Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để Bình Định khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở
Trang 1BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CAPAS VIỆT NAM BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CAPAS TỈNH BÌNH ĐỊNH
BÁO CÁO HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
Mã hoạt động: A.1.2.6
Bình Định, tháng 9/2012
Trang 2BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CAPAS TỈNH BÌNH ĐỊNH
BÁO CÁO HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH
Mã hoạt động: A.1.2.6
Cơ quan chủ trì
BQL Dự án CAPAS Bình Định
Giám đốc
Cơ quan thực hiện Công ty TNHH Tài Nguyên
Giám đốc
Bình Định, tháng 9/2012
Trang 3MỤC LỤC
I
3
5
8
10
15
DANH MỤC BẢNG BIỂU BẢNG 2.1: KẾT QUẢ BƠM HÚT NƯỚC THÍ NGHIỆM Ở MỘT SỐ LỖ KHOAN TIÊU BIỂU TRONG CÁC TẦNG CHỨA NƯỚC PLEISTOCEN 3 0 BẢNG 2.2: KẾT QUẢ BƠM HÚT NƯỚC THÍ NGHIỆM Ở MỘT SỐ LỖ KHOAN TIÊU BIỂU TRONG CÁC TẦNG CHỨA NƯỚC HOLOCEN ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND 1 BẢNG 2.3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI NHỮNG LỖ KHOAN TRONG TRẦM TÍCH NEOGEN ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND BẢNG 4.1 ĐẶC TRƯNG HÌNH THÁI LƯU VỰC SÔNG TỈNH BÌNH ĐỊNH 39
BẢNG 4.2 : ĐẶC TRƯNG DÒNG CHẢY CÁC SÔNG: ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND BẢNG 4.3: LƯỚI TRẠM VÀ THỜI GIAN QUAN TRẮC ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND BẢNG 4.4: NHU CẦU NƯỚC CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND BẢNG 4.5: KẾT QUẢ TÍNH CÂN BẰNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG LẠI GIANG 47
BẢNG 4.6: KẾT QUẢ TÍNH CÂN BẰNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG KÔN – HÀ THANH 47 BẢNG 4.7: TỔNG HỢP NHU CẦU NƯỚC CÁC NGHÀNH THEO GIAI ĐOẠN 48
BẢNG 4.8 : TỔNG HỢP MẠNG QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND BẢNG 4.9 : KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TP.QUY NHƠN 57 BẢNG 4.10: BIẾN ĐỘNG DIỆN TÍCH RỪNG TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2009 58
PHIẾU KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC THÁNG 6/2012 74
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nước là điều kiện tiên quyết của sự sống và chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế Do đó, tài nguyên nước thuộc loại tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, đóng một vai trò vô cùng to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi sự gia tăng dân số và mức tăng trưởng kinh tế ngày càng mạnh mẽ thì mức độ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước cũng tăng theo Điều này gây sức ép lớn đến tài nguyên nước không chỉ về số lượng nước do nhu cầu tăng mà còn đẩy nhanh mức độ ô nhiễm nước trong khu vực
Bình Định là tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ có diện tích tự nhiên 6.039,56 km2, dân số Dân số trung bình của tỉnh Bình Định là 1.492.105 người, tăng 0,16% so với năm 2010, trong đó, khu vực thành thị 413.245 người, chiếm 27,7% dân số, khu vực nông thôn chiếm 72,3% (theo Tổng cục Thống kê năm 2011), có 11 đơn vị hành chính: thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ, đô thị loại 1 và
09 huyện, 01 thị xã
