1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh trên lợn nái sinh sản nuôi tại trại công ty phát đạt thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc

67 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 5,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việcphát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm.. Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con - Quy trìn

Trang 1

VI THỊ MINH NGUYỆT

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH TRÊN LỢN NÁI SINH SẢNNUÔI TẠI TRẠI CÔNG TY PHÁT ĐẠT THỊ

XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

VI THỊ MINH NGUYỆT

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH TRÊN LỢN NÁI SINH SẢNNUÔI TẠI TRẠI CÔNG TY PHÁT ĐẠT THỊ

XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học:2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên trại Phát Đạt - thị xãPhúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tàitrong quá trình thực tập tại cơ sở

Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên đề tàikhông tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp củacác thầy giáo, cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2017

Sinh viên

Vi Thị Minh Nguyệt

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 36

Bảng 3.2: Quy trình sử dụng vắc xin và các chế phẩm thú y 37

phòng bệnh cho đàn lợn của trại 37

Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn qua 3 năm 2015 – 2017 44

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 45

Bảng 4.3 Kết quả chăm sóc đàn lợn thịt tại trại 45

Bảng 4.4: Thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái nuôi tại trại 46

Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 46

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 47

Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh lợn nái sinh sản 48

và lợn con tại trại 48

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản

48 và lợn contại trại

48 Bảng 4.9.Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản 49

và lợn con tại trại 49

Bảng 4.10: Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại 50

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 4

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 6

2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn nái nuôi con 6

2.2.2.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 10

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 14

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con 17

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

28 2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

28 2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 29

2 4 Giới thiệu các thuốc sử dụng trong đề tài 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32 3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 32

3.2 Thời gian và địa điểm tiến hành 32

3.3 Nội dung thực hiện 32

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp tiến hành 32

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện 32

3.4.2 Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin) 33

Trang 7

3.4.3 Công thức tính và xử lý số liệu 43

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng lợn tại trại Công ty Phát Đạt - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc 44

4.1.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại qua 3 năm 2015 - 2017 44

4.1.2 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản tại trại 44

4.1.3 Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái tại trại 46

4.1.4 Kết quả về nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con tại trại 46

4.2 Kết quả phòng bệnh cho lợn tại trại 47

4.2.1 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng 47

4.2.2 Kết quả công tác tiêm phòng cho đàn lợn 47

4.2.3 Kết quả công tác chẩn đoánbệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 48

4.3 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 49

4 4 Các công tác khác 50

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

I Tài liệu tiếng việt 1

II Tài Liệu Tiếng Anh 2

III.Tài liệu internet 3

Trang 8

Nó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng và chất lượng tốt cho conngười Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bóncho ngành trồng trọt hay tận dụng xây hầm bioga để làm khí đốt và cung cấpcác sản phẩm phụ khác cho ngành công nghiệp chế biến như da, lông, mỡ,xương

Ngày nay, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi ngành chănnuôi lợn không ngừng nâng cao về số lượng và chất lượng của sản phẩm, đemlại nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm Muốn đạt được hiệu quả như vậy thì chúng ta cần đẩy mạnh các biệnpháp kỹ thuật như giống, thức ăn, biện pháp kỹ thuật chăm sóc tạo ra cácgiống có năng suất và chất lượng thịt cao

Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việcphát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên mộttrong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đangnuôi ở các trang trại là dịch bệnh còn xảy ra rất nhiều do khả năng thích nghicủa những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém Mặt khác trong

quá trình đẻ lợn nái hay bị các loại vi khuẩn gây ra như:Streptococcus, E.coli xâm nhập và gây một số bệnh như: viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm

vú, mất sữa…

Trang 9

Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng em tiến hành thực hiện đềtài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh trên lợn nái sinh sản nuôi tại trại Công ty Phát Đạt - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”.

Trang 10

Phần 2.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Trại lợn của Công ty Phát Đạt được xây dựng và bắt đầu hoạt động vàonăm 2009, là trại đối tác của công ty Greenfeed Việt Nam với quy mô là 120lợn nái, đến năm 2013 công ty mở lên quy mô 600 nái và 2000 lợn thịt Trạiđược xây dựng tại thôn Cao Quang - xã Cao Minh - thịxã Phúc Yên - tỉnhVĩnh Phúc với diện tích 3 ha

Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía ĐôngBắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30km Thị xã Phúc Yên cóchiều dài theo trục Bắc - Nam 24km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe,

xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên

Địa giới hành chính thị xã Phúc Yên:

- Phía Bắc: giáp tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây: giáp huyện Bình Xuyên

- Phía Nam và phía Đông: giáp với Thủ đô Hà Nội

Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc

lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua; có đường sắt HàNội - Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho PhúcYên tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế,văn hoá

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độbình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè,

Trang 11

hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho pháttriển nông nghiệp đa dạng.

Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau: cực đại trung bình năm là20,5°C; cực đại tuyệt đối 41,6°C; cực tiểu tuyệt đối 3,1°C Độ ẩm không khítương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16% Hướng gióchủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông - Nam, vận tốc giótrung bình năm là 2,4m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thờigian 5 năm là 25m/s; 10 năm là 32m/s; 20 năm là 32m/s

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 17 người trong đó có:

+ 7 sinh viên thực tập tốt nghiệp

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại

Trang 12

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu và chuồngđẻ) được lắp đặt theo dãy.

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi: kínhhiển vi, nồi hấp cách thủy

- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xịt ngầm đều được xử lí qua hệthống thoát nước ngầm

- Xung quanh trại còn trồng rau và cây ăn quả ngoài ra còn có các loại hoa

- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấpđiện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

- Về cơ sở hạ tầng:

+ Trại có 1 nhà khách, 1 phòng họp, 3 dãy nhà ở cho công nhân viên, 3

khu vệ sinh và nhà tắm cho công nhân viên cũng như khách thăm trại và 1 bếp ăn

+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của côngnhân, sinh viên và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt

Trang 13

+ 1 chuồng cai sữa có 26 ô quy mô là 650 con/lứa

+ 1 chuồng hậu bị có 3 ô quy mô là 50 con/lứa

Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoángmát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 máigồm 12 dãy chuồng chạy dài Trong đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy đượctách ra làm 2 chuồng nhỏ với 47 ô chuồng sàn Chuồng lợn bầu gồm 3 chuồngvới kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điệnchiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệthống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấmbằng đèn hồng ngoại

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng trên một vùng có đường giao thông thuận lợi+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực,năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợncon có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con

Trang 14

Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng

và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khóhoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạngsức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn

Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với nhữnglợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích củathức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Nhữngngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú màquyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái

ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự

do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm cópha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ănnhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêuchuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kíchthích tính thèm ăn cho lợn nái

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếpđến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và

cs, (2004)[13] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu

vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện cáctrường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô

Trang 15

chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầuchuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêuđộc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phânbám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếpxúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cholợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợnquen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm đóng vai trò quan trọng, nó

có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mớisinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưahồi phục Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn

và khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào nhữngtháng mùa đông Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úmcho lợn con Kích thước: 1,2m x 1,5m

Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trướckhi đón con sơ sinh

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốtđến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như: rauxanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm,cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, cácloại khoáng, vitamin Không cho lợnnái nuôi con ăn các loại thức ăn thốimốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗnhợp cho lợn nái nuôi con dùng trongchăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủprotein, năng lượng và các thành phần

Trang 16

vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩnquy định như năng lượng trao đổi 3100kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0 %,phospho 0,7%.

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] trong quá trình nuôi con,lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kgthức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh(nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] vận động tắm nắng là điều kiệntốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữacủalợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 -7 ngày, trong điều kiện chănnuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời

Trang 17

gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên.Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong cáccũi đẻ,không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinhdưỡng củathức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin.

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phảiđảmbảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệsinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải

có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cholợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thíchhợp là 18 - 20°C; độ ẩm 70 - 75%

2.2.2.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1.Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục.

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kì gia súc mẹ

mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻmạnh

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đềuqua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảmsinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng củalợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợncon sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14 gamprotein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được0,3 - 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs,(2004)[13]

Hơn nữa để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng,nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể lợn conchủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sảnxuất ra 1kg mỡ

Trang 18

2.2.2.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá.

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn : Miệng, hầu,thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá cònnhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu : Dung tích dạdày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8lần và lúc

60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tíchruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổigấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng0,11 lít) Còn dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơsinh khoảng 0,04 lít)theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] Sự tăng về kíchthước cơ quan tiêu hoá giúp lợn con tích luỹ được nhiều giúp lợn con tích luỹđược nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặcbiệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tốtác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn concũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá

Khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế Theo Hoàng Toàn Thắng vàCao Văn, (2006)[19] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không cóHCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịchnhày của dạ dày, hiện tượng đó gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự

do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein củathức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạtđộng thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoáprotein

Trang 19

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợntrước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị cóenzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn cácloại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữadịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoánhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sungsớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con.

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn consinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn cólợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnhđường tiêu hoá

2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con.

