1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 12 tháng ở quận cầu giấy, hà nội

22 240 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 29,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứuNCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ NCHTBSM : Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ con bằng sữa mẹ, người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ gia đình, xã hộ

Trang 1

DANH MỤC VIẾT TẮT………1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ……… ………2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 3

3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3

3.1 Tóm tắt các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu……… 3

3.1.1 Các khái niệm……….……… …….3

3.1.2 Thông tin và số liệu liên quan đến tình hình NCBSM……… ………4

3.2 Nghiên cứu đã tham khảo……… 5

3.2.1 Nghiên cứu trên thế giới…… … ……….………5

3.2.2 Nghiên cứu trong nước……… ……… 6

3.3 Khung lý thuyết……… 8

3.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu……… 9

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu………… ……… …… 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu……… ……… ….…9

4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu……… ………

….10 4.3 Thiết kế nghiên cứu………

……… 10

4.4 Cỡ mẫu……… ……… 10

4.5 Phương pháp chọn mẫu……… ……… 10

4.6 Phương pháp thu thập số liệu……… ……….…11

4.7 Xây dựng bảng biến số………

……… 11

4.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu……… ……….……

15 4.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số…….……… 15

5 Dự kiến kết quả, bàn luận, kết luận và kiến nghị……… 17

5.1 Dự kiến kết quả………… ……… 17

5.1.1 Thông tin chung về đối tượng……… ……… 17

5.1.2 Kiến thức về NCBSM của các bà mẹ có con từ 6-12 tháng…… …….18

5.1.2.1 Kiến thức về NCHTBSM……….18

5.1.2.2 Thực hành về NCHTBSM ………21

5.1.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với thực hành NCBSM của các bà mẹ……… 22

5.1.3.1 Yếu tố gia đình……… ……….22

5.1.3.2 Yếu tố xã hội……… ………23

5.2 Dự kiến bàn luận……… ………25

5.3 Dự kiến kết luận……… ……….25

TÀI LIỆU THAM KHẢO………26

PHỤ LỤC: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN NGHIÊN CỨU……… 27 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BMTE : Bà mẹ trẻ em

CBYT : Cán bộ y tế

Trang 2

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ

NCHTBSM : Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ

con bằng sữa mẹ, người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ gia đình,

xã hội và nơi làm việc của người mẹ đó Tại Việt Nam, trước đây phần lớn các bà mẹ đều nuôi con bằng chính dòng sữa của mình trong những tháng đầu tiên của cuộc đời trẻ Tuy nhiên, do nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ đã tham gia vào công tác xã hội, phải đi làm sớm, lo lắng đến sắc đẹp của mình, bên cạnh đó, nhiều loại sữa được quảng cáo trên thị trường với giá trị hấp dẫn… Vì thế, các bà mẹ đã không cho con bú bằng sữa mình mà thay vào đó là nuôi con bằng các loại sữa nhân tạo

Theo điều tra của Viện dinh dưỡng năm 2009, ở Việt Nam chỉ 55% số bà mẹ cho trẻ

bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh và chỉ có 36,5% bà mẹ có ý định cho con bú kéo dài đến 24 tháng Điều đáng lo ngại hơn là, chỉ có 10% bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu trong khi tỷ lệ này ở Campuchia là 65%, trung bình châu Á

là 40% Tại các thành phố lớn, chỉ có 1 trong số 3 bà mẹ cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu sau sinh, trong khi đó tại các vùng nông thôn là 2 trong 3 phụ nữ Trong

số 43% phụ nữ nói rằng sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng thì chỉ có 10% trẻ sơ sinh Việt Nam được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Vậy điều gì khiến khoảng cách giữa tỉ lệ các bà mẹ hiểu biết lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và số trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cách xa như vậy?[1]

