Để nhắc đến lịch sử đô thị 120 năm của thành phố Đà Lạt, vốn còn rất nhiều điểm còn chưa được biết đến một cách thấu đáo, Olivier Tessier, Trưởng đại diện của Viện Viễn đông Bác Cổ ÉFEO
Trang 11.2 Đà Lạt Và bản đồ
tạo nên thành phố…
Pascal Bourdeaux – Viện Viễn đông Bác Cổ,
thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu này được thực hiện trong bối
cảnh chào mừng năm giao lưu Pháp-Việt
2013-2014 Trong khuôn khổ các hoạt
động chào mừng, tuần lễ văn hóa Đà Lạt
(9-15/12/2013) đã được tổ chức và sự kiện mở
màn của tuần lễ văn hóa chính là lễ khai mạc
triển lãm «Đà Lạt Và bản đồ đã tạo nên thành
phố…» diễn ra ngày 9/12/2013 tại phòng
triển lãm Hòa Bình, thành phố Đà Lạt Ngoài
ra, đây cũng là thời điểm kỷ niệm 120 năm
ngày bác sĩ Yersin khám phá ra cao nguyên
Lang Biang với những điều kiện tự nhiên ưu
đãi, nơi sau này hình thành nên thành phố Đà
Lạt ngày nay
Để nhắc đến lịch sử đô thị 120 năm của thành
phố Đà Lạt, vốn còn rất nhiều điểm còn chưa
được biết đến một cách thấu đáo, Olivier
Tessier, Trưởng đại diện của Viện Viễn đông
Bác Cổ ÉFEO tại Việt Nam và tôi - những người tham gia vào xây dựng đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã quyết định lựa chọn góc tiếp cận bằng công cụ bản đồ lịch sử Góc tiếp cận này nhanh chóng thể hiện sự phù hợp
và độc đáo của mình trong việc làm sáng rõ
cả một mảng trong lịch sử của vùng, nhất là những điểm còn đang được tranh luận hiện nay về những thách thức và phương pháp cần áp dụng vào mục đích giữ gìn di sản đô thị Nghiên cứu tài liệu đã được chúng tôi thực hiện ở bốn nước với sự hỗ trợ của nhiều đồng nghiệp, chúng tôi cũng được nhiều cơ quan nhà nước, tư nhân và cá nhân tạo điều kiện để tiếp cận được với các nguồn tài liệu nguyên bản; nhân đây chúng tôi xin phép được gửi lời cảm ơn tới các cơ quan tổ chức
và cá nhân dưới đây:
Trang 2Chúng tôi đã thực hiện việc phân loại, sắp
xếp và phân tích nguồn tư liệu khổng lồ này
và từ đó hình dung được toàn bộ các dự án
quy hoạch đô thị được thực hiện tiếp nối
nhau trên cao nguyên Lang Biang và thành
phố Đà Lạt trong suốt thế kỷ 20 và thậm chí
cho tới tận hiện nay Chính quyền thành phố
Đà Lạt đã đặt hàng thực hiện một nghiên cứu
đánh giá triển vọng vào cuối năm 2013, đề
án «Điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành
phố Đà Lạt đến năm 2030, tầm nhìn 2050» đã
hoàn thành Đề án này đã được trình lên các
cơ quan chính phủ và chính thức được thông
qua vào giữa năm 2014 Nói như vậy để nhấn
mạnh rằng, câu chuyện về lịch sử đô thị
thành phố Đà Lạt mà chúng tôi chia sẻ trong
bài trình bày này sẽ mang đến cho chúng ta
một cái nhìn mới về thành phố - địa điểm tổ
chức khóa học mùa hè lần thứ hai liên tiếp,
đồng thời cũng giúp chúng ta có thêm chất
liệu về chủ đề «phát triển đô thị bền vững»
Trong bài trình bày này, chúng tôi tổng hợp lại các yếu tố quan trọng nhất từ catalogue các tư liệu đã được triển lãm vào tháng 12 vừa qua Nghiên cứu này của chúng tôi được thực hiện trên góc nhìn đa ngành, phương pháp luận và liên ngành qua đó cho thấy các chuyên ngành khác nhau về lịch sử, bản đồ
và quy hoạch đô thị cũng như cách tiếp cận lịch sử và tương lai có thể đối thoại với nhau như thế nào