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại nãocủa lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và nănglực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, đổ ẩm)

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinhdưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dầnđến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâuthuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn

mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡngdẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậynên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phúc tình trạng khủng hoảngtrong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnhnên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhauthai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sốnghoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Trang 20

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dựtrữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn lông còn thưa, mặt khác diệntích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợncon dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét cònthấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăngtoả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùađông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phươngthức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiệnthuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

2.2.2.4 Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch.

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất

là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, dochức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá vàlượng HCl tiết ra ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạntrao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn

này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua

đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể.Lượngkháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Chonên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vàolượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] trong sữa đầu của lợn mẹhàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng proteintrong sữa chiếm 18-19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khálớn(30-35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai tròquan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng

Trang 21

–globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thụ nguyên vẹnnguyên tử -globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả nănghấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờtrong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsintuyến tuỵ và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên

24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn đạt tới20,3mg/100ml máu Sau 24h, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần vàkhoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu -globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậmhơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường củalợn trưởng thành có khoảng 65/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữađầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20-25 ngàytuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được búsữa đầu thì từ 20-

25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể,những lợn con khôngđược bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dê mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh

được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngănchặnđược bệnh xảy ra.Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàngđầu,xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy,việcphòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưcrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ

Trang 22

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu trữ hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cầnphải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, cácdụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Trang 23

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.

2.2.3.2.Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012)[5] nguyên tắc để điều trị bệnh là:+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,dùng thuốc

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạnchế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thìkhông nên chữa

- Các biện pháp chữa bệnh truyềnnhiễm là:

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng

Trang 24

kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :

Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữakhông khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian đểphát huy tác dụng của kháng sinh

Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụngđiều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con

2.2.4.1 Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái sinh sản

* Bệnh viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ vàđược đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tửcung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản Chính vì vậy bệnh viêm

tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Thanh và cs,(2004)[16] viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn náisau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gâyảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăngtình trạng chậm sinh và vô sinh

Trang 25

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007)[17] có nhiều nguyên nhân gây viêm tửcung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý,

vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trongcác trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề khángcủa cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gâynên các triệu chứng

- Triệu chứng

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệttới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo Phạm Ngọc Thạch và cs, (2013)[15] bệnh viêm tử cung ở lợn náiđược chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42ºC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy

đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra màu trắng đục đôi khi có máu lờlờ

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quảhoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chếtthai

Trang 26

- Hậu quả của việc viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con

Trần Tiến Dũng và cs, (2002)[4], Trần Thị Dân (2004)[2] cho biết: khilợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảythai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự cothắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi cóthể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tửcung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ởbuồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào vàgây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượngmáu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do

đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của

cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chếtlưu.Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượngprogesterone

giảmnênkhảnăngtăngsinhvàtiếtdịchcủaniêmmạctửcunggiảm,dođóbào thainhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kémhoặc chếtlưu

Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theomẹ thường bị tiêuchảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

Trang 27

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳnsữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bịtiêu chảy, còi cọc.

Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dụclại.Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thểvàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sựphát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dụctrở lại được và không thải trứngđược

Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcác nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởng tới hoạt động của buồngtrứng

Để phát hiện là lợn nái có bị viêm hay không, ta có thể quan sát quadịch tiết từ tử cung từ đó phát hiện bệnh viêm tử cung ở lợn nái

- Biện pháp phòng trị

+ Phòng bệnh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs, (2016)[12], vệ sinh chuồng trại sạch sẽmột tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạchbằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

và bầu vú

Theo Lê Văn Năm (2009)[11], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng

kỹ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệsinh sạch sẽ

Trang 28

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không đểnhiễm khuẩn.

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trựctiếp hoặc lấy tinh

+ Điều trị:

Theo Trần Thị Thuận (2005)[20], thụt rửa tử cung, âm đạo bằng một sốcác dung dịch sau: nước muối NaCl 1 - 2%, thuốc tím KMnO4 0,1%, lugol0,5 - 1%, rivanol 1 - 2%, thụt rửa 2 - 3 lần trong ngày đầy tiên, những ngàysau mỗi ngày một lần Nếu con vật sốt, mệt mỏi tiêm thuốc toàn thân: khángsinh penicillin + streptomycin hoặc ampicillin và thuốc trợ sức B - complex,cafein natribenzoat

Theo Phùng Quang Trường và cs, (2016)[21]: lợn viêm tử cung tiêmdưới da 1 mũi 2 ml lutalyse, thụt rửa tử cung 100 ml dung dịch lugol 0,1% vàsau đó là 100 ml dung dịch neomycin (5mg/kg)

* Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân

+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho

thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là:Staphylococcus sppvà Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs, 2007)[22].