2

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con

bằng sữa mẹ, tuy nhiên các nghiên cứu đó thường chỉ tập trung vào các bà mẹ đến khám ở các bệnh viện lớn như bệnh viện Hùng Vương hay các bà mẹ đưa con đến khám tại bệnh viện Nhi Đồng I Việc chọn những địa điểm nghiên cứu này thường chỉ tập trung vào nhóm đối tượng có điều kiện về kinh tế và có nhu cầu tiếp nhận thông tin

mà chưa đi sâu vào nhóm đối tượng khác

Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu ''Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có

Trang 3

con từ 6-12 tháng ở quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2014'' Từ đó có cái nhìn bao quát về vấn đề đang xảy ra tại các thành phố lớn ở Việt Nam và đề ra các giải pháp để giải quyết tình trạng này nhằm nâng cao sức khỏe của người Việt Nam trong tương lai.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu cụ thể:

2.1 Xác định tỉ lệ bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi tại thời điểm 30/10/2014 cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở quận Cầu Giấy

2.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi ở quận Cầu Giấy

3 Tổng quan tài liệu

3.1 Tóm tắt các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

3.1.1 Các khái niệm

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Sữa mẹ chứa hàng trăm thành phần dinh dưỡng và các yếu tố bảo vệ giúp tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể của bé

Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, không được ăn thêm bất cứ thức ăn, nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vắc xin

và các thứ thuốc cần thiết khác)

Bú sớm là trẻ được bú sữa mẹ trong một giờ đầu ngay sau sinh

Bú sữa mẹ trong những năm đầu đời bảo vệ trẻ em khỏi nhiễm bệnh, cung cấp

3

nguồn dinh dưỡng lý tưởng, đồng thời rất kinh tế và an toàn Tuy nhiên nhiều bà mẹ đã dừng cho con bú quá sớm và cho trẻ chuyển sang ăn sữa ngoài Thực tế này có thể làm chậm lại sự phát triển của trẻ em

3.1.2 Thông tin và số liệu liên quan đến tình hình nuôi con hoàn toàn bằng sữa

Tại Việt Nam, theo kết quả Điều tra Đánh giá các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ do Tổng cục thống kê năm 2011 thì chỉ có 39,7% trẻ được bú sữa mẹ lần đầu tiên trong vòng một giờ sau khi sinh, trong khi 80% trẻ sơ sinh ở Việt Nam bắt đầu được bú sữa

mẹ trong vòng một ngày sau khi sinh Tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ khá cao với 98% Khoảng 61,5% số trẻ em mới sinh được cho uống đồ uống ngoài sữa mẹ trong vòng 3 ngày sau khi sinh trước khi ổn định bú sữa mẹ

Với một tỷ lệ khá cao trẻ em được bú sữa mẹ, hầu như không có sự khác biệt rõ rệt theo bất kỳ đặc trưng nào của người mẹ Trong khi đó, nơi sinh, người đỡ đẻ, trình độ học vấn của người mẹ và mức sống của hộ gia đình là những yếu tố ảnh hưởng mạnh

mẽ đối với việc đứa trẻ có được cho uống đồ uống ngoài sữa mẹ ngay sau sinh trước

Trang 4

khi ổn định bú sữa mẹ Khoảng 24% trẻ em sinh ra ở nhà được cho uống đồ uống ngoài sữa mẹ ngay sau khi sinh, trước khi ổn định bú sữa mẹ so với 65% trẻ em sinh ra trong một cơ sở y tế nhà nước Chỉ có 17% trẻ em ở Việt Nam dưới 6 tháng tuổi được bú sữa

mẹ hoàn toàn, mặc dù tỉ lệ này tăng so với năm 2009(10%) nhưng vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với khuyến nghị Cho tới thời kì dưới 6 tháng, tỉ lệ trẻ em được bú sữa mẹ hoàn toàn xuống rất thấp, chỉ 3%

