1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề nghiên cứu: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

17 279 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 294,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua quy định của Luật, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch được tiêu chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động hướng dẫn du lịch, không chỉ đáp ứng yêu cầu của khách du lịch

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LẬP PHÁP

Chuyên đề nghiên cứu:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

- THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

(Tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV)

Hà Nội, tháng 10 năm 2016

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

NỘI DUNG 4

I Thực trạng quy định pháp luật về hướng dẫn viên du lịch 4

1.1 Văn bản quy phạm pháp luật quy định về hướng dẫn viên du lịch 4

1.1.1 Quan niệm về hướng dẫn du lịch, hướng dẫn viên du lịch 4

1.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật quy định về hướng dẫn viên du lịch 5

1.2 Đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về hướng dẫn viên du lịch 6

1.2.1 Những kết quả đạt được 6

1.2.2 Một số bất cập, hạn chế 9

II Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hướng dẫn viên du lịch 12

2.1 Sửa đổi quy định điều kiện về trình độ của hướng dẫn viên du lịch 12

2.2 Bổ sung quy định tăng cường các biện pháp hạn chế nạn bằng cấp giả 14

2.3 Bổ sung quy định về cấp mã ngành đào tạo du lịch, bỏ quy định thi tuyển, công nhận cấp bậc nghề nghiệp 14

2.4 Sửa đổi quy định về cách thức cập nhật kiến thức trước khi đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch 15

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau 10 năm thực hiện, Luật du lịch năm 2005 đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ du lịch tại Việt Nam Luật du lịch không chỉ tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh doanh du lịch, khai thác tài nguyên du lịch nước nhà mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân, đặc biệt là tăng số lượng hướng dẫn viên du lịch Thông qua quy định của Luật, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch được tiêu chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động hướng dẫn du lịch, không chỉ đáp ứng yêu cầu của khách du lịch trong nước mà còn đáp ứng yêu cầu của khách du lịch quốc tế Các quy định về quy trình, thủ tục việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch được quy định khá cụ thể,

rõ ràng Những quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đội ngũ hướng dẫn viên du lịch cả về số lượng và chất lượng, đồng thời tạo điều kiện cho các cá nhân khi thực hiện các thủ tục xin cấp, đổi, cấp lại thẻ Các công cụ quản lý hiện đại đã được đưa vào áp dụng, tạo điều kiện cho công tác quản lý chuyên nghiệp hơn từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và sự phát triển của ngành du lịch nói riêng, những quy định pháp luật về hướng dẫn viên du lịch cũng như công tác quản lý hướng dẫn viên du lịch đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần được khắc phục kịp thời

Trang 4

NỘI DUNG

I Thực trạng quy định pháp luật về hướng dẫn viên du lịch

1.1 Văn bản quy phạm pháp luật quy định về hướng dẫn viên du lịch

1.1.1 Quan niệm về hướng dẫn du lịch, hướng dẫn viên du lịch

Theo Luật Du lịch năm 2005, hướng dẫn du lịch được hiểu là hoạt động

hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du lịch Người hoạt động hướng dẫn gọi là hướng dẫn viên (HDV) và được thanh toán dịch vụ hướng dẫn.1

Hướng dẫn viên du lịch bao gồm HDV quốc tế và HDV nội địa Trong đó, HDV quốc tế được hướng dẫn cho khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa; HDV nội địa được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa là người Việt Nam

và không được hướng dẫn cho khách du lịch là người nước ngoài2

Về nguyên tắc HDV phải đảm nhiệm việc giới thiệu, hướng dẫn khách du lịch theo các loại hình, mục đích du lịch khác nhau mà khách hàng đã lựa chọn Chỉ khi am hiểu về tour khách du lịch mua, HDV mới có thể xây dựng kế hoạch công tác chi tiết cho mình, dự đoán các tình huống phải xử lý và chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết về giao tiếp, ứng xử, tâm lý khách du lịch hay tâm

lý và văn hoá dân tộc Đây là những kiến thức cơ bản mà HDV phải tự trang bị hoặc được trang bị trước khi phục vụ khách du lịch HDV cũng cần có kiến thức

về quá trình phát triển kinh tế của đất nước, của các vùng miền hay các địa phương có điểm du lịch Kiến thức chính trị cũng là đòi hỏi bắt buộc đối với HDV du lịch bởi lẽ, khách du lịch vốn đa dạng về dân tộc, quốc tịch, nghề nghiệp, lứa tuổi, quan điểm chính trị Đặc biệt, HDV du lịch quốc tế phải có kiến thức về đất nước, con người, những đặc trưng văn hoá chủ yếu, tập quán ứng xử - giao tiếp của các quốc gia, các dân tộc mà HDV sử dụng ngôn ngữ của họ HDV du lịch nói chung cần phải có kiến thức ngoại ngữ tốt không chỉ để

1 Khoản 15 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005.

2 Điều 72 Luật Du lịch năm 2005.

Trang 5

giao tiếp, giới thiệu mà còn là phương tiện để học hỏi, đọc tài liệu, kiểm tra các văn bản trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới hoạt động hướng dẫn du lịch Thông thường, với HDV du lịch quốc tế phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ và biết ở mức độ giao tiếp thông thường một ngoại ngữ khác Với HDV du lịch Việt Nam, những ngoại ngữ thường được sử dụng là: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc

1.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật quy định về hướng dẫn viên du lịch

HDV du lịch được quy định tại Chương VII Luật Du lịch năm 2005 từ Điều 71 đến Điều 78 với các nội dung: phân loại HDV (Điều 72); điều kiện hành nghề, tiêu chuẩn cấp thẻ HDV (Điều 73); hồ sơ cấp thẻ HDV (Điều 74); Đổi, cấp lại, thu hồi thẻ HDV (Điều 75); Quyền và nghĩa vụ của HDV (Điều 76); Những điều HDV du lịch không được làm (Điều 77); Thuyết minh viên (Điều 78)

Ngoài các quy định của Luật Du lịch năm 2005, các văn bản quy định về HDV du lịch gồm có:

- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch (có hiệu lực từ ngày 14 tháng 7 năm 2007)

- Nghị định số 01/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch (có hiệu lực từ ngày 27 tháng 02 năm 2012)

- Nghị định số 158/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo

- Thông tư số 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ Quy định chi tiết thi

Trang 6

hành một số điều của Luật Du lịch về kinh doanh lữ hành, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, hướng dẫn du lịch

và xúc tiến du lịch (có hiệu lực từ ngày 30 tháng 01 năm 2009)

- Thông tư số 48/2010/TT-BTC ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế, cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, cấp giấy chứng nhận thuyết minh viên (có hiệu lực từ ngày 27 tháng 5 năm 2010)

- Thông tư số 07/2011/TT-BVHTTDL ngày 07 tháng 6 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (có hiệu lực từ ngày 25 tháng 7 năm 2011)

1.2 Đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về hướng dẫn viên du lịch

1.2.1 Những kết quả đạt được

Luật Du lịch năm 2005 có hiệu lực từ tháng 1 năm 2006 đã làm thay đổi đáng kể đội ngũ HDV du lịch cả về lượng và chất Với các quy định của Luật, đội ngũ HDV du lịch đã được chia thành 2 nhóm để phục vụ đối tượng khách quốc tế và khách nội địa Việc cấp, đổi thẻ HDV hoàn toàn do các cơ quan quản

lý du lịch cấp tỉnh thực hiện

- Luật Du lịch và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ HDV và quản lý cấp, đổi, cấp lại thẻ, hoạt động hành nghề của HDV của các văn bản dưới Luật (Nghị định, thông tư)

- Các thủ tục được quy định rõ ràng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đội ngũ HDV du lịch cả về số lượng và chất lượng, đồng thời tạo điều kiện cho các cá nhân khi thực hiện các thủ tục xin cấp, đổi, cấp lại thẻ

Trang 7

- Các quy định về điều kiện cấp thẻ HDV du lịch rõ ràng nhưng cũng khá linh hoạt đối với các quy định về nghiệp vụ, như: nếu không học chuyên ngành thì phải học các khóa đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn hoặc kiểm tra trình độ nghiệp

vụ (đối với người tự học) để được cấp chứng chỉ nghiệp vụ, nếu không tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc tương đương thì có thể thi lấy các chứng chỉ ngoại ngữ do các tổ chức có uy tín, được công nhận ở Việt Nam và thế giới hoặc

do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương (Tổng cục Du lịch) tổ chức Điều này đã tạo điều kiện cho những người có nhu cầu trở thành HDV du lịch có nhiều cơ hội trau dồi, tích lũy kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu của nghề mà vẫn có thể tiết kiệm được thời gian, kinh phí đào tạo

- Các quy định về sử dụng công cụ quản lý hiện đại đã được đưa vào áp dụng, tạo điều kiện cho công tác quản lý chuyên nghiệp hơn từ Trung ương đến địa phương Cụ thể:

+ Trang web quản lý HDV trên mạng huongdanvien.vn là trang web quản

lý lao động của một ngành đầu tiên ở Việt Nam Tính đến thời điểm năm 2012, HDV du lịch là đội ngũ lao động được cấp thẻ hành nghề duy nhất ở nước ta được quản lý thống nhất, công khai trên toàn quốc đến từng người

+ Việc cấp, đổi, cấp lại thẻ HDV được quản lý chung trên mạng qua trang web quản lý huongdanvien.vn tạo điều kiện cho các Sở Văn hóa, thể thao và du lịch cập nhật, lưu trữ thông tin nhanh, chuẩn xác và khoa học Thông tin giữa các Sở về quản lý HDV thuận tiện, nhanh chóng và công khai Đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương (đại diện là Tổng cục Du lịch) với quyền quản trị cao nhất của trang web đã kiểm soát được toàn bộ thông tin HDV của các Sở: thông tin về tên tuổi, số thẻ, hạn thẻ, trình độ cơ bản, trình độ ngoại ngữ giúp công tác thống kê thuận lợi, giảm bớt các thủ tục báo cáo của các Sở Đồng thời, các văn bản hướng dẫn trong quản lý HDV được chuyển đến các Sở nhanh chóng, đảm bảo thống nhất thời điểm tiếp nhận văn bản hướng dẫn, các thắc mắc về những vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý cũng được trao đổi,

Trang 8

giải quyết và phổ biến đến các Sở nhanh chóng, công khai.

+ Ngoài quản lý hồ sơ, quản lý công tác cấp, đổi, cấp lại thẻ HDV, phổ biến thông tin quản lý , trang huongdanvien.vn còn có phần dành riêng cho các đơn vị đào tạo ngắn hạn nghiệp vụ hướng dẫn du lịch trên toàn quốc, công khai thông tin tuyển sinh, cấp chứng chỉ cho học viên tạo điều kiện thuận lợi để các

sở quản lý du lịch đối chiếu thông tin học viên trong quá trình thẩm định hồ sơ, cấp thẻ HDV du lịch

+ Thẻ HDV được đổi đồng loạt trên toàn quốc, theo đó: thông tin về chủ thẻ, về thời hạn hiệu lực của thẻ được công khai trên trang web chuyên ngành vừa giúp các nhà quản lý các cấp quản lý đội ngũ HDV du lịch, vừa giúp chính các HDV biết thông tin về đội ngũ HDV du lịch để hợp tác trong quá trình hành nghề cũng như định hướng phấn đấu, hoàn thiện kỹ năng của mình Đồng thời, các nhà quản lý doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng có thể thông qua thông tin công khai này tuyển dụng, sử dụng HDV trong quá trình kinh doanh, phục vụ khách du lịch

+ Chất liệu thẻ HDV đã thay từ giấy sang nhựa tổng hợp in thông tin dập nổi, tráng từ để lưu trữ thông tin chủ thẻ trên thẻ Điều này tạo điều kiện đồng bộ trong quản lý và quan trọng hơn cả là chất liệu thẻ bền, đẹp, phù hợp với điều kiện làm việc của HDV Bộ dây đeo thẻ có in thông tin du lịch Việt Nam và bao

da đựng thẻ đồng bộ vừa tạo điều kiện bảo quản thẻ trong quá trình hành nghề của HDV, tạo điều kiện cho khách phân biệt nhóm HDV và quan trọng hơn là tạo hình ảnh chuyên nghiệp của HDV với du khách

- Kết quả công tác cấp, đổi thẻ HDV du lịch trong thời gian từ năm

2010-2015 cho thấy: đội ngũ HDV du lịch trên toàn quốc không ngừng gia tăng về số

lượng cả HDV du lịch quốc tế và HDV du lịch nội địa (xem Bảng dưới đây) Đối

với HDV du lịch quốc tế, có khoảng 3% số HDV có thể sử dụng 2 ngoại ngữ3 Các ngoại ngữ mà HDV có thể sử dụng không chỉ dừng ở các ngoại ngữ thông

3 Nguồn: huongdanvien.vn/quanly.

Trang 9

dụng như Anh, Pháp, Trung mà còn mở rộng sang nhiều ngoại ngữ khác như Nhật, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Thái Lan, Hàn quốc, Lào, Campuchia, Indonesia,

Ả Rập, Bungaria

Thống kê số liệu hướng dẫn viên du lịch giai đoạn 2010-2015 4

1.2.2 Một số bất cập, hạn chế

Trong quá trình quản lý đội ngũ HDV du lịch từ cấp, đổi, cấp lại đến quá trình hoạt động của HDV du lịch, một số bất cập, hạn chế đã nảy sinh Mặc dù

cơ quan quản lý các cấp đã cố gắng nhưng những hạn chế này vẫn chưa được

khắc phục triệt để do nguồn gốc vấn đề là từ những quy định chưa phù hợp hoặc

đã trở nên không còn phù hợp của Luật Du lịch cần được sửa đổi kịp thời; bên

cạnh đó là những bất cập của công tác quản lý đào tạo nói chung đã tạo kẽ hở khiến trong quá trình lập hồ sơ cấp thẻ hành nghề Những bất cập này cần sự phối hợp của ngành giáo dục, đào tạo, dạy nghề mới có thể giải quyết dứt điểm

Cụ thể như sau:

a) Quy định về hướng dẫn viên du lịch quốc tế chưa phù hợp

Quy định HDV du lịch quốc tế cần có trình độ đại học khiến cho học sinh các trường cao đẳng chuyên ngành du lịch, đặc biệt là học sinh từ các trường cao đẳng nghề du lịch thuộc hệ thống trường chuyên ngành của Tổng cục Du lịch

4 Nguồn: Vụ Lữ hành – Tổng cục Du lịch.

Trang 10

(nay thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có kinh nghiệm, đã qua chương trình đào tạo, thực hành bài bản, có kỹ năng tốt nhưng không được xét cấp thẻ hướng dẫn quốc tế mà chỉ được xét cấp thẻ nội địa dù có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ

Hướng dẫn viên du lịch là một nghề, việc yêu cầu HDV du lịch phải tốt nghiệp đại học là không cần thiết, không huy động được nguồn nhân lực học cao đẳng được đào tạo chuyên sâu chuyên ngành hướng dẫn du lịch được tham gia vào nghề, đồng thời không huy động được lực lượng có nghiệp vụ và ngoại ngữ nhưng không có bằng đại học tham gia hành nghề Đặc biệt là đối với các ngoại ngữ ít thông dụng, việc quy định HDV du lịch phải có trình độ văn hóa cao đã làm khó cho việc ra đời các quy định hướng dẫn nhằm đáp ứng nhu cầu HDV du lịch trong từng thời kỳ

b) Chưa có quy định chặt chẽ để kiểm soát được nạn bằng giả

Các quy định điều kiện về hồ sơ cấp, đổi thẻ khá thông thoáng, tạo điều kiện cho công dân như các văn bằng, chứng chỉ chỉ cần bản sao công chứng, thậm chí có loại chỉ cần bản sao, không yêu cầu đối chiếu bản gốc, thời gian thẩm định ngắn, các chuyên viên phụ trách thẩm định hồ sơ cấp, đổi thẻ chỉ có thể có thời gian xét tính hợp pháp của văn bằng, chứng chỉ thông qua dấu của cơ quan chức năng (công chứng các cấp) để duyệt hồ sơ đã dẫn đến nhiều trường hợp công dân gian dối, dùng bằng (đại học, cao đẳng, trung cấp), chứng chỉ (nghiệp vụ hoặc ngoại ngữ) giả để lập hồ sơ xin cấp thẻ HDV du lịch

Một số cơ sở đào tạo không hợp tác trong quá trình các Sở, kể cả Tổng cục Du lịch đề nghị xác minh bằng tốt nghiệp đại học của công dân Vì chỉ cần bằng tốt nghiệp đại học ngoại ngữ là công dân đã đáp ứng được 2 điều kiện để được cấp thẻ HDV du lịch quốc tế nên trong số những người sử dụng bằng đại học giả bị phát hiện thì có đến 90% làm giả bằng đại học ngoại ngữ Đại học Hà Nội (trước đây là trường Đại học Ngoại ngữ) là cơ sở đào tạo cử nhân ngoại ngữ các hệ (chính quy, tại chức, từ xa ) lớn nhất, nên số lượng công dân sử dụng bằng mang danh trường này để cấp thẻ khá đông, phát hiện nghi vấn về bằng

Ngày đăng: 22/02/2019, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w