NHÓM III : NHÓM NHUYỄN THỂ Danh mục các loại thủy sản nước lợ và nước mặn Việt Nam được biên soạn nhằm: Giới thiệu tính đa dạng và phong phú các loài nuôi có phân bố ở biển VN, giúp người nuôi phân biệt các loại để lựa chọn giống nuôi thích hợp
Trang 1C - Nhóm nhuyễn thể Các loài đang được nuôi ở Việt nam
Vỏ có dạng hình tứ giác Vỏ phải nhỏ, tương đối bằng phẳng Vỏ trái lớn
hơn và lõm sâu Mép lưng thẳng, mép bụng cong hình vòng cung, tai sau lớn hơn
tai trước Các phiến sinh trưởng ở vùng gần mép vỏ xếp chồng lên nhau và ít
nhiều bẻ ngược ra ngoài Mặt ngoài vỏ màu vàng nhạt có xen lẫn vân màu tím
đen Mặt trong của vỏ láng óng ánh kim loại bạc Cá thể lớn vỏ dài 60 – 65mm,
cao 70 – 75mm, rộng 22 – 25mm
Phân bố :
Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam (phân bố nhiều ở Vịnh Hạ Long, Khánh
Hoà, Bình Thuận)
Đặc điểm môi trường sống :
Trai ngọc trắng sống bám trên các cá thể, rạn san hô, đá ngầm có nhiệt độ
Trang 2* Trọng lượng buồng trứng bằng 10 ữ 15% trọng lượng ruột trai
* Tuổi thành thục của trai 1 ữ 2 năm, khối lượng khi thành thục :
Trai đực từ 50 ữ 100 gram Trai cái từ 80 ữ 100 gram
* Số lượng trứng mỗi lần đẻ : 1 ữ 3 vạn
* Tỷ lệ thụ tinh đạt 70 ữ 90%
* Tỷ lệ nở so với trứng thụ tinh 70 ữ 80%
Giá trị kinh tế :
Trai ngọc trắng được nuôi để sản xuất ngọc trai nhân tạo Hạt ngọc trai có
giá trị từ 1 –2 USD Ngoài ra mặt trong của vỏ có thể dùng làm đồ trang sức, mỹ
nghệ …
Tình hình nuôi :
Nuôi trai để sản xuất ngọc trai đòi hỏi kỹ thuật cao và đầu tư lớn ở Việt
Nam các công ty liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn nước ngoài của Nhật Bản,
Australia đang nuôi nhiều ở Quảng Ninh, Khánh Hoà, Phú Quốc Một số hộ gia
đình ở Quảng Ninh cũng nuôi trai cấy ngọc nhưng ở quy mô rất nhỏ, chủ yếu là
nuôi trai bán nguyên liệu để cung cấp cho các công ty nước ngoài
ảnh: V.Toàn sưu tầm
Nuôi trai ngọc Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)
Trang 340 – trai ngọc môi vàng
Tên gọi :
* Khoa học : Pinctada maxima (Jameson, 1901)
* Tiếng Anh : Golden lip pearl Oyster / Yellow lip pearl oyster
* Tiếng Việt : Trai Ngọc Môi Vàng
ảnh: Vũ Toàn sưu tầm
Hình thái và cỡ :
Là loài trai ngọc có cơ thể lớn nhất Vỏ gần như hình tròn, dẹp hai bên
Tai trước vỏ rõ ràng, tai sau sát liền với vỏ nên khó phân biệt Các phiến sinh
trưởng sắp xếp thưa Mặt ngoài vỏ có màu vàng nâu, mặt trong vỏ óng ánh kim
loại bạc Cá thể trưởng thành xung quanh mép vỏ có màu vàng Kích thước: cá
thể trưởng thành có chiều cao vỏ từ 20 – 25cm (lớn nhất 30cm), chiều dài vỏ 15
– 20cm, rộng 3 – 4cm
Vùng phân bố:
Tây Bắc úc, Đài Loan, Malayxia, Thái Lan ở Việt Nam: Trai ngọc môi
vàng phân bố rải rác từ vùng biển Quảng Nam đến đảo Phú Quốc Nơi phân bố
tương đối tập trung là Sông Cầu (Phú Yên), Hàm Tân (Bình Thuận) và Phú
Là loài trai có kích thước lớn, sống đáy, bám vào đá, san hô nhờ tơ chân
Dinh dưỡng bằng hình thức lọc Sinh trưởng chậm (đạt kích thước 15 – 20cm sau