Tỉ lệ trẻ em được bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu có sự chênh lệch lớn về mức sống của hộ gia đình, thành phần dân tộc của chủ hộ và vùng Trẻ em trong các hộ gia đình 4

có chủ hộ là người dân tộc thiểu số có khả năng được bú sữa mẹ hoàn toàn cao gấp hai lần những trẻ em trong hộ gia đình có chủ hộ là người Kinh/Hoa (31,9% so với

14,0%) Một trẻ em sống ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (37,6%) có khả năng được bú mẹ hoàn toàn cao gấp đôi trẻ sống ở vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung (14%) hoặc ở vùng Đồng bằng sông Hồng (15,3%) Tương tự, 28% trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo nhất được bú mẹ hoàn toàn so với 11,2% sống trong các

hộ gia đình giàu nhất.[3]

3.2 Nghiên cứu đã tham khảo

3.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Chen Weiqi về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và yếu tố quyết định đến vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ ở Quảng Châu, Trung Quốc được thực hiện năm 2010 Nghiên cứu được thực hiện trên

409 bà mẹ có con từ 6-24 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ các bà mẹ cho con

bú trong 4 tháng tuổi là 75.6%, chỉ 6.2% trẻ được bú mẹ hoàn toàn, trong khi đó tỉ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng chỉ là 2.2% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thức và thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của người mẹ tương đối thấp, và điều này ảnh hưởng đến việc mẹ có cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu hay không [4]

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với nữ giáo viên trung học tại quận Abha

từ tháng Tư đến tháng Sáu năm 2011

Có tổng cộng có 384 phụ nữ tham gia nghiên cứu, trong đó có 246 giáo viên tiểu học (61,1%) , 89 giáo viên trung học cơ sở (23,2%) và 49 giáo viên trung học phổ thông (12,8%) Có 119 người (31%) bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ sau khi sinh, trong khi bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng chỉ có 32 người (8,3%) Và những lý do chính được đưa ra khiến họ dừng cho con bú trước khi con được 2 tuổi là sữa mẹ không đủ 169 người (44%) và các vấn đề liên quan đến công việc 148 người (38,5%) Chỉ có 33 người tham gia (8,6%) đã tham dự các lớp học liên quan đến cho con bú Tuy nhiên, 261 người tham gia (68%) cho thấy sự sẵn sàng tham dự các lớp học như vậy, nếu có, trong lần mang thai sau

5

Nghiên cứu này cho thấy rằng thiếu sữa mẹ và các vấn đề liên quan đến công việc

là những lý do chính khiến cho tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn của giáo viên nữ trong quận Abha, Saudi Arabia trở nên thấp Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu tham dự các

Trang 5

lớp học về nuôi con và cho con bú rất thấp Để cải thiện được thực trạng trên cần có sự giải quyết toàn diện của các nhà cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe [5]

3.2.2 Nghiên cứu trong nước

Nhóm đã tham khảo một số nghiên cứu ở trong nước, một trong số đó là Đề tài khảo sát kiến thức, thái độ thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh tại Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế [2]

- Đối tượng nghiên cứu: 50 bà mẹ sau sinh tại khoa sản, Bệnh viện trường Đại học y dược Huế

- Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả, thu thập số liệu dựa vào câu hỏi ở phiếu điều tra có sẵn

- Kết quả:

Nhóm tuổi các bà mẹ được điều tra chủ yếu từ 32-40 tuổi có trình độ văn hóa 20% cấp II; 32% cấp III; 30% cao đẳng- đại học; điều kiện kinh tế tạm ổn định trở lên chiếm 80%

Tỉ lệ bà mẹ nuôi con hoàn toàn trong 4 tháng đầu sau sinh là 34%

Tỉ lệ bà mẹ cho con bú thêm sữa nhân tạo là 66%

Tỉ lệ bú >24h sau sinh chiếm 24% Tỉ lệ bú ngay sau sinh 1-2 giờ là 12%

36% bà mẹ cho trẻ bú theo nhu cầu

Với những kết quả nghiên cứu này, tác giả Phan Thị Tâm Khuê đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên nhóm chúng tôi nhận thấy rằng còn có nhưng hạn chế sau:

- Đối tượng nghiên cứu là 50 bà mẹ sau sinh và chỉ nghiên cứu trong vòng 1 tháng thì chưa có độ bao phủ và tính chính xác cao

- Tác giả mới chỉ đưa ra được các tỉ lệ % riêng biệt mà chưa làm rõ được mối liên quan giữa các yếu tố nhóm tuổi, học vấn và điều kiện kinh tế với tỉ lệ cho con bú hoàn 6

toàn trong 4 tháng đầu, tỉ lệ cho con bú thêm sữa nhân tạo

Trang 6

- Tiền sử nuôi con bằng

sữa mẹ hoàn toàn

- Thu nhập bình quân của

của các bà mẹ xung quanh

- Quảng cáo của các hãng

sữa

3.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Cầu Giấy là một quận thuộc nội thành Hà Nội, quận có diện tích 12, 04 km², gồm 8 phường, với dân số 250.000 người (tính đến 1/9/2012)

Số trẻ sinh ra trong năm

Vậy số trẻ sinh ra trong năm của Quận Cầu Giấy là 3250 trẻ

Quận Cầu Giấy điều kiện kinh tế phát triển, người dân chủ yếu là làm dịch vụ,

buôn bán và làm trong các đơn vị hành chính Về y tế, các chương trình chăm sóc sức khỏe luôn được thực hiện để đảm bảo sức khỏe của người dân Đặc biệt, trên địa bàn quận luôn chú trọng quan tâm chăm sóc phụ nữ có thai về chế độ dinh dưỡng và nuôi con hoàn toàn trong 6 tháng

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi (tính đến 30/10/2014) đang sinh sống ở quận

Trang 7

Cầu Giấy- Hà Nội vào thời điểm điều tra.

Tiêu chí lựa chọn:

- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí không lựa chọn

- Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bà mẹ không trực tiếp nuôi con

- Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn( câm, điếc, tâm thần )

- Bà mẹ có bệnh lí không cho phép nuôi con bằng sữa mẹ( suy tim, lao phổi, HIV, 9

ung thư đang điều trị hóa chất )

4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ 9-2014 đến 12-2014

4.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

- B1 Lập danh sách các bà mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi tại thời điểm

Trang 8

30/10/2014 đang sinh sống ở quận Cầu Giấy và đánh số thứ tự.

- B2 Xác định khoảng cách mẫu k

k=N/n với N: tổng số bà mẹ có con từ 6-12 tháng ở Quận Cầu Giấy tại thời điểm 30/10/2014

10

n: cỡ mẫu nghiên cứu

- B3 Chọn ngẫu nhiên một số i (số đầu tiên), 1 ≤ i ≤ k

- B4 Chọn một nhóm gồm các đơn vị lấy mẫu i, i+k, i+2k, v.v

4.6 Phương pháp thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu sẽ phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu qua bảng câu hỏi thiết kế sẵn

4.7 Xây dựng bảng biến số

Thông tin chung của ĐTNC

Tên biến số Định nghĩa Phân loại

Phương pháp

thu thập

Tuổi

Là tuổi tính theo dương lịch của

ĐTNC (lấy năm 2014 trừ đi năm

Trang 9

Số con Là số trẻ đẻ sống hiện có của ĐTNC

Trang 10

ĐTNC đưa ra hiểu biết của mình về lợi ích của việc bú sớm

Trang 11

Hiểu biết của ĐTNC về việc nên

cho trẻ bú khi nào

Hiểu biết của ĐTNC về các biện

pháp giúp mẹ có đủ sữa cho con bú

Hiểu biết của ĐTNC về thời gian bắt

đầu cho trẻ ăn dặm

Trang 12

Thực hành cho trẻ bú thường xuyên của ĐTNC

Trang 13

người thân trong

Việc NCHTBSM của ĐTNC có chịu

ảnh hưởng của chế độ nghỉ thai sản

hưởng bởi quảng cáo của các hãng

sữa hay không

Nhị phân Phỏng vấn/

Câu hỏi D5

4.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Sự tham gia nghiên cứu này hoàn toàn là tự nguyện Trước khi tiến hành nghiên cứu phải hỏi ý kiến và được sự tự nguyện đồng ý của đối tượng nghiên cứu Chỉ chấp

