Nghiên cứu này tập trung tìm ra các mô hình và xu hướng chung trong đầu tư công cho nông nghiệp ở Ấn Độ và Việt Nam tính từ đầu những năm 2000, chú trọng vào hộ gia đình làm nông nghiệp
Trang 2Nhóm Nghiên cứu:
Giáo sư Praveen Jha, Giáo sư Kinh tế, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quy hoạch, Trường Khoa học
Xã hội Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ - Giáo sư Danh dự, Đại học Rhodes, Grahamstown, Nam Phi, Viện Phi Nghiên cứu Nông nghiệp, Harare, Zimbabwe
Ông Nilachala Acharya, Cán bộ Nghiên cứu Cấp cao, Trung tâm Ngân sách và Quản lý Minh bạch (CBGA),
New Delhi, Ấn Độ - Học giả Nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quy hoạch, Trường Khoa học
Xã hội, Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ
Ông Manish Kumar, Học giả Nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quy hoạch, Trường Khoa học
Xã hội, Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ
Ông Amit Kumar, Học giả Nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quy hoạch, Trường Khoa học
Xã hội, Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ
Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng nhóm nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
(CIEM), Việt Nam
Ông Trần Bình Minh, Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Việt Nam,
Việt Nam
Ông Đinh Thiên Hoàng, Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Việt
Nam, Việt Nam
Bà Hoàng Thị Hải Yến, Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Việt Nam,
Việt Nam
Bà Nguyễn Phương Thúy, Quyền Trưởng phòng Chính sách và Truyền thông - Điều phối viên Chính sách,
Tổ chức ActionAid Việt Nam
Bà Bùi Ngọc Liên, Cán bộ Chương trình về Quyền lương thực & Cứu trợ khẩn cấp, Tổ chức ActionAid
Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU
2 AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ HỖ TRỢ CÔNG CHO NÔNG NGHIỆP
3 THÔNG ĐIỆP CHÍNH TỪ DỮ LIỆU THỨ CẤP
4 NAM Á: TRƯỜNG HỢP ẤN ĐỘ
5 VÙNG ĐÔNG NAM Á VÀ THÁI BÌNH DƯƠNG: CÂU CHUYỆN VIỆT NAM
6 PHÁT HIỆN TỪ DỮ LIỆU SƠ CẤP
6.1 Phân bố đất sở hữu
6.2 Thu nhập từ nông nghiệp
6.3 Nguồn năng lượng sử dụng trong sinh hoạt và nấu ăn
6.4 Tình trạng cơ giới hóa
6.5 Hỗ trợ khác của Nhà nước
7 SO SÁNH VỚI ẤN ĐỘ
8 NHỮNG THÁCH THỨC VỀ MẶT CHÍNH SÁCH VÀ CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
/ 5 / /6 / / 7 / / 7 / / 8 / / 10 / / 10 / / 12 / / 13 / / 13/
/ 14 / / 14 / / 15 /
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chân thành gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Avinash Kumar, Trung tâm Nghiên cứu các Ngành nghề Phi chính thức và Lao động (CISLS), Đại học Jawaharlal Nehru University (JNU) và Tiến sĩ Santosh Kumar Verma, Hội đồng Phát triển Xã hội (CSD) Niu-Đêli đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị cho báo cáo này Chúng tôi cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của các nghiên cứu viên trong quá trình thực địa tại hai nước Việt Nam và Ấn
