Các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm quốc tế Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của cácsản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: - Giai đoạ
Trang 1BÀI TẬP CÁ NHÂN
ĐỀ TÀI:
ĐỊNH NGHĨA CHU KỲ SỐNG CỦA SẢN PHẨM QUỐC TẾ VÀ SỰ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN NHƯ
VIỆT NAM - TẬP ĐOÀN CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN
GVHD : PGS.TS NGUYỄN THỊ NHƯ LIÊM
KHÓA :
SV THỰC HIỆN :
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 10 năm 2018
Trang 3QUỐC TẾ (Internatinal Product Life Cycle Theory) 1
1.1 Chu kỳ sống sản phẩm theo khái niệm truyền thống 1
1.2 Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế 1
1.2.1 Khái niệm 1
1.2.2 Các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm quốc tế 2
1.2.3 Ý nghĩa và tính hiệu lực của lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế 6
1.2.4 Hạn chế của lý thuyết 8
1.2.5 So sánh chu kỳ sống sản phẩm quốc tế và chu kỳ sống sản phẩm quốc gia (IPLC và NPLC: National Product Life Cycle) 8
1.2.6 Khả năng kinh doanh theo chu kỳ sống sản phẩm của các nước đang phát triển 9 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHU KỲ SỐNG SẢN PHẨM QUỐC TẾ ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN TRUNG NGUYÊN 11
2.1 Giới thiệu về Tập Đoàn Trung Nguyên 11
2.1.1 Lịch sử hình thành 11
2.1.2 Sản phẩm chủ yếu 11
2.1.3 Hệ thống nhà máy 12
2.1.4 Nhượng quyền thương hiệu 12
2.1.5 Chứng nhận và danh hiệu 13
2.2 Phân tích chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế đối với Tập Đoàn Trung Nguyên15 2.2.1 Đặc điểm của ngành cà phê 15
2.2.2 Tầm quan trọng của ngành cà phê 16
2.2.3 Thực tế học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế của sản phẩm cà phê hòa tan G7 trong Tập đoàn Trung Nguyên 23
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ VỀ CHU KỲ SỐNG SẢN PHẨM QUỐC TẾ CỦA TẬP ĐOÀN TRUNG NGUYÊN 28
Trang 5I CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHU KỲ SỐNG (VÒNG ĐỜI) CỦA
SẢN PHẨM QUỐC TẾ (Internatinal Product Life Cycle Theory)1.1 Chu kỳ sống sản phẩm theo khái niệm truyền thống
Chu kỳ sống của một sản phẩm tại thị trường nội địa hoặc tại một thị trường nhất địnhnào đó thường thì có 4 giai đoạn:
GĐ1 Giới thiệu là giai đoạn sản phẩm đang được đưa vào thị trường Trong giai đoạn
này doanh số tăng trưởng chậm, chưa có lợi nhuận vì phải chi phí nhiều cho việc giớithiêu sản phẩm ra thị trường
GĐ2 Phát triển là giai đoạn sản phẩm được thị trường tiếp nhận nhanh chóng và lợi
nhuận tăng lên đáng kể
GĐ3 Sung mãn là giai đoạn doanh số tăng chậm lại, vì sản phẩm đã được hầu hết khách
hàng tiềm năng chấp nhận Lợi nhuận ổn định hoặc giảm xuống vì tăng chi phí marketing
để bảo vệ sản phẩm chống lại các đối thủ cạnh tranh
GĐ4 Suy tàn là giai đoạn doanh số có xu hướng giảm sút và lợi nhuận giảm dần.
1.2 Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
1.2.1 Khái niệm
Theo Raymond Vernon vào năm 1966 đã phát triển một thuyết mới, theo một hướng kháchẳn là “Thuyết chu kỳ sản phẩm” Học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế của Vernonliên quan đến các giai đoạn sản xuất của sản phẩm với những bí quyết sản xuất mới Sảnphẩm được sản xuất đầu tiên tại công ty mẹ, sau đó là tại công ty con và cuối cùng là ởnơi nào đó trên thế giới có chi phí thấp nhất
Khái niệm : Chu kỳ sống (vòng đời) sản phẩm quốc tế là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường, kể từ khi sản phẩm thâm nhập thị trường cho đến khi bị loại bỏ khỏi thị trường nước ngoài.
