Do được quan tâm đầu tư nâng cấp, tăng cường cán bộ, thực hiện một số chế độ cho cán bộ y tế xã, nên các trạm y tế xã đã hoàn thành tốt việc triển khai các Chương trình mục tiêu y tế quố
Trang 1KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ NĂM 2008
Thực hiện Chỉ thị số 733/CT-TTg ngày 12/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008; Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 và Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức, tiêu chí phân bổ dự toán ngân sách nhà nước, Thông tư số 64/2007/TT-BTC ngày 15/6/2007 và Thông tư số 87/2007/TT-BTC ngày 19/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2008, thí điểm xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn 2008-2010; Văn bản
số 4045/BKH-TH ngày 11/6/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008; Bộ Y tế đã tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ và ngân sách nhà nước năm 2007; xây dựng phương hướng nhiệm vụ và dự toán ngân sách nhà nước năm
2008 và kế hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2008-2010 của ngành Y tế và các đơn vị trực thuộc với một số nội dung chính như sau:
Phần thứ nhất ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2007
A Đánh giá một số nhiệm vụ cơ bản đã đạt được
1 Hệ thống y tế tiếp tục được củng cố và phát triển Đến nay, 100% số xã, phường có cán bộ y tế
hoạt động, 69,4% số xã có bác sỹ; 93,7% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 84,5% số thôn bản có cán bộ y tế hoạt động (so với năm 2006, các tỷ lệ tương ứng là 65,1% xã có bác sỹ; 93,3% xã có NHS hoặc YSN; 86,8% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động), trên 57% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã Trên 70% số xã đã thực hiện khám chữa bệnh ban đầu cho người có thẻ BHYT Do được quan tâm đầu
tư nâng cấp, tăng cường cán bộ, thực hiện một số chế độ cho cán bộ y tế xã, nên các trạm y tế xã đã hoàn thành tốt việc triển khai các Chương trình mục tiêu y tế quốc gia trên địa bàn, tổ chức tốt công tác theo dõi và chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thai sản, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ
y tế, đặc biệt là người nghèo, phụ nữ, trẻ em Số lượt khám chữua bệnh ở trạm y tế xã tăng cao do triển khai tốt quỹ Khám chữa bệnh cho người nghèo (Quyết định 139), phát triển Bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội
Triển khai nhiều giải pháp để thực hiện Quyết định 153/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng nhằm từng bước hoàn chỉnh cơ sở vật chất cho các cơ sở y tế nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân
2 Công tác y tế dự phòng
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, ngành Y tế đã chủ động triển khai công tác phòng, chống bệnh dịch: chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai các hoạt động giám sát, phát hiện kịp thời, xử
lý triệt để ổ dịch, không để bùng phát thành dịch lớn; Phối hợp với các cấp, Bộ, Ban, ngành, đoàn thể trong các hoạt động phòng, chống dịch; tuyên truyền vận động cộng đồng và huy động các nguồn lực tham gia phòng, chống dịch; Chỉ đạo các địa phương, đơn vị kịp thời khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung, không để dịch lớn xảy ra
- Dịch cúm A (H5N1): phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khống chế dịch cúm A(H5N1)
ở gia cầm; giám sát phát hiện, xử lý triệt để dịch cúm A (H5N1) trên người
- Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm: phối hợp với các cơ quan, Bộ, ngành triển khai các biện pháp đồng bộ, quyết liệt và đã khống chế được dịch bệnh, không để dịch lan rộng, kéo dài
Sau khi trường hợp bệnh nhân đầu tiên bị mắc tiêu chảy cấp nguy hiểm vào ngày 23/10/2007 tại huyện Thanh Trì, Hà Nội, Bộ Y tế đã khẩn trương thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch tiêu chảy cấp để chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh phía Bắc chủ động phòng chống kịp thời dịch bệnh Bộ đã thành lập 38 đoàn công tác trực tiếp đi địa phương để chỉ đạo công tác chống dịch, kiểm tra các bệnh viện về công tác điều trị bệnh nhân và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm Các cơ quan truyền thông đại chúng cũng đã kịp thời thông tin liên tục 4 biện pháp phòng chống dịch để tuyên truyền cho cộng đồng Đến ngày 10/12/2007, đã
có 14 tỉnh miền Bắc xuất hiện bệnh, tuy nhiên có địa phương chỉ xuất hiện ca bệnh, tính cộng dồn có 1.993 trường hợp mắc, trong đó có 295 ca được xác định là dương tính với phẩy khuẩn tả, các trường hợp nhiễm bệnh đều đã được phát hiện và điều trị kịp thời, không có trường hợp nào tử vong Sau 40 ngày tích cực dập dịch, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát
Trang 2Tính đến ngày 30/6/2007 lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS được báo cáo trên toàn quốc là 128.367 người nhiễm HIV, trong đó có 25.219 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS và 14.042 bệnh nhân AIDS đã tử vong Riêng trong 5 tháng đầu năm 2007, trên tòan quốc báo cáo phát hiện 9.978 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 4.593 bệnh nhân AIDS và 2.072 trường hợp bị tử vong do AIDS 10 tỉnh, thành phố có số trường hợp nhiễm HIV/AIDS báo cáo nhiều nhất trong 5 tháng đầu năm là: Hà Nội 1.046; Sơn La 541; An Giang 478; Hải Phòng 428; TP.Hồ Chí Minh 418; Nghệ An 393; Nam Định 360;
Bà Rịa-Vũng Tàu 319; Thái Nguyên 303 và Ninh Bình 302 Nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu trong nhóm nguy cơ cao là nghiện chích ma túy và quan hệ tình dục không an toàn Số nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu trong nhóm tuổi từ 20 đến 39 chiếm tới 86% trên tổng số người nhiễm HIV được báo cáo
Chỉ tiêu an toàn truyền máu ước đạt 100% 70% số người lớn biết cách phòng tránh HIV/AIDS, số người nhiễm HIV/AIDS được quản lý, chăm sóc và tư vấn đạt 70%; công tác giám sát phát hiện, giám sát trọng điểm cũng đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra
Tiếp tục triển khai có hiệu quả các dự án thuộc Chương trình mục tiêu y tế phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS và hợp phần Vệ sinh của Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm, ước cả năm có thể hoàn thành các mục tiêu phòng chống bệnh dịch và an toàn thực phẩm năm 2007 đã đề ra Kết quả cụ thể của từng mục tiêu như sau:
- Phòng chống Sốt rét: không có dịch lớn xảy ra Số lượng bệnh nhân mắc sốt rét trong 11 tháng năm
2007 là 57.685 trường hợp, giảm 34,4% so với cùng kỳ năm 2006 Tỷ lệ mắc sốt rét năm 2007 là
69/100.000 dân Tỷ lệ chết do sốt rét là 0,011/100.000 dân Như vậy cả tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét đều giảm từ 35-65%
- Phòng chống Lao: Đã triển khai công tác phòng chống lao tại 100% xã, trên 99,9% dân số được bảo vệ, ước cả năm khám, phát hiện và điều trị cho khoảng 110.000 bệnh nhân, giảm tỷ lệ mắc lao mới (AFB+) xuống còn 96/100.000 dân
- Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm 2,2% so với năm
2006 (23,4%), ước thực hiện năm 2007 dưới 21,2% Dự kiến đến cuối năm 2008 sẽ phấn đấu đạt được mốc chỉ tiêu của Chiến lược đến năm 2010 là dưới 20%
- Phòng chống sốt xuất huyết: Năm 2007 ghi nhận 103.112 trường hợp mắc, trong đó có 88 trường hợp
tử vong So với cùng kỳ năm 2006, số mắc tăng 44%, tử vong tăng 38%, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết là 122/100.000 dân, tỷ lệ tử vong/mắc là 0,085% Tuy số trường hợp mắc sốt xuất huyết năm 2007 cao hơn so với giai đoạn 1999-2006, nhưng tỷ lệ chết/mắc lại giảm hơn
- Tiêm chủng mở rộng: Tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc-xin ước đạt trên 90%, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80%, tỷ lệ mắc sởi, ho gà, bạch hầu đều giảm so với cùng kỳ 2006 Tiếp tục triển khai tiêm chủng một số loại vắc-xin mới như thương hàn, tả, viêm não, viêm gan B tại các vùng dịch lưu hành
- Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tiếp tục rà soát, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao ý thức của người dân và người cung cấp Số người sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm có hiểu biết đúng và thực hành đúng về VSATTP đạt 53,8%, 15% số cơ sở sản xuất, chế biến 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao áp dụng HACCP Tính đến tháng 12/2007, trong cả nước đã xảy ra 248 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.329 người bị ngộ độc, trong đó có 55 người tử vong So với cùng kỳ năm 2006, số người mắc đã tăng 2,7%, số người tử vong giảm 3,5%
- Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng cũng đã đạt được những kết quả khả quan, năm 2007 đã triển khai mới tại 790 xã trên cả 64 tỉnh, thành phố (trong đó số xã triển khai quản lý bệnh tâm thần phân liệt là
777 xã và 13 xã triển khai quản lý bệnh động kinh và trầm cảm); Tính cộng dồn số xã đã triển khai đến hết 2007 là 4.951 xã (trong đó tâm thần phân liệt là 4.093 xã, động kinh và trầm cảm là 48 xã) Số bệnh nhân được phát hiện và quản lý năm 2007 là 20.075 người (trong đó tâm thần phân liệt là 17.275 người, động kinh và trầm cảm là 2.800 người); Tính cộng dồn đến hết năm 2007 đã có khoảng 114.810 bệnh nhân được quản lý và điều trị (trong đó tâm thần phân liệt là 105.255 người, động kinh và trầm cảm là 9.555 người)
3 Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng
- Hệ thống KCB công lập với trên 13.400 cơ sở y tế và 151.671 giường bệnh (không kể giường lưu ở trạm y tế xã) ngày càng được củng cố và phát triển Công suất sử dụng giường bệnh đạt trên 110%, ước
Trang 3cả năm có khoảng 188 triệu lượt người khám bệnh, bình quân 2,1 lần/người/năm, gần 9 triệu người điều trị nội trú với trên 60 triệu ngày điều trị; trên 23 triệu người điều trị ngoại trú; đã tiến hành khoảng 1,5 triệu phẫu thuật, trên 146 triệu xét nghiệm các loại, trên 11,3 triệu lần chiếu, chụp, trên 8 triệu lần siêu âm Phát triển các kỹ thuật y tế phổ cập song song với các kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh
đa dạng của nhân dân; giải quyết tốt các bệnh thường gặp tại cộng đồng
- Tổ chức triển khai điều trị cấp cứu kịp thời các bệnh nhân trong vụ dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, không
để xảy ra tử vong Cấp cứu kịp thời, chuẩn bị đầy đủ lượng máu nên đã cứu sống được nhiều nạn nhân trong vụ sập nhịp cầu dẫn Cần Thơ
- Chất lượng KCB ở các cơ sở y tế các tuyến, đặc biệt là tuyến TW và ở các thành phố ngày càng được nâng cao Một số kỹ thuật mới, tiên tiến đã được thực hiện thành công và trở thành thường quy trong các bệnh viện như ghép thận, ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật tim hở, thông/nong mạch vành, mổ nội soi, ghép xương, ghép tủy, phẫu thuật mạch máu, thay ổ chỏm khớp, lọc máu, tán sỏi ngoài
cơ thể Nhiều kỹ thuật cao đã được thực hiện ngay tại tuyến tỉnh như: MRI, CT scanner 64 lớp cắt, chụp mạch xóa nền, sinh hóa, huyết học, truyền máu, vi sinh vật; Y học hạt nhân, laser
- Triển khai tốt công tác chỉ đạo tuyến, đào tạo tại chỗ, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, nhất là trong lĩnh vực ngoại khoa, cấp cứu đã giúp các bệnh viện tuyến tỉnh nâng cao được chất lượng chuẩn đoán, điều trị
- Hệ thống y dược học cổ truyền ngày càng được củng cố và phát triển Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định số 222/2003.QĐ-TTg ngày 03/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010, ngày 09/11/2007 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 05/2007/CT-BYT về tăng cường công tác y dược học cổ truyền và ngày 12/11/2007 đã ban hành Quyết định số 39/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế xét, công nhận người có bài thuốc gia truyền Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ở nhiều địa phương còn chậm và kém hiệu quả Một số cán bộ ở các địa phương còn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và nhân lực một cách thỏa đáng cho y dược học cổ truyền Hiện đã có 4/64 sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có phòng quản lý y dược học cổ truyền, số còn lại đều có chuyên viên chuyên trách hoặc bán chuyên trách; có 51/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có bệnh viện y dược học cổ truyền; trên 90% bệnh viện đa khoa có khoa hoặc tổ y học cổ truyền; trên 60% trạm y tế xã, phường, thị trấn có bộ phận khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân (do trạm y tế xã, phường, thị trấn tổ chức hoặc do Chi hội Đông y lồng ghép vào trạm y tế để hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân); có trên 10.000 cơ sở y dược học cổ truyền tư nhân (trong đó có 01 bệnh viện y học cổ truyền