Trang 14

nhận sự tình nguyện tham gia của đối tượng vào nghiên cứu sau khi đảm bảo rằng họ

đã hiểu biết đầy đủ về nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia nghiên cứu Không được gây

áp lực hoặc đe dọa bắt buộc đối tượng nếu họ không tham gia nghiên cứu ĐTNC được nghiên cứu viên giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, ĐTNC có thể dừng lại bất cứ lúc nào nếu họ không muốn tiếp tục tham gia và không phải chịu bất kì một trách nhiệm nào Sau khi kết thúc buổi phỏng vấn, người phỏng vấn phải tóm tắt lại câu trả lời cho đối tượng phỏng vấn biết để họ kiểm tra lại thông tin đã lưu, họ có mốn lược bỏ hoặc thêm phần nào không? Nếu đã kiểm tra kỹ thì cảm

ơn và hẹn gặp lại khi có những thắc mắc khác

Nghiên cứu này chỉ được tiến hành khi thông qua hội đồng đạo đức của Trường

đại học Y tế công cộng và sự đồng ý của chính quyền địa phương

Bộ câu hỏi không bao gồm các câu hỏi mang tính riêng tư hay các vấn đề nhạy

14

cảm nên không gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của ĐTNC Toàn bộ thông tin và câu trả lời của đối tượng được giữ bí mật tuyệt đối và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Kết quả nghiên cứu chỉ được sử dụng vào mục đích nâng cao sức khỏe cộng đồng

mà không được sử dụng vào các mục đích khác

Nghiên cứu cam kết tiến hành nghiên cứu với tinh thần trung thực

4.9 Han chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

• Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên chỉ phản ánh

được thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc NCHTBSM của các bà mẹ tại thời điểm tiến hành nghiên cứu Số liệu mà nghiên cứu thu được chỉ gói gọn trong Quận Cầu Giấy nên không thể đại diện cho cả nước mà chỉ mang tính chất tham khảo Mặt khác, đánh giá thực hành chỉ dựa vào phỏng vấn đối tượng thông qua bộ câu hỏi chứ chưa được trực tiếp quan sát thực tế thực hành Các thông tin về cho trẻ bú sớm, bú hoàn toàn trong 6 tháng có thể bị ĐTNC nhớ nhầm do thời điểm tiến hành phỏng vấn cách khá xa thời điểm mà họ thực hành các vấn đề đó Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ đơn thuần là định lượng nên chưa tìm hiểu sâu được một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành NCHTBSM của các bà mẹ

• Sai số:

−Ζ Sai số nhớ lại: Do ĐTNC không nhớ rõ thông tin và thực hành của mình (sai số này rất dễ gặp trong khi thu thập thông tin về các chỉ số bú sớm sau sinh, NCHTBSM trong 4 tháng và 6 tháng đầu)

−Ζ Sai số ngẫu nhiên: do câu hỏi không rõ nghĩa, do ĐTV và ĐTNC không hiểu

nội dung câu hỏi Việc thu thập thông tin chủ yếu qua qua bộ phỏng vấn sâu được thiết

kế sẵn nên có thể gặp sai số do phiếu phỏng vấn không logic và kĩ năng phỏng vấn của từng điều tra viên

• Cách khắc phục:

−Ζ Trước khi tiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu cần tiến hành thử nghiệm

bộ câu hỏi phỏng vấn trên 5 đối tượng, rút kinh nghiệm và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho 15

Ngày đăng: 25/02/2019, 11:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w