Độ Đặc biệt, chúng tôi cảm ơn sự đóng góp của nhóm cán bộ của ActionAid Việt Nam là bà Nguyễn Phương Thúy và bà Bùi Ngọc Liên và nhóm cán bộ của ActionAid Ấn Độ là ông Raghu P và ông Byomkesh Kumar Lal Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến bà Hoàng Phương Thảo, Trưởng Đại diện Tổ chức ActionAid Việt Nam và ông Sandeep Chachra, Trưởng Đại diện Tổ chức ActionAid Ấn Độ đã hỗ trợ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Báo cáo này được thực hiện trong thời gian ngắn với nhiều thông tin, lĩnh vực cần tìm hiểu và đánh giá số liệu tương đối lớn nên không thể tránh khỏi các hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của độc giả để rút kinh nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo
Phương châm nghiên cứu của ActionAid:
‘Nghiên cứu của ActionAid dựa trên các bằng chứng thực tiễn, đặt người dân - đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái - ở vị trí trung tâm, kết hợp với hiểu biết và chuyên môn ở cả bên trong và bên ngoài của tổ chức, hướng tới thay đổi tích cực vai trò của các bên liên quan trong quá trình phát triển Điều này tạo nền móng cho quá trình phát triển ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế’
Trang 51.GIỚI THIỆU
An ninh lương thực từ lâu đã là nội dung chính trong các phát biểu liên quan đến chính sách Khoảng 1,4 triệu người trên thế giới sống ở mức cực nghèo (dưới 1,25 Đô la Mỹ/ngày), 70% trong số đó sống ở nông thôn và phụ thuộc hoàn toàn hoặc phần nào vào nông nghiệp Những nước kém phát triển nhất, đặc biệt là các nước ở Nam Bán cầu, là những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất tính theo một loạt các chỉ số về an ninh lương thực, đói nghèo
và suy dinh dưỡng
Các nỗ lực giảm nghèo riêng lẻ không đủ để xóa được tỉ lệ này mà cần phải có các khoản đầu tư công lớn và liên tục cho nông nghiệp và phát triển nông thôn, bên cạnh các nỗ lực khác Trong bối cảnh hiện tại, các chính sách công hiệu quả hướng tới việc mang lại an ninh và bảo trợ xã hội tốt cùng các biện pháp chính sách ưu tiên cho hộ nông dân đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác xóa đói nghèo cho cá nhân và hộ gia đình (Jha 2014)
Dù tình trạng đói nghèo còn phổ biến nhưng lại không nhận được hỗ trợ đầy đủ từ nhà nước Khoảng 65% dân
số trên thế giới không được nhận bất kì hỗ trợ nào từ nhà nước về các chương trình/hệ thống bảo trợ xã hội Nghiên cứu này tập trung tìm ra các mô hình và xu hướng chung trong đầu tư công cho nông nghiệp ở Ấn Độ
và Việt Nam tính từ đầu những năm 2000, chú trọng vào hộ gia đình làm nông nghiệp quy mô nhỏ Nghiên cứu nhằm tiếp cận các loại hình chính sách công gắn liền với đầu tư cho nông nghiệp ở Ấn Độ và đặc biệt ở Việt Nam Báo cáo tóm lược này là kết quả của việc nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu cùng với các chuyến nghiên cứu tại thực địa Việc nghiên cứu tài liệu tập trung vào các số liệu thứ cấp và thông tin tổng thể, còn nghiên cứu thực địa tập trung vào các câu hỏi cụ thể thiết kế riêng cho Thảo Luận Nhóm (FGD) Chính sách liên quan đến nông nghiệp có thể khác nhau ở các tỉnh/bang nên nghiên cứu cũng được thực hiện tại nhiều địa bàn khác nhau Tại Việt Nam, nghiên cứu được tiến hành tại huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang, huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long và huyện Eakar tỉnh Đắk Lắk Ở Ấn Độ, khảo sát được thực hiện tại các bang Andhra Pradesh, Jharkhand, Odisha và Uttar Pradesh Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu ở cấp hộ gia đình (những hộ có tổng diện tích đất nhỏ hơn 2 héc-ta)