+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi

khuẩnmycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra

viêm vú

+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cholợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa.Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi

khuẩn xâm nhập gây viêm như: E.coli, streptococus, staphylococus,

klebsiella…(Duy Hùng, 2011)[6].

Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú sẽ làm xây sát vú mẹ

Trang 29

tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập gây ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợnnái ăn thức ăn nhiều đạm quá sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết làm sữa ứđọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều (Trương Lăng, 2000)[7].

Theo Ngô Nhật Thắng (2006)[18], viêm vú thường xuất hiện ở một vài

vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vàothấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trườnghợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42˚C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sảnlượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú

Lê Hồng Mận (2007)[10] thì lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng cònlại căng sữa quá nên viêm Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch sẽ,hàng ngày không vệ sinh bầu vú Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặcnóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,viêm bàng quang, viêm thận Khi nái bị nhữnkg bệnh này vi khuẩn sẽ theomáu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh

Theo Ngô Nhật Thắng (2006)[18], viêm vú thường xuất hiện ở một vài

vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vàothấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trườnghợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42˚C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sảnlượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú

- Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thường quan sát thấy bầu vúsưng đỏ, khi xoa bầu vú ta thấy cảm giác nóng và hơi cứng khi vắt sữa thấy

Trang 30

không có sữa lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữađặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguyhiểm cho con vật, vì đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm

úp và cho con bú ít, lợn con bú ít, kêu la, gầy yếu, ỉa chảy

- Hậu quả của bệnh viêm vú

Hậu quả của bệnh viêm vú cũng rất nặng nề Nếu viêm vú ở thể nhẹđiều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng

vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các loại vi khuẩngây hoại tử xâm nhập qua vết thương Trên mặt da vú có màu hồng tím, sờthấy cứng con vật đau, tế bào bị hoại tử, mủ và mảnh tổ chức thải ra ngoàihạch lâm ba sưng to, sữa màu hồng nhạt và có mùi hôi thối, có triệu chứngtoàn thân nếu bị huyết nhiễm trùng hay nhiễm mủ thì bệnh khó chữa, con vật

có thể chết

Nguyễn Xuân Bình (2000)[1] cũng khẳng định lợn nái mất sữa sau khi

đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường haysốt liên tục 2 - 3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm, ảnhhưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trongđường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năngtiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo

- Biện pháp phòng trị

+Phòng bệnh

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[13] thì công tác phòng bệnh cầnphải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ, rắc vôi bộthoặc nước vôi 20% sau rửa sạch bằng nước thường Tắm cho lợn nái trướckhi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Thực hiện phòng bệnh:Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hàng ngàybằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn

Trang 31

con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống

đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chếnguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở nhữngvùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹlên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011)[6]

Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hoá Mộttuần trước khi đẻ phải giảm dần khối lượng thức ăn, để tránh hiện tượng sữaquá nhiều, lợn con bú không hết dẫn đến chua tạo điều kiện cho vi khuẩn xâmnhập, phát triển và gây bệnh Lợn nái ăn nhiều thức ăn còn làm cho thai quá

to chèn ép gây khó đẻ Trước khi đẻ 1 ngày phải cho lợn nái nhịn ăn nhưngcho uống nước đầy đủ

Sau khi đẻ lợn con phải được bấm nanh để tránh gây sây sát bầu vú vàcho lợn con bú ngay, để giảm sức căng của bầu vú Đồng thời cố định bầu vúcho lợn con để tránh hiện tượng có bầu vú không được bú sẽ gây viêm vú

+ Điều trị:

Điều trị cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đálạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25 -

0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây sang vú khác.

Điều trị toàn thân: sử dụng một số loại kháng sinh như penicillin,ampicillin, lincomycin, tetramycin đều đạt kết quả tốt Có thể dùng phác đồdufamox - G:1ml/10kg/TT Hoặc hanoxylin LA tiêm bắp liều1ml/10kgTT Dùng 1 ngày, nghỉ 1 ngày Điều trị trong 3 - 5 ngày Kết hợp vớitrợ sức, trợ lực

Trang 32

+ Đẻ khódo rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thànhbụng của gia súc mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:

+ Cơ co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ratrùng với cơn rặn đẻ nguyên phát

+ Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻmạnh nhưng không có kết quả

+ Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không dichuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quansát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vậnđộng, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp

để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010)[27]

+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ:

Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinhdưỡng thiếu so với nhu cầu dinh dưỡng của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ

bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻ của lợn yếu, thậmchí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra khó đẻ

Do cấu tạo các tổ chức phần mềm như:cổ tử cung, âm đạo giãn nởkhông bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việcđẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Hệ thống khung xương chậu hẹp hay bị biến dạng, khớp bán động hángphát triển không bình thường hay bị cốt hoá Ở thời gian có thai kỳ cuối, thaiquá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép tử cung làm tử cung bị xoắn hay vặnlại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũnggây khó đẻ

Do rối loạn hoocmone sinh dục cái: Kích tố nhau thai relaxin lúc đẻ tiết

ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bất động háng, không giãn dây c xương

Trang 33

chậu (không sụt mông) hoặc prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cungnên không tống thai ra ngoài được.