tư nhân) Số lượng người bệnh đến khám và điều trị bằng y học cổ truyền ngày càng tăng Thuốc y học
cổ truyền được sử dụng ngày càng phong phú Đến nay, Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên 1.800 chế phẩm thuốc y học cổ truyền, chiếm 22% tổng số thuốc phòng và điều trị bệnh lưu hành trên thị trường
- Hoạt động hành nghề y tư nhân đã có nhiều chuyển biến tích cực Tính đến nay, cả nước đã có trên 30.000 cơ sở hành nghề tư nhân; trong đó có 66 bệnh viện tư, hơn 300 phòng khám đa khoa và 87 nhà
hộ sinh Ngoài ra, hiện đã có 22 bệnh viện tư đã được UBND các tỉnh và Bộ Y tế cho phép thành lập Các bệnh viện ngoài công lập hiện nay chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Số lượng bệnh viện ngoài công lập, cũng như số giường bệnh của các bệnh viện này còn chiếm tỷ lệ thấp so với các cơ sở y tế công lập; tỷ lệ bệnh viện ngoài công lập là 6% và tỷ lệ giường bệnh là 3% so với tổng số chung Về nhân lực, tổng số nhân viên y tế là 5.066 người; trong đó có 1.423 bác sỹ, 62 tiến sỹ và thạc sỹ, còn lại là các nhân viên khác Đa số giám đốc và trưởng phó khoa phòng là những cán bộ y tế trong biên chế đã nghỉ hưu Như vậy, nhân lực y tế ngoài công lập chỉ chiếm chưa đến 0,2% số cán bộ y tế nói chung ở Việt Nam; số lượng cán bộ y tế ngoài công lập có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 2,3% trên tổng số Tuy nhiên, hệ thống y tế ngoài công lập hiện nay hàng năm cũng đã góp phần giảm tải đáng kể cho các cơ sở y tế công lập Về chuyên môn đã cấp cứu, KCB cho khoảng trên 3 triệu người, phẫu thuật, thủ thuật cho trên 100.000 người bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng cho trên 2,5 triệu lượt người
4 Đào tạo, phát triển nhân lực y tế và khoa học công nghệ:
Tiếp tục có những chuyển biến tích cực, mở một số mã ngành đào tạo mới, trong đó có 3 mã ngành đáp ứng cung cấp nhân lực cho hệ thống y tế dự phòng: kỹ thuật dinh dưỡng tiết chế, kỹ thuật kiểm nghiệm
an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ thuật y tế dự phòng Bước đầu đáp ứng được nhu cầu cán bộ cho các cơ
sở y tế, các chuyên khoa và y tế chuyên sâu; thí điểm triển khai chương trình đào tạo bác sỹ gia đình và
Trang 4đào tạo cho ácc đối tượng thuộc diện tự túc kinh phí; xây dựng và triển khai đề án đào tạo cử tuyển nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho một số tỉnh vùng khó khăn; tiếp tục nâng cấp các trường trung học y
tế thành cao đẳng, nâng cấp một số trường cao đẳng thành đại học Tính đến nay, cả nước có 95 cơ sở đào tạo cán bộ y tế, trong đó có 19 trường đại học/học viện (1 trường mới được nâng cấp năm 2007) Trình độ chuyên môn và năng lực của cán bộ y tế ngày càng được nâng cao Tinh thần phục vụ tận tụy, hết lòng vì bệnh nhân chiếm tuyệt đại đa số trong cán bộ, công chức, viên chức của ngành Y tế
Ban hành quy định về tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo đại học và cao đẳng y tế, quy định về tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp y tế, quy định tạm thời về tiêu chuẩn chuyên môn cho các cơ sở đào tạo cao đẳng điều dưỡng đa khoa và ban hành công vụ hướng dẫn giám sát kiểm định chất lượng đào tạo các trường cao đẳng và trung cấp y tế
Về định mức lao động và cơ cấu cán bộ, Bộ Y tế đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ và đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho liên Bộ Y tế-Nội vụ đã ban hành Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 hướng dẫn định mức biện chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế công lập
Năm 2007, Bộ Y tế đã cơ bản hoàn thành kế hoạch khoa học công nghệ Tổng số các đề tài, dự án được phê duyệt là 102 đề tài, trong đó có 55 đề tài độc lập được tuyển chọn rộng rãi và 31 đề tài thuộc
Chương trình trọng điểm cấp Bộ và các nghiên cứu thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, các thử nghiệm lâm sàng thuốc
Từ các kết quả nghiên cứu, Bộ Y tế đã thống nhất quản lý về công tác tiêu chuẩn quản lý chất lượng bảo
vệ người tiêu dùng trong các lĩnh vực dược, trang thiết bị y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế dự phòng; xây dựng và áp dụng thực hiện hệ thống quản lý chất lượng trong cơ quan hành chính Nhà nước
5 Quản lý, sản xuất, cung ứng thuốc tiếp tục có nhiều chuyển biến Hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật về Dược ngày càng được hoàn thiện Sản xuất, xuất nhập khẩu và cung ứng thuốc 6 tháng đầu năm tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm 2006 Bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng đến người sử dụng với giả cả hợp lý và tương đối ổn định, chỉ số giá nhóm hàng Dược phẩm y tế tăng ở mức thấp hơn
tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng chung (chỉ số giá CPI 11 tháng đầu năm 2007 tăng 9,45% trong khi chỉ số giá nhóm hàng Dược phẩm tăng 6,4%) Trong những thời điểm khó khăn như lụt bão, dịch tiêu chảy cấp, tai nạn thương tích vẫn bảo đảm cung ứng kịp thời và đủ thuốc
Số lượng các cơ sở sản xuất và kinh doanh dược phẩm không ngừng tăng Tính đến 30/8/2007, cả nước
có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó có 110 nhà máy sản xuất thuốc tân dược, 74 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP; 83 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc có nguồn gốc
từ dược liệu
Mạng lưới cung ứng thuốc phát triển rộng khắp toàn quốc Tính đến 31/8/2007, có 89 doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuốc trực tiêớ, 943 doanh nghiệp kinh doanh thuốc, 373 doanh nghiệp nước ngoài đăng ký cung cấp thuốc vào Việt Nam và có 41.520 cơ sở bán lẻ thuốc, thuốc đạt mức 20.000 người dân/1 cơ sở bán lẻ
Thuốc lưu hành trên thị trường được tăng cường quản lý chặt chẽ hơn về chất lượng Phối hợp chặt chẽ với các địa phương, Bộ, ngành liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thực hiện nhiều giải pháp quản lý nhằm bình ổn giá thuốc trên thị trường, chống thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc
Sản xuất thuốc trong nước đến hết năm 2007 đã đáp ứng trên 50% nhu cầu thuốc chữa bệnh cho nhân dân Tiền thuốc bình quân đầu người đạt 12,69 USD
Liên Bộ Y tế-Tài chính đã ban hành Thông tư liên Bộ số 10/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 10/8/2007 thay thế cho Thông tư số 20/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 về việc đầu thầu mua thuốc trong các cơ
sở y tế công lập nhằm thực hiện tốt hơn Luật đấu thầu mua thuốc khám, chữa bệnh
6 Trang thiết bị y tế
Bộ Y tế cũng đã và đang xây dựng và ban hành các tài liệu cơ sở, dữ liệu thiết bị y tế, mẫu thiết kế để giúp các đơn vị y tế công lập và ngoài công lập có cơ sở tham khảo trong quá trình xây dựng dự án đầu
tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế đảm bảo yêu cầu chuyên môn kỹ thuật
Xã hội hóa trong lĩnh vực thiết bị y tế ngày càng mở rộng và đa dạng Đã thành lập Tổng công ty trang thiết bị y tế, cổ phần hóa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực trang thiết bị y tế
Các hoạt động liên doanh liên kết, đầu tư lắp đặt thiết bị y tế tại các bệnh viện công được thực hiện rộng rãi Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, một số thiết bị y tế hiện đại, có giá trị lớn trong chuẩn đoán và
Trang 5điều trị hiện nay như: hơn 100 hệ thống CT Scanner các loại, 20 hệ thống Cộng hưởng từ (MRI), 03 hệ thống chụp mạch Angiography, 4 hệ thống dao mổ Gamma, 3 hệ thống gia tốc tuyến tính, 11 thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể Ngoài ra, các thiết bị khác như: Laser Excimer, phẫu thuật Phaco X-quang số hóa, nội soi các loại, siêu âm màu, các máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học và miễn dịch, cũng được nhiều đơn vị liên kết, đầu tư lắp đặt, giúp cho các cơ sở có điều kiện tốt hơn để phục vụ người bệnh
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 15 phân cấp cho các đơn vị tự quyết định việc mua sắm trang thiết bị thuộc nguồn kinh phí xã hội hóa
7 Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, Dân số-Kế hoạch hóa gia đình:
Theo báo cáo của các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, tính đến tháng 9/2007 thì tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý là 89,9% (tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2006) Tỷ suất mắc và chết do tai biến sản khoa đều giảm so với năm 2006 Năm 2007 đã có 81 ca tử vong mẹ so với 103 ca năm 2006 Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi và suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tiếp tục giảm Hoạt động chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên được các Bộ, ngành và địa phương tham gia ủng hộ tích cực, đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch tổng thể quốc gia về chăm sóc bảo
vệ và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên
Chỉ tiêu giảm mức sinh có khả năng không đạt so 6 tháng đầu năm có 544.800 trẻ em sinh ra, tăng 5%
so với cùng kỳ năm 2006, số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 56.000 cháu, tương đương với cùng kỳ
2006, tỷ suất sinh thô năm 2007 ước đạt khoảng 17,45o/oo, giảm 0,25o/oo so với năm 2006 và không đạt chỉ tiêu mức giảm sinh do Quốc hội giao là 0,3o/oo Theo báo cáo của các địa phương, số trẻ sinh ra trong
11 tháng là 1.088.916 cháu, tăng 5.836 cháu (tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2006); Trong đó một số tỉnh
có tỷ lệ tăng rất cao như Cao Bằng 33%, Phú Thọ 13%; Số người mới đặt vòng tránh thai trong 11 tháng năm 2007 là 1.324.530 người, giảm 70.018 người, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2006, ước đạt 92% kế hoạch năm; Số người mới triệt sản trong 11 tháng năm 2007 là 27.068 người, giảm 1.489 người, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2006, ước đạt 77% kế hoạch năm, trong đó một số tỉnh đạt rất thấp như Hà Nam 18%, Hưng Yên 30%
8 Về chính sách tài chính và đầu tư
- Về sửa đổi viện phí và khám chữa bệnh cho người nghèo: Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khám,
chữa bệnh cho người nghèo, chính sách khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ liên quan ban hành Thông tư số 03/2006/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB&XH ngày 26/01/2006 bổ sung Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 về danh mục các dịch vụ y tế phát sinh nhưng chưa được quy định trong khung giá; ban hành Thông tư liên tịch số 13/2006/TTLT ngày 14/11/2006 sửa đổi,
bổ sung Thông tư 14/TTLB ngày 30/9/1995 về hướng dẫn thu một phần viện phí Về đề án viện phí mới
và sửa đổi Quyết định 139 về khám chữa bệnh cho người nghèo, theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Bộ
Y tế đã chỉnh sửa lại và đang tiếp tục xin ý kiến các Bộ, ngành có liên quan để hoàn chỉnh và trình Chính phủ vào đầu năm 2008
- Về BHYT, Bộ Y tế đã xây dựng dự thảo Luật BHYT và Chiến lược phát triển BHYT toàn dân Tuy nhiên
do đây là những lĩnh vực phức tạp và cần có thêm thời gian để chuẩn bị nên Bộ Y tế đã báo cáo Chính phủ và đã được Chính phủ cho phép lùi tiến độ để tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh thêm
- Về đầu tư: Triển khai nhiều giải pháp để thực hiện Quyết định 153/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng như: Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 về đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Nâng cấp các bệnh viện đa khoa vùng và một số bệnh viện đa khoa tỉnh giai đoạn
2007-2012, Đề án hỗ trợ phát triển trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện theo Quyết định số 1402/QĐ-TTg ngày 15/10/2007; tiếp tục triển khai dự án Nâng cao năng lực cấp cứu ngoại khoa, chấn thương cho 6 bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Việt Đức nhằm từng bước hoàn chỉnh cơ sở vật chất cho các cơ sở y
tế, nâng cao cao năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân
9 Xã hội hóa các hoạt động y tế theo Nghị quyết 05 của Chính phủ
Trong số 54 tỉnh có báo cáo gửi Bộ Y tế, có 46 tỉnh, thành phố đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển xã hội hóa; thành lập Ban chỉ đạo triển khai Đề án do Lãnh đạo tỉnh, thành phố trực tiếp phụ trách Tỉnh ủy và HĐND của nhiều địa phương cũng đã có Nghị quyết riêng để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 05; xây dựung Đề án, Kế hoạch để triển khai công tác xã hội hóa theo tinh thần của Nghị quyết
05, trình UBND tỉnh, HĐND tỉnh phê duyệt Có một số địa phương giao cho các ngành, các cấp nghiên
Trang 6cứu, xây dựng đề án xã hội hóa để thông qua theo thẩm quyền và xây dựng kế hoạch hành động để triển khai thực hiện theo lĩnh vực phụ trách
- Về việc thực hiện Nghị định 43 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập: Sau khi ban hành Nghị định 43 các đơn vị sự nghiệp y tế đã thực hiện Nghị định 10 tiếp tục chuyển sang thực hiện Nghị định số 43 Một số đơn vị sự nghiệp y tế chưa thực hiện Nghị định 10 thì từ giữa năm 2006 đã khẩn trương xây dựng Đề án để trình cấp có thẩm quyền giao thực hiện Nghị định 43 ngay trong năm 2006 Các đơn vị còn lại đã tổ chức quán triệt và tích cực xây dựng kế hoạch và đề án
để thực hiện trong giai đoạn 2007-2009
Bộ Y tế hiện quản lý 73 đơn vị sự nghiệp công lập Đến 31/12/2006, Bộ Y tế đã giao thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho 28 đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có 20 đơn vị đã giao thực hiện Nghị định 10
và 8 đơn vị giao thực hiện Nghị định 43) Đến 30/6/2007, Bộ Y tế đã giao thực hiện Nghị định 43 cho 100% các bệnh viện (trong đó có Bbệnh viện Nội tiết tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên); các cơ sở y tế dự phòng, đào tạo trực thuộc Bộ cũng đã được giao tự chủ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên
Đối với các Bộ, ngành khác (không kể Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) cũng đã có 32 cơ sở khám chữa bệnh được giao quyền tự chủ theo quy định của Nghị định 43 Đối với các địa phương, theo tổng hợp báo cáo cập nhật mới nhất cảu 49 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì đã có 667/743 bệnh viện (chiếm 90%) và 745/824 cơ sở y tế khác (chiếm 90%) đã được giao thực hiện Nghị định 43 Việc thực hiện Nghị định 43 về tự chủ tài chính là khá tốt, tuy nhiên tự chủ về tổ chức và biên chế thì còn nhiều khó khăn Bộ Y tế đang phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 43 về tổ chức bộ máy, biên chế và lao động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Về việc thực hiện Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp khoa học: Hiện nay, Bộ Y tế đang phối hợp với Bộ Khoa học-Công nghệ rà soát lại để chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Bộ sang mô hình đơn vị sự nghiệp khoa học hoạt động theo Nghị định
115 Đối với các địa phương, theo báo cáo mới có 02 đơn vị được giao thực hiện theo Nghị định 115 (ở
Hà Tĩnh và Bình Định)
- Về việc thực hiện Nghị định 53 ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập: Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Thông tư số 91/2006/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006, trong đó có hướng dẫn về việc chuyển cơ sở bán công sang loại hình ngoài công lập Bộ Y tế có 4 đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ máy tổ chức mô hình bộ phận bán công trong đơn vị Trong thời gian vừa qua, Bộ Y tế đã chuyển 2 đơn vị sang tổ chức trực thuộc đơn vị sự nghiệp (Đại học Y Thái Bình, Viện SR-KST-CT Quy Nhơn); đang đề xuất 1 đơn vị sang mô hình doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Đại học (Bệnh viện Đại học Y-Dược TP.HCM) Bộ Y tế đang chỉ đạo Bệnh viện Mắt TW, đơn vị nghiên cứu đề xuất để sắp xếp lại Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố, các địa phương có 7 cơ sở y tế hoạt động theo mô hình bán công, hiện nay đang sắp xếp lại Tuy nhiên, cơ chế chuyển đổi cụ thể vẫn còn nhiều khó khăn và cần được các Bộ, ngành hướng dẫn cụ thể thêm
Kết quả triển khai ban đầu của các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ cho thấy các đơn vị này đã huy động thêm được nguồn vốn phát triển hoạt động sự nghiệp, huy động các nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị; vay các tổ chức tín dụng, huy động vốn từ cán bộ công nhân viên, từ các nhà đầu
tư thông qua hoạt động liên doanh liên kết lắp đặt các trang thiết bị y tế đắt tiền để phục vụ nhu cầu CSSK của nhân dân Theo thống kê của Bộ Y tế, nguồn vốn XHH trang thiết bị huy động được lên đến hơn 2.000 tỷ đồng, trong đó khối Trung ương là gần 1.000 tỷ đồng, và khối địa phương là 1.200 tỷ đồng Nhiều cơ sở đã đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ như: tự chọn buồng bệnh, chọn thầy thuốc và tự nguyện yêu cầu sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao
Nguồn thu của các cơ sở tăng lên, cùng với nguồn NSNN nâng cao chất lượng dịch vụ Thu nhập của người lao động cũng tăng lên nhờ đổi mới quản lý, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Năm 2006, mức thu nhập tăng đối với các đơn vị trung ương: dưới 1 lần lương chiếm 78%, từ 1-2 lần lương chiếm 18%,
từ 2-3 lần lương chiếm 3,6%; đối với các địa phương: dưới 1 lần lương chiếm 82%, từ 1-2 lần lương chiếm 15,5%, từ 2-3 lần lương chiếm 2,5%
Các đơn vị đã xây dựng và công bố công khai quy định quản lý tài chính và chế độ chi tiêu nội bộ để tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển các hoạt động sự nghiệp, khai
Trang 7thác các nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ được bàn bạc dân chủ, thống nhất trong nội bộ đơn vị, tạo sự đồng thuận nhất trí trên cơ sở đó thúc đẩy hoạt động của đơn vị
Cơ chế giao quyền tự chủ đã tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội
bộ, phát huy tính dân chủ, sáng tạo, nâng cao kỹ năng quản lý và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị; bước đầu rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính đối với đơn vị sự nghiệp, từng bước xóa bỏ hành chính hóa, từng bước giảm dần sự can thiệp trực tiếp đối với hoạt động của đơn vị sự nghiệp
10 Công tác pháp chế, thi đua-khen thưởng, truyền thông giáo dục sức khỏe và quản lý báo chí:
Xây dựng và trình Quốc hội, Chính phủ ban hành Luật phòng, chống các bệnh truyền nhiễm số 03/2007/ QH12 của Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ hai, Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 2 Chỉ thị của Chính phủ Bên cạnh đó
là một loạt các Dự thảo Nghị định của Chính phủ và Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hiện
đã trình Chính phủ và đang chờ phê duyệt Ngoài ra, trong năm 2007, Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đã ban hành 7 Thông tư, 5 Chỉ thị, 40 Quyết định và 4 Thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện các vấn đề của ngành Y tế
Làm thủ tục đề nghị phong tặng Danh hiệu Anh hùng lao động cho 2 tập thể và 2 cá nhân, 76 Huân chương lao động cho 51 tập thể và 25 cá nhân, 1 Huân chương Sao Vàng cho 1 tập thể, 11 Huân chương độc lập cho 10 tập thể và 1 cá nhân, 3 danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho 2 tập thể và 1 cá nhân, 83 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Xét tặng 3.342 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ
Y tế, 10.788 kỷ niệm chương "Vì sức khỏe nhân dân", 112 Chiến sỹ thi đua cấp Bộ và 353 tập thể đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc
Thông tin, tuyên truyền các thành tựu của ngành Y tế trong năm 2006 và phòng, chống dịch bệnh, quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện kết luận của
Bộ Chính trị về một số bienẹ pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí trong hệ thống báo chí ngành
Y tế Biên soạn sách "Y tế Việt Nam với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng", "Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú" tập 3
11 Một số công tác khác:
- Thành lập hội đồng tư vấn truyền máu quốc gia theo Quyết định số 3631/QĐ-BYT ngày 25/9/2007 Tăng cường các cuộc vận động về hiến máu nhân đạo, đồng thời với tổ chức lễ tôn vinh người hiến máu tình nguyện không lấy tiền Tỷ lệ hiến máu tình nguyện không lấy tiền năm 2007 đạt 67% trên tổng số lượng máu thu gom trên toàn quốc
- Xây dựng thông tư hướng dẫn khám sức khỏe, xây dựng tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Công tác giám định y khoa, giám định pháp y và giám định sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm và triển khai có hiệu quả
12 Một số các chỉ tiêu y tế:
2 Tỷ lệ chết trẻ em <1 tuổi (o/oo) 16,0 16,0
3 Tỷ lệ chết trẻ em <5 tuổi (o/oo) 27,5% < 25,0
5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi (%) <21,2 <20
Trang 87 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ (%) 95,7 >95
13 Số giường bệnh công lập/10.000 dân 18 20,5 (có 2g NCL)
B Đánh giá tình hình thực hiện dự toán NSNN toàn ngành năm 2007
Dự toán chi ngân sách nhà nước cho ngành y tế (đã bao gồm cả chi khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và khám chữa bệnh cho người nghèo; chưa bao gồm chi y tế trong chi của lĩnh vực an ninh quốc phòng) là 20.680 tỷ đồng, ước thực hiện 20.680 tỷ đồng, đạt 100%
1 Chi đầu tư phát triển: Dự toán 6.020 tỷ đồng, ước thực hiện 6.020 tỷ đồng, đạt 100%, gồm:
a) Ngân sách TW 2.902,2 tỷ đồng; trong đó Bộ Y tế 528 tỷ đồng; các Bộ, ngành 50 tỷ đồng, 900 tỷ đồng
bổ sung có mục tiêu để các địa phương thực hiện đề án nâng cấp hệ thống y tế tỉnh, huyện; 170 tỷ đồng vốn CTMTQG; 454,2 tỷ đồng vốn ngoài nước
b) Cân đối từ ngân sách địa phương khoảng 3.117,8 tỷ đồng
* Đánh giá việc thực hiện đề án nâng cấp bệnh viện huyện: Nhu cầu vốn để thực hiện Đề án là 8.350 tỷ đồng, thời gian trong 4 năm (2005-2008) nhưng tổng vốn đầu tư từ tất cả các nguồn trong 3 năm vừa qua (2005-2006-2007) mới được khoảng 2.000 tỷ đồng, đạt 24%, trong đó Ngân sách TW dự kiến hỗ trợ 3.920 tỷ đồng nhưng 3 năm mới được 1.202 tỷ đồng, đạt 30,6% (2005 là 263 tỷ, 2006 là 279 tỷ, năm
2007 là 660 tỷ) Theo quyết định của Thủ tướng, các địa phương phải bố trí hàng năm khoảng 1.000 tỷ đồng, nhưng thực tế chỉ được khoảng 300 tỷ đồng/năm Nhiều tỉnh chưa thực hiện tăng 20% vốn đầu tư của địa phương cho y tế và dành 30% cho huyện như Quyết định của Thủ tướng mà chờ trung ương hỗ trợ Một số tỉnh còn chưa sử dụng đúng mục tiêu được bổ sung, phân bổ còn dàn trải, chưa đúng trọng tâm, trọng điểm
* Đối với các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, nhu cầu vốn để đầu tư nâng cấp cũng rất lớn, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận một số nguồn vốn ODA trong thời gian tới như vay JBIC, WB, ADB nhưng mức vốn được bố trí hàng năm còn rất thấp, nhiều dự án UBND tỉnh phê duyệt 300-500 tỷ đồng nhưng chỉ bố trí được 10-15 tỷ đồng/năm nên tiến độ thực hiện rất chậm
2 Chi sự nghiệp y tế: Dự toán 14.660 tỷ đồng (tăng 22,6% so với 2006), ước thực hiện 14.660 tỷ đồng,
đạt 100% gồm:
a) Ngân sách địa phương 11.518 tỷ đồng, chiếm 78,6%;
Số ngân sách này được phân bổ cho các địa phương theo định mức chi quy định tại Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg, trong đó đã bố trí:
- Chi khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi với mức 108.000 đồng/trẻ
- Chi khám, chữa bệnh cho người nghèo với mức 80.000 đồng/người
b) Ngân sách trung ương 3.142 tỷ đồng, chiếm 21,4% tăng 18,4% so với dự toán năm 2006, trong đó:
- Chi sự nghiệp y tế của Bộ Y tế là 1.150 tỷ đồng
Trang 9- Chi sự nghiệp của các Bộ, cơ quan trung ương 117,1 tỷ đồng.
- Chi chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS 1.010 tỷ đồng, tăng 18,1% so với dự toán năm 2006; Chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm 85 tỷ đồng Trong đó có 310 tỷ đồng vốn ngoài nước, vốn trong nước là 700 tỷ đồng, bổ sung
có mục tiêu cho các địa phương là 422 tỷ đồng, chiếm 60%
3 Dự toán chi từ nguồn thu khác là 8.521 tỷ đồng, ước thực hiện 8.612,2 tỷ đồng.
C Một số khó khăn, tồn tại và thách thức
1 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và biến đổi
Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, nhiều kỹ thuật mới có chi phí lớn được thực hiện, cơ cấu bệnh tật thay đổi, các bệnh dịch nguy hiểm mới xuất hiện (như cúm H5N1, SARS, Ebola, ) hoặc có xu hướng quay trở lại như sốt xuất huyết, sốt rét Nhiều vấn đề sức khỏe bức xúc cần phải giải quyết như vấn đề an toàn thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS Số đối tượng người nghèo, chính sách
xã hội do nhà nước phải đảm bảo chi phí khám chữa bệnh ngày càng lớn, nhưng nguồn tài chính và khả năng đáp ứng, cung cấp các dịch vụ y tế của các cơ sở có giới hạn Các chính sách về BHYT, viện phí, BHYT cho người nghèo, KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi bước đầu đã phát huy tác dụng, được nhân dân
và xã hội hoan nghênh nhưng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Vẫn còn một số địa phương chưa đảm bảo mức chi sự nghiệp y tế từ ngân sách địa phương theo đầu dân quy định tại Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và dự toán đã thống nhất với
Bộ Tài chính (một số địa phương mới bố trí vốn bằng 80-90%) nên định mức phân bổ ngân sách cho các bệnh viện, các đơn vị y tế dự phòng còn thấp, riêng tiền lương và các khoản chi cho con người đã chiếm tới 70-80% nên không có kinh phí để chi cho hoạt động, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng tài sản dẫn đến xuống cấp nhanh Mức chi cho y tế dự phòng còn chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ để đảm bảo tính bền vững của các thành tựu y tế dự phòng Một số nội dung chi đã được Thủ tướng quyết định nhưng chưa được bố trí kinh phí như phòng chống các bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư, Một
số tỉnh bố trí đủ định mức theo Quyết định 151/2006/QĐ-TTg nhưng tất cả kinh phí đều dành cho khám chữa bệnh là chưa thực hiện đúng theo tinh thần Quyết định 151
2 Đầu tư ngân sách Nhà nước có tăng, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu Chi NSNN cho y tế trong thời
gian qua có tăng về số lượng tuyệt đối, nhưng tỷ lệ chi cho y tế trong tổng chi NSNN thì hầu như không tăng Chi NSNN cho y tế thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của công tác CSSK nhân dân Năm 2000, tỷ lệ chi tiêu công trong tổng chi cho y tế ở Việt Nam chỉ đạt 20% nên Tổ chức Y tế Thế giới
đã xếp Việt Nam đứng thứ 187/191 nước thành viên khi xét về tính "công" trong tài chính y tế, tức là chi NSNN cho CSSK quá ít Tỷ lệ này hiện nay là khoảng 30%, trong khi đó WHO khuyến cáo chi tiêu công tối thiểu phải đạt 50% tổng chi cho y tế của toàn xã hội để đảm bảo tính công bằng trong CSSK
Trong khi nhu cầu CSSK của nhân dân ngày càng tăng nhanh về số lượng và chất lượng, nhu cầu đầu
tư cho y tế theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg là rất lớn, nhưng nguồn vốn lại rất hạn chế Ước tính, nhu cầu đầu tư toàn Ngành giai đoạn 2008-2010 khoảng trên 32.000 tỷ đồng, với mức đầu tư như hiện nay mỗi năm khoảng 6.000-7.000 tỷ đồng thì tối đa chỉ có thể được khoảng 20.000 tỷ đồng, còn thiếu trên 12.000 tỷ đồng Do đầu tư thấp nên tiến độ thực hiện các chương trình, dự
án y tế chậm, đầu tư chưa đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đào tạo cán bộ, dẫn đến hiệu quả đầu tư còn hạn chế Do vậy rất cần phải có sự đầu tư bứt phá của nhà nước trong thời gian tới để tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các cơ sở y tế các tuyến theo Quy hoạch tổng thể và theo các đề án
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhằm bảo đảm khám, chữa bệnh cho nhân dân ngay tại địa bàn
3 Xã hội hóa công tác y tế đã thu được những kết quả ban đầu khả quan, nhưng quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc Chủ trương thúc đẩy XHH các hoạt động y tế là đúng đắn, nhưng Nhà
nước vẫn phải coi y tế là một loại dịch vụ công cơ bản, mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ
CSSK một cách hợp lý, công bằng Có những quan điểm yêu cầu áp dụng các quy luật của "cơ chế thị
trường" vào lĩnh vực y tế là không phù hợp, vì CSSK là loại dịch vụ" đặc biệt, rất khác so với các loại
dịch vụ xã hội khác Nếu quá tập trung vào XHH, thúc đẩy cơ chê cạnh tranh, huy động tối đa nguồn lực đầu tư ngoài NSNN, từ túi người dân để đầu tư cho y tế thì nguy cơ mất công bằng trong CSSK là rất rõ rệt Vì vậy, việc đảm bảo công bằng trong CSSK, hỗ trợ người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng
Trang 10chính sách xã hội, các đối tượng thiệt thòi phải được thực hiện tốt trước khi đẩy mạnh xã hội hóa, đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế
Quy mô, tốc độ phát triển xã hội hóa còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của nhiều địa phương và đơn vị Việc phát triển xã hội hóa còn không đồng đều giữa các vùng và các lĩnh vực, mới chủ yếu tập trung ở các vùng thành phố, đông dân cư và các lĩnh vực dễ thu hồi vốn Những địa phương khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, lĩnh vực y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe vẫn chủ yếu là y tế Nhà nước chịu trách nhiệm
Vấn đề tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện khá tốt Tuy nhiên, do chính sách viện phí chưa được điều chỉnh nên gây khó khăn rất nhiều cho các bệnh viện trong việc tự hạch toán, cân đối thu chi Vấn đề tự chủ về tổ chức bộ máy và biên chế vẫn còn lúng túng và chưa có hướng dẫn cụ thể, khiến các đơn vị chưa thực sự chủ động trong việc tự chủ việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm
vụ và chất lượng hoạt động còn chậm, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động thích hợp Năng lực quản lý của đội ngũ quản lý bệnh viện còn hạn chế do chưa được đào tạo đầy đủ, chưa đáp ứng được với nhu cầu quản lý mới theo cơ chế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Nghị định 53 về việc chuyển các
cơ sở bán công thành công lập hoặc ngoài công lập (hoặc cổ phần) vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể của các Bộ, nên việc triển khai thực hiện rất khó khăn, nhiều vướng mắc
Về nguồn nhân lực y tế, khi thúc đẩy xã hội hóa, tính cạnh tranh của thị trường lao động y tế sẽ tăng nhanh Tình trạng CBYT chuyển từ y tế công sang y tế tư ngày càng phổ biến Vì vậy, cần có chế độ và chính sách để đảm bảo cân đối nguồn nhân lực y tế trong hệ thống y tế nói chung, cả y tế công và tư Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho y tế tư nhân hiện nay vẫn còn hạn chế Chưa có chính sách đầy đủ
về đào tạo cán bộ, tôn vinh, khen thưởng các mô hình y tế tư nhân hoạt động tốt
Các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều, nhưng quy mô còn nhỏ bé, chất lượng cung cấp các dịch vụ còn hạn chế (chủ yếu chỉ mới cung cấp các dịch vụ KCB ngoại trú) Chính phủ có chủ trương và nhiều chính sách khuyến khích phát triển các bệnh viện tư, nhưng số lượng các bệnh viện tư vẫn chưa nhiều, và hầu hết là các bệnh viện quy mô nhỏ (30-50 giường bệnh), vì thế chưa có đóng góp nhiều trong công tác điều trị nội trú Quy mô y tế tư còn nhỏ bé, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên còn có tình trạng lạm dụng dịch vụ, chủ yếu làm các dịch vụ thu hồi vốn nhanh "hớt váng", những dịch vụ khó đẩy vào cho cơ sở công lập
Về đất đai, chính sách ưu đãi của nhà nước đã ban hành nhưng thực tế thực hiện gặp nhiều khó khăn Đất đai, cơ sở hạ tầng ưu đãi cho cơ sở ngoài công lập thì hầu như không thực hiện được do quỹ đất ở các khu trung tâm đều rất ít, đất xa thành phố, xa khu dân cư thì các cơ sở y tế tư nhân khó hoạt động hiệu quả
Về vốn vay, các nhà đầu tư cho y tế tư nhân khó tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi; huy động vốn còn hạn chế, chủ yếu mới từ vay vốn lãi suất cao, vốn của các cá nhân và tổ chức
Chính sách thuế cũng còn nhiều bất cập, chưa công bằng và không khuyến khích các hoạt động xã hội hóa Các bệnh viện tư hoạt động dưới dạng doanh nghiệp thì phải đóng thuế thu nhập 28% chứ không được hưởng mức thuế 10% như quy định tại Nghị định số 53 của Chính phủ
4 Chính sách tài chính y tế cần tiếp tục được điều chỉnh.
Cơ chế, chính sách tài chính y tế, mô hình quản lý tài chính y tế cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng với thực tiễn hoạt động của các cơ sở y tế trong nền kinh tế thị trường Việc cải cách, đổi mới cơ chế tài chính y tế còn chậm trong cả khâu ban hành và khâu thực hiện, cụ thể:
- Chính sách viện phí: Hiện nay vẫn là thu một phần viện phí theo Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ Mức thu của một số dịch vụ thực hiện theo Thông tư số 14/TTLB của liên Bộ từ năm 1995
đến nay vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung, có rất nhiều bất cập (ví dụ: mức thu khám bệnh 1.000-3.000
đồng/lần khám bệnh; giường bệnh: 5.000/người/ngày là quá thấp, chỉ bằng 1/10 so với chi phí cần thiết) Mặc dù tháng 01/2006, Liên bộ đã ban hành TTLB số 03/2006/TTLB bổ sung khung giá của khoảng 1.000 dịch vụ nhưng vẫn chỉ là giải pháp tình thế, chưa thể giải quyết một cách căn bản việc thu
và sử dụng viện phí
- BHYT đã góp phần bảo đảm nguồn tài chính để khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho khoảng 45% dân số (theo báo cáo của BHUT, đến hết năm 2006 có khoảng 42 triệu người tham gia BHYT, trong
đó có 15,28 triệu người nghèo, 11,12 triệu người tự nguyện, 10,47 triệu người thuộc BHYT bắt buộc),