2 năm)
Sinh sản:
Tập trung vào tháng 4 – 8 Sức sinh sản lớn
Giá trị kinh tế : Hạt ngọc trai (tự nhiên hoặc cấy nhân tạo) hình thành từ
trai ngọc môi vàng có giá trị cao từ 20 – 200 USD/viên Vỏ trai có kích thước
lớn, mặt trong vỏ có tầng ngọc dày, màu óng ánh được sử dụng làm hàng mỹ
nghệ, khảm xà cừ, giá từ 50.000 – 60.000 VND/kg vỏ trai
Tình hình nuôi:
Trai Ngọc Môi Vàng được một số công ty nuôi trai nước ngoài và Việt
Nam nuôi để cấy nhân tạo ngọc ở Phú Quốc, Khánh Hoà Hình thức nuôi chủ
yếu là thu mua nguyên liệu (kích thước 10 – 15cm) từ khai thác tự nhiên, treo
nuôi trong lồng và cấy nhân tạo ngọc Sản xuất giống nhân tạo và nuôi thành trai
nguyên liệu đã thành công tại Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản 3 Nha Trang
Trang 441 – điệp quạt
Tên gọi :
* Khoa học : Chlamys nobilis (Reeve, 1852)
* Tiếng Anh : Noble scallop
* Tiếng Việt : Điệp Quạt
ảnh:V.Toàn sưu tầm
Hình thái và cỡ :
Vỏ lớn, gần như hình tròn, chiều dài và chiều cao gần bằng nhau Gờ
phóng xạ phát triển, có khoảng 23 gờ Các phiến sinh trưởng sắp xếp khít nhau,
dạng vẩy Tai trước và sau vỏ trái dạng hình tam giác trên có 7 – 8 gờ phóng xạ
Tai trước và sau vỏ phải chênh lệch lớn Lỗ tơ chân lớn, mép có răng cưa Mặt
khớp thẳng không răng, bản lề màu nâu sẫm Vết cơ khép vỏ lớn, tròn, nằm giữa
vỏ, hơi lệch về phía sau mặt lưng Màu sắc vỏ đa dạng: tím, nâu, vàng, hồng,
trắng Mặt trong vỏ màu vàng nâu Cá thể trưởng thành có chiều cao vỏ từ 50 –
75mm, chiều dài vỏ 45 – 70mm
Vùng phân bố:
Phân bố ở biển Trung Quốc, Nam Nhật Bản, Indonexia, ở Việt Nam:
Điệp Quạt phân bố chủ yếu ở biển Bình Thuận, từ Cà Ná đến Hàm Tân
Đặc điểm môi trường sống:
* Nhiệt độ: 24 – 280C * Độ mặn: 30 – 350/00
* Độ sâu: từ tuyến hạ chiều đến 25 – 30m
* Chất đáy: Cát sỏi, đá san hô, vỏ động vật thân mềm chết
Sinh trưởng:
Cũng như các loài Bivalvia khác, Điệp Quạt là loài ăn lọc và phương thức
lấy thức ăn bị động Thành phần thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã
hữu cơ ở điều kiện sống bình thường, Điệp tiết ra tơ chân bám chắc vào giá thể
Khi điều kiện môi trường trở nên bất lợi, chúng có khả năng cắt bỏ tơ chân để di
chuyển đến nơi khác
Sinh sản:
Điệp có khả năng sinh sản quanh năm nhưng tập trung chính vào các
tháng 3 – 4 và 7 – 8 Sức sinh sản lớn Quá trình biến thái chuyển từ ấu trùng trôi
nổi xuống sống bám giá thể xảy ra khi ấu trùng xuất hiện điểm mắt
Trang 5Giá trị kinh tế : Điệp Quạt là đối tượng xuất khẩu có giá trị của tỉnh Bình
Thuận trong các năm trước 1995 Đến nay do nguồn lợi Điệp bị giảm sút, sản
lượng khai thác không đáng kể nên chủ yếu tiêu thụ nội địa Hiện giá một
kilogram cơ cồi Điệp tươi từ 30.000 – 40.000 VND và giá Điệp cả vỏ từ 5.000 –
6.000 VND/kg
Tình hình nuôi:
Sản xuất giống và nuôi Điệp thương phẩm được Trung tâm Nghiên cứu
Thuỷ sản III phối hợp với Sở Thuỷ sản Bình Thuận tiến hành từ năm 1992 Điệp
giống nhân tạo đã được nuôi tại Phan Thiết, Hàm Tân, Cù Lao Cau đạt kích cỡ