Nguồn: Viện nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế
Trang 62 AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ HỖ TRỢ CÔNG CHO NÔNG NGHIỆP
Vấn đề lương thực và tầm quan trọng của nó cho sức
khỏe con người được các nhà lãnh đạo thế giới đề
cập đến lần đầu tiên sau Chiến tranh Thế giới thứ
nhất Ban đầu, vấn đề này mới chỉ được xem xét ở
tính “sẵn có” Định nghĩa An ninh Lương thực do Tổ
chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) nêu ra có bốn
khía cạnh; 1) Tính sẵn có, 2) Khả năng tiếp cận, 3) Độ
thỏa dụng, 4) Tính ổn định Đảm bảo lương thực sẵn
có là bước đầu tiên tiến đến xóa đói Khả năng tiếp
cận liên quan đến khả năng của người dân yêu cầu
lương thực sẵn sàng khi cần, gồm tiếp cận trực tiếp,
tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội Yếu tố thứ ba, tính
thiết thực, liên quan đến an toàn và dinh dưỡng của
lương thực Yếu tố cuối cùng, tính ổn định, là đảm
bảo lương thực luôn sẵn có ở bất kì thời điểm nào
Phát triển Nông nghiệp có liên kết mật thiết với các
vấn đề an ninh lương thực Các sản phẩm đầu ra của
nông nghiệp ngoài việc tạo ra nguồn thu nhập chính
của người dân trên thế giới còn đảm bảo tính sẵn có
của an ninh lương thực, giải quyết yếu tố tiếp cận
kinh tế Do đó, dịch vụ công cho nông nghiệp gắn
liền với các ưu tiên đặc biệt cho các hộ gia đình nông
nghiệp quy mô nhỏ hoặc bị gặt ra ngoài lề, nếu được
thiết kế và triển khai đúng cách sẽ đóng góp cho cả bốn khía cạnh trên của an ninh lương thực
Tuy nhiên trên thế giới, đầu tư công cho nông nghiệp đang có xu hướng giảm Chi tiêu cho nông nghiệp so với phần trăm đóng góp của ngành cho GDP từ năm
1980 đến năm 2000 ở tất cả các vùng trên thế giới đều giảm và ở mức cực kì thấp tại các nước đang phát triển Ở các nước như Ấn Độ và Thái Lan, đầu tư cho nông nghiệp tăng mạnh nhưng so với tổng lượng đầu tư công thì lại giảm Ở rất nhiều nước đang phát triển khác, đầu tư công cho vùng nông thôn bị trì trệ
và như vậy phần trăm của nông nghiệp đóng góp cho GDP và phần trăm trong tổng chi tiêu của chính phủ cho nông nghiệp cũng giảm xuống (Fan và Rao năm 2013)
Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp yêu cầu phải có một chiến lược phối kết hợp, gồm một môi trường chính sách tốt và các khoản đầu tư lâu dài với mục tiêu rõ ràng Lịch sử cho thấy, chính sách phát triển trong nông nghiệp không hề công bằng vì chỉ tập trung chú trọng vào các trang trại nông nghiệp
có quy mô lớn (Biodiversity 2012) Với mục tiêu đạt được an ninh lương thực, giảm nghèo và cải thiện kinh tế nông thôn, rất nhiều nước đã áp dụng chính sách thay thế nông nghiệp quy mô nhỏ bằng cơ giới hóa nông nghiệp và tin rằng nông nghiệp quy mô lớn
có năng suất và hiệu quả hơn Những chính sách này giúp các nước đạt được sản lượng nông nghiệp cao nhưng lại đẩy các hộ sản xuất quy mô nhỏ vào tình trạng đói nghèo triền miên