1.2.1 Dẫn nhập
Việc sắp xếp trật tự của một không gian đô thị
sẽ phản ánh bản chất và sự đa dạng của các mối tương quan về quyền lực, quan hệ xã hội
và vị thế của các quan hệ đó, vốn là các yếu
tố nhào nặn nên một đô thị kể từ khởi nguồn Biểu diễn tất cả các quan hệ đó trong không gian, bản đồ sẽ giúp ta hình dung được những phương thức hình thành nên cấu trúc
xã hội, chính trị và kinh tế của một thời kỳ
Các cơ quan hỗ trợ tư liệu về lịch sử đô thị TP Đà Lạt
Cơ quan tổ chức tại Pháp Cơ quan tổ chức tại Việt Nam
Cục Lưu trữ hải ngoại
Viện Pasteur
Hội Kiến trúc (Cité de l’architecture)
Missions étrangères de Paris
Tu viện Couvent des Oiseaux
Ban lịch sử Bộ Quốc phòng (Service historique de
la défense)
Viện Địa lý quốc gia
Kho ảnh của ÉFEO
Cục Lưu trữ quốc gia (trung tâm lưu trữ số 1 tại
Hà Nội, số 2 tại thành phố Hồ Chí Minh, số 4 tại
Đà Lạt) Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng
Sở xây dựng TP Đà Lạt
Các cơ quan khác Cơ quan tổ chức tư nhân, cá nhân
Hội nghị quốc tế về kiến trúc hiện đại (Congrès
International de l’architecture moderne - Zurich,
Suisse)
Đại học Rikkyo (Tokyo, Nhật Bản)
Văn phòng kiến trúc Interscène
Tư liệu cá nhân của kiến trúc sư Veysseyre Hội những người bạn Huế xưa (Nouvelle Association des Amis du Vieux Huê) Eric Jennings (Đại học Toronto, tác giả một cuốn sách về lịch sử Đà Lạt)
Nhà nhiếp ảnh Tam Thái
1 Khung
Trang 3nhất định Tuy nhiên, mặc dù chính quyền ở
các thời kỳ khác nhau, từ thời kỳ thực dân đến
giai đoạn hiện nay, đã bao lần mong muốn
kiểm soát được việc quy hoạch trên thực tế,
nhưng phải thừa nhận một điều là Đà Lạt
ngày nay không có một chút gì là kết quả của
một sự phát triển liên tục và có kế hoạch
Tính thường kỳ của lịch sử đô thị tự áp đặt như
là điều hiển nhiên ngay khi ta xem xét toàn bộ
những kế hoạch chỉnh trang kế tiếp nhau từ
năm 1906 đến 1994 Nhìn về quá khứ, những
kế hoạch trên chứng tỏ sự lạc điệu lớn giữa
kế hoạch hóa đô thị được sắp xếp một cách
rất hoàn hảo với việc thực thi quá hỗn độn
và đôi khi lộn xộn, chứng tỏ rằng con người
không cam chịu bị trói buộc vào những loại
hình, hoạt động và không gian được xác định
từ trước nhưng được cho là quá xa so với thực
tiễn thường ngày của họ cũng như quá xa so
với khát vọng cá nhân và/hoặc tập thể
Đà Lạt có đầy đủ những đặc điểm của một
thành phố nghỉ dưỡng: «Tất cả các trạm nghỉ
mát trên cao mới được tạo ra và không một
trạm nào là sự phát triển từ một hạt nhân
nguyên thủy Chúng không có đặc tính phát
triển chậm của các thành phố cũng như
không có những lệ thuộc vốn có của một
trạng thái cũ Vì vậy, không có gì thúc đẩy để
định hướng toàn bộ các công trình xây dựng
ở những nơi này đến sự thể hiện kiến trúc, và
sự hoàn toàn tự do sáng tạo phải được thực
hiện» (Indochine hebdomadaire illustré, 1943)
Hơn nữa, sự phát triển đô thị ở đây được điều
chỉnh theo một nguyên tắc, đó là nguyên tắc
quy hoạch phân khu chức năng, tức là chia
khu và chuyên môn hóa không gian đô thị
tùy theo bản chất sử dụng Việc quy hoạch
đô thị tìm cách hợp lý hóa kế hoạch chỉnh
trang không gian bằng cách dung hòa hai
đặc tính nội tại của hệ thống thuộc địa Thứ
nhất là sự chung sống giữa dân thường và
quân sự, quân đội không thể thiếu để bảo vệ dân và bảo vệ tính bền vững của hệ thống Thứ hai là sự phân cách giữa cư dân người
Âu và người bản địa Theo những hoạch định đầu tiên, đây là nơi nghỉ dưỡng và khu đồn trú cho các đội quân, sau đó thành phố dao động giữa nhiều chức năng (trạm điều dưỡng, trung tâm nghỉ mát trên cao hướng tới du lịch và vui chơi giải trí ngoài trời, trung tâm chính trị) Đầu những năm 1960 đánh dấu sự chuyển tiếp sang đô thị hóa kiểu Việt Nam theo đúng lô-gic chuyển giao các dịch
vụ công của thành phố thuộc địa cho chính quyền mới của đất nước, song cũng là sự Việt Nam hóa các khu dân cư và các khu đất được
sử dụng khác của thành phố Cho đến năm
1975, nếu như thành phố vẫn phát triển chức năng du lịch, giáo dục và tôn giáo của mình, chính là do các vấn đề về an ninh và tiện ích công đã thúc đẩy triển khai những sáng kiến trong thành phố Thành phố cũng khẳng định khuynh hướng khoa học và đào tạo đại học Sau một thập kỷ chìm vào giấc ngủ, sự
ra đời của chính sách đổi mới (1986) đã mở đầu một động thái đô thị mới Từ nay nhiều vấn đề mới được đặt ra liên quan đến định hướng phát triển cho thành phố Năm 1994, một kế hoạch tổng thể đã được phê duyệt ở cấp nhà nước cao nhất nhằm xác định lại địa
lý của thành phố và của vùng cho tới thế kỷ
21 Những điều chỉnh gần đây giúp chúng
ta hình dung được các định hướng tương lai trong quy hoạch thành phố
Nếu bản đồ chắc chắn tạo ra thành phố, đồng thời trong một thời gian vun đắp hình ảnh của một «nước Pháp nhỏ miền nhiệt đới» (Le Brusq, 1999), thì xem xét triển vọng của việc lập bản đồ lịch sử và kết hợp nó với việc lập bản đồ tương lai có thể làm sáng tỏ những lựa chọn được mô tả ngày nay và từ
đó sinh ra sự phát triển của Đà Lạt
Trang 41.2.2 «Phát hiện» và các chuyến
khảo sát (1881-1905)
Những chuyến đi đầu tiên
Ý thức được sự thiếu hiểu biết của họ về phần
lớn lãnh thổ đã trở thành một thuộc địa của
Pháp từ năm 1867, chính quyền dân sự và
quân sự Nam Kỳ đã đưa ra một loạt các cuộc
thăm dò và trinh sát tại Tây Nguyên vào đầu
những năm 1880 Chuyến thám hiểm đầu
tiên do bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert
Septans thực hiện Họ đã tới cao nguyên Lang
Biang năm 1881, sau khi đã ngược lên đầu
nguồn sông Đồng Nai, nơi Raoul Humann đã
lập một bản đồ chi tiết «Thung lũng sông La
Ngà và Đồng Nai Thượng» vào năm 1889
Yersin không phải là người châu Âu đầu tiên đặt chân lên cao nguyên Lang Biang, nhưng chuyến thám hiểm ông thực hiện từ tháng 2 đến tháng 10/1893 nhằm đánh giá nguồn tài nguyên và xem xét khả năng xây dựng một con đường ở vùng này vẫn có ý nghĩa quyết định đối với thành phố Đà Lạt tương lai bởi vì chuyến đi này có thể coi là tiền đề cho việc khai sinh Đà Lạt Tuy nhiên, cũng nên tương đối hóa việc ông «phát hiện» ra cao nguyên Lang Biang ngày 21/6 vì thực ra trước đó rất lâu nơi đây đã có sự hiện diện của con người (các tộc người Lát, Sre, M’nông Chil Bih)
Cao nguyên Lang Biang năm 1925
Nguồn: Hội những người bạn Huế xưa (Nouvelle Association des Amis du Vieux Huê).
1 Ảnh
Trang 5Năm 1897, Doumer mong muốn xây dựng
một trạm nghỉ mát trên cao nên đã hỏi ý
kiến Yersin về điều kiện vệ sinh nơi đây, câu
trả lời của ông là cao nguyên Lang Biang đáp
ứng đầy đủ các tiêu chí: «độ cao phù hợp,
diện tích đủ, thời tiết ôn hòa, nguồn nước
có sẵn, giao thông có thể dễ tiếp cận» Cuối
cùng Doumer đã cho xây dựng gần Đăng Kia
(làng của tộc người Lát), còn gọi là Lang Sa
«phố Pháp», một đồn lính nhỏ cùng một đài
quan sát với trạm khí tượng và một trạm thử
nghiệm nông nghiệp
Từ năm 1897 đến năm 1900, nhiều phái đoàn
khảo sát về địa hình, khí tượng và y tế đã được
cử lên cao nguyên, với mục đích là để đánh
giá khả năng tiếp cận và điều kiện vệ sinh của
khu vực này Sau một loạt các chuyến khảo sát này, hiển nhiên là việc lựa chọn Đà Lạt đòi hỏi những nguồn nhân lực và tài chính kếch
xù, dẫn đến nhiều ý kiến gièm pha Một phái đoàn nghiên cứu mới được giao cho Debay, đối thủ của Yersin, thực hiện ở miền Trung (1900), tại Bà Nà Tuy nhiên, dự án vẫn cứ tiếp tục được thực hiện
Các công trình quy hoạch đầu tiên về đường giao thông
Ngay từ năm 1898, công trình làm con đường
bộ rải đá từ Phan Rang lên Đà Lạt đã được khởi công để có thể đi lại bằng ô tô, con đường bộ này được lát đá và rải nhựa trên chiều dài 48
km, kéo dài thêm theo con đường mòn dành
Vùng Đắk Lắk
Nguồn: Lưu trữ của Viện Pasteur, 38341.
2 Bản đồ
Trang 6cho la và xe thồ Duy chỉ có cầu Balach và
đường đi là cần phải được nâng cấp và mở
rộng Kế hoạch xây dựng tuyến đường xe lửa
cũng được nghiên cứu chạy từ Tháp Chàm và
bỏ qua Nha Trang Nhưng chi phí về tài chính
và thiệt hại về nhân lực của dự án này quá lớn
Số người thiệt mạng vì dự án này lên tới hàng
nghìn người, đến nỗi Hồ Chí Minh đã dẫn ví
dụ về việc xây các con đường Đà Lạt để minh
chứng cho những tội ác ghê gớm mà thực
dân đã phạm phải
1.2.3 Một thành phố đang bước
đầu thành hình (1900-1916)
Năm 1901, Đà Lạt mới chỉ có một nhúm nhà
văn phòng công chính phần lớn vẫn đang
còn xây dựng, một vài lán trại dành cho quân
lính và một khối nhà lớn bằng gỗ được sử
dụng làm khách sạn
Nhưng ngay từ đầu, trạm điều dưỡng Đà Lạt
đã được xem là nơi có hai chức năng quân sự
và dân sự, mục đích này đã dẫn đến việc tổ
chức không gian theo hai chức năng
Kế hoạch Champoudry (1906)
Paul Champoudry, Thị trưởng đầu tiên của
Đà Lạt được bổ nhiệm năm 1900, là người
khởi xướng đồ án đầu tiên về đô thị hóa được
duyệt vào năm 1906, theo đó đồ án xác định
sự tách biệt song hành: một bên là tách biệt
giữa hai cực quân sự (phần Bắc cao nguyên
cho tới đỉnh Lang Biang) và dân sự (phần
Nam cao nguyên) và một bên là tách biệt
giữa các khu vực cư dân người Âu và khu vực
người bản xứ Bản đồ này được thiết kế trên
cơ sở nguyên lý về chia khu nhằm tập hợp
các cơ quan và sở công chính hoạt động một
phần trong năm:
- khu vực trung tâm và phía tây: khu vực hành
chính, nhà thương và khu thương mại;