Bình Định là một trong 5 tỉnh nằm trong địa bàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Bình Định có vị trí thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội, vị trí và vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc phòng Với vị trí trung tâm trên các tuyến giao lưu quốc tế và liên vùng, tuyến trục Bắc Nam và Đông Tây của miền Trung Đặc biệt, tỉnh có bờ biển dài 134 km, vùng lãnh hải 2.500 km2 với vùng đặc quyền kinh tế 40.000 km2, có nhiều cảng trong đó có cảng Quy Nhơn và tương lai gần có cảng Nhơn Hội
Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để Bình Định khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và quốc tế, hòa nhịp với xu thế phát triển chung của cả nước để Bình Định trở thành một trong những tỉnh phát triển ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, cơ cấu các ngành nghề dịch chuyển mạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, cho nên nhu cầu dùng nước cho các ngành tăng lên, bảo vệ môi trường nước sẽ là thách thức lớn và là nhiệm vụ cấp bách
Dự án “Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nước Việt Nam” (VIE 0703411) là một dự án kéo dài 4 năm (bắt đầu từ tháng 11 năm 2008), theo phương thức NEX (quốc gia điều hành), do Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) thực hiện và BTC (Cơ quan Hợp tác Kỹ thuật Bỉ) hỗ trợ
về kỹ thuật và tài chính Dự án được triển khai ở cấp quốc gia do Cục Quản lý Tài nguyên nước (Cục QLTNN) - Bộ TN&MT và cấp tỉnh do các Sở Tài nguyên
Trang 5và Môi trường (Sở TN&MT) Dự án được thí điểm tại 7 tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bình Định, Phú Yên và Ninh Thuận
Mục đích lập Báo cáo hiện trạng tài nguyên nước là nhằm khái quát một bức tranh tổng thể về:
- Hiện trạng và diễn biến tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước dưới đất;
- Đánh giá tổng quan về thể chế quản lý nguồn nước hiện nay;
- Xác định mức độ căng thẳng về nguồn nước trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Hợp phần A.1.2.6 năm 2012 được thực hiện dựa trên cơ sở:
- Đề cương lập Báo cáo hiện trạng tài nguyên nước do Capas Việt Nam hướng dẫn;
- Tổng hợp, phân tích dữ liệu các báo cáo thuộc hợp phần A.1.2.3 (Thu thập, đánh giá, phân loại chất lượng dữ liệu tài nguyên nước) đã thực hiện trong
các năm 2010, 2011 và 2012
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý dự án: “Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nước Việt Nam” tại Bình Định, các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong quá trình lập báo cáo này
NHÓM TÁC GIẢ
Trang 6TÓM TẮT Hiện trạng và xu thế tài nguyên nước mặt
Hiện trạng số lượng nước mặt
Tổng trữ lượng nước mặt 5,2 tỷ m3, tiềm năng thủy điện 182,4 triệu KW (chủ yếu là sông Kôn) Bốn con sông lớn là sông Kôn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng mạng lưới các sông nhỏ như Châu Trúc, Tam Quan, các suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thủy lợi và thủy điện
Tỉnh Bình Định có tổng số 170 hồ chứa nước lớn, nhỏ với tổng dung tích gần 600 triệu m3 nước, là một trong những tỉnh có số hồ chứa nước nhiều nhất miền trung Nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô và cấp nước sinh hoạt, theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, tỉnh Bình Định sẽ xây dựng mới 3 hồ chứa nước: hồ Đá Mài,
