1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải quyết tình huống, So sánh quyền kiến nghị và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự.

17 484 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: So sánh quyền kiến nghị và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự.Câu 2: Ngày 21012015, anh Nguyễn Văn Cường cùng vợ là chị Trần Thị Hoa đều có hộ khẩu thường trú tại phường Láng Hạ, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (Bên A) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 60 m2 đất và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà cấp 4 tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội của vợ chồng anh Trần Thanh Hải và Lê Thị Lan đều có hộ khẩu thường trú tại phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Bên B). Diện tích đất trên, vợ chồng anh Hải, Lan đã được UBND quân Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số hiệu A23407886 năm 2009. Giá chuyển nhượng được hai bên thống nhất là 2.100.000.000 VND. Việc chuyển nhượng đã được hai bên lập thành Hợp đồng và có chứng thực của Công chứng viên Văn phòng Công chứng Phương Đông. Trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà gắn liền với quyền sử dụng đất trên, tại Điều 6 có ghi: “Trong thời hạn 1 năm kể từ ngày Hợp đồng này được công chứng, Bên B có quyền chuộc lại ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất quy định tại Điều 1 của hợp đồng này với giá chuộc lại là 2.600.000.000 VND.”Thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất nêu trên, các bên đã tiến hành làm thủ tục đăng ký sang tên nhà đất theo đúng quy định của pháp luật và Bên A đã được UBND quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên.Ngày 16082015, do cần tiền để hùn vốn làm ăn nên vợ chồng anh Nguyễn Văn Cường và chị Trần Thị Hoa đã chuyển nhượng ngôi nhà gắn liền với 60 m2 đất tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội cho vợ chồng anh Trần Văn Quang, chị Nguyễn Thị Hồng với giá là 2.500.000.000 VND. Việc chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và vợ chồng anh Quang, chị Hồng đã được UBND quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Ngày 19012016, vợ chồng anh Hải, chị Lan đến gặp vợ chồng anh Cường, chị Hoa yêu cầu được chuộc lại ngôi nhà gắn liền với 60 m2 đất tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo đúng thỏa thuận thì mới biết anh Cường, chị Hoa đã chuyển nhượng nhà đất trên cho người khác. Do không thống nhất được với nhau về cách giải quyết. Vì vậy, anh Hải, chị Lan đã khởi kiện ra TAND quận Thanh Xuân yêu cầu vợ chồng anh Cường, chị Hoa thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên. Ngày 01072016, TAND quận Thanh Xuân đã thụ lý vụ án trên để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp. Ngày 20102016 Tòa án quận Thanh Xuân đã mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm dân sự tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hải, chị Lan, buộc vợ chồng anh Cường, chị Hoa phải thực hiện đúng Điều 6 hợp đồng như đã ký kết ngày 2012015. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất giữa anh Cường, chị Hoa với vợ chồng anh Quang, chị Hồng vô hiệu. Tòa án đã gửi bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp. Yêu cầu: Là kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tiến hành công tác kiểm sát giải quyết vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử và ở tại phiên tòa, anh chị sẽ kiểm sát những vấn đề gì ở bản án sơ thẩm mà Tòa án đã gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp? Anh chị có đề xuất gì với lãnh đạo, nội dung đề xuất? (Biết rằng trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Viện kiểm sát đã có kiến nghị về việc tuân theo pháp luật như thẩm quyền giải quyết, thiếu người tham gia tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa không được Tòa án chấp nhận).

Trang 1

Đề bài Câu 1:

So sánh quyền kiến nghị và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án dân sự

Câu 2:

Ngày 21/01/2015, anh Nguyễn Văn Cường cùng vợ là chị Trần Thị Hoa đều có hộ khẩu thường trú tại phường Láng Hạ, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (Bên A) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 60 m2 đất và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà cấp 4 tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội của vợ chồng anh Trần Thanh Hải

và Lê Thị Lan đều có hộ khẩu thường trú tại phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (Bên B) Diện tích đất trên, vợ chồng anh Hải, Lan đã được UBND quân Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang

số hiệu A23407886 năm 2009 Giá chuyển nhượng được hai bên thống nhất là 2.100.000.000 VND Việc chuyển nhượng đã được hai bên lập thành Hợp đồng và có chứng thực của Công chứng viên Văn phòng Công chứng Phương Đông Trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà gắn liền với quyền sử dụng đất

trên, tại Điều 6 có ghi: “Trong thời hạn 1 năm kể từ ngày Hợp đồng này được công chứng, Bên B có quyền chuộc lại ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất quy định tại Điều 1 của hợp đồng này với giá chuộc lại là 2.600.000.000 VND.”

Thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất nêu trên, các bên đã tiến hành làm thủ tục đăng ký sang tên nhà đất theo đúng quy định của pháp luật

và Bên A đã được UBND quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên

Ngày 16/08/2015, do cần tiền để hùn vốn làm ăn nên vợ chồng anh Nguyễn Văn Cường và chị Trần Thị Hoa đã chuyển nhượng ngôi nhà gắn liền với 60 m2 đất tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội cho vợ chồng anh Trần Văn Quang, chị Nguyễn Thị Hồng với giá là 2.500.000.000 VND Việc chuyển nhượng nhà đất giữa hai

Trang 2

bên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và vợ chồng anh Quang, chị Hồng đã được UBND quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Ngày 19/01/2016, vợ chồng anh Hải, chị Lan đến gặp vợ chồng anh Cường, chị Hoa yêu cầu được chuộc lại ngôi nhà gắn liền với 60 m2 đất tại số

21 phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo đúng thỏa thuận thì mới biết anh Cường, chị Hoa đã chuyển nhượng nhà đất trên cho người khác Do không thống nhất được với nhau về cách giải quyết Vì vậy, anh Hải, chị Lan đã khởi kiện ra TAND quận Thanh Xuân yêu cầu vợ chồng anh Cường, chị Hoa thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên Ngày 01/07/2016, TAND quận Thanh Xuân đã thụ lý vụ án trên để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp Ngày 20/10/2016 Tòa án quận Thanh Xuân đã mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm dân sự tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hải, chị Lan, buộc vợ chồng anh Cường, chị Hoa phải thực hiện đúng Điều 6 hợp đồng như đã ký kết ngày 20/1/2015 Tuyên hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất giữa anh Cường, chị Hoa với vợ chồng anh Quang, chị Hồng vô hiệu Tòa

án đã gửi bản án sơ thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp

Yêu cầu: Là kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tiến hành công tác kiểm sát giải quyết vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử và ở tại phiên tòa, anh chị sẽ kiểm sát những vấn đề gì ở bản án sơ thẩm mà Tòa án đã gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp? Anh chị có đề xuất gì với lãnh đạo, nội dung đề xuất? (Biết rằng trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Viện kiểm sát đã có kiến nghị về việc tuân theo pháp luật như thẩm quyền giải quyết, thiếu người tham gia tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa không được Tòa án chấp nhận)

Trang 3

Câu 1:

Bài làm Giống nhau:

- Quyền kiến nghị và quyền kháng nghị đều là quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát giải quyết vụ án dân sự

- Quyền kiến nghị và quyền kháng nghị đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong giải quyết các vụ án dân sự

- Đối tượng của quyền kiến nghị và quyền kháng nghị đều là sự vi phạm trong văn bản tố tụng của Tòa án

Khác nhau:

Căn cứ

Khoản 1, Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Khoản 2, Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Trường hợp áp dụng Hành vi, quyết định của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp

có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện

sơ hở, thiếu sót trong

Hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp

có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị

Trang 4

hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục

và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm

Thẩm quyền

Chỉ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị

Cơ chế thực hiện: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp kháng nghị hoặc phân công (ghi rõ: ký thay)

Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên

Kiến nghị theo thủ tục đặc biệt chỉ thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Đối tượng

Bản án hoặc quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động kiểm sát giải quyết

vụ án

Tất cả các văn bản, hành

vi tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giải quyết vụ án dân sự

Nội dung

Đề nghị Tòa án nhân dân cùng cấp hoặc cấp trên xem xét lại bản án, quyết định có vi phạm pháp luật để quyết định

Yêu càu Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục vi phạm

và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Hậu quả pháp lý Cơ quan, người có thẩm

quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật

Không phát sinh trình tự mới trừ trường hợp kiến nghị theo thủ tục đặc biệt

Cơ quan, tổ chức, cá

Trang 5

Phát sinh một trình tự mới (Phúc thẩn, giám đốc thẩm, tái thẩm)

nhân liên quan có trách nhiệm

Câu 2:

Bài làm

Đối tượng tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 60 m2 đất và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà cấp 4 tại số 21 phố Khương Hạ, phường Khương Định, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

 Nguyên đơn:

- Anh Trần Thanh Hải - Chị Lê Thị Lan

 Bị đơn

- Anh Nguyễn Văn Cường - Chị Trần Thị Hoa

 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

- Anh Trần Văn Quang

- Chị Nguyễn Thị Hồng

- UBND quận Thanh Xuân

 Tòa án xét xử sơ thẩm: Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

I Nội dung kiểm sát bản án sơ thẩm của Tòa án.

Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS 2015, Khoản 5 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự

Là kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tiến hành công tác kiểm sát giải quyết vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử và ở tại phiên tòa, những vấn đề

ở bản án sơ thẩm mà Tòa án đã gửi cho Viện kiểm sát cần kiểm sát là:

- Kiểm sát phần mở đầu

- Kiểm sát nội dung của bản án và nhận định của Tòa án

- Kiểm sát phần quyết định của bản án

Trang 6

Cụ thể, khi tiến hành kiểm sát các vấn đề trên, Kiểm sát viên cần phải có các kỹ năng kiểm sát đối với các nội dung sau đây:

1 Kiểm sát phần mở đầu

- Những nội dung Kiểm sát viên kiểm sát phần mở đầu bản án bao gồm: Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án;

họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử (Điểm a, khoản 2, Điều 266 BLTTDS 2015)

- Việc kiểm sát tên Tòa án xét xử cho thấy thẩm quyền giải quyết vụ án có đúng không? Vụ án đó thuộc thẩm quyền của Tòa án hay của cơ quan khác, Tòa án giải quyết có đúng loại việc được quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều

30, Điều 32 BLTTDS năm 2015 không; vụ việc đó thuộc thẩm quyền của tòa

án cấp huyện hay cấp tỉnh được quy định tại Điều 35, Điều 36 BLTTDS năm

2015 và xác định trong số các tòa án cũng cấp thì có đúng thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 BLTTDS năm 2015 không, cụ thể:

Thứ nhất, căn cứ khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015, đây là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Thứ hai, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, vụ án này thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện

Thứ ba, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc Trong tình huống này,

bị đơn ở đây là anh Cường, chị Hoa có hộ khẩu thường trú tại phường Láng

Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tức là Tòa án quận Đống Đa

Trang 7

Do đó, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thụ lí là không đúng thẩm quyền Thẩm quyền thụ lý vụ án này thuộc về Tòa án nhân dân quận Đống Đa

- Việc kiểm sát số và ngày thụ lý vụ án có ý nghĩa cho việc quản lý án nhằm không để sót và xác định thời hiệu giải quyết một số loại án, ví dụ: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng theo quy định tại Điều 429 BLDS năm 2015; thời hiện khởi kiện về thừa kế được quy định tại Điều 623 BLDS 2015…

- Kiểm sát số và ngày tuyên án có ý nghĩa trong việc sắp xếp lưu giữ hồ sơ

và xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể theo Khoản 1 Điều 213, Khoản 1 Điều 280 BLTTDS năm 2015;

Theo quy định của pháp luật, họ, tên các thành viên của HĐXX phải được thể hiện trong bản án là yêu cầu bắt buộc, nếu thiếu một trong các thành viên của HĐXX hay Thư ký phiên tòa là vi phạm nghiêm trọng tố tụng Sự có mặt của Kiểm sát viên còn phụ thuộc vào loại án được quy định tại Khoản 2 Điều

21 BLTTDS năm 2015 Đó là những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng quyền

sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vì dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vì, những vụ án Tòa án thụ lý giải quyết nhưng chưa có quy phạm pháp luật áp dụng để giải quyết Đối với những vụ án mà sự có mặt của người giám định, người phiên dịch là bắt buộc

họ tên của họ phải được thể hiện trong bản án

- Kiểm sát tên, địa chỉ của nguyên đơn là anh Hải, chị Lan; tên, địa chỉ của

bị đơn là anh Cường, chị Hoa; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Quang, chị Hồng, UBND quận Thanh Xuân Người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Kiểm sát xem Tòa án đã xác định đúng tư cách tham gia tố tụng chưa; xác định đủ người tham gia tố tụng chưa vì nhiều trường hợp Tòa án không đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng

Trang 8

Trong tình huống này, ta thấy Tòa án đã có thiếu xót khi chưa xác định đầy

đủ người tham gia tố tụng Cụ thể ở đây, Tòa án đã xác định thiếu UBND quận Thanh Xuân với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng Đây là một vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng theo BLTTDS 2015

- Kiểm sát đối tượng tranh chấp, ở đây là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất Việc xem xét đối tượng tranh chấp rất quan trọng vì chỉ khi nào xác định đúng đối tượng tranh chấp thì mới xác định đúng quan hệ pháp luật Xác định sai đối tượng tranh chấp dẫn đến xác định sai quan hệ pháp luật và do đó dẫn đến sai lầm trong việc áp dụng pháp luật

- Kiểm sát số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngày 1/7/2016 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã thụ lý vụ án đến ngày 20/10/2016 Tòa án quận Thanh Xuân đã mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm dân sự Như vậy, đã đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm a khoản

1 Điều 203 BLTTDS 2015 là 4 tháng đối với những vụ án quy định tại Điều

26 và Điều 28 BLTTDS 2015

- Ngoài ra, Kiểm sát viên cần kiểm tra việc xét xử công khai hoặc xét xử kín theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 15 BLTTDS năm 2015 Kiểm tra thời gian và địa điểm xét xử theo qui định tại Điều 220 BLTTDS 2015 hay không, xác định những nội dung này phải được thể hiện rõ trong bản án nhằm đảm bảo tính minh bạch trong xét xử

2 Kiểm sát phần nội dung của bản án và nhận định của Tòa án

Theo Điểm b khoản 2 Điều 266 BLTTDS năm 2015 thì trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đề nghị, yêu cầu phản

tố của bị đơn; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể:

- Nội dung bản án phải thể hiện được yêu cầu của nguyên đơn (anh Hải, chị Lan) là gì, có thay đổi gì so với yêu cầu ban đầu không và các chứng cứ

Trang 9

chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình là gì có phù hợp và có căn

cứ không?

Trong quá trình tham gia tố tụng dân sự, nguyên đơn thường trình bày quá trình diễn biến sự việc sau đó đưa ra yêu cầu của minh và đề nghị Tòa án ra quyết định buộc bị đơn thực hiện một nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự nào

đó Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có thể thay đổi đề nghị của mình

Do đó, khi kiểm sát bản án, Kiểm sát viên cần lưu ý xem lời yêu cầu cuối cùng của nguyên đơn là anh Hải và chị Lan tại phiên tòa theo qui định tại Khoản 1 Điều 243 BLTTDS 2015 về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện Đây là cơ sở để kiểm sát việc HĐXX chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hay bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn thì có đúng không, có vi phạm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự không Nếu có, đây

là sự vi phạm nghiêm trọng Viện kiểm sát cần phải kháng nghị

Ngoài ra, còn phải kiểm sát việc anh Hải, chị Lan có xuất trình các tài liệu liên quan để chứng minh cho lời khai của mình và xem xét việc Tòa án chấp nhận các tài liệu đó có giá trị chứng cứ hay không

- Kiểm sát bản án có yêu cầu phản tố của bị đơn (anh Cường, chị Hoa) không, lời đề nghị của bị đơn, thừa nhận hay không thừa nhận yêu cầu của nguyên đơn, các chứng cứ bị đơn đưa ra có phù hợp và có căn cứ không?

- Nội dung bản án cũng phải thể hiện lời trình bày của người có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan (anh Quang, chị Hồng) Họ có yêu cầu độc lập không,

có đề nghị gì không Cẩn xem xét họ trình bày quan điểm của mình về lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và yêu cầu của họ là gì Ngoài việc trình bày

họ có xuất trình tài liệu có liên quan cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình không

- Kiểm sát phần nhận định của bản án để xem xét tính có căn cứ, tính logic

và tính hợp pháp trong những phân tích của Tòa án Nhận định của Tòa án có dựa trên nội dung của vụ án đã được phản ảnh hay không Những nhận định, đánh giá, phân tích, chứng minh có xuất phát từ những chứng cứ, tài liệu do

Trang 10

đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập không Nhận định này có là kết quả của cả quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa hay không Đề ra được kết luận chấp nhận hay không chấp nhận toàn bộ, một phần yêu cầu, đề nghị của các đương sự, HĐXX phải căn cứ vào sự phân tích, đánh giá chứng cứ, tìm ra căn cứ pháp luật để áp dụng đúng pháp luật vào giải quyết vụ án

3 Kiểm sát phẩn quyết định của bản án

Quyết định của bản án là sự đánh giá, nhận định và khẳng định quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án và các đương sự buộc phải thì hành khi bản án có hiệu lực pháp luật

Theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 266 BLTTDS năm 2015 thì phần quyết định của bản án phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn để phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó

Do đó, Kiểm sát viên kiểm tra phần quyết định của bản án xem có đáp ứng một số yêu cầu sau không:

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hay bác yêu cầu của nguyên đơn (anh Hải, chị Lan) Trường hợp chấp nhận thì chấp nhận toàn bộ hay chấp nhận một phần Nếu chấp nhận một phần thì chấp nhận những vấn đề gì Khi đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì phần quyết định phải nêu rõ bị đơn( anh cường, chị Hoa) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Quang, chi Hồng) phải thực hiện những nghĩa vụ gì, cụ thể ra sao

Trong trường hợp bị đơn phản tố thì có chấp nhận phản tố không? Nếu chấp nhận thì buộc nguyên đơn thực hiện những gì?

- Ngoài ra, khi kiểm sát bản án, Kiểm sát viên phải lưu ý những vấn đề cần phải có như: Mức án phí, quyền kháng cáo và vấn để thi hành án Nếu trong trường hợp có định giá, giám định thì phải có phần tuyên về chi phí định giá, giám định theo quy định tại các điều 159, 160, 161, 162, 163 164, 165, 166 BLTTDS năm 2015 Khi kiểm sát về vấn đề án phí, Kiểm sát viên cần phải

Ngày đăng: 22/02/2019, 17:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w