Trong kinh doanh quốc tế thì các thị trường khác nhau sẽ có chu kỳ sống của sản phẩmkhác nhau, nếu có thương mại quốc tế thì sẽ kéo dài chu kỳ sống sản phẩm và có lợi hơn
Trang 6Học thuyết giúp giải thích lý do một sản phẩm bắt đầu như là một quốc gia xuất khẩu vàkết thúc là trở thành một quốc gia nhập khẩu Học thuyết tập trung vào sự mở rộng thịtrường và đổi mới kỹ thuật, những khái niệm đó không nhấn mạnh trong học thuyết lợithế so sánh
Học thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế có hai nguyên lý quan trọng:
- Kỹ thuật là một yếu tố quan trọng để sáng tạo và phát triển sản phẩm mới;
- Qui mô và cấu trúc thị trường là quan trọng trong việc quyết định mô hình thương mại
1.2.2 Các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm quốc tế
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của cácsản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là:
- Giai đoạn sản phẩm mới: đây là giai đoạn sản phẩm được cải tiến và độc đáo trong một
số thuộc tính Sự đổi mới đòi hỏi lao động kỹ năng cao và lượng tư bản lớn để nghiêncứu và phát triển, và sản phẩm thường được thiết kế và sản xuất ban đầu gần công ty mẹ
và thị trường công nghiệp hoá cao Trong giai đoạn này, sản phẩm chưa được tiêu chuẩnhoá và quá trình sản xuất đòi hỏi mức độ linh hoạt cao Nhà sản xuất sẽ giữ vị trí độcquyền với lợi nhuận biên cao, độ đàn hồi giá của nhu cầu thì thấp, vì người tiêu dùng thunhập cao sẽ mua không chú ý đến giá Hầu hết các sản phẩm mới được phát triển và sảnxuất đầu tiên ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn( các nước tiên tiến) Nguyênnhân chủ yếu của tình hình này là một số lượng lớn người tiêu dùng có thu nhập cao, cómong muốn về các sản phẩm mới và nguồn cung ứng phong phú những công nhân kỹthuật có trình độ chuyên môn cao tạo ra một lợi thế tương đối về năng lực R & D Tronggiai đoạn này hàng hoá được tiêu dùng trong nước và nhu cầu trên thị trường ít đàn hồi sovới giá, thiết kế và sản xuất hàng hoá vẫn ở giai đoạn thử nghiệm nên nơi nghiên cứu vànơi sản xuất cần phải liên hệ chặt chẽ, thường xuyên
- Giai đoạn sản phẩm chín muồi: khi sản xuất mở rộng, quá trình của nó ngày càng tiêu
chuẩn hoá, nhu cầu linh hoạt trong thiết kế và sản xuất giảm dần, nhu cầu lao động kỹnăng cao giảm Doanh nghiệp tăng lượng bán sang các quốc gia khác và bị cạnh tranh bởicác sản phẩm khác biệt chút ít, làm giảm áp lực về giá và lợi nhuận biên, chi phí sản xuất
Trang 7ngày càng được quan tâm Trong giai đoạn này, xuất khẩu gia tăng, tuy nhiên trong lúcnày những đối thủ cạnh tranh ở những quốc gia khác sẽ thực hiện phát triển sản phẩmthay thế để đổi chỗ sản phẩm đầu tiên cho sản phẩm của họ Sự giới thiệu những sảnphẩm thay thế và sự mềm dẻo của nhu cầu đối với sản phẩm đầu tiên sẽ làm cho công typhát triển sản phẩm đầu tiên giờ đây phải thay đổi chiến lược từ sản xuất đến bảo vệ thịtrường Sự chú ý cũng sẽ tập trung vào việc sẵn sàng cung ứng cho những thị trường ởcác nước kém phát triển hơn.
- Giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa: sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tiêu chuẩn hoá,
quốc gia sản xuất chỉ đơn giản là quốc gia với lao động không kỹ năng rẻ nhất, lợi nhuậnbiên ít, cạnh tranh gay gắt Nghĩa là, kỹ thuật trở nên phổ biến và có thể tiếp xúc Sảnxuất có hướng dịch chuyển sang những nước có chi phí thấp, gồm những nước kém pháttriển Công ty cũng cố gắng tạo sự khác biệt sản phẩm và ngăn cản cạnh tranh giá giatăng khi giá là yếu tố quyết định của nhu cầu
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất
ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu,
ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhậpkhẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa
vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị
trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất
hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn
đến sự hình thành FDI
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩnhóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiềunhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhàcung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sảnxuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước chophép chi phí sản xuất thấp hơn
Mỗi quốc gia khác nhau đều có những nhu cầu khác nhau về từng giai đoạn trong chu kỳsống của sản phẩm Và mỗi giai đoạn sản phẩm ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có các
Trang 8quãng thời gian kéo dài khác nhau Một sản phẩm có thể đang ở giai đoạn suy thoái tạithị trường nội địa, nhưng cùng sản phẩm đó có thể lại đang ở giai đoạn giới thiệu tại quốcgia A, hoặc đang ở giai đoạn tăng trưởng tại quốc gia B, giai đoạn trưởng thành tại quốcgia C Hơn nữa, một sản phẩm mới thường có giai đoạn giới thiệu ở thị trường nội địatrước
Nội dung của học thuyết:
Nội dung của học thuyết được tóm tắt như sau:
- Giai đoạn I: Nước phát minh vừa là nước sản xuất vừa là nước xuất khẩu Giai đoạn nàygiá cả rất đắt, các nước phát triển là nước nhập khẩu, các nước đang phát triển khó có khảnăng tiếp cận, nếu có nhập khẩu thì rất ít
- Giai đoạn II: Nước phát minh giảm sản xuất và dịch chuyển sang các nước phát triểnhoặc đang phát triển Nước phát triển giảm nhập khẩu, tăng sản xuất Các nước đang pháttriển bắt đầu tiếp cận với sản phẩm nhưng chỉ thuần là nhập khẩu
- Giai đoạn III: Nước phát triển sản xuất sản phẩm không những đã đáp ứng nhu cầutrong nước mà còn xuất khẩu Nước phát minh không còn sản xuất nữa mà nhập khẩu đểtiêu thụ trong nước Việc sản xuất đã bắt đầu dịch chuyển sang các nước đang phát triển
- Giai đoạn IV: Đây là giai đoạn sản phẩm ở mức độ tiêu chuẩn hóa Kỹ thuật trở nên phổbiến, nhiều nhà cung cấp, giá rẻ Sản xuất có hướng dịch chuyển sang những nước có chi
Nước phát triển
Nước đang phát triển
Trang 9phí thấp, gồm những nước kém phát triển Giai đoạn này, nước đang phát triển là nướcsản xuất và xuất khẩu, nước phát minh và nước phát triển là nước nhập khẩu.
Thế nhưng trong thực tế lại có những trường hợp ngược lại
VD: Các nhà sản xuất TV màu của Nhật đã xuất khẩu sản phẩm này sang nước Mỹ trướckhi marketing trong nước Tương tự hãng Hitachi đã xuất khẩu các đĩa, Video sang Mỹtrước khi bán chúng ở Nhật
Như vậy cùng một sản phẩm nhưng có khả năng cùng một lúc có nhiều giai đoạn của chu
kỳ sống khác nhau trên thị trường thế giới Sự khác biệt này sẽ tạo ra nhiều khó khăn đốivới nhà quản lý, đặc biệt là một sản phẩm có trên 2 giai đoạn của chu kỳ sống ở cùng mộtthời điểm, lúc đó việc thực hiện chính sách sản phẩm quốc tế rất phức tạp bởi vì sẽ có sựkhác nhau về các mức độ quảng cáo, cạnh tranh, chính sách giá cả
Ðối với tất cả các loại công ty, từ công ty xuất khẩu nhỏ nhất đến công ty xuất khẩu đaquốc gia lớn nhất, chính sách sản phẩm được quan tâm ở mọi cấp quản lý Mặc dù nhữngnhà lãnh đạo cao nhất phải đưa ra những quyết định về sản phẩm, nhưng trong thực tế họphải dựa vào bộ phận marketing quốc tế để có được những thông tin, như thông tin vềphân tích nhu cầu của thị trường, để thiết kế sản phẩm cũng như đưa ra các quyết định có
liên quan đến những đặc tính của sản phẩm, dãy sản phẩm (product line), hệ sản phẩm (product mix), nhãn hiệu, bao bì….