hồ Đồng Mít và hồ Suối Lớn Hệ thống hồ đầm của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay Hồ Núi Một là một công trình thủy lợi lớn của tỉnh Bình Định, đồng thời là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, có tổng diện tích là 110 km2 và dung tích là 110 triệu m3 nước
Lượng nước mặt nhu cầu sử dụng và lượng nước cung cấp
Từ năm 1995 đến nay, việc xây dựng các hồ chứa thuỷ lợi, nguồn tài nguyên nước mặt được điều tiết phục vụ nhu cầu cấp nước nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt đã tăng thêm 308,27 triệu m3, trong đó chủ yếu thuộc lưu vực sông Kôn xây dựng công trình hồ Định Bình, hồ Thuận Ninh và nâng cấp các hồ chứa khác Các lưu vực còn lại ở tỉnh không có sự thay đổi đáng kể như lưu vực Lại Giang điều tiết 9,17 triệu m3, lưu vực Hà Thanh 4,67 triệu m3 và lưu vực La Tinh 3,38 triệu m3
Xu thế số lượng nước mặt
Nguồn nước trên các lưu vực khá phong phú tuy nhiên do sự phân bố không đều trong năm, mùa lũ thì thừa nước, nhưng mùa kiệt thì rất thiếu nước chủ yếu tập trung vào các tháng III, IV và VII, VIII Mặt khác nhu cầu nước cho một số ngành có xu hướng tăng mạnh như nước cho dân sinh, công nghiệp, thuỷ sản, đặc biệt là lượng nước duy trì dòng chảy ở hạ du…
Dự báo đến năm 2015, do việc xây dựng các hồ chứa thuỷ lợi, nguồn tài guyên nước mặt bị điều tiết giữ trong các hồ chứa trung bình khoảng 800 triệu
m3 Dung lượng nước được điều tiết chủ yếu thuộc lưu vực sông Kôn, chiếm trên một nữa do các công trình hồ Định Bình, hồ Thuận Ninh được xây dựng
Kế đó là lưu vực Lại Giang chiếm gần một nữa do hồ Đồng Mít và Nước
Trang 7Dinh Hai lưu vực còn lại trên địa bàn tỉnh có sự thay đổi không đáng kể, chỉ từ
40 - 50 triệu m3
Hiện trạng chất lượng nước mặt
Các điều tra, đánh giá nước mặt của tỉnh trên phạm vi rộng thường tập trung chủ yếu vào phân loại nước, đánh giá một số ảnh hưởng của tình trạng vệ sinh đến chất lượng nước bằng các kết quả phân tích vi sinh, xác định hàm lượng hợp chất ni-tơ… các thành phần hóa học trong nước các sông ở Bình Định nhìn chung đều nằm trong phạm vi cho phép và đến nay chưa thấy hiện tượng ô nhiễm nước trên các sông chính ở tại các vị trí đã lấy mẫu phân tích
Xu thế chất lượng nước mặt
Địa bàn tỉnh Bình Định, những vùng đô thị, vùng dân cư và các khu công nghiệp là nơi đã tồn tại hoặc sẽ hình thành những nguồn ô nhiễm tập trung hay ô nhiễm phân tán rộng đối với nguồn nước mặt Theo số liệu phân tích chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm 2006 đến nay cho thấy: Chất lượng nước sông tại các vị trí quan trắc trên các sông lớn như sông Kôn, Lại Giang, Hà Thanh, La Tinh tương đối tốt, chủ yếu bị ô nhiễm coliform Kết quả phân tích năm 2010 thấy rằng các sông lớn có chất lượng nước tốt, hầu hết các chỉ tiêu đạt quy chuẩn cho phép
Đánh giá về hiện trạng, xu thế của số lượng và chất lượng nước mặt ở cấp độ 0 (Tài nguyên nước trong tình trạng đang được cải thiện)
Hiện trạng và xu thế tài nguyên nước dưới đất
Hiện trạng số lượng NDĐ
Địa phận tỉnh Bình Định gồm 6 tầng chứa nước, trong đó 4 tầng chứa nước lỗ hổng, 2 tầng chứa nước khe nứt và đới chứa nước khe nứt -phong hóa Trữ lượng động 245751,5 m3/ngày đêm; trữ lượng tĩnh 78365,7 m3/ngày đêm; trữ lượng tiềm năng 1228461,8 m3/ngày đêm; trữ lượng dự báo 773311,6