thương phẩm Tuy nhiên do chi phí đầu tư cho nuôi bè và chi phí quản lý cao
trong khi giá thành sản phẩm thấp nên nghề nuôi Điệp đến nay chưa phát triển
được mặc dù công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm Điệp đã được
nghiên cứu hoàn thiện Điệp Quạt cũng đã được thử nghiệm di giống và nuôi tại
Vũng Rô Phú Yên nhưng khả năng phát tán tạo quần đàn mới hạn chế do điều
kiện môi trường nuôi không thích hợp
Trang 6Vỏ dày chắc, dạng hình bầu dục, phần sau của vỏ kéo dài Da vỏ phát triển
thành lông, số gờ phóng xạ 32 – 37 gờ Mỗi gờ phóng xạ chia thành 4 gờ nhỏ (cá
thể trưởng thành) và 2 gờ (cá thể non) Đường sinh trưởng tương đối mịn Mặt
khớp hẹp, răng có dạng hình phiến, vết cơ khép vỏ trước và sau đều có dạng mặt
đáy móng chân ngựa Mặt ngoài vỏ màu nâu đậm, mặt trong vỏ có màu vàng
nhạt Sò lông có kích thước tương đối lớn Chiều dài cá thể từ 65 – 75mm, cao 45
– 52mm, rộng 35 – 40mm
Phân bố : Vùng biển nhiệt đới ấn Độ – Thái Bình Dương, Trung Quốc,
ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Indonexia, Philippines, bắc Australia ở Việt Nam
sò lông phân bố dọc ven biển, có nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa,
Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận
Đặc điểm môi trường sống :
Sò lông thường phân bố ở nơi có chất đáy bùn pha lẫn vỏ động vật thân
mềm Độ mặn từ 30 – 350/00 Độ sâu từ 3 – 10m
Sinh trưởng : Sò lông là loài động vật ăn lọc Thức ăn là mùn bã hữu cơ
và thực vật phù du
Sinh sản : Mùa sinh sản của sò ở phía Bắc thường bắt đầu từ tháng 5 và
kết thúc và tháng 10 Sinh sản nhiều lần trong năm
Giá trị kinh tế : Sò lông là loài thực phẩm giàu đạm, mùi vị thơm ngon
Là đối tượng xuất khẩu có giá trị Giá thị trường nội địa năm 2000 từ 10.000 –
15.000 đồng/kg
Tình hình nuôi : Sò lông được nuôi rải rác, ở quy mô nhỏ (dạng nuôi giữ)
ở một số nơi như Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hoà
Hình thức nuôi là quây rào chắn ở các bãi triều có đáy là bùn, bùn pha cát, độ
sâu 1 – 2,5m
Trang 743 - Sò huyết
Tên gọi : * Khoa học : Arca gralossa Linné
* Tiếng Anh: Blood cockle, Arca cuneata reeve
* Tiếng Việt : Sò Huyết, Sò Trứng, Sò Tròn
ảnh: H.Thắng
Hình thái và cỡ: Vỏ dày chắc, có dạng hình trứng Mặt ngoài vỏ có gờ phóng
xạ phát triển, số lượng từ 17 – 20 gờ, trên mỗi gờ có nhiều hạt hình chữ nhật Bản lề
rộng, hình thoi, có màu nâu đen Mặt khớp thẳng, có nhiều răng nhỏ Vết cơ khép vỏ
sau lớn hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn, hình tam giác Là loài có máu đỏ
Mặt ngoài vỏ có màu nâu đen, mặt trong vỏ có màu trắng sứ Cá thể lớn vỏ dài 50 –
60mm, cao 40 – 50mm
Phân bố : Malayxia, ấn Độ, Myanma, Thái Lan, nam Trung Quốc ở Việt
Nam, sò huyết phân bố dọc ven bờ biển từ Bắc vào Nam ở các vùng cửa sông và đầm
phá Sò huyết có nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Khánh
Hoà, Ninh Thuận, Bến Tre, Kiên Giang