Vấn đề này càng trở nên cực kỳ phức tạp đối với việc điều hành một công ty đang thâmnhập hàng hóa ở nhiều thị trường nước ngoài khác nhau Khách hàng ở mỗi quốc giakhác nhau sẽ có những nhu cầu đòi hỏi khác nhau, do đó việc thực hiện chính sách sảnphẩm quốc tế như thế nào cho phù hợp vừa là một sự cần thiết vừa vô cùng khó khăn, ví
dụ như 5 quốc gia cùng ở Châu Âu (Anh, Ý, Ðức, Pháp, Thụy Ðiển) nhưng có các yêucầu khác nhau về loại máy giặt sử dụng cho gia đình: tự động hay bán tự động, chiều cao,chiều rộng ra sao, sử dụng nước nóng, nước lạnh hay nước bình thường
Trang 10Tóm tắt chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế:
Các đối thủ trong thịtrường nội địa
Rất cao, do qui môsản xuất còn nhỏ
Doanh nghiệp của cácnước phát minh cạnhtranh với nhau và cácdoanh nghiệp khác ởcác nước phát triển
ổn định, cuối phanày doanh nghiệpnước phát minh tiếnhành chuyển giaocông nghệ sang nướccông nghệ mới
Doanh nghiệp của cácnước cạnh tranh vớidoanh nghiệp thuộcnhóm công nghệ mới
Giảm mạnh do có sựtham gia của cácnước đang phát triển
Tăng vì phải quản lýchặt chẽ hơn
1.2.3 Ý nghĩa và tính hiệu lực của lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế
Xét về khía cạnh lịch sử, lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm dường như là một sự giảithích khá chính xác các mô hình trao đổi trong thương mại quốc tế Mô hình này khái
Trang 11quát trình tự từ khâu nghiên cứu và phát triển tới khâu sản xuất và tiêu thụ một sản phẩmmới sẽ:
Diễn ra tuần tự từ nước phát triển cao chuyển sang các nước phát triển thấp hơn tới cácnước đang phát triển theo xu hướng tìm tới địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn
Chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế áp dụng phổ biến cho các sản phẩm công nghiệpđặc biệt là những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao
Chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế kéo dài hơn chu kỳ sống của sản phẩm quốc gia
Trong chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế chuyển giao công nghệ diễn ra từ nước phátminh sang nước phát triển khác và từ nước phát triển qua những nước đang phát triển
Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế cho phép giải thích vì sao các nhà sảnxuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ chỗ xuất khẩu sang thực hiện đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài
Thuyết chu kỳ của sản phẩm quan trọng nhất ở điểm nó giải thích đầu tư quốc tế.Thuyết này nhận ra được tính linh động của vốn qua các quốc gia, bác bỏ giả định truyềnthống về sự không linh hoạt của các yếu tố, nó chuyển tâm điểm chú ý từ quốc gia sangsản phẩm Điều này làm cho việc phối hợp giữa sản phẩm theo giai đoạn trưởng thànhsang các địa điểm sản xuất, để xác định năng lực cạnh tranh