m3/ngày đêm
Xu thế số lượng NDĐ
Biến động về số lượng tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Bình Định chủ yếu do cấp nước sinh hoạt cho dân cư cả đô thị và nông thôn Đến nay, lượng nước dưới đất phục vụ nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung được khai thác tại sông Hà Thanh 20.000 m3/ngày; sông Kôn 34.000 m3/ngày; sông Lại Giang 9.000 m3/ngày
Hiện trạng chất lượng nước dưới đất
Hiện trạng ô nhiễm và xâm nhập mặn
a) Nhiễm mặn
Trang 8Nước dưới đất trên địa bàn Tỉnh Bình Định bị nhiễm mặn một số khu vực cửa sông Siêm Giang (vùng Đề Gi), sâu vào đất liền 2-3 km, với diện tích khoảng 15 km2 Khu vực có ranh giới nhiễm mặn cách ngã ba Phú Tài khoảng 1,0 km về phía Đông, qua thị trấn Tuy Phước, vòng qua núi Kì Sơn, theo tỉnh lộ
442, kéo lên phía Bắc Từ ranh giới này ra biển, các tầng chứa nước nằm dưới sâu hầu hết bị nhiễm mặn, phần trên cùng tồn tại một lớp nước nhạt (khoảng 1
-5 m) nằm trên nước mặn do nước mưa cung cấp
b) Nhiễm bẩn
Nước dưới đất trong các tầng chứa nước Holocen và Pleistocen ở đồng bằng Bình Định đa phần là chưa bị nhiễm bẩn Kết quả phân tích một số mẫu nước giếng tầng nông (tầng chứa nước Holocen) cho thấy rằng trong số 11 mẫu được phân tích 12 chỉ tiêu cơ bản thì chỉ có 2 mẫu nước có hàm lượng mangan vượt quá mức quy định so với tiêu chuẩnViệt Nam (TCVN: 5944-1995)
Nước dưới đất trên địa phận tỉnh Bình Định ở những nơi không bị nhiễm mặn (tổng độ khoáng hóa tối đa là 1,0 g/l) về tính chất hóa lí nhìn chung đảm bảo cho ăn uống sinh hoạt Về mặt vi sinh hầu hết các giếng dân dụng và một số
lỗ khoan nước có Coliform ở mức cao từ 5 đến 2400 lạc khuẩn/100ml nước và E.Coli từ 3 ÷ 278 lạc khuẩn/100 ml nước, như vậy, nước hầu hết bị nhiễm khuẩn Vì vậy, khi sử dụng nước cho ăn uống cần thiết phải đun sôi theo quy định
Xu thế chất lượng NDĐ
Khai thác nước dưới đất ở Bình Định hiện tại chưa phải là vấn đề nghiêm trọng, vì tổng lượng nước khai thác còn thấp hơn so với trữ lượng khai thác an toàn của các tầng chứa nước Tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm cũng xảy ra
ở một số nơi Theo tài liệu năm 2007, ở nhiều điểm thuộc huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão, Phù Mỹ, An Nhơn có hàm lượng thủy ngân, Cadmi, Ba, NH4, vi sinh vượt ngưỡng cho phép Chất lượng nước ngầm tại khu vực khai thác titan đã có dấu hiệu bị ô nhiễm: nước ngầm có TSS vượt từ 1,48 đến 3,94 lần; PO4 vượt 1,88 lần; Fe vượt từ 1,13 đến 1,57 lần; COD vượt từ 1,34 đến 1,86 lần Tình hình khoan giếng trên toàn tỉnh diễn ra bừa bãi, vô tổ chức, gây nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước Theo khảo sát tháng 8/2005, mực nước bãi giếng bơm sông Hà Thanh hạ thấp xuống 2,5m Mà khi mực nước ngầm hạ thấp quá thì nguy cơ xâm nhập mặn là điều không tránh khỏi
Đánh giá hiện trạng và xu thế nước dưới đất ở cấp độ 1.
Đánh giá: tài nguyên nước dưới đất có những thay đổi bất lợi, với nguy
cơ thấp trong trung hạn Tuy nhiên, những thay đổi này diễn ra với tốc độ chậm nên nếu tiếp diễn cũng sẽ chưa gây phương hại tới các loại hình sử dụng nước
Trang 9hiện tại (như ăn uống sinh hoạt, tưới tiêu, công nghiệp…) trong vòng 10-15 năm tới.