Hiện tượng đẻ khó do bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hay kết hợp lại với nhau như bàothai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai khôngbình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được Mặt khác trong quátrình thực hiện thủ thuật do không nắm vững thao tác kỹ thuật nên làm chogia súc đẻ càng khó khăn thêm như khi tư thế thai không bình thường, mà vẫnkéo thai ra ngoài thì càng làm cho thai bị kẹt chặt

Hậu quả của hiện tượng đẻ khó

+ Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con

bị chết

Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết

Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc

tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm Khi niêm mạc cónhững vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sảythai, đẻ non thậm chí là vô sinh

Ngày đăng: 25/02/2019, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15.Phạm Ngọc Thạch, Chu Đức Thắng, Đàm Văn Phải, Phạm Thị Lan Hương (2013), Giáo trình Thú y cơ bản, Nxb Nông nghiệp, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thú y cơ bản
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch, Chu Đức Thắng, Đàm Văn Phải, Phạm Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
16. Nguyễn Văn Thanh (2004), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở giasúc, gia cầm, Nxb Lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ởgiasúc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Lao động và xã hội
Năm: 2004
17. Nguyễn Văn Thanh (2007), “ Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ”, Tạpchí KHKT Thú y, tập 14, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trịbệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại vùng Đồng bằng BắcBộ”, "Tạpchí KHKT Thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
18. Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn
Tác giả: Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
19. Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vậtnuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học độngvậtnuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
20. Trần Thị Thuận (2005), Giáo trình chăn nuôi thú y cơ bản, Nxb Hà Nội, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi thú y cơ bản
Tác giả: Trần Thị Thuận
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
21. Phùng Quang Trường, Tăng Xuân Lưu, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hoài Nam (2016), “Một số bệnh sinh sản thường gặp và kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn rừng trong điều kiện nuôi nhốt”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tập 14, số 5, tr 885 -890.II. Tài Liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh sinh sản thường gặp và kết quả điều trị bệnhviêm tử cung ở lợn rừng trong điều kiện nuôi nhốt”, "Tạp chí Khoa họcNông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phùng Quang Trường, Tăng Xuân Lưu, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hoài Nam
Năm: 2016
22. Christensen R. V., Aalbaek B., Jensen H. E. (2007), “Pathology of udder lesions in sows”, J. Vet. Med.A Physiol. Patho.l Clin. Med. 2007 Nov.,54(9), tr. 491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of udder lesions in sows”, "J. Vet. Med.A Physiol. Patho.l Clin. Med
Tác giả: Christensen R. V., Aalbaek B., Jensen H. E
Năm: 2007
23. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia”, in Pig production in Autralia. Butterworths, Sydney, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metritis - Mastitis -Agalactia”, "in Pig production in Autralia. Butterworths
Tác giả: Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C
Năm: 1990
24. F. Madec và C.Neva (1995), Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái, Tạp chí khoa học thú y, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tử cung và chức năng sinh sản củalợn nái
Tác giả: F. Madec và C.Neva
Năm: 1995
25.Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7 th edition, Iowa state university press, pp. 40- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammary gland andlactaion problems”, "In disease of swine, "7th"edition
Tác giả: Smith, B.B. Martineau, G., Bisaillon, A
Năm: 1995
26. Taylor D.J. (1995), Pig diseases 6 th edition, Glasgow university, U.K.Urban, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N. (1983), “The metritis mastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”, Vestnik sel , skhozyaistvennoinaukiIII.Tài liệu internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pig diseases 6"th "edition", Glasgow university,U.K.Urban, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N. (1983), “The metritismastitis agalactia syndome of sows as seen on a large pig farm”,"Vestnik sel,skhozyaistvennoinauki
Tác giả: Taylor D.J. (1995), Pig diseases 6 th edition, Glasgow university, U.K.Urban, V.P., Schnur, V.I., Grechukhin, A.N
Năm: 1983
27.Trần Văn Bình (2010) , h t t / p: /p h ar m a v e t. v n/ ? t b a =f o r u m & id 1 = 35 0 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w