- phía tây: nhà ga và trường học tiếp nối với khu nhà ở
Trong thực tế, Đà Lạt chưa có nhiều phát triển cho đến đầu những năm 1910 Thời kỳ đó, thành phố chỉ có khoảng chục ngôi nhà nhỏ bằng gỗ và một vài tòa nhà bằng gạch tập trung thành trung tâm hành chính
Bước ngoặt Đại thế chiến
Việc kết hợp hai nhân tố đã kéo Đà Lạt ra khỏi tình trạng đờ đẫn:
- Đại Thế chiến lần thứ nhất bùng nổ khiến cho các kiều dân khó quay trở lại chính quốc và những người này quyết định ở lại Đông Dương;
- Sau nhiều đợt hoãn đi hoãn lại, một vài công trường xây dựng hạ tầng giao thông cũng được hoàn thành (mở rộng con đường nối Phan Thiết – Djiring – Đà Lạt hoàn thành năm 1914; tuyến đường sắt Tháp Chàm-Xóm Gòn được đưa vào khai thác năm 1916)
Nghị định ngày 6/1/1916 đã chính thức hóa việc thành lập cùng lúc thị tứ Đà Lạt và tỉnh Lang Biang Chỉ dụ của triều đình ngày 20/4/1916 đã công nhận quyết định này Trung tâm đô thị Đà Lạt trở thành xứ Pháp nằm bên trong xứ bảo hộ Trung kỳ
1.2.4 Thành phố phát triển (1915-1932)
Nhằm đối phó với sự tăng mạnh số lượng khách du lịch châu Âu thường xuyên đến nơi nghỉ mát này từ khi đại chiến thế giới lần thứ nhất nổ ra, toàn quyền Đông Dương lúc đó là Ernest Roume đã ra lệnh xây biệt thự và một khách sạn lớn, đó là khách sạn Lang Biang Palace (nay là Đà Lạt Palace) được xây trong các năm từ 1916 đến 1922 Về phần mình, Albert Sarraut đã thiết lập Sở Công chính
Trang 7chuyên tập trung cho việc xây dựng khu nghỉ
dưỡng và những con đường xung quanh
Cũng chính ở thời kỳ này mà hồ Xuân Hương
được đào ngay trung tâm thành phố vào
năm 1919
Đồ án quy hoạch của O’Neill (1919): cân bằng
quy hoạch lãnh thổ nghiêng về phía người dân
Vào năm 1919, Jean O’Neill đề xuất một bản
quy hoạch đô thị được xây dựng theo ba định
hướng chính:
- phần ruộng đất trưng dụng cho khu doanh
trại quân lính chiếm độc quyền toàn bộ
phần diện tích nằm bên bờ hữu ngạn sông
Cam Ly nay bị thu hẹp lại nhiều và được
chia thành hai vùng đẩy lùi lên phía Tây Bắc
và Đông Nam khu đô thị;
- vùng đất tập hợp những khu đất thuộc sở
hữu của Nhà nước được giải phóng, chia lô
“để bán” và “để dành riêng”;
- ở phía hạ lưu con đập của hồ nhân tạo đang xây dựng, có một khoảnh không gian được vạch định cho việc du nhập một “làng người An Nam”
Nếu như hai khuynh hướng lúc đầu của thành phố được chấp nhận thì việc cân bằng lại sự chiếm đóng lãnh thổ nghiêng nhiều về phía người dân Những yêu cầu nhượng đất thuộc
sở hữu Nhà nước, tạm thời hay vĩnh viễn, đã minh họa cho những thay đổi trong việc sử dụng không gian
Tiếp theo sau Chỉ dụ của triều đình ngày 11/10/1920 lập cao nguyên Lang Biang là khu
tự trị nằm bên trong tỉnh được lấy tên từ cao nguyên này, nghị định ngày 31/10 đã chính thức hóa việc thành lập thị tứ Đà Lạt và xác định rõ bản chất tổ chức hành chính của thị
tứ này
Cảnh hồ Đà Lạt (1919)
Nguồn: Hội những người bạn Huế xưa (Nouvelle Association des Amis du Vieux Huê).
2
Ảnh
Trang 8Đồ án quy hoạch của Hébrard (1923) hay ý
tưởng về một thành phố Đà Lạt « đô thị-thủ đô »
Bản đồ án của Hébrard hướng tới thành lập
một trung tâm chính trị và hành chính quan
trọng bậc nhất kết hợp với các chức năng giải
trí và dưỡng bệnh Theo đó, Hébrard đi tới xác
định ba “thành phố” trong một:
- Một khu người Việt thực thụ Ông ta lên kế
hoạch mở rộng khu này về phía Bắc của
làng mà O’Neill đã xác định trước Hébrard
đề xuất thiết lập khu người Việt thứ hai gần
với trung tâm hành pháp trong trường hợp
trung tâm này ra đời
- Một thành phố dành cho người châu Âu cư
trú gồm ba lô lớn
- Một trung tâm hành chính sẽ sớm tiếp nhận
thủ đô mùa hè của Hội đồng Đông Dương
Tiếp tục theo hướng này, ông này còn dự
kiến xây dựng một “trung tâm hành pháp”
lớn về phía Đông thành phố, được xem như
thủ đô hành chính của Đông Dương
Bản đồ án này hoàn toàn lờ đi vấn đề phát
triển hạ tầng du lịch cũng như các yếu tố
cảnh quan Được duyệt vào năm 1923, dự án
tỏ ra có quá nhiều tham vọng Cuối cùng, chỉ
có một trong ba hạng mục phân lô và con
đường dạo quanh hồ là trở thành hiện thực
Đường xá lên Đà Lạt cũng được cải thiện
Năm 1918, đã có thể đi đường bộ từ Sài Gòn
lên Đà Lạt trong một ngày Năm 1919, con
đường nối Phan Rang – Đà Lạt xe cộ đã có
thể đi lại được từ đầu đến cuối
Công trường xây dựng tuyến đường sắt mất
thời gian hơn rất nhiều: mãi đến năm 1938,
một nhà ga mới được đưa vào sử dụng
Đổ xô về Đà Lạt và những hệ quả đi theo
Đà Lạt cũng là một địa điểm nghỉ ngơi và giải trí Người ta làm mọi thứ để thu hút du khách qua việc xây dựng một không gian
đô thị dễ chịu và thoải mái, vừa đảm bảo các tiêu chí thẩm mĩ và thống nhất về kiến trúc Một trong những nét hấp dẫn du khách đến thành phố này là hoạt động săn bắn thú rừng Ngoài săn bắn ra, Đà Lạt còn giới thiệu nhiều hành trình dã ngoại đi bộ xung quanh thành phố hoặc xe hơi Để đảm bảo đủ chỗ lưu trú cho du khách có tiền, nhiều khách sạn hạng sang đã được xây dựng (Lang Biang Palace, khách sạn Desanti, Hôtel du Parc, và mấy năm sau, khách sạn Annam và khách sạn Chic Shanghai cũng được xây dựng)
Vào năm 1930, thành phố có khoảng 350 người châu Âu sinh sống cùng với gần
10 000 người Việt Nam, cộng thêm cư dân Sài Gòn khoảng 1 700 người trong đó có nhiều người Sài Gòn đến nghỉ Sự gia tăng dân số này khẳng định vai trò thành phố nghỉ dưỡng của Đà Lạt cũng như xu hướng đẩy dần các công trình quân sự ra khỏi khu vực trung tâm thành phố
1.2.5 Tham vọng trái ngược của một đô thị-thủ đô (1932-1940)
Các đồ án quy hoạch của Pineau
Thập niên 1930 là thời gian của mọi tham vọng Đồ án quy hoạch tổng thể mới với độ chính xác cao của nhà quy hoạch đô thị Pineau
đã đưa Đà Lạt hướng tới một dự án quy hoạch
đô thị thực thụ, hòa nhập với môi trường của
nó Một loạt đồ án-dự đoán và đồ án-kế hoạch được lập và cụ thể hóa theo chủ đề những định hướng mong muốn Pineau nhấn mạnh tới các hạng mục mở rộng hồ nhân tạo, các khu vườn, cũng như chăm chút cho sự đa dạng về kiến trúc để phát triển Đà Lạt thành
Trang 9một «thành phố-khách sạn», và bảo tồn cảnh
quan cũng như không gian thiên nhiên
Nước, nhân tố tạo nên cấu trúc một đô thị-vườn
Tiếp cận và kiểm soát được nguồn nước là
trọng tâm của quá trình phát triển thành phố,
để đảm bảo đồng thời các vấn đề về vệ sinh,
phúc lợi xã hội, thực nghiệm sinh học-nông
học và đáp ứng được nhu cầu sau này đối
với nước và năng lượng Các hồ biến Đà Lạt
thành một thành phố-vườn Tuy nhiên, đến
tháng 5/1932, một cơn bão gây ra mưa lớn, vỡ
đập và lũ lụt mặc dù đã có biện pháp phòng
ngừa, khiến 17 người chết, đều là người Việt
Nam Thảm kịch này khiến các nhà quy hoạch
phải có biện pháp quản lý và phòng ngừa rủi
ro tốt hơn Việc vỡ đập cũng đẩy nhanh tiến
độ các dự án mở rộng hồ (nạo vét, quy hoạch
bờ bao, thành lập câu lạc bộ du thuyền mang
tên «la Grenouillère» - Đầm Ếch ).
Các chức năng đô thị mới và mở rộng cảnh quan
Năm 1936, thị xã Đà Lạt được tổ chức lại
thành hai khu vực đô thị nội đô và ngoại ô Đà
Lạt nổi lên với nhiều công sở và cơ quan đại
diện cho quyền lực của thực dân Hoàng đế
Bảo Đại thường xuyên lưu tại đây Nhiều tiện
ích công mới phát triển: một bệnh viện lớn
được xây dựng vào năm 1932, nhà ga và khu
vực chợ được quy hoạch lại, trường trung học
được đổi tên thành trường Alexandre Yersin
vào năm 1935, phân viện của Viện Pasteur
cũng được khánh thành vào năm 1936
Nếu từ lâu Đà Lạt đã có một «khu phố An
nam», thì ở thập kỷ này đã bắt đầu có những
bước đầu tiên trong việc gia tăng mật độ cư
trú cũng như xu hướng sinh sống lâu dài
Ngoài các khu nhà ở, thương mại, nhà vườn
trồng rau thuộc về người Việt, một thành phố
bản xứ nữa được bố trí ở khu vực phía Tây,
gần ga xe lửa sau này
Đà Lạt trước hết vẫn là một thành phố nghỉ mát Du lịch, những thú ăn chơi của xã hội thượng lưu, ẩm thực sánh vai tự nhiên cùng thể thao, phục hồi thể lực và hé mở đời sống văn hóa địa phương Một mặt, người ta tìm thấy ở đây thực phẩm của «Pháp» vốn có thể thiếu trầm trọng ở những nơi khác Mặt khác, điều kiện thuận lợi cho hoạt động thể thao đã khiến nơi đây thành trung tâm thể thao quan trọng của thuộc địa (sân quần vợt, đường đua xe đạp, đường đua ngựa, câu lạc
bộ đua thuyền, sân golf 18 lỗ, sân bóng đá)
Không gian xanh bao quanh Đà Lạt tăng thêm sức thuyết phục về sự quyến rũ của nó Một trong những hướng phát triển là nhằm xây dựng một «thành phố-cảnh quan» hòa nhập vào cao nguyên Lang Biang, tức là một thành phố trong rừng Điều này đòi hỏi phải thực hiện giải phóng mặt bằng theo hình nón để bảo vệ tầm nhìn toàn cảnh quan đặc biệt của miền núi Bên trong thành phố, các khu vườn và không gian được mở rộng để bảo vệ được di sản thiên nhiên này
1.2.6 Kết quả triển khai và những điều xảy ra ngoài kế hoạch quy hoạch dưới thời thuộc địa (1941-1955)
Đồ án quy hoạch của Lagisquet và việc kéo dài khu vực đô thị nội đô
Đầu những năm 1940 là một thời kỳ mới có nhiều thay đổi của thành phố Chính quyền thực dân bắt tay vào các dự án mới làm đẹp
và mở rộng thành phố, là một phần của kế hoạch rộng lớn hơn về chỉnh trang và quy hoạch đô thị trên toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp Một ban quy hoạch đô thị và kiến trúc trung ương đã được lập vào tháng 12/1940 để thực hiện ý tưởng này, đồng thời một cao ủy về quy hoạch, làm đẹp và mở
Trang 10rộng các thành phố đã bắt đầu nhiệm vụ của
mình năm 1941
Đồ án Lagisquet năm 1943 là đề xuất cải
thiện cơ cấu cuối cùng tái hiện thực những
kế hoạch tiếp theo nhằm nhấn mạnh đến
một số phương diện phát triển và làm đẹp
thành phố Đà Lạt vốn được cho là một «nước
Pháp nhỏ miền nhiệt đới» vì thế cần phải gìn
giữ những lợi thế thẩm mỹ và cảnh quan
Song dự án cũng đã phải đối mặt với những
thách thức về dân số
Chính sách kế hoạch hóa tập trung đặc biệt
chú ý đến nông nghiệp và quân đội Decoux
đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng hạ
tầng cho giáo dục và thể thao dành cho
thanh niên cũng như đưa ra một chính sách
mới về nhà ở xã hội ở khu vực ngoại ô
Ảo tưởng về một thành phố thủ đô với một vài
công trình xây dựng nổi tiếng
Đà Lạt trở thành thủ đô cố định dưới thời
Decoux Khi Hội nghị Đà Lạt được tổ chức
năm 1946, nó đã trở thành một thủ đô Liên
bang Đông Dương phi thực tế Sau đó, vào
năm 1949, khi trở về Việt Nam, Bảo Đại đóng
đô làm việc tại Đà Lạt đã làm rạng rỡ thêm
cho xứ sở này Cho đến năm 1955, ông đã
lấy Đà Lạt làm thủ đô không chính thức
để lãnh đạo Quốc gia Việt Nam và lãnh thổ
vùng Cao nguyên Nam phần, «hoàng triều
cương thổ» trực tiếp thuộc quyền của mình
Thành phố có thể tự hào về nhiều công trình
xây dựng uy tín tượng trưng cho quyền lực,
đứng đầu trong số đó là dinh Toàn quyền
cũ (được xây dựng từ năm 1933 đến năm
1937), nơi Decoux đã làm việc trong thời
gian nửa năm, hay biệt thự thứ hai của cựu
Hoàng đế An Nam được khởi công năm 1938
Tháng 11/1950, Trần Đình Quế trở thành thị
trưởng người Việt đầu tiên của thành phố
Đà Lạt đón nhận những cơ sở quân sự mới
(Trường thiếu sinh quân, Trường võ bị được thành lập năm 1950) và các cơ quan hành chính tỉnh và quốc gia Những năm 1950 đánh dấu việc thành phố thuộc địa trở thành thị xã Việt Nam, song song với việc chuyển giao quyền lực
Làm đẹp đô thị và bảo tồn cảnh quan
Từ 4500 người vào năm 1935, dân số thành phố đã tăng ba lần vào năm 1942 và tăng lên đến 25 500 người vào năm 1944 Sau đó, trong giai đoạn 1946-1953, khoảng hơn chục làng được hình thành và phát triển lên thành phường, thường là của những người dân di
cư cùng quê
Phong cách kiến trúc theo chủ nghĩa chiết trung được phản ánh trong nhiều công trình tôn giáo bắt đầu vào những năm 1930 và tiếp tục trong những năm 1950 Ngoài rất nhiều địa điểm theo Thiên chúa giáo, thành phố còn có nhiều đền thờ, lăng mộ lớn thờ Nguyễn Hữu Hào và nhiều chùa Tổng cộng
có hơn 40 chùa, 29 nhà thờ nhỏ và nhà thờ,
15 dòng Công giáo
Do ít có dự án xây dựng được thực hiện nên thành phố vẫn giữ được tầm nhìn cảnh quan Các khu vườn và khu vực trồng hoa làm tăng thêm sự hài hòa giữa phần xây dựng và các không gian thiên nhiên của thành phố Đây chắc chắn là thời kỳ hoàng kim trong quy hoạch kiến trúc và cảnh quan của Đà Lạt Thành phố được phát triển theo nhiều phong cách đa dạng Năm 1942, toàn thành phố có 730 biệt thự và chừng ấy vườn Các tòa nhà công chính được xây dựng chủ yếu theo phong cách hiện đại Các tòa nhà mới xây dựng trong thời gian này chủ yếu theo phong cách chức năng Di sản kiến trúc của thành phố đã trở thành biểu tượng và mang đến cho thành phố độ chín về thẩm mỹ