Đặc điểm môi trường sống: Sò huyết phân bố ở vùng trung triều đến độ
sâu 1 – 2m nước Chất đáy thích hợp là bùn cát Nơi có ảnh hưởng nước ngọt (độ
mặn 15 – 200/00) ở vùng cửa sông là khu vực phân bố thích hợp của sò huyết
Sinh trưởng: Sò huyết sống vùi mình trong lớp bùn đáy Dinh dưỡng bằng
hình thức lọc Thức ăn là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ
Sinh sản: Sò huyết có khả năng sinh sản quanh năm nhưng mùa vụ sinh
sản chính từ tháng 4 – 8 Cá thể thành thục sinh sản trong môi trường nước ấu
trùng phù du trải qua giai đoạn biến thái và chuyển xuống sống đáy khi xuất
hiện điểm mắt
Giá trị kinh tế : Sò huyết có hàm lượng dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon Là
thức ăn ưa thích và phổ biến ở các nhà hàng đặc sản, giá từ 30.000 ữ 60.000
đồng/kg tuỳ theo kích cỡ sò Sò huyết sống là sản phẩm xuất khẩu có giá trị
Tình hình nuôi :
Sò huyết được nuôi phổ biến ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Bến Tre,
Kiên Giang, Tiền Giang, Ninh Thuận, Thừa Thiên Huế Hình thức nuôi chính là
nuôi bãi triều Năng suất nuôi cao nhất đạt 60 tấn/ha Nguồn giống chủ yếu là
vớt tự nhiên Sản xuất nhân tạo đã bước đầu có kết quả tại Trung tâm nghiên cứu
thuỷ sản 3 – Nha Trang
Trang 844 - Sò nodi
Tên gọi : * Khoa học : Tegillarca nodifera (V.Martens, 1860)
* Tiếng Anh : Blood cockle, Ark – shell
* Tiếng Việt : Sò Nodi, Sò Dài
Hình dạng ngoài tương tự sò huyết nhưng vỏ nhỏ hơn và hơi dài Số gờ
phóng xạ thường là 20 gờ, các hạt trên gờ phóng xạ mịn hơn và sắp xếp sát nhau
hơn so với sò huyết Da vỏ màu xám xẫm Chiều dài của vỏ trên dưới 30mm,
chiều cao khoảng 24mm, rộng 20mm
Phân bố :
Malayxia, Philippines, Thái Lan, nam Trung Quốc ở Việt Nam phân bố
tương tự như sò huyết
Đặc điểm môi trường sống:
Sò nodi sống ở vùng trung, hạ triều đến độ sâu từ 1 – 3m nước Chất đáy là
bùn mềm Thích nghi với độ măn cao, ít bắt gặp ở những vùng cửa sông
Sinh sản: Sò nodi có khả năng sinh sản quanh năm nhưng mùa vụ sinh
sản chính từ tháng 4 – 8 Cá thể thành thục sinh sản trong môi trường nước ấu
trung phù du trải qua giai đoạn biến thái và chuyển xuống sống đáy khi xuất
hiện điểm mắt
Giá trị kinh tế : Sò nodi có hàm lượng dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon Là
thức ăn ưa thích và phổ biến ở các nhà hàng đặc sản, giá từ 30.000 ữ 60.000
đồng/kg tuỳ theo kích cỡ sò Sò nodi sống là sản phẩm xuất khẩu có giá trị
Tình hình nuôi: Tuy cá thể nhỏ hơn sò huyết nhưng số lượng giống nhiều
nên các địa phương như Khánh Hoà, Ninh Thuận chủ yếu nuôi loại sò này
Trang 945 - Nghêu bến tre
Tên gọi : * Khoa học : Meretrix lyrate (Sowerby, 1851)
* Tiếng Anh : Hard clam, Lyrate asiatic
* Tiếng Việt : Nghêu Bến Tre
ảnh: N.Chính
Hình thái và cỡ : Hình dạng rất giống Ngao Dầu nhưng kích thước nhỏ
hơn Vỏ dạng hình tam giác, các vòng sinh trưởng ở phần trước vỏ thô và nhô lên
mặt vỏ, ở phần sau vỏ thì mịn hơn Vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt,
vết cơ khép vỏ sau lớn gần như hình tròn Mặt ngoài vỏ màu vàng nhạt hoặc màu
trắng sữa, một số cá thể có vân màu nâu Mặt trong vỏ màu trắng Nghêu lớn có
chiều dài 40 – 50mm, chiều cao 40 – 45mm và chiều rộng 30 – 35mm
Phân bố : Sống ở vùng biển nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan
đến Việt Nam ở Việt Nam: nghêu phân bố nhiều ở các tỉnh Trà Vinh, Tiền
Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh)
Đặc điểm môi trường sống: Nghêu phân bố tập trung ở các khu vực gần
cửa sông lớn và phân bố rải rác ở các cồn cát nhỏ ven biển xen lẫn với các bãi
bùn Chất đáy là cát bùn Nghêu có thể sống ở khu vực có sự biến động độ mặn
từ 7 – 250/00
Sinh trưởng : Nghêu dinh dưỡng bằng hình thức lọc Mùn bã hữu cơ và
thực vật phù du là thức ăn chính của Nghêu Tốc độ sinh trưởng của Nghêu thay
đổi theo mùa, Nghêu sinh trưởng nhanh vào tháng 5 – 9 và chậm từ tháng 10 – 5
Sinh sản: Mùa vụ sinh sản của Nghêu ở bến tre từ tháng 3 đến tháng 6 và rải
rác đến tháng 10
Giá trị kinh tế: Nghêu Bến Tre là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Giá
Nghêu nguyên liệu từ 1.000 – 1.500 đồng/kg
Tình hình nuôi : Hiện nay, nghề nuôi nghêu phát triển mạnh ở các khu vực bãi
bồi ven biển các tỉnh Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng Năng suất nuôi
đạt 30 – 50 tấn/ha Nguồn giống chủ yếu thu thập từ tự nhiên Việc sản xuất
giống nhân tạo bước đầu có kết quả tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II
Trang 1046 – nghêu lụa
Tên gọi :
* Khoa học : Paphia undulata (Born, 1778)
* Tiếng Anh : Undulating venus
* Tiếng Việt : Nghêu Lụa
ảnh: Vũ Toàn sưu tầm
Hình thái và cỡ :
Vỏ cỡ trung bình, hình oval dài, mặt ngoài láng được trang trí bằng những
đường hình chữ chi ở khắp mặt vỏ Mặt ngoài vàng nhạt, mặt trong trắng Kích
thước trung bình 50 – 65mm chiều dài, 25 – 30mm chiều cao và 15 – 20mm
chiều rộng
Vùng phân bố:
Hà Tiên, Rạch Giá, quanh đảo Bà Lụa, Bình Thuận
Đặc điểm môi trường sống:
Sống trên đáy cát bùn ven bờ
Sinh trưởng:
Sinh sản:
Giá trị kinh tế : Thịt Nghêu Lụa tươi sống, chế biến hàng đông lạnh hoặc
đóng hộp được tiêu thụ rộng rãi trong thị trường nội địa và xuất khẩu
Tình hình nuôi:
Một số vùng ở Hà Tiên, Rạch Giá khoanh vùng bãi phân bố tự nhiên để
bảo quản và thu hoạch Chưa có hình thức nuôi thả giống như Nghêu Bến tre
hoặc Sò huyết
Trang 1147 - ngao dầu
Tên gọi :
* Khoa học : Meretrix meretrix Linné, 1758
* Tiếng Anh : Asiatic hard clam
* Tiếng Việt : Ngao Dầu, Ngao Vạng
ảnh: P Loan
Hình thái và cỡ:
Vỏ có dạng hình tam giác Vỏ trái và vỏ phải bằng nhau, mép bụng của vỏ
cong đều Bản lề ngắn, màu nâu đen nhô lên mặt ngoài của vỏ Đường sinh
trưởng mịn, rõ Mặt khớp có 3 răng giữa và 2 răng bên Vết cơ khép vỏ trước nhỏ
hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau lớn hình bầu dục Da vỏ màu nâu, trơn bóng
Những cá thể nhỏ vùng gần đỉnh vỏ thường có vân răng cưa hay vân hình phóng
xạ Mặt trong của vỏ màu trắng, mép sau có màu tím đậm Cá thể lớn có chiều