Học thuyết này giải thích cho chúng ta rõ vì sao hơn 25 năm đổi mới, mở cửa, hộinhập nước ta vẫn còn tiếp nhận những công nghệ cũ, lạc hậu từ nguồn vốn FDI Việc cácdoanh nghiệp FDI mang công nghệ thấp vào nước ta, hay việc chính các doanh nghiệpnước ta mua công nghệ thấp hoàn toàn không phải vì phía nước ngoài biến ta thành bãirác công nghệ, hay các doanh nghiệp nước ta quá kém cỏi trong việc lựa chọn công nghệ.Khi đầu tư, các doanh nghiệp phải giải bài toán sau: sử dụng công nghệ rất hiện đạinhưng cực đắt, tức là khấu hao tính trên mỗi sản phẩm rất cao, cộng với chi phí nhâncông không đáng kể do sử dụng ít nhân công, thì sản phẩm có giá thành thế nào, tỷ suấtlợi nhuận ra sao so với sử dụng công nghệ thấp, giá rẻ, khấu hao trên mỗi sản phẩm thấp,cộng với chi phí nhân công nhiều hơn Tính toán và thực tiễn kinh doanh cho thấy
Trang 12phương án sử dụng công nghệ thấp thường là có hiệu quả kinh tế hơn, và đó là lý do củaviệc sử dụng công nghệ thấp ở các nước nghèo trong giai đoạn đầu phát triển
Thuyết chu kỳ sản phẩm nối liền khoảng cách lớn lao giữa các lý thuyết thương mại cổđiển, và các thách thức tri thức của một thị trường cạnh tranh toàn cầu với các dòng vốn,công nghệ, thông tin và doanh nghiệp đều thay đổi linh hoạt
Lý thuyết này dự đoán những sản phẩm không phổ dụng với những tiềm năng pháttriển cao thường có sự tăng lên trong sự sản xuất
1.2.4 Hạn chế của lý thuyết
Không lý giải được đầu tư của Châu Âu sang Mỹ
Không phân biệt được các hình thức phát minh khác nhau
Không nhất thiết các giai đoạn khác nhau phải diễn ra tuần tự trong một khoảng thờigian quá ngắn
Thích hợp nhất với các sản phẩm dựa trên công nghệ, có quy trình sản xuất thay đổikhi sản phẩm phát triển và bão hòa, còn các sản phẩm dựa trên tài nguyên hay dịch vụ,thì không dễ dàng xác định các giai đoạn trưởng thành
Thuyết này liên quan nhất tới các sản phẩm dễ dàng sản xuất đại trà lực lượng laođộng trẻ
1.2.5 So sánh chu kỳ sống sản phẩm quốc tế và chu kỳ sống sản phẩm quốc gia (IPLC
và NPLC: National Product Life Cycle)
Giống nhau: So với chu kỳ sống sản phẩm quốc gia, giữa IPLC và NPLC cũng có điểm
chung nhất, đó là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường (thâm nhập, pháttriển, chín muồi, suy thoái)
Trang 13Thị trường trong nước (nội
địa)
Các giai đoạn
Gồm 5 pha:
- Pha 0: Đổi mới trong nước
- Pha 1: Đổi mới ngoài nước
- Pha 2: Tăng trưởng và chinmuồi
- Pha 3: Bắt chước khắp nơi
- Pha 4: Đổi mới ngược chiều
Thời gian tồn tại
Thời gian tồn tại của IPLC làrất dài bởi nó có sự di chuyển
từ nước này tới nước khác theophạm vi hoạt động về khônggian địa lý và văn hóa của bảnthân công ty quốc tế hay công
ty toàn cầu
Vòng đời sản phẩm ngắn haydài phụ thuộc vào:
- Nhu cầu của người tiêu dùng
- Bản thân sản phẩm đó
- Các yếu tố môi trường
- Công dụng của sản phẩmthay thế
Hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh mang lại
từ IPLC là rất lớn, trước hết chonước khởi xướng sản phẩm mới
Nhỏ hơn so với IPLC
1.2.6 Khả năng kinh doanh theo chu kỳ sống sản phẩm của các nước đang phát triển
Theo chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế thì các nước đang phát triển:
Trong pha 1 và 2, các nước đang phát triển chủ yếu:
- Xuất khẩu nguyên vật liệu thô và lao động với giá tương đối thấp
Trang 14- Nhập khẩu sản phẩm với giá rất cao và chưa có khả năng kinh doanh sản phẩm quốc tế.Công nghệ chuyển giao quá cao làm khả năng của các nước đang phát triển bị hạn chế.
Trong giữa cuối pha 3:
- Nhận chuyển giao công nghệ và thiết bị với giá rẻ chi phí phát triển sản phẩm thấp
và tỷ lệ rủi ro của việc phát triển sản phẩm thấp
- Lao động ít kỹ năng được sử dụng nhiều làm chi phí thấp
- Tốn nhiều chi phí để sản xuất do sản xuất đại trà và thời gian dài
- Cạnh tranh cao về giá cả sản phẩm
- Khếch trương, quảng cáo, chiêu thị sản phẩm để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm (và giớithiệu sản phẩm mới ở các nước này)
- Có khả năng xuất khẩu đến các nước phát triển
Đối với những loại sản phẩm có giai đoạn chín muồi lâu dài thì khả năng kinh doanh của cácnước đang phát triển cao nhưng do sự cạnh tranh cao nên cần đòi hỏi phải đổi mới liên tụcsản phẩm nhằm tăng mức tiêu thụ tăng doanh thu và tăng lợi nhuận
- Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
- Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm sang các nước kém phát triển nhất, hoặc đầu tư sản xuấttại chỗ nhằm giảm chi phí và giá bán cạnh tranh
- Chi phí đơn vị thấp Giá bán thấp Doanh thu cao nên lợi nhuận cao Vì vậy, đốivới các nước đang phát triển trong giai đoạn này cần sử dụng chu kỳ rút gọn (trong chu
kỳ sống sản phẩm đặc biệt)
Trang 15CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHU KỲ SỐNG SẢN PHẨM QUỐC TẾ ĐỐI
VỚI TẬP ĐOÀN TRUNG NGUYÊN2.1 Giới thiệu về Tập Đoàn Trung Nguyên
2.1.1 Lịch sử hình thành
Ngày 16/06/1996 Trung Nguyên được thành lập tại thành phố Buôn Ma Thuột
Ngày 20/08/1998 Cửa hàng đầu tiên khai trương tại TP HCM
Năm 2000 Trung Nguyên có mặt tại Hà Nội, triển khai mô hình nhượng quyền
Năm 2001 Công ty Nhượng quyền thành công tại Nhật Bản
Tháng 9/2002: Nhượng quyền thành công tại Singapore
Ngày 23/11/2003 Nhãn hiệu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên ra đời
Năm 2008 Công ty thành lập văn phòng tại Singapore
Năm 2012 Trung Nguyên trở thành thương hiệu cà phê được người tiêu dùng Việt Namyêu thích nhất
Năm 2014 Trung Nguyên ra mắt Đại siêu thị cà phê - càfe.net.vn
- Cà phê rang xay
- Nhóm sản phẩm rang xay phổ thông
- Nhóm sản phẩm sáng tạo 1, 2, 3, 4, 5
Trang 16- Nhà máy cà phê hòa tan Trung Nguyên (Dĩ An - Bình Dương) Nhà máy có diện tích 3
ha Toàn bộ dây chuyền thiết bị, công nghệ của nhà máy được sản xuất, chuyển giao trựctiếp từ FEA s.r.l - công ty chuyên chế tạo thiết bị chế biến thực phẩm và cà phê hòa tancủa Ý
- Nhà máy cà phê Trung Nguyên được khánh thành ngày 20/5/2005, chế biến cà phê rangxay
- Nhà máy Bắc Giang, nhà máy cà phê hòa tan lớn nhất châu Á Nhà máy được chia làm
2 giai đoạn, giai đoạn đầu tập trung chế biến và đóng gói thành phẩm cà phê hòa tan G7.Giai đoạn hai là đầu tư hệ thống công nghệ chế biến để đáp ứng sự tăng trưởng của thịtrường xuất khẩu
2.1.4 Nhượng quyền thương hiệu
- Công ty cổ phần Trung Nguyên Franchising được thành lập năm 2011 để quản lý chuỗi
không gian cà phê Trung Nguyên
- Làng cà phê Trung Nguyên hay còn được gọi là làng Cà phê là một cụm công trìnhkiến trúc có diện tích khoảng 20.000m2, nằm ở phía Tây Bắc thành phố Buôn Ma Thuột,tỉnh Dak Lak Xuất phát từ ý tưởng tạo lập tại Việt Nam một "thủ phủ cà phê toàn cầu"của Đặng Lê Nguyên Vũ, sau nhiều năm xây dựng, làng cà phê đã hoàn thành vào tháng
12 năm 2008