chung của toàn xã hội, hay nói một cách khác tác động của tăng trưởng kinh tế đối với giảm nghèo là tích cực

Bảng: Thu nhập bình quân đầu người của toàn xã hội và người nghèo giai

đoạn 1986-2010

Đơn vị: USD/người/năm

Năm Thu nhập bình quân đầu người Chỉ số thu nhập

Toàn xã hội Người nghèo

Trang 14

Kể từ khi Chính phủ triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp mạnh mẽ, kiên trì

về ổn định kinh tế vĩ mô (KTVM) và tái cơ cấu nền kinh tế, từ năm 2011 đến nay, tăng trưởng kinh tế từng bước phục hồi Năm 2017, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt mức 6,81%, mức cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây Theo Tổng cục Thống kê, GDP năm

2017 cao hơn nhiều so với các năm từ 2011-2016 Trong đó, năm 2011, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam tụt giảm xuống mức 5,89%, lạm phát trong đà tăng cao 20%, vì vậy

Trang 15

16

chính phủ quyết định thực hiện chế độ thắt chặt tiền tệ Nhưng năm 2012 do tác động của chính sách này đã làm suy giảm nền kinh tế, trong đó nợ xấu và hàng tồn kho đặc biệt tăng cao, tăng trưởng chỉ ở mức 5,25% Nhìn chung giai đoạn 2011-2015 nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng thấp 5,88%, đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay

Tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam giai đoạn 2016-2017 vẫn cho thấy sự thiếu bền vững Năm 2016, mức tăng trưởng GDP giảm nhẹ so với năm 2015 (6.68%) xuống còn 6,21%, năm 2017 tăng trưởng vượt kế hoạch 6,7% nhưng vẫn chỉ ở mức thấp

là 6,8%

Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được thể hiện ở cả ba khu vực: Nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng (CNXD) và dịch vụ Khu vực CNXD có dấu hiệu lấn át khu vực nông nghiệp và dịch vụ trong giai đoạn 2014-2016 Từ giữa năm

2016, dịch vụ có xu hướng tăng cao hơn CNXD và nông - lâm - thủy sản Năm 2016, khu vực nông - lâm - thủy sản chỉ tăng 1,3%, mức thấp nhất kể từ năm 2011 Năm 2017, mặc

dù GDP nông - lâm - thủy sản đã tăng lên mức 2,9% song vẫn tiếp tục đối mặt với cạnh tranh, giá giảm và thiếu thị trường tiêu thụ Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp đang có xu hướng chậm lại, từ trung bình 14,3%/năm của giai đoạn 2006-2010 giảm xuống 10%/năm trong giai đoạn 2011-2015, 7,57% năm 2016 và năm 2017 tăng 7,85% so với cùng kỳ năm 2016

Tăng trưởng xuất nhập khẩu (XNK) giai đoạn 2016-2017 đang là điểm sáng tích cực của nền kinh tế Đơn cử, năm 2017, tổng trị giá XNK hàng hoá của Việt Nam đạt gần 424,87 tỷ USD, tăng 20,9% so với năm 2016; trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt 213,77

tỷ USD, tăng 21,1% và tổng trị giá nhập khẩu đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8%

2.2 Thực trạng giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2011-2017

Bảng: Tỷ lệ hộ nghèo phân bố theo thành thị, nông thôn và theo các vùng trên cả

nước giai đoạn 2011-2017

Ngày đăng: 25/02/2019, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w