Nhiều nghiên cứu về sự kết nối giữa nông nghiệp và nghèo đói chưa nhận định đúng đắn về vai trò của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là các hộ nông dân quy mô nhỏ Ở rất nhiều nước, những hộ này có đóng góp cơ bản cho an ninh lương thực Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng tăng,
có nhiều thay đổi và chuyển biến bất lợi cho họ mà nguyên nhân là do không có các hỗ trợ công phù hợp
Nguồn: www.newsustainabilityinc.com
Trang 73 THÔNG ĐIỆP CHÍNH TỪ DỮ LIỆU THỨ CẤP
Theo các nghiên cứu ở Bán cầu Nam, đầu tư công
cho nông ngiệp được xem là yếu tố then chốt thu hút
vốn đầu tư cho ngành này và duy trì đầu tư của các
doanh nghiệp tư nhân Các khoản đầu tư này sẽ đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế, an ninh lương thực và
giảm nghèo ở các vùng nông thôn Vấn đề càng trở
nên quan trọng do thu nhập ở nông thôn đang bị đe
dọa bởi áp lực cạnh tranh từ quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập với thị trường chung Dù vậy, ngành nông
nghiệp vẫn chưa được ưu tiên một cách đầy đủ trong
khung chính sách của các nước đang phát triển Do
vậy, cần thiết phải ưu tiên đầu tư công cho các cơ sở
hạ tầng nông thôn, các biện pháp bảo vệ xã hội, cung
cấp hoặc hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và
tiêu dùng công cho nông nghiệp v.v
Một số nước đã và đang bị ảnh hưởng tiêu cực do
hậu quả của việc không chú trọng vào đầu tư công
cho nông nghiệp Ví dụ như các chính sách kinh tế ở
các nước Châu Mỹ La tinh những năm 90, dựa trên tự
do kinh tế và thương mại Do lợi nhuận ở vùng nông
thôn tương đối thấp nên các khoản đầu tư công vào kinh tế tại đây rất ít khiến nghèo đói tăng lên cùng với việc ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sức khỏe
Các phân tích từ nguồn số liệu thứ cấp cho thấy đầu
tư cho nông nghiệp nói chung ở các nước kém và đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam và Ấn
Độ, là không đáng kể Trong giai đoạn từ năm
1980-2012, chi tiêu cho nông nghiệp trong GDP trên toàn thế giới giảm từ 1,72% trong năm 1980 xuống còn 0,83% trong năm 2012 Bình quân tiêu dùng này trong giai đoạn từ năm 1980 đến 2012 là khoảng 1,23% Chi tiêu cho nông nghiệp trong tổng ngân sách toàn cầu cũng có xu hướng giảm Con số này năm 1990
là 5,55% giảm xuống còn 3,36% trong năm 2000 và 2,98% trong năm 2012 Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2012 giữ nguyên là 4,76% Do không được chú ý đầy đủ về mặt chính sách và ngân sách, ngành nông nghiệp đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có thách thức về năng suất thấp
Dù là nơi trên thế giới có dân số phụ thuộc vào nông
nghiệp nhiều nhất nhưng kết quả của việc đảm bảo
an ninh lương thực ở vùng Nam Á không đáng kể.Tại
Nê-pan, nghèo đói và thiếu lương thực chủ yếu là ở
vùng núi Tại đây, lượng lương thực sản xuất ra không
đủ dùng trong sáu tháng.Khoảng 40% dân số
Băng-la-đét tiêu thụ ít hơn 2122 ki lô ka-lo/người/ngày Nơi
có dân số nghèo đói lớn nhất là Ấn Độ, khoảng 194,6
triệu người thiếu dinh dưỡng, chiếm 15,2% tổng dân
số nước này
Nông nghiệp là ngành chủ đạo ở vùng Nam Á, đóng
góp vào GDP giúp đẩy mạnh kinh tế, tạo việc làm, hỗ
trợ cho các ngành khác vv.Tuy nhiên so với giáo dục,
y tế, quốc phòng, bảo trợ xã hội…đầu tư công cho
nông nghiệp ở vùng này không nhiều Cụ thể là phần
trăm đầu tư cho nông nghiệp trong vùng năm 1980
là 2,37%, giảm còn 1,55% trong năm 1995 và 0,97%
năm 2011, tuy nhiên lại tăng 1,16% trong năm 2012
Ở Nam Á, tỷ trọng chi tiêu công trung bình cho nông nghiệp ở Ấn Độ (từ 1980 đến năm có số liệu gần nhất) là thấp nhất, (1,01% GDP), chỉ nhiều hơn Paki-stan (0,28%), Bangladesh (0,6%), trong khi đó số liệu của Bhutan là khoảng 5,75% Tương tự, tỷ trọng của
4 NAM Á: TRƯỜNG HỢP ẤN ĐỘ
Trang 8Srilanka là 2,61% Nếu xem xét số liệu chi tiêu cho
nông nghiệp trong tổng GDP nông nghiệp từ 1980
thì Bhutan vẫn đứng đầu với 17,74%, tiếp theo là Sri
Lanka (13,44%) Tỷ lệ này ở Ấn Độ chỉ là 4,38%, cho
dù2009 đạt mức cao nhất là 7,68%
Do các quan tâm về chính sách không được đầy đủ
cho ngành này từ xưa, các vùng nông thôn Ấn Độ chịu
áp lực lớn liên quan đến các chỉ số kinh tế vĩ mô chính
của ngành này Việc chuyển đổi từ chế độ chính sách
kinh tế do nhà nước chỉ đạo (dirigiste) sang chế độ
chính sách do thị trường quyết định đã tác động lớn
và sâu sắc đến phúc lợi của đa số người dân, đặc biệt
là người dân ở vùng nông thôn Đầu tư công cho phát
triển nông nghiệp ở Ấn Độ - thể hiện trong báo cáo
ngân sách hàng năm - vẫn có sự chênh lệch, thể hiện
trong việc cung cấp nhiều hỗ trợ về quyền lợi cho
nông dân sản xuất quy mô lớn Trong khi đó, ngân
sách công hỗ trợ cho nghiên cứu và phát triển, dịch
vụ khuyến nông, phát triển cơ sở hạ tầng lại mang lại sản lượng và sản phẩm nông nghiệp tốt hơn cho những hộ dân vẫn còn rất khiêm tốn.Trên thực tế, đầu tư công cho nông nghiệp ở Ấn Độ còn đứng sau các hỗ trợ về giống và lương thực
Hơn nữa, đầu tư công cho nông nghiệp trong những năm qua đều không được ưu tiên trong ngân sách của chính phủ Ấn Độ Do ngân sách đầu tư công còn hạn chế, chỉ chiếm 15% tổng GDP của cả nước, Ấn Độ chỉ có thể dành 1% GDP cho nông nghiệp nhưng quốc phòng chiếm đến 2% tổng GDP của cả nước Trong khi đó phần trăm đầu tư cho giáo dục và y tế lên đến 50% tổng GDP trong cả giai đoạn kể từ năm 1980
Thông điệp: Để đạt được tăng trưởng nông nghiệp bền vững, Ấn Độ không những cần đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp mà còn cả vào việc cải thiện sản lượng nông sản cho nông dân sản xuất quy mô nhỏ hoặc bị gạt ra ngoài lề.
Không chỉ là vùng kinh tế năng động nhất, Đông Á còn là trường hợp thành công nhất trong cuộc chiến giảm đói nghèo (Bảng 1) Các hoạt động kinh tế ở nông thôn cũng rất đa dạng và các đại diện kinh tế nông thôn đã hội nhập nhiều hơn vào các chuỗi giá trị quốc gia, kể cả các chuỗi giá trị liên quan đến các sản phẩm phi nông nghiệp Quan trọng hơn là nông nghiệp nông thôn gắn liền với các chiến lược lớn về phát triển toàn diện, từ
đó khuyến khích sự tham gia và chia sẻ lợi ích cho các hộ gia đình quy mô nhỏ
5 VÙNG ĐÔNG NAM Á VÀ THÁI BÌNH DƯƠNG: CÂU CHUYỆN VIỆT NAM
Quốc gia
Bảng 1: Tỷ lệ nghèo nông thôn tính trên đầu người
Indonesia
Ấn Độ
Lào
Malaysia
Thái Lan
Việt Nam
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
21,1
37,6 13,5 40,4 35,6
Đơn vị: Phần trăm
Nguồn: Hệ thống dữ liệu Công cụ chỉ báo phát triển thế giới (WDI); số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Trang 9Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể
trong công cuộc xóa đói giảm nghèo từ năm 1990
Tỷ lệ dân số bị suy dinh dưỡng giảm từ 32,1% trong
giai đoạn 1990-1992 xuống còn 11,4% giai đoạn
2012-2014 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm xuống còn
10,3% trong giai đoạn 2014-2016 Tỷ lệ đói nghèo ở
Việt Nam đã giảm từ mức 57% năm 1993 xuống còn
28,9% năm 2002 và 8,4% vào năm 2014 Tuy nhiên,
sự phân bố tỷ lệ nghèo đói giữa các vùng miền không
đồng đều, cụ thể là khu vực nông thôn luôn có tỷ lệ
nghèo đói cao hơn Tỷ lệ tương ứng ở khu vực nông
thôn Việt Nam trong giai đoạn từ 2002-2014 đã giảm
từ 35,6% năm xuống còn 10,8%
Mặt khác, nguồn thu nhập của các hộ gia đình nông
thôn từ năm 1993 đến nay đã có sự chuyển dịch đáng
kể (Bảng 2) Tổng các nguồn thu nhập tính bình quân
trên mỗi hộ gia đình nông thôn đã tăng từ mức 4,02
trong năm 1993 lên đến 4,67 trong năm 2002 Sự gia
tăng này phần lớn là nhờ: (i) hội nhập kinh tế quốc
tế chủ động, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam; và (ii) các biện pháp tích cực thúc đẩy các
hộ gia đình nông thôn lao động và đẩy mạnh cải cách nông thôn cùng với cải cách kinh tế trong nước Tuy nhiên, từ năm 2002 đến năm 2008, các hoạt động tạo thu nhập cho các hộ gia đình nông dân có vẻ kém
đa dạng hơn Nguyên nhân của tình trạng này có thể
là do những thay đổi trong chính sách cải cách nông thôn giai đoạn 2002-2008 Cụ thể, các hộ gia đình nông thôn không chỉ đơn thuần dựa vào việc tăng cường tham gia vào các hoạt động kinh tế đa dạng
để kiếm thu nhập cao hơn Thay vào đó, họ bắt đầu cần tập trung vào một số nguồn thu nhập nhất định với hy vọng chuyên môn hóa sẽ đem lại nguồn thu nhập tốt hơn
Nền nông nghiệp đã có bước chuyển mình mạnh mẽ
từ khi Việt Nam tuyên bố chính thức chuyển sang nền
kinh tế theo định hướng thị trường cùng với cải cách
Đổi Mới năm 1986 Ngoài những cải cách trong thể
chế thị trường, những chính sách ổn định kinh tế vĩ
mô và hội nhập kinh tế, phát triển nông nghiệp cũng
được coi là một trụ cột quan trọng Sau Nghị quyết
10 NQ/TW ban hành vào tháng Tư năm 1988, nhiều
chính sách nông nghiệp đã được ban hành và thực
hiện nhằm trao quyền cho người nông dân trong
quản lý sản xuất và thực hiện các thủ tục sản xuất
Quyền tự chủ này thúc đẩy người nông dân nỗ lực
nhiều hơn và chịu trách nhiệm nhiều hơn trong sản
xuất nông nghiệp Về cơ bản, quyền quản lý đã được
chuyển từ hợp tác xã và các nhóm sản xuất sang cho
Lưu ý: Để đảm bảo tính nhất quán, ông Võ Trí Thành và ông Nguyễn Anh Dương (2011) sử dụng cách phân loại các nguồn
thu nhập ròng của Ngân hàng Thế giới (2006) Theo đó, có 8 nguồn thu nhập ròng; cụ thể là trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, phi nông nghiệp, lương, chuyển giao và thu nhập khác
Bảng 2: Các nguồn thu nhập của các hộ nông thôn, 1993 - 2008
Miền núi phía Bắc
Đồng bằng Châu thổ sông Hồng
Duyên hải Bắc Trung bộ
Duyên hải Nam Trung bộ
Tây Nguyên
Đông Nam
Đồng bằng Châu thổ sông Mê Kông
Tổng cộng
4,43 4,16 3,57 3,74 3,41 3,36 4,31 4,02
4,97 4,37 4,65 4,49 5,21 4,16 4,91 4,67
4,64 4,28 4,36 4,34 4,16 3,56 3,85 4,20
Nguồn: Số liệu năm 1993 và 2002 từ Ngân hàng Thế giới (2006); số liệu năm 2008 từ ông Võ Trí Thành và ông Nguyễn Anh Dương
Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Trang 10các nông hộ sao cho phù hợp với sự thay đổi trong
phân phối sản phẩm Song song với quá trình chuyển
đổi này là cơ chế tự do hóa về giá cho các sản phẩm
nông nghiệp và đầu vào
Nhờ những cải cách trên, Việt Nam đã nhanh chóng
chuyển đổi từ một nước thiếu lương thực sang
nước thặng dư thực phẩm cho xuất khẩu, trong
đó có gạo, thịt và rau Ở hầu hết các khu vực nông
thôn, tình trạng thiếu lương thực đã giảm mạnh
Mức sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông
nghiệp đã tăng lên trong vài năm qua và Việt Nam
hiện là nhà sản xuất quan trọng, xuất khẩu một số
sản phẩm nông nghiệp bao gồm gạo, cà phê và hạt
điều với mức thặng dư thương mại lớn Việt Nam
đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên
thế giới sau Ấn Độ vào năm 2012
Quan trọng hơn, đầu vào cho phát triển nông nghiệp
ở Việt Nam đã thay đổi một cách tự nhiên Trong nửa
cuối thập niên 80, tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu
dựa vào những cải cách thể chế theo định hướng thị
trường Trong những năm 1990, động lực chính của
tăng trưởng nông nghiệp là sự mở rộng nhanh chóng nguồn đầu tư vào lĩnh vực này Kể từ năm 2000, vai trò của việc cải thiện năng suất trong tăng trưởng nông nghiệp dần trở nên rõ ràng hơn
Trước mắt, Việt Nam sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp Trong khi nguồn đất canh tác dần cạn kiệt, Việt Nam đã và đang phải sử dụng đến các nguồn lực khác để duy trì tăng trưởng nông nghiệp
và thúc đẩy đóng góp của nền nông nghiệp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Để thực hiện được mục tiêu này, việc duy trì đầu tư vào nông nghiệp phải được ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, chi tiêu hiện tạicủa Việt Namcho ngành nông nghiệp (phản ánh qua tỷ
lệ phần trăm trong GDP nông nghiệp) đang giảm từ 8,48% trong năm 2000 xuống còn 6,49% trong năm
2010 Mức chi tiêu nông nghiệp trong tổng GDP của
cả nước cũng ở tình trạng tương tự, giảm từ 2,08% trong năm 2000 xuống còn 1,23% trong năm 2010 Khác với các nước trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, không gian tài khóa của Việt Nam đã tăng trưởng hơn 100% Tuy nhiên, đầu tư công cho lĩnh vực nông nghiệp vẫn chưa được ưu tiên trong giai đoạn này
Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
6.1 PHÂN BỐ ĐẤT SỞ HỮU
Khoảng 99% đất sở hữu ở Việt Nam có diện tích nhỏ
hơn 4 héc-ta và 94% trong số đó thuộc đất không
sinh lời hoặc sinh lời rất ít (không phải là đất đai màu
mỡ) Chỉ có 4% các hộ sở hữu đất với diện tích từ 2
đến 4 héc-ta Do đó bất cứ chính sách nào liên quan
đến ngành nông nghiệp cũng phải tập trung vào cấp
hộ gia đình để đảm bảo được tính bền vững của nền
kinh tế
Tại vùng nông thôn ở các tỉnh thực hiện nghiên cứu, tình hình không khác biệt nhiều Số hộ gia đình có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 2 héc-ta là 88,57% (Cao Bằng), 71,43% (Đắk Lắk), 90% (Hà Giang) và 84% (Vĩnh Long) Tỷ lệ nghích với mức tăng dân số, diện tích đất sở hữu sẽ giảm xuống Do dó bất cứ chính sách nào liên quan đến ngành nông nghiệp cũng phải tập trung vào cấp hộ gia đình để đảm bảo được tính bền vững của nền kinh tế
6 PHÁT HIỆN TỪ DỮ LIỆU SƠ CẤP