Các hệ sinh thái (HST)
Bình Định là một tỉnh có đầy đủ các dạng cảnh quan cùng với hệ thống các loại hình thủy vực tiêu biểu như HST rạn san hô –
Cù Lao Xanh, HST cỏ biển, HST đầm phá ven biển nhạy cảm Đầm Thị Nại, Đầm Trà Ổ, Đầm Đề Gi, một số hồ chứa nước độc đáo với tính ĐDSH cao với nhiều loài sinh vật có giá trị về mặt kinh
tế như chình mun… Vùng rừng núi của tỉnh Bình Định có các trung tâm ĐDSH như Khu quy hoạch bảo tồn thiên nhiên
An Toàn – An Lão, Ghềnh Ráng, vùng núi giáp Tuy Hòa, Krongchai được dự báo là các điểm nóng về ĐDSH trong tương lai Chính vì tính ĐDSH cao, có nhiều loài động thực vật quý, hiếm mang tầm quan trọng quốc gia và quốc tế cho nên tỉnh Bình Định được công nhận có tính ĐDSH cao của Việt Nam, được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu
Trong những năm gần đây, tỉnh đang phải đối mặt với một số vấn đề về môi trường: đất đai bị thoái hóa, sự mở rộng đất nông nghiệp cùng với các hoạt động khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ trái phép làm cho diện tích rừng tự nhiên ở một số nơi bị co hẹp dẫn đến mất và phá hủy nơi cư trú của nhiều loài sinh vật quý, hiếm Bên cạnh đó sự gia tăng dân số tại các huyện miền núi đòi hỏi tăng các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, do đó dẫn đến việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên theo kiểu tận diệt làm cho nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Bên cạnh đó, TP Quy Nhơn được đánh giá là một trong những thành phố chịu tác động lớn của BĐKH, đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng suy thoái môi trường và suy thoái ĐDSH hiện nay và trong tương lai
Đánh giá hiện trạng và diễn biến TNN cấp độ 1: TNN có những thay đổi bất lợi, với nguy cơ thấp trong trung hạn Tuy nhiên, những thay đổi này diễn ra với tốc độ chậm nên nếu tiếp diễn cũng sẽ chưa gây phương hại tới các loại hình sử dụng nước hiện tại (như ăn uống sinh hoạt, tưới tiêu, công nghiệp…) trong vòng 10-15 năm tới.
Khu bảo tồn thiên nhiên (01) (đang quy
hoạch): An Toàn (An Lão)
• Khu bảo vệ cảnh quan (03): Núi Bà,
Quy Hòa – Ghềnh Ráng, Vườn Cam
Nguyễn Huệ
• Các vùng ĐNN (04): Đầm Trà Ổ,
Đầm Đề Gi, Đầm Thị Nại, Hồ Núi Một
• Khu bảo tồn biển: chưa có
Trang 10CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Mục tiêu
Mục tiêu cụ thể của báo cáo đánh giá hiện trạng tài nguyên nước là:
- Đánh giá được hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Định;
- Đánh giá diễn biến về số lượng và chất lượng nước;
- Đánh giá tổng quan về thể chế quản lý nguồn nước hiện nay;
- Xác định mức độ căng thẳng về nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bình Định
1.2 Phạm vi và đối tượng
Phạm vi của báo cáo: Đánh giá hiện trạng TNN trên khu vực tỉnh Bình
Định
Đối tượng của báo cáo:
- Đánh giá hiện trạng và diễn biến số lượng và chất lượng nước theo không gian và thời gian;
- Diễn biến mực nước tại các trạm thủy văn, các yếu tố khí tượng trạm khí tượng;
- Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt;
- Trữ lượng và chất lượng nước dưới đất;
- Nêu tình hình trang thiết bị và nhân lực quan trắc tài nguyên nước;
- Nêu mạng lưới quan trắc tài nguyên nước hiện nay;
- Xác định các khu vực có nguy cơ bị ô nhiễm nguồn nước
1.3 Phương pháp luận và cách thức xây dựng
Để thực hiện báo cáo hiện trạng tài nguyên nước tỉnh Bình Định, phương pháp nghiên cứu và cách thức xây dựng bao gồm:
- Phương pháp nhận dạng: liệt kê, nhận dạng các yếu tố có liên quan đến tài nguyên nước, công tác quản lý tài nguyên nước;
- Thu thập các nguồn tài liệu từ Ban quản lý dự án nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nước Việt Nam tại Bình Định, bao gồm:
+ Đặc điểm kinh tế - xã hội;
+ Khí tượng thủy văn, địa chất thủy văn, thổ nhưỡng, đất đai…;
+ Mạng lưới sông suối, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn, mạng lưới quan trắc môi trường;
+ Hiện trạng số lượng, chất lượng nước mặt và nước dưới đất;
+ Hiện trạng khai thác và sử dụng nước của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh;