1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sổ tay Theo dõi việc Xét xử trong Tố tụng Hình sự

230 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 913,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Nguyên tắc Căn bản về Việc Sử dụng Vũ lực và Vũ khí ở Cán bộ Quan chức Hành pháp Concluding observation Kết luận quan sát Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination

Trang 1

Tố tụng Hình sự

Cẩm nang Hướng dẫn Thực hành số 5

Trang 2

Ủy ban Luật gia Quốc tế (International Commission of Jurists – ICJ) là một tổ chức phi chính phủ, có sứ mệnh tăng cường sự hiểu biết về nguyên tắc pháp trị, thúc đẩy việc thực thi nguyên tắc pháp trị, và bảo vệ nhân quyền trên phương diện pháp lý cho toàn thế giới ICJ đóng trụ sở ở Geneva, Thụy Sĩ, và

có nhiều văn phòng quốc gia cũng như các tổ chức trực thuộc ICJ có tư cách

cố vấn tại Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, UNESCO, Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Phi ICJ cũng có quan hệ hợp tác với các cơ quan khác nhau thuộc Tổ chức Các Quốc gia châu Mỹ

© Bản quyền thuộc về Ủy ban Luật gia Quốc tế (ICJ)

ICJ cho phép trích dẫn lại, miễn phí, bất kỳ phần nào trong các ấn phẩm củaICJ, với điều kiện phải có sự tham chiếu thích đáng và phải gửi bản copy ấnphẩm có trích dẫn đó đến trụ sở của ICJ ở địa chỉ sau:

International Commission of Jurists

P.O Box 91

33, rue des Bains

Geneva

Switzerland

® Trial Observation Manual for Criminal Proceedings –

Practitioners Guide No 5

ISBN: 978-92-9037-141-2

Geneva, 2009, 2015 for the Vietnamese edition

Trang 3

Tố tụng Hình sự

Cẩm nang Hướng dẫn Thực hành số 5

Trang 4

This Guide was written by Paul Richmond and Federico Andreu-Guzmán Samir Alla, Front Line and Marion Marshrons provided translated mate- rial in Arabic, English and Spanish Sạd Benarbia, Ravi Nạk, Samantha Stark, Priyamvada Yarnell and José Zeitune assisted with editing and production Leah Hoctor and Priyamvada Yarnell coordinated the production process.

This Guide is available in Arabic, English and Spanish.

Cover photographs of the Trial for the Murder of Jesuits in El Salvador,

1991 The ICJ is grateful to Universidad Centroamericana “José Simeĩn Cađas”, El Salvador for providing the photographs that are reproduced

in this publication Universidad Centroamericana “José Simeĩn Cađas”

holds copyright of these photographs.

The ICJ is particularly grateful to Front Line, The International Foundation for the Protection of Human Rights Defenders, for its collab- oration and partnership, and without whose initiative and vision the Project on Trial Observation, of which this Guide is one part, would not have been possible.

This publication was made possible due to the financial support of the Foreign Office of the Federal Republic of Germany.

ngữ sang các bản tiếng Ả-rập, tiếng Anh và Tây Ban Nha Sạd Benarbia, Ravi Nạk, Samantha Stark, Priyamvada Yarnell và José Zeitune hỗ trợ việc biên tập và xuất bản Leah Hoctor và Priyamvada Yarnell điều phối việc xuất bản

Cẩm nang này cĩ các bản tiếng Ả-rập, tiếng Anh và Tây Ban Nha Ảnh bìa là phiên xét xử tội giết các tu sĩ dịng Tên (Jesuit) ở

El Salvador vào năm 1991 ICJ cảm ơn Đại học Trung Mỹ,

Universidad Centroamericana “José Simeĩn Cađas”, đã cung cấp cho ICJ những bức ảnh đĩ để in lại trong ấn phẩm này Universidad Centroamericana “José Simeĩn Cađas” giữ bản quyền ảnh.

ICJ đặc biệt cảm ơn Front Line, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Những Người Bảo vệ Nhân quyền, vì sự hợp tác và đối tác, và nếu khơng cĩ những sáng kiến và viễn kiến [tầm nhìn – ND] của họ, thì Dự án

về Theo dõi Việc Xét xử, mà Cẩm nang này là một phần của dự án

đĩ, sẽ khơng thể thực hiện được

Ấn phẩm ra đời được cũng nhờ sự hỗ trợ về mặt tài chính của Bộ Ngoại giao nước CHLB Đức

Trang 5

GHI CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH

Trong bản tiếng Việt này, thành phần chú thích đặt trong dấu ngoặc đơn (…)

là của tác giả bản gốc, trong dấu ngoặc vuông […] là của người dịch.

Do nhiều khái niệm pháp lý trên thế giới chưa có cách gọi tương đương trong tiếng Việt, nên người dịch phải tìm cách giải thích và sau đó “gán” cho khái niệm đó một thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ ấy có thể không mô tả chính xác bản chất của khái niệm, vì vậy, độc giả không nên hiểu đó là cách dịch duy nhất đúng, mà có thể chỉ để tham khảo

Ví dụ các khái niệm chưa có trong tiếng Việt:

- “Impunity”: Tội ác không bị trừng phạt (được định nghĩa trong Chương IX, phần về Impunity)

- “Gross human rights violation”: Hành vi/Sự vi phạm nhân quyền thô bạo

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, để tránh lặp từ, dịch giả cũng dùng những cách gọi khác nhau để chỉ cùng một khái niệm Ví dụ:

- Trong sổ tay này, “due process” nói chung được dịch là “pháp trình chính đáng” Tuy nhiên, nó cũng có lúc được gọi là “tố tụng chuẩn” hoặc “trình tự pháp luật hợp lý”

- “Guarantee” có chỗ được dịch là “bảo đảm”, có chỗ là “yêu cầu”, ví

dụ “judicial guarantee” là “yêu cầu tư pháp”

- “Impartiality” được dịch là “vô tư” và/hoặc “không thiên vị”

- “Fair trial” được dịch là “xét xử công bằng” hoặc “xét xử công minh”,

“phiên tòa công bằng” hoặc “phiên tòa công minh”

- “Trial observation” là hoạt động quan sát, theo dõi, giám sát một tiến trình tố tụng Trong sổ tay này, có chỗ nó được dịch là “quan sát tòa”, có chỗ là “theo dõi việc xét xử”

- “Sending organization” được dịch là “tổ chức cử/phái/gửi người đi quan sát tòa”

- v.v

Nội dung của các chú thích chủ yếu là cung cấp nguồn tài liệu gốc để độc giả tham khảo Để giúp các bạn tiện tra cứu, người dịch giữ nguyên tên tiếng Anh

Trang 6

của tất cả các tài liệu, số hiệu, ngày tháng ban hành, tên tổ chức ban hành Dưới đây là tên gọi tiếng Anh và tiếng Việt của các tài liệu, các điều ước quốc

tế, và các tổ chức được nhắc đến nhiều trong sổ tay:

American Convention on Human

Rights

Công ước Mỹ về Nhân quyền

Arab Charter on Human Rights Hiến chương Ả-rập về Nhân quyềnBasic Principles on the Use of Force

and Firearms by Law Enforcement

Officials

Các Nguyên tắc Căn bản về Việc Sử dụng Vũ lực và Vũ khí ở Cán bộ (Quan chức) Hành pháp

Concluding observation Kết luận quan sát

Convention on the Elimination of

All Forms of Discrimination against

Women

Công ước về Xóa bỏ Tất cả Các Hình thức Phân biệt Đối xử nhằm vào Phụ nữ

Declaration on the human rights of

individuals who are not nationals of

the country in which they live

Tuyên ngôn về nhân quyền của những

cá nhân không phải là công dân ở nước họ đang sống

Declaration on the Protection

of All Persons from Enforced

Disappearances

Tuyên ngôn về việc Bảo vệ Tất cả Mọi người Khỏi Nạn Mất tích Cưỡng bức

Declaration on the Right and

Responsibility of Individuals, Groups

and Organs of Society to Promote

and Protect Universally Recognized

Human Rights and Fundamental

Freedoms

Tuyên ngôn về Quyền và Trách nhiệm của Cá nhân, Nhóm và Các Tổ chức Dân sự Nhằm Thúc đẩy và Bảo vệ Quyền Con người và Các Quyền Tự do Căn bản Được Thừa nhận Phổ quát

European Convention on Human

Rights

Công ước châu Âu về Nhân quyền

European Court of Human Rights Tòa án châu Âu về Nhân quyền

Guidelines on the Role of Prosecutor Hướng dẫn về Vai trò của Công tố

viên

Trang 7

Human Rights Committee Ủy ban Nhân quyền của LHQ (khác

Hội đồng Nhân quyền của LHQ)Inter-American Commission of

Human Rights

Ủy ban Liên Mỹ về Nhân quyền

International Convention on the

Protection of All Persons from

Enforced Disappearances

Công ước Quốc tế về Bảo vệ Tất cả Mọi người Khỏi Nạn Mất tích Cưỡng bức

International Convention on the

Protection of the Rights of All

Migrant Workers and Members of

Principles and Guidelines on the

Right to a Fair Trial and Legal

Assistance in Africa

Các Nguyên tắc và Hướng dẫn về Quyền Được Xét xử Công bằng và Được Trợ giúp Pháp lý ở châu Phi

UN Basic Principles on the

Independence of the Judiciary

Các Nguyên tắc Căn bản của LHQ về

UN Body of Principles for the

Protection of All Persons under Any

Form of Detention or Imprisonment

Tập hợp Các Nguyên tắc của LHQ Nhằm Bảo vệ Tất cả Mọi người Khỏi Mọi Hình thức Giam giữ hoặc Cầm tù

UN Human Rights Defenders

Declaration

Tuyên ngôn LHQ về Những Nhà Bảo

vệ Nhân quyềnUnited Nations (UN) General

Assembly

Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ)