dài 130mm, cao 110mm, rộng 58mm
Phân bố :
Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên ở Việt Nam: phân bố ở vùng biển các
tỉnh: Nghệ An, Thanh Hoá, Thái Bình, Nam Định, Bến Tre và Tiền Giang
Đặc điểm môi trường sống:
Phân bố từ vùng trung triều đến độ sâu 1 – 2m nước Chất đáy cát có pha bùn,
chúng sống vùi trong cát từ 3 – 4 cm Nhiệt độ : 20 - 300C Độ mặn : 9 – 20 0/00
Sinh trưởng :
Ngao dầu dinh dưỡng bằng hình thức lọc Thức ăn là thực vật phù du Sinh
trưởng nhanh, ngao giống cỡ 0.5 cm có thể đạt 5 – 7 cm sau 10 tháng
Sinh sản:
Sinh sản 1- 2 lần trong năm, mùa sinh sản từ tháng 4 – 10
Trang 12Giá trị kinh tế :
Ngao dầu là thực phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Giá thị trường nội
địa năm 2000 từ 1.800 – 2.000 đồng/kg ở phía Nam và 5.000 – 6.000 đồng/kg ở
phía Bắc
Tình hình nuôi :
Ngao dầu được nuôi chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Thanh
Hoá, Nam Định Hình thức nuôi chính là khoanh chắn lưới trên các bãi triều có
độ sâu từ 1 – 3m, bằng nguồn giống tự nhiên được thu gom và thả nuôi trong bãi
Tuỳ theo mật độ thả Năng suất nuôi đạt từ 15 – 20 tấn/ha Là nghề nuôi có hiệu
quả và ổn định đang được các địa phương chú ý phát triển
ảnh: V Toàn
Thu hoạch Ngao tại x∙ Giao Xuân (Nam Định).
Trang 1348 - Hầu cửa sông
Tên gọi : * Khoa học : Crasostrea rivularis (Gould, 1861)
* Tiếng Việt : Hầu Cửa Sông
ảnh: H.Thắng
Hình thái và cỡ : Vỏ lớn, dày, hình dạng vỏ thay đổi rất lớn, thông thường
có hình bầu dục hoặc tam giác Vỏ phải bằng phẳng, nhỏ hơn vỏ trái Các phiến
sinh trưởng phát triển thành vảy màu vàng nâu hay tím thẫm Mặt trong của vỏ
lõm sâu, vết cơ khép vỏ sau nằm ở phần lưng phía sau của vỏ Bản lề dài hình
sừng bò, chiều dài bằng 1/5 – 1/6 chiều dài vỏ Mặt ngoài vỏ màu vàng nâu hoặc
tím thẫm Mặt trong của vỏ màu trắng sứ Cá thể lớn vỏ dài trên 200mm, cao
120mm
Phân bố : ở phía Bắc, Hầu phân bố nhiều ở các vùng : Cửa sông Bạch
Đằng, Sông Chanh, Phà Rừng, Yên Hưng (Quảng Ninh); Lạch Trào (Thanh Hóa)
và một số sông thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh
Đặc điểm môi trường sống : Phân bố nhiều ở khu vực cửa sông Sống
bám vào đá, cọc xi măng hoặc các giá thể ở dưới đáy Thích nghi với độ mặn
thấp từ 10 – 250/00
Sinh trưởng : Thức ăn chính là thực vật phù du
Sinh sản: Sinh sản vào hai mùa chính trong năm: tháng 4 – 5 và tháng 9 –
10 Sức sinh sản lớn Trứng thụ tinh trong nước, ấu trùng chữ D bơi lội tự do và
chuyển xuống sống bám vào giá thể khi xuất hiện điểm mắt
Giá trị kinh tế : Là loại đặc sản có giá trị, hương vị thơm ngon, giàu chất
dinh dưỡng Giá thị trường nội địa năm 2000 từ 50.000 – 60.000 đồng/kg Chủ
yếu được sử dụng ở dạng tươi sống
Tình hình nuôi: Hầu cửa sông được nuôi phổ biến ở miền Bắc (Quảng
Ninh) vào những năm ’60 và đạt được sản lượng rất lớn Tuy nhiên do chiến
tranh nghề nuôi hầu không được duy trì và cho đến nay vẫn chưa được khôi phục
lại