United Nations Guidelines for the

Prevention of Juvenile Delinquency

Hướng dẫn của LHQ về Ngăn chặn Tội phạm Vị thành niên

Trang 8

United Nations Standard Minimum

Rules for the Administration of

Juvenile Justice

Bộ Quy tắc Chuẩn Tối thiểu của LHQ

về Thực thi Công lý ở Vị thành niên (Quy tắc Bắc Kinh)

United Nations Standards Minimum

Rules for Non-custodial Measures

(The Tokyo Rules)

Bộ Quy tắc Chuẩn Tối thiểu của LHQ

về Các Biện pháp Không Giam giữ (Quy tắc Tokyo)

Universal Declaration of Human

Rights

Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền

Trang 9

Một số từ viết tắt được dùng khi trích dẫn tài liệu, theo thông lệ quốc tế:

Cit Viết tắt của “citato”, tiếng Latin, nghĩa là: đã dẫn

doc Viết tắt của “document”, tiếng Anh, nghĩa là: tài liệu

Et al Tiếng Latin, nghĩa là: và những người khác

Ví dụ: Castillo Petruzzi et al v Peru, nghĩa là: Castillo Petruzzi

và những người khác với nhà nước Peru

ibid Viết tắt của “ibidem”, tiếng Latin, nghĩa là: cùng một chỗ

Ví dụ: ibid : Nghĩa là đây là tài liệu đã được trích dẫn ngay trước đó và cùng số trang

ibid., p 45: Tài liệu đã được trích dẫn ngay trước đó và khác số trang (trang 45 trong ví dụ này)

ibid, para 65: Tài liệu đã được trích dẫn ngay trước đó và khác đoạn (đoạn 65 trong ví dụ này)

Inter alia Tiếng Latin, nghĩa là “một trong số đó” Hàm ý là có rất nhiều

tài liệu, nhưng đang nói đến một trong số đó

para Viết tắt của “paragraph”, tiếng Anh, nghĩa là: đoạn

vs., v Viết tắt của “versus”, tiếng Anh, nghĩa là: chống, chống lại Tên

các vụ án thường được gọi theo công thức: A vs B hoặc A v B Trong các vụ án hình sự, B là nhà nước

Ví dụ: Miguel González del Río v Peru, nghĩa là: Miguel Gonzáles del Río với Nhà nước Peru

Cuối cuốn sổ tay này có bảng từ vựng tiếng Anh để giúp các bạn nắm được một số thuật ngữ pháp lý căn bản

Vì nhiều lý do, bản dịch chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong độc giả lượng thứ và góp ý, trao đổi thêm

Dịch giả: Phạm Đoan Trang

Hiệu đính: Trịnh Hữu Long

Trang 10

4 Chức năng nhiệm vụ và chỉ dẫn dành cho người quan sát phiên tòa 7

6 Thông báo cho các cơ quan nhà nước về việc quan sát tòa 13

9 Tuyên cáo gửi truyền thông trước khi quan sát phiên tòa 15

Trang 11

8 Tập trung vào khía cạnh thủ tục của phiên tòa 23

i Gặp Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa 27

iii Gặp công tố viên hoặc thẩm phán điều tra 28

v Gặp đại diện pháp lý và/hoặc người thân của nạn nhân

10 Tuyên cáo trong quá trình quan sát phiên tòa 31

III BÁO CÁO KẾT QUẢ QUAN SÁT PHIÊN TÒA 33

IV XÉT XỬ CÔNG BẰNG – NHỮNG TIÊU CHUẨN CHUNG 44

2 Quyền được xét xử bởi một tòa án độc lập, vô tư, có thẩm

5 Tòa án có thẩm quyền, được lập ra trên cơ sở pháp luật 53

Trang 12

Các tiêu chuẩn chung về xét xử công bằng và pháp trình chính

Bảng 1: Liên Hợp Quốc và những chuẩn mực theo các công ước

Bảng 2: Các tiêu chuẩn theo những công cụ có tính chất tuyên bố

Bảng 3: Các tiêu chuẩn dựa theo những công cụ mang tính chất

V CÁC TIÊU CHUẨN ÁP DỤNG CHO VIỆC BẮT GIỮ VÀ GIAM

NGƯỜI TRƯỚC KHI XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 63

1 Quyền được tự do về thân thể và cấm bắt giữ tùy tiện 63

2 Quyền được thông tin về lý do bắt giữ và nguyên nhân của bất

5 Quyền được có thời gian và phương tiện thỏa đáng để chuẩn bị

6 Quyền không bị biệt giam (không được tiếp xúc với thế giới bên

7 Quyền được nhanh chóng đưa ra trước thẩm phán 74

9 Quyền được đưa ra xét xử trong khoảng thời gian hợp lý 76

10 Các quyền được hưởng trong quá trình điều tra 77

11 Quyền bị giam giữ ở một nơi giam giữ chính thức 79

12 Quyền được đối xử nhân đạo và không bị tra tấn trong khi bị

Trang 13

Các tiêu chuẩn về bắt, tạm giam tiền xét xử và điều tra hình sự 84Bảng 1: Liên Hợp Quốc và những chuẩn mực theo các công ước

Bảng 2: Các tiêu chuẩn theo những công cụ có tính chất tuyên bố

Bảng 3: Các tiêu chuẩn dựa theo những công cụ mang tính chất

VI CÁC TIÊU CHUẨN ÁP DỤNG CHO TIẾN TRÌNH XÉT XỬ 90

8 Quyền bình đẳng về quyền năng (Nguyên tắc bình đẳng về

10 Quyền không bị ép phải nhận tội hoặc phải khai bất lợi cho

11 Quyền bác bỏ các bằng chứng có được nhờ các biện pháp bất

12 Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn vô lý 112

13 Nguyên tắc về tính hợp pháp của điều luật được dùng để cáo

Trang 14

14 Cấm áp dụng hồi tố trong luật hình sự (Nguyên tắc luật hình

15 Cấm kết án hai lần cho cùng một tội danh (Ne Bis In Idem) 117

16 Quyền được nhận phán quyết công khai và có lý lẽ 119

17 Quyền không phải chịu hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng vào thời điểm phạm tội hình sự, và quyền được hưởng lợi từ

18 Quyền không bị trừng phạt không theo các tiêu chuẩn quốc tế 121

Bảng 1: Các tiêu chuẩn theo công ước của Liên Hợp Quốc và khu

Bảng 2: Các tiêu chuẩn theo những công cụ có tính chất tuyên bố

Bảng 3: Các tiêu chuẩn dựa theo những công cụ có tính chất

A Người phạm tội vị thành niên và hệ thống pháp luật hình sự 134

1 Nguồn của các quyền bổ sung về xét xử công bằng dành cho

2 Các nguyên tắc chung về cách đối xử với trẻ em 136

3 Các yêu cầu chung về cách đối xử với trẻ em 138

4 Quyền của trẻ em khi bị bắt và bị giam giữ trước xét xử 140

Trang 15

5 Tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các quyền xét xử công bằng 148

7 Không được hành quyết khi đơn kháng cáo và xin khoan

C Các tòa án đặc biệt và tố tụng hình sự đặc biệt 150

2 Sự cần thiết phải có các tiêu chuẩn duy lý và khách quan để

giải thích sự tồn tại của các tòa án đặc biệt hay tiến trình tố

3 Người quan sát tòa, các tòa án và thủ tục tố tụng đặc biệt 152

2 Người quan sát tòa và các phiên tòa quân sự 155

Trang 16

E Quyền được xét xử công bằng trong tình trạng khẩn cấp 156

2 Tình trạng khẩn cấp và việc xét xử công bằng 157

VIII QUYỀN CỦA NẠN NHÂN VÀ TIẾN TRÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 162

B Quyền và các tiêu chuẩn được áp dụng đối với nạn nhân của

1 Các chuẩn mực chung về cách đối xử của cơ quan chính

2 Quyền được bảo vệ khỏi sự ngược đãi và đe dọa 168

3 Quyền tố cáo tội ác với các quan chức hành pháp 169

7 Các quyền liên quan đến việc điều tra và truy tố một tội ác 174

9 Các quyền liên quan đến việc trả tự do cho bị cáo hay người

12 Quyền được bồi thường và quyền được biết sự thật 180

Trang 17

IX XÉT XỬ HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ TỘI ÁC KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT 186

A Nghĩa vụ pháp lý quốc tế: chống tội ác không bị trừng phạt 186

B Tiêu chuẩn quốc tế căn bản về đấu tranh chống tội ác không bị

3 Các tiêu chuẩn liên quan đến nguyên tắc “hết thời hiệu tố

4 Các nguyên tắc liên quan đến luật ân xá và các biện pháp

5 Các tiêu chuẩn liên quan đến tính chất phi chính trị của tội

6 Các tiêu chuẩn về Ne bis in idem và Res Judicata 195

7 Các tiêu chuẩn về hình phạt, giảm tội, tình tiết giảm nhẹ

2 Quyền được sửa sai một cách thiết thực và bồi thường, và

4 Cơ chế sửa sai hiệu quả và bồi thường cho những vi phạm

Trang 19

GIỚI THIỆU

Quyền được xét xử hình sự bởi một tòa án độc lập, vô tư và có năng lực, trong đó, pháp trình chính đáng được bảo đảm thực thi, là một quyền được công nhận và bảo vệ trên toàn thế giới [phổ quát – ND] Nó là hòn đá thử vàng, là tiêu chuẩn để kiểm tra việc thực thi thích đáng công lý Quyền được xét xử công bằng là một quyền con người được công nhận phổ quát từ lâu, và

nó được vận dụng cho tất cả các tội hình sự, bất luận bản chất của tội ấy có tàn ác, ghê tởm đến đâu Thật vậy, như Ủy ban Công pháp Quốc tế của Liên Hợp Quốc đã nêu rõ, nguyên tắc “một người bị truy tố ngay cả vì những tội

ác theo công pháp quốc tế cũng có quyền được xét xử công bằng” đã được nhấn mạnh bởi Tòa án Nuremberg sau Thế chiến II, và kể từ đó, các nguyên tắc về sự đối xử mà bất kỳ cá nhân nào, bị buộc bất kỳ tội gì, đều có quyền hưởng, và các nguyên tắc về những điều kiện tố tụng theo đó việc cá nhân

ấy vô tội hay có tội có thể được minh định một cách khách quan, đều đã được xiển dương và được triển khai trong một loạt công ước và cơ chế về nhân quyền của quốc tế và khu vực 1 Để quyền này được thực thi, vẫn chưa đủ kể

cả khi các cơ quan tư pháp thỏa mãn được những mức độ nào đó về sự độc lập, vô tư (không thiên vị) và năng lực, hay khi đáp ứng được những đảm bảo cần thiết về mặt tố tụng để có được pháp trình chính đáng Còn cần phải thực thi được các nguyên tắc căn bản về luật hình sự hiện hành liên quan đến tính hợp pháp [legality] của các sai phạm, các nguyên tắc căn bản về tính không hồi tố [non- retroactivity] của luật hình sự, và các nguyên tắc căn bản về trách nhiệm hình sự của cá nhân hoặc chủ thể Ngày nay, tất cả những điều trên cấu thành khái niệm quyền được xét xử công bằng

Các tòa án và cơ quan quốc tế chịu trách nhiệm về bảo vệ nhân quyền đã quy định phạm vi, bản chất và nội dung của quyền này Tài phán quốc tế hiện nay cho rằng chỉ một tòa án thượng tôn pháp luật mới có thể xét xử ai đó vì phạm tội hình sự, và điều đó là một thứ quyền căn bản Quan điểm của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc là, quyền được xét xử bởi một tòa án độc lập,

vô tư và có năng lực, là một quyền tuyệt đối và không có ngoại lệ nào Tương

tự, không có ngoại lệ nào đối với đa số những yêu cầu về luật nội dung và luật tố tụng, vốn là những yêu cầu cố hữu để có được pháp trình chính đáng Tuy nhiên, những người bị xét xử trong tòa hình sự không phải những người duy nhất hưởng quyền được xét xử công bằng Nạn nhân của các tội ác chống lại con người và các vi phạm nhân quyền nói chung, cũng như người thân của

họ, cũng đều có quyền của họ trong tố tụng hình sự Luật học quốc tế đã tái

Nhân loại”, trong Niên giám của Ủy ban Công pháp Quốc tế, 1996, Tập II (Phần Hai), trang

34 (http://www.un.org/law/ilc/)

Trang 20

khẳng định rằng họ có quyền được hưởng công lý, bao gồm cả quyền được xét xử công bằng; mặc dù phạm vi của quyền được xét xử công bằng trong trường hợp này có khác với những gì áp dụng trong trường hợp chủ thể là bị cáo Quyền này có liên hệ mật thiết đến quyền được sửa sai một cách thiết thực [effective remedy], được đền tiền [reparation] và được biết sự thật, cũng như liên quan đến nghĩa vụ mang tính phận sự của nhà nước là phải chống tình trạng tội ác không bị trừng phạt [impunity].

Xét xử công bằng là điều kiện thiết yếu không chỉ đối với việc bảo vệ quyền của bị cáo và quyền của nạn nhân, mà còn nhằm đảm bảo việc thi hành công

lý một cách thích đáng – vốn là mấu chốt của nguyên tắc pháp trị Do đó, xét xử công bằng tạo nên bức tường thành bảo vệ con người trước nạn lạm dụng quyền hạn và “công lý chiếu lệ” [summary justice] Trên quan điểm đó, theo dõi việc xét xử [quan sát phiên tòa] có thể là một công cụ cực kỳ quan trọng trong các nỗ lực bảo vệ nhân quyền và sự thượng tôn nguyên tắc pháp trị Quyền theo dõi tòa án bắt nguồn từ một quyền phổ quát, là quyền thúc đẩy và duy trì việc bảo vệ và thực thi các quyền con người và quyền tự do căn bản

Kể từ khi thành lập vào năm 1952, Ủy ban Luật gia Quốc tế (ICJ), như một phần thiết yếu trong chức năng nhiệm vụ của mình, đã thực hiện rất nhiều cuộc quan sát phiên tòa, tại tất cả các khu vực trên thế giới Ủy ban đã gửi phái đoàn đi quan sát tiến trình tố tụng hình sự trong nhiều loại vụ án khác nhau, từ xét xử những người bị buộc tội vi phạm nhân quyền nói chung, đến các tội ác chống lại loài người và diệt chủng; đến các phiên xét xử những đại biểu quốc hội, thẩm phán, luật sư, người bảo vệ nhân quyền, nhà báo và các các nhân vật bất đồng về chính trị hay xã hội

Nhằm hệ thống hóa các kinh nghiệm và đánh giá các hoạt động quan sát tiến trình xét xử, ICJ viết cuốn “Sổ tay: Theo dõi việc xét xử trong tố tụng hình sự” này, như là một phần trong loạt cẩm nang hướng dẫn thực hành của ICJ.Cẩm nang thực hành này cung cấp một cái nhìn toàn cảnh, có hệ thống, về các thông lệ và chuẩn mực quốc tế về xét xử công bằng và pháp trình chính đáng trong lĩnh vực hình sự Các nguồn tài liệu chính của ICJ là các thông

lệ, chuẩn mực và tài liệu luật học quốc tế, do những cơ quan bảo vệ nhân quyền ở tầm quốc tế và khu vực xây dựng nên Trong một vài trường hợp, văn bản tương ứng của các tiêu chuẩn đề cập được sao chép lại [reproduce, trích dẫn] trực tiếp

Cẩm nang bắt đầu bằng việc phác thảo những tiêu chuẩn và các khía cạnh thực hiện khác nhau mà bạn cần phải ghi nhớ trong đầu khi bạn chuẩn bị và

Trang 21

tiến hành việc theo dõi phiên tòa Những tiêu chuẩn và khía cạnh này bao gồm các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn phiên tòa để giám sát, chuẩn bị

và thực hiện cuộc giám sát, và soạn thảo các báo cáo về phiên tòa sau quá trình quan sát (các Chương I, II và III) Cẩm nang cũng vạch ra một cách có

hệ thống những tiêu chuẩn quốc tế có thể áp dụng cho việc xét xử công bằng

và cho pháp trình chính đáng, cụ thể là quyền được xét xử công bằng trước một tòa án độc lập, vô tư và có năng lực (Chương IV), bắt giữ và tạm giam trước khi xét xử (Chương V), bản thân phiên tòa hoặc các cuộc điều trần (Chương VI), và những vấn đề liên quan đến quyền của vị thành niên – vốn mâu thuẫn với luật hình sự, án tử hình, các phiên tòa đặc biệt và các thủ tục

tố tụng đặc biệt, tòa án binh và tình trạng khẩn cấp (Chương VII) Cẩm nang còn xác lập các chuẩn mực quốc tế liên quan đến quyền của nạn nhân trong

tố tụng hình sự (Chương VIII) và đến việc chống lại vấn nạn tội ác không bị trừng phạt thông qua cơ chế thực thi công lý trong luật hình sự (Chương IX) Cuối cùng, cuốn sổ tay này xác định quyền của bất kỳ ai từng bị buộc tội, bị truy tố hoặc kết án trong lĩnh vực hình sự, bất kỳ ai bị vi phạm quyền được xét xử công bằng, quyền được hưởng pháp trình chính đáng, quyền được sửa sai hiệu quả và được phục hồi (Chương X) Để tiện cho việc tham khảo, ở cuối các chương IV, V và VI, đều có các bảng so sánh giữa tiêu chuẩn đó và công cụ pháp lý liên quan

Cẩm nang hướng đến giới luật sư, những người bảo vệ nhân quyền, các tổ chức nhân quyền và các định chế đang thực hiện hoặc có mong muốn thực hiện việc giám sát, theo dõi tiến trình xét xử tại tòa Nó cũng hướng đến giới thẩm phán, công tố viên, luật sư và các văn phòng luật khác, theo nghĩa là

nó cung cấp một cái nhìn toàn cảnh có hệ thống về các chuẩn mực quốc tế trong xét xử công bằng Mục đích của Ủy ban Luật gia Quốc tế khi xuất bản cuốn sổ tay này là để tăng cường bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền thông qua việc giám sát các phiên tòa hình sự cũng như đẩy mạnh việc thực thi công lý một cách phù hợp

Trang 22

I CHUẨN BỊ TRÊN THỰC TẾ TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH QUAN SÁT PHIÊN TÒA

Hiệu quả của bất kỳ cuộc quan sát tòa nào cũng phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của việc nghiên cứu và chuẩn bị, được tiến hành trước đó Phần này hướng dẫn các bước cần được thực hiện bởi cả bên quan sát lẫn các tổ chức

cử người tới quan sát tòa, trước khi bắt đầu quá trình quan sát

1 Xác định các mục tiêu

Vào giai đoạn đầu của quá trình lên kế hoạch, tổ chức cử người đến theo dõi phiên tòa cần phải xác định các mục tiêu chung của nhiệm vụ đề ra Mặc dù mỗi tổ chức đều có những mối quan tâm riêng, nhưng có thể tóm tắt một số mục tiêu chung chủ yếu của việc giám sát các phiên tòa, như sau:

■ Để làm cho tòa án, các bên tham gia tố tụng, chính quyền, và công chúng biết được sự quan tâm và quan ngại đến tính công bằng của phiên tòa, nhằm khuyến khích tòa án hoặc thẩm phán thực hiện cho được việc xét xử công bằng;

■ Để làm cho các bên tham gia – đặc biệt là tòa án hoặc thẩm phán hoặc công tố viên – ý thức được rằng họ đang bị giám sát, từ đó khuyến khích họ, trong quá trình tố tụng, phải hành xử cho đúng với các chuẩn mực về xét xử công bằng;

■ Để bảo đảm rằng bị cáo được xét xử công bằng và mọi yêu cầu pháp

lý [judicial guarantees] cho anh/chị ta đều được tôn trọng;

■ Để bảo đảm rằng công lý được thực thi, quyền của các nạn nhân được tôn trọng, và kẻ xâm phạm hoặc lạm dụng nhân quyền bị trừng phạt;

■ Để thu nhận thêm thông tin về cách hành xử tại phiên tòa, bản chất của vụ án đối với bị cáo, và điều luật mà căn cứ vào đó, anh/chị ta

■ Để thu thập và kiểm chứng thông tin về tính công bằng của phiên tòa, nhằm phục vụ cho các mục tiêu vận động

Trang 23

Xác định các mục tiêu là khâu quan trọng, bởi vì việc lựa chọn mục tiêu có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc lựa chọn phiên tòa cần quan sát, đến việc lựa chọn người quan sát phiên tòa và các bước khác trong quá trình chuẩn bị

và thực hiện giám sát

Khi hình thành các mục tiêu, tổ chức gửi người đến giám sát nên nghiên cứu cẩn thận mỗi bước trong tiến trình quan sát phiên tòa, để giảm thiểu khả năng các mục tiêu mâu thuẫn nhau

2 Lựa chọn phiên tòa

Việc lựa chọn phiên tòa để quan sát chắc chắn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động chung của tổ chức gửi người đến quan sát, các mối ưu tiên của tổ chức

đó và quan tâm cụ thể của nó Tuy nhiên, tổ chức nên cố gắng lựa chọn những phiên xét xử nào sẽ có giá trị trong việc bảo vệ quyền của bị cáo hoặc nếu không thì cũng thúc đẩy công cuộc bảo vệ nhân quyền ở đất nước mà phiên tòa đó diễn ra

Không thể nào có được một danh sách đầy đủ các tiêu chuẩn có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn phiên tòa để quan sát, nhưng các thành tố sau đây, hoặc tổng hợp các thành tố đó, cho ta ví dụ về các vấn đề liên quan cần xem xét:

■ Ý nghĩa (tầm quan trọng) về mặt chính trị hoặc nhân quyền của tiến trình tố tụng;

■ Tính chất đại diện của phiên tòa;

■ Những điều bất thường có thể có trong tố tụng;

■ Ý nghĩa lịch sử của phiên tòa;

■ Sự quan tâm của báo chí đến vụ án;

■ Địa vị của các bên (bị cáo và/hoặc nạn nhân) trong phiên tòa;

■ Tính chất của cáo trạng

Tổ chức gửi người tới quan sát phiên tòa cũng cần tính đến các tác động tiêu cực của việc quan sát tòa Ví dụ, chính quyền có thể lợi dụng sự có mặt của người quan sát để áp đặt các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc hơn bình thường đối với cùng hành vi vi phạm pháp luật

Trang 24

3 Lựa chọn người quan sát

Hiệu quả của việc quan sát phiên tòa sẽ phụ thuộc cả vào tính khách quan lẫn kinh nghiệm pháp lý của người quan sát Vì thế, khi lựa chọn người quan sát phiên tòa, tổ chức phải thận trọng để có thể chọn ra được người quan sát nào đảm bảo có tính độc lập, vô tư, các kỹ năng và kinh nghiệm pháp luật

về luật nhân quyền quốc tế (đặc biệt liên quan đến các tiêu chuẩn về xét xử công bằng)

Bên cạnh sự độc lập, vô tư, kiến thức và kinh nghiệm về tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, khi lựa chọn người quan sát phiên tòa, còn cần cân nhắc các yếu tố sau:

■ Kinh nghiệm hành nghề trên cương vị thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư;

■ Trình độ ngôn ngữ đối với thứ tiếng mà phiên tòa sẽ sử dụng;

■ Khả năng suy xét, nhìn nhận chuẩn xác về chính trị và pháp luật;

■ Khả năng làm việc khẩn trương, đúng hạn;

■ Năng lực làm việc theo nhóm, trong nhóm;

■ Khả năng có mặt khi có thông báo gấp;

■ Khả năng vào được một quốc gia cụ thể nào đó, cần hoặc không cần thị thực [visa];

■ Quốc tịch, dân tộc, hoặc giới tính

Khi chọn nhà quan sát, tổ chức có cơ hội lựa chọn giữa: hoặc là sử dụng một luật sư hay một người bảo vệ nhân quyền ở nước sở tại để quan sát phiên tòa diễn ra tại nước đó, hoặc là huy động một chuyên gia quốc tế Cả hai lựa

Trang 25

chọn đều có ưu điểm và nhược điểm, và không có một quy tắc hành động chuẩn nào ở các tổ chức về vấn đề này Luật sư/người bảo vệ nhân quyền ở nước sở tại chắc chắn là hiểu rất rõ về hệ thống pháp luật và bối cảnh của vụ

án, nhưng điều đó cũng có thể làm hỏng đánh giá của họ về tính công bằng của tiến trình tố tụng và đưa đến những phát biểu có định kiến Luật sư nước ngoài ban đầu ít cởi mở với những lời buộc tội sẵn như thế hơn; tuy nhiên, không chắc là họ có được hiểu biết tường tận về hệ thống pháp luật của quốc gia mà tại đó phiên tòa sẽ diễn ra hay không, và họ có thể không thạo ngôn ngữ của nước sở tại Tổ chức gửi người đi quan sát phiên tòa nên cân nhắc một thỏa thuận có hiệu quả cao nhất, là chỉ định một chuyên gia nước ngoài làm người lãnh đạo cuộc giám sát phiên tòa, với sự trợ giúp của một hoặc nhiều hơn luật sư/người bảo vệ nhân quyền ở nước sở tại

4 Chức năng nhiệm vụ và chỉ dẫn dành cho người quan sát phiên tòa

Trước khi tiến hành bất cứ cuộc giám sát tòa nào, người quan sát phải được

tổ chức cử ông/bà ta đến chỉ dẫn đầy đủ Bộ tài liệu chỉ dẫn [briefing] nên hướng tới làm rõ các điều khoản về việc quan sát phiên tòa, và nên chia sẻ với người quan sát tất cả những thông tin pháp luật, dữ kiện thực tế liên quan đến phiên tòa cần theo dõi Một bộ tài liệu điển hình có thể bao gồm:

i Một Ordre de Mission [tiếng Pháp: lệnh thực hiện điệp vụ - ND]: Một

ủy quyền chính thức, do tổ chức đưa ra, nêu rõ mục đích của cuộc giám sát và giới thiệu người quan sát với tư cách đại diện của tổ chức Ordre de Mission được lập chủ yếu để khuyến khích chính quyền nước

sở tại hợp tác với người thực thi nhiệm vụ; có thể cần phải nộp Ordre

de Mission để bổ trợ cho hồ sơ xin thị thực nhập cảnh [visa];

ii Một bản mô tả chức năng, nhiệm vụ của người quan sát phiên tòa: Đây là một tuyên bố chính thức, do tổ chức đưa ra, xác định các nghĩa vụ và trách nhiệm của người quan sát phiên tòa Bản mô tả chức năng, nhiệm vụ này được lập chủ yếu nhằm giúp người quan sát đảm bảo được rằng phạm vi nhiệm vụ của ông/bà ta được xác lập rõ ràng Cụ thể, bản mô tả ấy phải cung cấp cho nhà quan sát những hướng dẫn chuẩn xác về việc ra thông cáo trước, trong và sau quá trình quan sát phiên tòa;

iii Một bản giải thích về quan điểm tiếp cận, chính sách, và phương pháp làm việc của tổ chức;

Trang 26

iv Thông tin về phiên tòa cần quan sát – thông tin nền của vụ án, danh tính bị cáo và/hoặc nạn nhân hoặc nguyên cáo, tính chất của cáo trạng, địa điểm diễn ra phiên tòa, danh tính của quan tòa/thẩm phán, bất kỳ bài báo nào, v.v.

v Bản sao các điều luật liên quan của nước sở tại (ví dụ, Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, các văn bản luật xây dựng hệ thống tư pháp, v.v.), và các quyết định tư pháp trước đó, có liên quan đến phiên tòa được quan sát và/hoặc các vấn đề pháp lý dự kiến sẽ được nêu ra trong quá trình xử án;

vi Danh sách các công cụ, các nguyên tắc và chỉ dẫn quốc tế mang tính ràng buộc (các cơ chế của Liên Hợp Quốc và khu vực) mà có thể áp dụng cho tiến trình tố tụng (bản trích dẫn các tiêu chuẩn quốc tế quan trọng nên được làm thành phụ lục đính kèm);

vii Thông tin nền về lịch sử, chính trị, luật pháp, việc thực thi công lý,

và tình hình nhân quyền nói chung ở quốc gia diễn ra việc quan sát phiên tòa;

viii Chi tiết về bất kỳ cuộc điều tra nào trước đó và/hoặc về bất kỳ cuộc quan sát tòa nào, tại quốc gia mà phiên tòa sẽ diễn ra;

ix Thông tin liên lạc của các cá nhân hoặc tổ chức mà tổ chức cử người

đi quan sát có liên hệ, tại quốc gia mà phiên tòa sẽ diễn ra (ví dụ, các liên đoàn luật sư sở tại, các hội nhóm nhân quyền sở tại, phiên dịch viên, v.v.);

x Chi tiết về các phương tiện mà người quan sát sẽ sử dụng để giữ liên lạc với tổ chức khi đang làm nhiệm vụ Cụ thể, tổ chức phải thông báo cho người quan sát về các thủ tục có thể có, liên quan đến an toàn thông tin và các ghi chép, cũng như cách làm thế nào liên lạc với tổ chức và vào lúc nào Các đề xuất có thể khác nhau tùy theo tình hình an ninh ở quốc gia nơi tiến hành việc quan sát phiên tòa;

xi Hướng dẫn về các khoản chi phí và tài khoản dùng cho công việc;xii Một bản sao cuốn “Sổ tay: Theo dõi việc xét xử trong tố tụng hình sự”

Tổ chức gửi người đi quan sát phiên tòa phải cố gắng cung cấp cho người quan sát càng nhiều thông tin thích hợp càng tốt Bên cạnh đó, tổ chức phải tiến hành nghiên cứu chi tiết về các thông tin trong bộ tài liệu chỉ dẫn để đảm bảo nó khách quan hết mức có thể

Trang 27

Thông báo quá gấp rút về phiên tòa sắp tới có thể gây khó khăn cho việc soạn một bộ tài liệu đầy đủ Do đó, các nhà quan sát phiên tòa nên biết rằng

có thể họ sẽ cần phải tìm hiểu thêm để bổ sung cho thông tin có trong bộ tài liệu

5 Nghiên cứu của người quan sát

Công việc quan sát phiên tòa bao gồm một hoặc nhiều hơn cuộc theo dõi, kéo dài trong vòng vài ngày, trong đó người quan sát tham gia cả vào tiến trình quan sát bên trong phòng xử án lẫn những cuộc tiếp xúc bên ngoài phòng xử

án Tuy nhiên, việc quan sát tổng thể có thể kéo dài tới hàng tuần hay hàng tháng, tùy theo hệ thống tư pháp và độ phức tạp của vụ án Thường là có rất

ít cơ hội để người quan sát tiến hành nghiên cứu hoặc chuẩn bị chi tiết trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Do đó, để đạt được một cuộc quan sát tòa thành công, điều cốt yếu là người quan sát phải chuẩn bị

kỹ trước khi bắt đầu công việc quan sát

Khởi điểm của khâu nghiên cứu tiền quan sát là bộ tài liệu chỉ dẫn do tổ chức

cử người đến quan sát phiên tòa cung cấp Tuy thế, người quan sát có thể

sẽ cần phải tiến hành nghiên cứu thêm để bổ sung cho những thông tin có trong bộ tài liệu

Trước khi bắt đầu công việc quan sát tòa án, người quan sát phải đảm bảo rằng họ đã nghiên cứu đầy đủ ít nhất là các vấn đề sau đây:

i Thông tin về phiên tòa cần quan sát:

■ Người quan sát phải tìm được những thông tin như: Các biến

cố cụ thể đưa đến phiên tòa, danh tính bị cáo, bản chất của cáo trạng, địa điểm xử án, danh tính quan tòa/thẩm phán, bất kỳ bài báo nào, v.v Người quan sát cũng phải biết chắc chắn anh/chị ta sẽ quan sát thủ tục tố tụng nào, bởi vì có thể

có sự khác nhau trong cách vận dụng những bảo đảm nhất định về xét xử công bằng

ii Thông tin về các cuộc điều tra và quan sát phiên tòa từng có trước

đó ở nước sở tại:

■ Người quan sát phải tìm hiểu chắc chắn được là tổ chức cử anh/chị ta đến quan sát phiên tòa, hoặc bất kỳ một tổ chức phi chính phủ (NGO) nào khác, đã từng tiến hành cuộc điều tra hay quan sát phiên tòa nào trước đây ở nước sở tại hay chưa, và nếu có, người quan sát phải có được bản sao của tất

Trang 28

cả các tài liệu liên quan.

iii Thông tin về luật pháp và các thủ tục tố tụng ở nước sở tại:

■ Người quan sát phải phân tích Hiến pháp của nước sở tại (đặc biệt là các điều khoản về nhân quyền và hệ thống tư pháp trong Hiến pháp đó); Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự; các văn bản luật về xây dựng và quyền tài phán của các tòa án và văn phòng công tố, và bất kỳ quyết định tư pháp mang tính bước ngoặt nào khác mà có liên quan đến nhân quyền hoặc giải quyết những vấn đề pháp lý có thể được nêu

ra trong tiến trình xét xử

iv Thông tin về những luật quốc tế có thể áp dụng được:

■ Người quan sát cần phải có được một danh sách các công cụ nhân quyền quốc tế (công ước, nguyên tắc và hướng dẫn) liên quan đến tiến trình tố tụng cần quan sát Có thể tìm thông tin về công ước nhân quyền nào đã được phê chuẩn bởi quốc gia nơi diễn ra việc quan sát phiên tòa trên Internet tại các trang sau đây:

▪ Các công ước của LHQ: http://untreaty.un.org/English/treaty.asp

▪ Các công ước nhân quyền của LHQ: Trang web của Cao ủy Nhân quyền LHQ: http://www.ohchr.org/EN/Pages/WelcomePage.aspx

▪ Các công ước nhân quyền của châu Âu: Trang web của Tòa án Nhân quyền châu Âu: http://www.echr.coe.int/echr và trang web của Hội đồng châu Âu: http://conventions.coe.int/Default.asp và http://www.coe.int/t/e/human%5Frights/

▪ Các công ước nhân quyền liên Mỹ: Trang web của Ủy ban Liên Mỹ về Nhân quyền: http://www.cidh.org/ và trang web của Tòa án Liên Mỹ về Nhân quyền: http://www.corteidh.or.cr/

▪ Các công ước nhân quyền châu Phi: Trang web của

Ủy ban Nhân quyền và Quyền con người châu Phi: http://www.achpr.org/

Trang 29

▪ o Người quan sát nên luôn luôn kiểm tra xem có phải đăng ký không, có cần những bản kê khai có phiên dịch tương ứng không, ở quốc gia nơi diễn ra việc quan sát tòa Người quan sát cũng nên luôn kiểm tra xem chính quyền đã chính thức công bố tình trạng khẩn cấp chưa, và nếu có thì quyền được xét xử công bằng

có bị vi phạm không

▪ o Nếu công ước mà nhà nước sở tại ký có điều khoản

về cơ chế làm khiếu nại hoặc cho phép cá nhân tố cáo, thì người quan sát phải thu thập bất kỳ phán quyết và/hoặc quyết định nào mới nhất liên quan đến xét xử công bằng ở quốc gia nơi cuộc quan sát tòa dự kiến được tổ chức, hoặc liên quan đến các vấn đề pháp lý

có thể được nêu lên trong quá trình xét xử

▪ o Nếu công ước mà nhà nước sở tại ký có điều khoản

về cơ chế giám sát, thì người quan sát phải thu thập bất kỳ báo cáo quốc gia nào mới nhất và/hoặc bản kết quả quá trình quan sát về quốc gia nơi cuộc quan sát tòa dự kiến được tổ chức, đặc biệt là về xét xử công bằng hoặc về các vấn đề pháp lý có thể được nêu lên trong quá trình xét xử

▪ o Người quan sát phải thu nhận thông tin về các công

cụ quốc tế liên quan, không có tính ràng buộc (ví dụ,

Các Nguyên tắc Căn bản của LHQ về Tính Độc lập của Tư pháp, và Các Nguyên tắc Căn bản của LHQ về Vai trò của Luật sư Nếu quan sát phiên tòa ở châu Phi, nên xem thêm Các Nguyên tắc và Hướng dẫn về Quyền được Xét xử công bằng và Trợ giúp Pháp lý ở châu Phi) Những chuẩn mực không có tính ràng buộc

này sẽ đặc biệt hữu dụng trong trường hợp nhà nước

sở tại chưa phê chuẩn bất kỳ công cụ nhân quyền có tính ràng buộc nào

Trang 30

v Thông tin về lịch sử, chính trị, luật pháp và tình hình nhân quyền của đất nước nơi sẽ tổ chức việc quan sát phiên tòa.

■ Người quan sát phải thu nhận bất kỳ báo cáo quốc gia nào mới nhất và thông cáo báo chí từ những NGO có uy tín (ví dụ

Ân xá Quốc tế [Amnesty International], Theo dõi Nhân quyền [Human Rights Watch], Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền [International Federation of Human Rights]) và các tổ chức liên chính phủ (ví dụ Hội đồng châu Âu, Tổ chức Các Nhà nước châu Mỹ) Bản sao của bất kỳ báo cáo quốc gia nào mới nhất gửi cho các cơ quan nhân quyền quốc tế (như Ủy ban Nhân quyền LHQ), cùng với báo cáo hoặc kết quả quan sát của các

cơ quan này, cũng đều là tài liệu tốt

vi Tên của những người có thể làm đầu mối liên lạc hoặc cung cấp thông tin tại địa điểm xử án:

■ Người quan sát phải thu nhận thông tin liên lạc về bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào mà tổ chức cử người quan sát đến phiên tòa có quan hệ, tại quốc gia nơi phiên tòa sẽ diễn ra (ví dụ: các đoàn luật sư sở tại, các tổ chức nhân quyền sở tại, phiên dịch viên, v.v.) Tổ chức cử người đến quan sát tòa phải nói rõ cho người quan sát biết thông tin đó có cần bảo mật hay không, và làm cách nào có thể tiếp cận các bên liên quan Nội dung hướng dẫn của tổ chức có thể khác nhau tùy theo chính sách của tổ chức và tình hình an ninh tại quốc gia nơi việc quan sát phiên tòa sẽ diễn ra (về điểm này, xin xem thêm khoản 10)

vii Thông tin liên lạc chi tiết của tổ chức cử người quan sát tòa:

■ Trong quá trình quan sát phiên tòa, người quan sát có thể

sẽ cần tham vấn tổ chức cử người đến quan sát tòa, về các vấn đề chính sách nào đó, hoặc cần thông báo cho tổ chức

về một vấn đề khẩn cấp, đòi hỏi tổ chức phải khẩn trương

có phản ứng Điều rất quan trọng là phải thiết lập từ trước phương tiện liên lạc giữa người quan sát và tổ chức cử người đến quan sát tòa

Trang 31

6 Thông báo cho các cơ quan nhà nước về việc quan sát tòa

Trong nỗ lực khuyến khích sự hợp tác của chính quyền với việc quan sát phiên tòa, hiện nay, đã thành một quy tắc chuẩn, là tổ chức cử người quan sát phiên tòa phải thông báo một cách thích hợp cho các cơ quan nhà nước

ở quốc gia mà phiên tòa sẽ diễn ra, rằng người quan sát sẽ tham dự để theo dõi quá trình xét xử Việc chỉ định người quan sát có thể được thông báo đến Văn phòng Tổng thống [tương đương Phủ Chủ tịch ở Việt Nam – ND], Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Tòa án Tối cao và/hoặc Văn phòng Trưởng Công tố viên [tương đương Viện Kiểm sát Nhân dân ở Việt Nam – ND] Các

cơ quan nhân quyền quốc gia cũng cần được thông báo y như vậy Thư thông báo về việc quan sát phiên tòa phải được gửi kèm lời đề nghị cho người quan sát phiên tòa được đảm bảo những phương tiện hỗ trợ thông thường và sự hợp tác

Nhìn chung, các tổ chức cử người tới quan sát tòa đã chuyển từ việc gửi văn bản xin phép cử quan sát viên đến tòa sang việc chỉ thông báo cho chính quyền nước sở tại biết là quan sát viên sẽ đến dự một phiên xét xử nào đấy

và phải chấp hành các yêu cầu của việc cấp thị thực [visa] Không cần phải đợi sự cho phép thì mới được quan sát phiên tòa, bởi vì nói chung phiên tòa sẽ là công khai và sự im lặng không phản hồi của chính quyền sau một khoảng thời gian hợp lý thì được coi như đồng ý

Mặc dù hầu hết các phiên tòa hình sự đều diễn ra công khai, các thành viên trong cộng đồng [công chúng] đều có quyền đến tòa (phù hợp với quyền được dự điều trần công bằng và công khai), nhưng các tiêu chuẩn quốc tế cũng cho phép các tòa án được gạt công chúng – toàn thể hoặc một bộ phận – ra khỏi phiên tòa, trong một số trường hợp ngoại lệ nào đó, được xác định rất rõ ràng Bên cạnh đó, bất chấp tiêu chuẩn quốc tế, nhiều nước đã quy

định chỉ được theo dõi việc xét xử kín [in camera] đối với một số loại tội phạm

nhất định Người quan sát phiên tòa, gặp phải một trong hai tình huống này,

có thể phải cần đến sự cho phép chính thức thì mới được vào quan sát tòa Khi quyết định về việc có thông báo cho chính quyền và tòa án hay không, hoặc có gửi thư xin phép chính thức không trong những trường hợp như vậy,

tổ chức cử người đến quan sát tòa cần xem liệu có chắc chắn rằng quan sát viên, trên thực tế, sẽ được phép vào phòng xử án trong quá trình xét xử

Tổ chức nên cung cấp cho người quan sát vài bản sao của Ordre de Mission, nêu rõ mục đích của cuộc quan sát, danh tính và trình độ của người quan sát,

và đề nghị chính quyền nước sở tại hợp tác Sau đó, nếu cần, người quan sát phiên tòa có thể đệ trình Ordre de Mission cho chính quyền nước sở tại trong quá trình làm nhiệm vụ quan sát tòa

Trang 32

Tổ chức cử người đến quan sát tòa có thể cũng cần chuẩn bị cho người quan sát một tờ thông tin về dự án giám sát phiên tòa, để ông/bà ta phân phát ở tòa nếu cần Người quan sát có thể cũng cần phải cố gắng phân phát những

tờ thông tin đó qua hệ thống NGO ở nước sở tại

Khi người quan sát phiên tòa từ nước ngoài sang, ông/bà ta cần thông báo với cơ quan đại diện ngoại giao của chính mình ở quốc gia nơi diễn ra cuộc quan sát tòa, và nói rõ ông/bà ta sẽ nghỉ ở khách sạn nào

7 Biên dịch và phiên dịch viên

Lý tưởng là người quan sát phiên tòa thành thạo ngôn ngữ sở tại, thứ tiếng

sẽ được dùng ở phiên tòa Tuy nhiên, do khả năng ngôn ngữ là cái không phải luôn luôn có được, nên người quan sát thường sẽ cần đến biên dịch viên hoặc phiên dịch viên để trợ giúp trong quá trình quan sát tòa

Sẽ tốt hơn nếu tổ chức cử người đến quan sát tòa thu xếp được việc biên/phiên dịch trước khi người quan sát đến địa điểm diễn ra phiên tòa Việc lựa chọn người biên/phiên dịch sẽ tác động đáng kể đến tính độc lập, vô tư, hiệu quả, và ảnh hưởng của người quan sát Do đó, người biên/phiên dịch cần được lựa chọn hết sức cẩn thận Biên/phiên dịch viên phải có hiểu biết, đáng tin cậy, và quen thuộc với các thuật ngữ pháp lý Anh/chị ta cũng phải

vô tư, không thiên vị, và được đánh giá là như thế Do đó, người quan sát không được chỉ dựa vào dịch vụ biên/phiên dịch do chính quyền cung cấp,

và cũng vậy, không được sử dụng biên/phiên dịch viên có liên hệ với một tổ chức, đảng phái, hay hội nhóm nào của bị cáo Khi được huy động, người phiên dịch phải có khả năng dịch song song [tiếng Việt có người gọi là “dịch cabin” – ND]

8 Đi lại và ăn ở

Nếu người quan sát phải di chuyển đến địa điểm tổ chức phiên tòa, thì cần

có sự thu xếp để ông/bà ta được hỗ trợ ngay khi đến nơi, bởi một cá nhân không liên quan đến quá trình tố tụng và là người có thể cung cấp cho ông/

bà ta thông tin ban đầu

Quan sát viên nên nghỉ trong khách sạn hoặc nhà ở nào gần tòa án, cách tòa án một khoảng hợp lý Quan sát viên không được nhận lời mời “cho ở nhờ” của những cá nhân có liên quan, có tham gia vào quá trình tố tụng hoặc những người ủng hộ họ, bởi vì điều này có thể làm người ta đặt câu hỏi về tính vô tư của ông/bà ta Chẳng hạn, để tránh bị phát hiện bởi cả hai phía, người quan sát không nên nghỉ tại cùng khách sạn hoặc nhà ở với bên bào chữa hoặc bên công tố

Trang 33

Nếu một phiên tòa đang được quan sát ở nước ngoài, thì sẽ là hợp lý nếu lựa chọn quan sát viên là một người không cần thị thực để vào được nước đó, hoặc đã có sẵn thị thực rồi Nếu theo yêu cầu, phải có thị thực, thì bản Ordre

de Mission nên được gửi cùng với hồ sơ xin thị thực nhập cảnh, nêu rõ mục đích của chuyến đi là để tham dự phiên tòa, thay mặt cho tổ chức cử người

đi quan sát tòa Đã thành một quy tắc chung, quan sát viên không nên vào nước sở tại bằng visa du lịch Loại thị thực được yêu cầu sẽ khác nhau tùy từng nước Một số nước cấp thị thực công việc cho người quan sát tòa Nếu không tuân thủ các yêu cầu về xuất nhập cảnh thì có thể bị trục xuất

Nếu lo ngại về khả năng quan sát viên được nhập cảnh, tổ chức cử người đến quan sát tòa nên sắp xếp cho một cá nhân gặp quan sát viên tại sân bay Tổ chức chịu trách nhiệm tìm kiếm người đó và đề nghị anh/chị ta giúp đỡ Anh/chị ta có thể là một luật sư có tiếng tăm, thành viên của tổ chức cử người đến quan sát tòa hoặc tổ chức con của tổ chức đó, hoặc là một cá nhân có uy tín

và có thể tác động đến những viên chức ở bộ phận xuất nhập cảnh, để cho phép người quan sát được nhập cảnh Cũng xin khuyến cáo người quan sát thông báo cho Bộ Ngoại giao của ông/bà ta và đại diện của đại sứ quán nước ông/bà ta về việc đi lại và nhiệm vụ của mình Trong trường hợp người quan sát bị bắt giữ tại sân bay hoặc bị từ chối nhập cảnh, cá nhân gặp gỡ ông/bà

ta có thể rất có ích trong việc thông báo tình hình cho tổ chức cử người đi quan sát tòa Khi ấy, tổ chức đó sẽ có thể ngay lập tức phản ứng và làm đủ mọi nỗ lực để bảo đảm làm sao cho người quan sát nhập cảnh được Nếu bị hỏi về mục đích của chuyến đi, người quan sát nên đưa ra bản điều khoản tham chiếu về ông/bà ta, tránh có thêm bình luận nào

Một điều quan trọng nữa là phải bảo đảm rằng việc tiêm vaccine phòng dịch được tiến hành thích hợp trước mỗi khi đi đến một nước đang phát triển Người quan sát phải đi khám sức khỏe càng sớm càng tốt, trước khi khởi hành

9 Tuyên cáo gửi truyền thông trước khi quan sát phiên tòa

Không có một quy tắc chuẩn nào giữa các tổ chức cử người đi quan sát tòa

để quy định về việc thông báo trước về cuộc quan sát, thông qua thông cáo báo chí hay tuyên cáo Trong mọi trường hợp, quyết định có phát hành tuyên cáo để thông báo về cuộc quan sát hay không là tùy ở tổ chức, họ sẽ phải cân nhắc ích lợi dự kiến của một tuyên cáo như thế với những hậu quả có thể xảy ra

Trang 34

Có thể cần phải có tuyên cáo ngay từ đầu chuyến đi của quan sát viên, nhằm giải thích mục đích của việc quan sát phiên tòa với công chúng ở nước sở tại – những người không quen thuộc với hoạt động quan sát tòa Nếu có rủi

ro cho sự an toàn của quan sát viên, tổ chức có thể nên ra thông cáo báo chí

để thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế đến vụ việc và gây áp lực buộc chính quyền nước sở tại phải đảm bảo an ninh cho quan sát viên Ngược lại, cũng có thể suy xét rằng việc thông báo trước về cuộc quan sát tòa có thể sẽ khiến quan sát viên khó được tham dự phiên tòa hơn Vấn đề cần được tiếp cận tùy từng trường hợp, và tổ chức cử người đi quan sát tòa cần phải lượng giá thật cẩn thận giữa những lợi ích dự kiến của việc ra tuyên cáo trước cuộc quan sát, với những hậu quả có thể xảy ra

10 Đánh giá các rủi ro về an ninh

Ở một số nước, có thể có những rủi ro về an ninh cho nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, kể cả những người quan sát tòa Mặc dù tổ chức cử người đi quan sát tòa không thể bảo đảm an toàn cho quan sát viên, nhưng tổ chức đó phải luôn luôn tiến hành đánh giá các rủi ro về an ninh trước khi cuộc quan sát tòa bắt đầu Trong mọi trường hợp, quan sát viên phải được thông báo về những rủi ro an ninh tiềm ẩn

Việc đánh giá rủi ro có thể bao gồm cả việc đề xuất các biện pháp nhằm gia tăng sự an toàn cho người quan sát Chẳng hạn, một trong các biện pháp

đó là lên danh sách các đầu mối liên lạc trong tình huống khẩn cấp, có cả số điện thoại của người quan sát khi đang làm nhiệm vụ, họ hàng thân nhân của người quan sát và nhân viên của tổ chức Điều quan trọng là phải chỉ định một cá nhân làm mắt xích an ninh bên trong tổ chức – người mà cả quan sát viên lẫn các tổ chức đối tác ở quốc gia nơi phiên tòa diễn ra đều có thể liên

hệ Một biện pháp khả thi khác là xây dựng một cơ chế liên lạc hàng ngày giữa quan sát viên và tổ chức Nếu tình hình đòi hỏi phải như vậy thì tổ chức cũng nên xem xét cử hai quan sát viên thay vì chỉ một, hoặc đảm bảo rằng quan sát viên được hộ tống bởi một luật sư độc lập ở nước sở tại hoặc nhân viên của một tổ chức nhân quyền ở nước sở tại

Nếu không thể kiểm soát một cách thỏa đáng các rủi ro, tổ chức cử người đi quan sát tòa không nên cử ông/bà ta đi nữa Nếu cần tiến hành các biện pháp

để cải thiện an toàn cho quan sát viên, tổ chức nên tư vấn cho người quan sát đó các biện pháp an ninh thích hợp cần thực hiện Tổ chức phải hỗ trợ hết mức có thể cho quan sát viên, nhưng người quan sát cũng nên ý thức rằng ông/bà ta phải chịu toàn thể trách nhiệm về an toàn cá nhân của chính mình

Trang 35

II TIẾN HÀNH QUAN SÁT PHIÊN TÒA

Phần này cung cấp cho độc giả những hướng dẫn và lời khuyên thực tiễn về cách làm thế nào để tiến hành một cuộc quan sát phiên tòa Mặc dù không

có một bộ quy tắc cuối cùng nào về cách thức thực hiện một cuộc quan sát phiên tòa, nhưng quan sát viên phải có khả năng sử dụng năng lực phán đoán và suy xét của chính mình để đối phó với những tình huống khác nhau

có thể xảy ra Các chỉ dẫn căn bản sau đây sẽ giúp quan sát viên tôn trọng được nguyên tắc vô tư [không thiên vị] và đảm bảo được rằng cuộc quan sát phiên tòa sẽ được tiến hành hiệu quả hết mức có thể

1 Vào tòa án và phòng xử án

Quyền quan sát các phiên tòa chủ yếu là sự thể hiện một quyền phổ quát, đó

là quyền thúc đẩy và duy trì việc bảo vệ và thực hiện các quyền con người

cũng như những quyền tự do căn bản được bảo đảm trong Tuyên ngôn LHQ

về Quyền và Trách nhiệm của Cá nhân, Hội nhóm và Tổ chức trong Xã hội Nhằm Thúc đẩy và Bảo vệ những Quyền Con người Được Thừa nhận Phổ quát

và những Quyền Tự do Căn bản (Tuyên ngôn LHQ về Những người bảo vệ

nhân quyền) 2 Để đẩy mạnh quyền phổ quát này nhằm bảo vệ các quyền con người, Đại hội đồng LHQ đã thừa nhận một cách rõ ràng quyền của các nhà quan sát phiên tòa là: “tham dự những phiên điều trần công khai, thủ tục tố tụng và xét xử công khai, để xây dựng quan điểm về việc liệu chúng

có tuân thủ luật quốc gia cũng như các nghĩa vụ và cam kết quốc tế khả dụng [có thể vận dụng được] hay không” 3

Thứ hai là, quyền quan sát phiên tòa có liên quan một phần đến quyền được tham dự điều trần công bằng và công khai, như đã xiển dương cả trong luật quốc tế 4 lẫn Hiến pháp của đa số các quốc gia Người quan sát phiên tòa có quyền tự do đến tòa án và phòng xử án vì mục đích quan sát các phiên tòa,

do có một nguyên tắc pháp lý đã được xác lập, hầu như không có ngoại lệ, là các phiên tòa phải được tiến hành công khai

Bộ Các Quy tắc về Thủ tục và Bằng chứng của Tòa án Quốc tế về Nam Tư cũ (Quy tắc số 11, Bis (D) (IV)) và Tòa án Hình sự Quốc tế về Rwanda (Quy tắc

số 11, Bis (D) (IV)) cũng cho phép Công tố viên “gửi quan sát viên đến thay mặt bà giám sát quá trình tố tụng tại các tòa án quốc gia”

6(1) Công ước châu Âu về Nhân quyền; Điều 8(5) Công ước châu Mỹ về Nhân quyền; và Điều 13(2) Hiến chương Ả-rập về Nhân quyền.

Trang 36

Để xúc tiến những cam kết có tính chất cơ sở nhằm bảo đảm quyền được xét xử công bằng, tất cả các nhà nước tham gia Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) cũng đã cam kết cho phép các NGO được quan sát tòa 5

Về phần mình, Liên minh châu Âu (EU), trong một văn bản có tên “Đảm bảo

sự bảo vệ - Hướng dẫn của Liên minh châu Âu về Các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền” đã thống nhất rằng các phái đoàn châu Âu có thể “tham dự […]

và quan sát […] khi phù hợp các phiên xét xử những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền” 6

Tổng hợp lại, các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế này có nghĩa là “hành động cử

và đón nhận người quan sát tòa hiện rất phổ biến và được công nhận rằng nó

có thể đã tạo thành một lệ thường trong luật tập quán quốc tế” 7 Tiêu chuẩn quốc tế này có được đáp ứng trong thực tiễn hay không, chắc chắn là một trong những điểm đầu tiên để đánh giá sự công bằng của một phiên tòa mà người quan sát có thể tiến hành Để đảm bảo đánh giá chính xác, bất kỳ khi nào có thể, người quan sát nên cố gắng vào được tòa án và phòng xử án mà không tạo sự khác biệt nào với công chúng

Nếu nảy sinh các vấn đề trong việc vào tòa án, người quan sát nên đề nghị được gặp Chủ tọa phiên tòa hoặc đại diện của ông/bà ta (trong trường hợp

có hội đồng thẩm phán) hoặc thẩm phán phiên tòa [trial judge] (trong trường hợp phiên tòa chỉ có một thẩm phán), để giải thích về mục đích của cuộc quan sát tòa

Nếu người quan sát bị từ chối, không cho vào phòng xử án, họ nên đề nghị được giải thích với Chủ tọa phiên tòa hoặc với thẩm phán phiên tòa về lý do tại sao họ muốn quan sát phiên tòa Khi gặp Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa, người quan sát cần bảo đảm rằng họ luôn cư xử lịch thiệp và đàng hoàng Trong cuộc gặp, người quan sát nên:

■ Đưa cho Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa bản sao Ordre

de Mission;

■ Đưa cho Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa bản sao bất

kỳ hình thức ủy nhiệm thư nào của tổ chức cử người đi quan sát tòa;

■ Thông tin cho Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa biết mục đích của nhiệm vụ quan sát phiên tòa – điều này nên được giới hạn,

về An ninh và Hợp tác ở châu Âu (Copenhagen 1990).

chuẩn pháp lý và các quy tắc, tháng 3/2007, trang 27.

Trang 37

chỉ trong khuôn khổ bản điều khoản tham chiếu của người quan sát

và nên nhấn mạnh bản chất độc lập và vô tư của người quan sát phiên tòa; người quan sát không nên nêu quan điểm của mình về tiến trình tố tụng hay vụ án, hay cả hệ thống luật hình sự nói chung;

■ Nếu cần, hãy nhắc Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa về các bảo đảm quốc gia và quốc tế liên quan đến quyền được tham dự điều trần công khai và quyền quan sát các phiên tòa

Nếu người quan sát bị Chủ tọa phiên tòa hay thẩm phán phiên tòa từ chối, không cho vào dự điều trần, họ nên ghi lại các lý do và ngay lập tức báo về cho tổ chức cử người đi quan sát tòa Trong bất kỳ trường hợp nào, họ cũng không nên đòi vào tòa và nên giữ bình tĩnh, lịch sự mọi lúc

2 Tiếp cận hồ sơ vụ án

Để có được hiểu biết đầy đủ về phiên tòa cần quan sát, quan sát viên nên thu thập bản sao các tài liệu chủ chốt sẽ được sử dụng trong phiên tòa, đặc biệt trong các phiên điều trần công khai Điều này đặc biệt quan trọng ở những nước áp dụng hệ thống luật dựa trên truyền thống pháp luật La Mã (còn được gọi là “luật La Mã”, “dân luật” hay “luật lục địa”), trong đó hồ sơ [dossier]

do thẩm phán điều tra [examining magistrate] hay công tố viên chuẩn bị là điểm mấu chốt của phiên tòa Ở các nước theo thông luật, các nhà quan sát nên cố gắng thu được càng nhiều tài liệu càng tốt, về các vụ án của bên công

tố và bên bảo vệ

Lý tưởng là nhà quan sát phải cố gắng tiếp cận được hồ sơ về vụ án trước khi phiên điều trần công khai bắt đầu Điều đó sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về tiến trình tố tụng Luật sư bào chữa và đại diện pháp lý của bên nạn nhân và/hoặc họ hàng thân nhân của nạn nhân cũng cần được tiếp cận hồ sơ và phải có thể cung cấp bất kỳ tài liệu nào cần thiết Nếu không được như vậy thì thẩm phán điều tra hoặc công tố viên cũng như thư ký tòa phải đảm bảo rằng người quan sát hoàn toàn có thể tham khảo hồ sơ vụ án Ngay cả trong trường hợp hồ sơ vụ án không mở công khai, thì người quan sát phiên tòa cũng có thể đề nghị được tiếp cận hồ sơ bởi vì chức năng gần như tư pháp của họ là kiểm định xem các thủ tục tố tụng có được thực hiện theo đúng các quy tắc của pháp trình chính đáng hay không

Trang 38

3 Chỗ ngồi bên trong phòng xử án

Sau khi đã vào được phòng xử án, người quan sát phiên tòa phải lưu ý đến việc chọn chỗ ngồi Do mỗi phòng xử án đều có cách bố trí ghế ngồi khác nhau, cho nên không thể đưa ra lời khuyên chính xác về việc người quan sát nên ngồi ở đâu Họ phải ngồi ở vị trí nào có thể quan sát rõ ràng, nghe rõ ràng và theo sát được tất cả các bước trong tiến trình Tuy nhiên, khi chọn ngồi ở đâu trong phòng xử án, có hai điểm cần cân nhắc thêm và phải ghi nhớ trong đầu:

i Họ nên ngồi ở vị trí nổi bật – họ nên chọn một chỗ ngồi trong phòng xử

án mà vị trí ấy khai thác tốt nhất ảnh hưởng của sự hiện diện của họ;

ii Họ nên ngồi ở một vị trí trung lập – họ nên chọn một chỗ ngồi trong phòng xử án mà vị trí ấy bảo toàn được tính vô tư của họ

Người quan sát phải được nhìn nhận là vô tư – điều đó nghĩa là vị trí mà

họ chọn để ngồi quan sát không được khiến cho họ bị đánh đồng với những người đang tham gia tố tụng Vì vậy, quan sát viên phải thận trọng để không ngồi cạnh luật sư bào chữa cũng như cơ quan công tố (công tố viên hoặc thẩm phán điều tra) hoặc bất kỳ bên nào khác trong tiến trình tố tụng (công

tố viên tư nhân [tư tố - ND], partie civil [bên dân sự, khiếu nại dân sự – ND]

v.v.) Cũng vậy, họ không nên ngồi bên cạnh nhân chứng hoặc thân nhân của

bị cáo hay nạn nhân hay những người ủng hộ các bên đó

Phương án khả dĩ là ngồi gần các luật sư sở tại khác không liên quan đến tiến trình tố tụng Điều này sẽ thể hiện uy tín của nhà quan sát và đồng thời tránh đi sự đồng nhất người quan sát với bất kỳ bên nào trong quá trình tố tụng Nếu không thể làm được như vậy thì hãy đề nghị được có một chỗ ngồi đặc biệt trong phòng xử án, ở một vị trí bảo toàn được vẻ vô tư, không thiên

vị, và giúp cho quan sát viên quan sát được phiên tòa Đề nghị đó nên được chuyển tới Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa, hoặc các cơ quan chức năng

Nói chung, không nên ngồi ở khu vực đã được đặt trước cho công chúng, bởi

vì khi đó, trong một phòng xử án đông đúc, ảnh hưởng từ sự hiện diện của người quan sát có thể sẽ không được tối đa Ngoài ra, ngồi ở khu vực dành cho công chúng có thể gây khó khăn cho việc quan sát tiến trình xét xử Khi khu vực đó lại là lựa chọn duy nhất thì người quan sát nên cố gắng ngồi vào

vị trí nổi bật, ví dụ ở hàng ghế đầu, cách tất cả các bên tham gia tố tụng một khoảng thích hợp

Trang 39

Nói chung, các phiên điều trần công khai thường không được tổ chức ở nơi nào khác ngoài tòa án, đặc biệt nếu có nhiều bị cáo hoặc nếu có lý do an ninh – thật hoặc giả Trong những trường hợp như vậy, cần ghi nhớ những tính toán nêu trên.

4 Giới thiệu người quan sát với Tòa án

Trong những tình huống nhất định, người quan sát có thể đề nghị được các quan chức ở tòa án giới thiệu công khai ngay từ đầu tiến trình xét xử, nhằm đảm bảo rằng sự có mặt của họ được các bên tham gia và công chúng ghi nhận chính thức Người quan sát có được giới thiệu hay không là tùy quyết định của tổ chức cử người tới quan sát tòa và bản thân quan sát viên, và cũng tùy thuộc vào việc liệu tòa án có cho phép hay không

Nếu người quan sát phiên tòa không được các chức sắc trong tòa giới thiệu, thì họ nên đảm bảo rằng sự vô tư, không thiên vị của họ vẫn được duy trì, bằng cách đề nghị được một bên trung lập giới thiệu – chẳng hạn như chủ tịch của đoàn luật sư sở tại Họ không nên được giới thiệu bởi luật sư bào chữa hay công tố viên hay thẩm phán điều tra, hay bởi bất kỳ bên nào tham gia tố tụng

Nếu người quan sát tòa chỉ dự định quan sát một phần phiên tòa, nói cách khác, chỉ một số nội dung của cuộc điều trần, thì sẽ là không thích hợp khi giới thiệu ông/bà ta công khai, bởi vì như thế sẽ khiến công chúng chú ý đến

sự vắng mặt sau đó của ông/bà ta

5 Biên dịch và phiên dịch

Nếu người quan sát tòa không thành thạo thứ tiếng mà phiên xét xử sẽ sử dụng, thì ông/bà ta sẽ cần đến phiên dịch viên trong quá trình quan sát phiên tòa Việc lựa chọn biên/phiên dịch viên sẽ tác động đáng kể đến tính độc lập,

vô tư, hiệu quả và ảnh hưởng của cuộc quan sát Người biên/phiên dịch, do

đó, cần được lựa chọn hết sức cẩn thận Anh/chị ta phải có năng lực, đáng tin cậy, và quen thuộc các thuật ngữ pháp lý Anh/chị ta cũng phải vô tư (không thiên vị) và được đánh giá là như thế Do đó, người quan sát không được chỉ dựa vào dịch vụ biên/phiên dịch do chính quyền cung cấp, và cũng vậy, không được sử dụng biên/phiên dịch viên có liên hệ với một tổ chức, đảng phái, hay hội nhóm nào của bị cáo

Trước khi phiên tòa bắt đầu, người quan sát cần phải biết chắc ông/bà ta

có được phép dùng phiên dịch trong tiến trình xét xử không Ở nhiều nước, ngoài các bên tham gia tố tụng ra thì không ai được phép nói gì trong phòng

Trang 40

xử án khi tiến trình xét xử đang diễn ra Nếu rơi vào trường hợp này, người quan sát phải cố gắng xin phép được là ngoại lệ đối với quy định cấm Điều

đó có thể đòi hỏi phải có được một cuộc gặp với Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa

Trong quá trình xử án, phiên dịch viên nên ngồi gần người quan sát trong phòng xử án, ở vị trí mà anh/chị ta có thể quan sát rõ, nghe rõ và theo sát mọi khâu của tiến trình Phiên dịch viên cần phải dịch song song

6 Ghi chép, tốc ký

Trong quá trình quan sát phiên tòa, người quan sát phải ghi lại những gì đang diễn ra suốt tiến trình xét xử Điều này quan trọng không chỉ cho việc soạn thảo báo cáo sau đó mà còn vì quan sát viên nên để mọi người nhìn thấy là mình đang ghi chép Hành động ghi chép cho thấy quan sát viên đang hết sức chú ý đến phiên tòa và cách hành xử của cả tòa án và thẩm phán lẫn công tố viên hay thẩm phán điều tra đều đang bị giám sát

Tuy nhiên, trước khi ghi chép, đầu tiên người quan sát phải biết chắc liệu

họ có được phép làm như vậy trong tiến trình xử án không Ở một số nước, ngoài các luật sư tham gia tiến trình xử án và giới báo chí ra thì ai cũng bị cấm ghi chép Nếu rơi vào trường hợp này, người quan sát phải cố gắng xin phép được là ngoại lệ đối với quy định cấm Điều đó có thể đòi hỏi phải có được một cuộc gặp với Chủ tọa phiên tòa hoặc thẩm phán phiên tòa

Thậm chí ngay cả khi được phép ghi chép thì người quan sát vẫn nên đánh giá rủi ro của việc những ghi chép của họ bị tịch thu hoặc bị công an hay cơ quan chức năng nào khác đọc được Việc tịch thu những ghi chép được biên trong quá trình quan sát phiên tòa, hoặc tịch thu những ghi chép tại các cuộc họp bên ngoài cuộc điều trần và xét xử, có thể đưa đến việc những thông tin mật, ví dụ như tên của người được phỏng vấn, bị tiết lộ, do đó gây ra những rủi ro tiềm tàng về an ninh Những người quan sát các phiên tòa tại những nơi có vấn đề về an ninh chỉ nên ghi chép sơ bộ và tránh lưu lại những thông tin nhạy cảm hoặc bất cứ thứ gì có thể khiến người khác rơi vào rủi ro Họ

có thể bổ sung các ghi chép sau đó, khi họ đã ở một địa điểm an toàn hơn

7 Không can thiệp vào tiến trình xét xử

Một nguyên tắc căn bản trong việc quan sát các phiên tòa là người quan sát cần phải thể hiện sự tôn trọng đối với tính độc lập của tiến trình tư pháp Theo đó, người quan sát phiên tòa không bao giờ được can thiệp hoặc tìm cách gây ảnh hưởng lên phiên tòa dưới bất kỳ hình thức nào Theo nguyên

Ngày đăng: 25/02/2019, 07:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm