1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý thuyết về quản trị chất lượng toàn diện (TQM), lean (hệ thống sản xuất tinh gọn), 6 sigma, ISO 9000 ứng dụng vào DN

24 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 256 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ Thực tế hiện nay cho thấy bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào hoạt động sản xuấthay kinh doanh dịch vụ, đều có thể đảm bảo được sự phát triển vững bền trongtương lai thông

Trang 1

LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN (TQM), LEAN (HỆ THỐNG SẢN XUẤT TINH GỌN), 6 SIGMA, ISO 9000 ỨNG

DỤNG VÀO DN

I GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

Thực tế hiện nay cho thấy bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào hoạt động sản xuấthay kinh doanh dịch vụ, đều có thể đảm bảo được sự phát triển vững bền trongtương lai thông qua việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, làm thỏa mãn nhucầu của khách hàng Bên cạnh đó thì nền kinh tế thị trường hiện đại lại cũng luônđòi hỏi các doanh nghiệp ngày nay phải toàn diện để thích ứng Vì vậy mà mụctiêu phấn đấu của các doanh nghiệp là tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa sử dụng mọinguồn lực nhằm quản lý sản xuất hiệu quả, đảm bảo chất lượng sản phẩm hay dịch

vụ cung cấp ra thị trường

Môn học quản trị sản xuất và dịch vụ nghiên cứu tất cả các hoạt động liên quanđến việc quản trị các yếu tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố nhằm chuyểnhóa thành các kết quả ở đầu ra là các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ với hiệu quảcao nhất, đạt được các lợi ích lớn nhất Theo đó, để tạo ra sản phẩm và dịch vụ,các doanh nghiệp đểu phải thực hiện ba chức năng cơ bản sau đây: Marketing;Tiến hành sản xuất, thực hiện dịch vụ; Tài chính kế toán Nếu quản trị tốt, ứngdụng được các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn chodoanh nghiệp Ngược lại nếu quản trị không tốt sẽ làm cho doanh nghiệp bị thua

lỗ, thậm chí có thể bị phá sản Do đó quản trị sản xuất và dịch vụ có tầm quantrọng đặc biệt trong hoạt động của một doanh nghiệp

Trang 2

thay thế bởi hệ thống nhà xưởng với những máy móc hiện đại vào thời kỳ đó tạonên những thay đổi lớn đối với nhà máy nói riêng và cả ngành công nghiệp nóichung

Đầu thế kỷ 20 ngành công nghiệp mới ở Hoa Kỳ đã tạo ra một giai đoạn mởrộng lớn lao về năng lực sản xuất Sự chấm dứt việc sử dụng lao động nô lệ, sự dichuyển của lực lượng lao động trong nông thôn vào các thành thị và sự nhập cư đãcung cấp một lực lượng lao động lớn cho sự phát triển nhanh chóng của trung tâmcông nghiệp ở thành thị Sự phát triển này dẫn đến hình thức mới của ngành côngnghiệp là giải quyết vấn đề vốn thông qua việc thiết lập các công ty cổ phần Từ

đó, có thể nhà quản lý trở thành người làm thuê cho xí nghiệp và được trả lương từnhà tài chính, hay người làm chủ đầu tư Nổi bật trong thời kỳ này là “ Lý thuyếtQuản trị khoa học” của Frederick W.Taylor

Lý thuyết Quản trị khoa học

Được xem như là “cha đẻ của phương pháp quản trị khoa học”, FrederickW.Taylor nghiên cứu các vấn đề thuộc về nhà máy vào thời đại của ông một cáchkhoa học, chú trọng đến tính hiệu quả với mong muốn đạt được kết quả về việc tiếtkiệm thời gian, năng lực và nguyên vật liệu Hệ thống hoạt động của Taylor cónhững đặc điểm chú ý sau:

Kỹ năng, sức lực và khả năng học tập được xác định cho từng công nhân để

họ có thể được ấn định vào các công việc mà họ thích hợp nhất Các nghiên cứu về theo dõi ngưng làm việc được tiến hành nhằm đưa ra kết quả chuẩn cho từng công nhân ở từng nhiệm vụ Kết quả mong muốn đối với từng công nhân sẽ được sử dụng cho việc hoạch định và lập thời gian biểu, so sánh với phương pháp khác để thực thi nhiệm vụ.

Các phiếu hướng dẫn, các kết quả thực hiện và đặc điểm riêng biệt của từng nguyên vật liệu sẽ được sử dụng để phối hợp và tổ chức công việc, phương pháp làm việc và tiến trình công việc cũng như kết quả lao động có thể được chuẩn hóa.

Trang 3

Công việc giám sát được cải tiến thông qua việc lựa chọn và huấn luyện cẩn thận Taylor thường xuyên chỉ ra rằng quản trị không quan tâm đến việc đổi mới chức năng của nó Ông tin rằng quản trị phải chấp nhận việc hoạch định, tổ chức, quản lý và những phương pháp xác định trách nhiệm hơn là

để những chức năng quan trọng này cho chính công nhân.

Hệ thống trả thưởng khuyến khích được sử dụng để gia tăng hiệu quả và làm giảm đi trách nhiệm truyền thống của những người quản lý là đôn đốc công nhân.

Ở đây, Frederich Taylor đã sử dụng các phương pháp và công cụ như “Tiêuchuẩn hóa công việc, nghiên cứu thời gian và thao tác chuẩn để áp dụng cho sảnxuất đơn chiếc” Theo ông thì quản lý khoa học dựa trên các nguyên tắc cơ bảnsau:

Thứ nhất: Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp, chia nhỏ các phần việc và xây dựng định mức cho từng phần việc bằng việc bấm giờ từng động tác

Thứ hai: Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ Các thao tác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi

Thứ ba: Thực hiện chế độ trả tiền công theo số lượng sản phẩm hợp lệ về chất lượng và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân.

Thứ tư: Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ thể Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục.

Trang 4

Trong thời kỳ này ông đã xây dựng những tiêu chuẩn lựa chọn lao động, nghiêncứu việc hoạch định và lập tiến độ lao động, nghiên cứu các nguồn động lực thúcđẩy người lao động tăng năng suất lao động, nghiên cứu hợp lý hóa các thao tác vàđịnh mức lao động Cùng với Taylor là những người đồng nghiệp như HernryL.Gantt, Frank… họ là những người đầu tiên tìm kiếm có hệ thống những phươngpháp tốt nhất để sản xuất Một trong những đóng góp khác nữa của Taylor là việcphân biệt để chuyên môn hóa người lao động và người quản lý, chuyên môn hóacông nhân chính và công nhân phụ Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách

về quản lý doanh nghiệp, tạo được bước tiến dài theo hướng quản lý một cáchkhoa học trong thế kỷ 20 cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy

Quan điểm của Russel Ackoff: Sản xuất như là một hệ thống

Nếu Frederick W.Taylor được xem như là cha đẻ của phương pháp quản trịkhoa học thì Russel Ackoff được mệnh danh là nhà tiên phong trong lý thuyết hệthống Ông ta cho rằng: “Hệ thống là một tổng thể không thể chia nhỏ được màkhông làm cho nó mất đi những nét đặc trưng, và vì thế nó phải được nghiên cứunhư là một tổng thể”

Tìm hiểu quan điểm của Russel Ackoff cho thấy: Hệ thống sản xuất xác định

rõ đâu là các yếu tố đầu vào, đâu là quá trình chuyển hóa để tạo ta đầu ra Cụ thểhơn là hệ thống này sẽ tiếp nhận đầu vào ở các hình thái như nguyên vật liệu, nhân

sự, tiền vốn, các thiết bị, các thông tin Sau đó những yếu tố đầu vào này đượcchuyển đổi hình thái trong hệ thống để tạo thành các sản phẩm hoặc dịch vụ theomong muốn, mà chúng ta gọi là kết quả sản xuất Một phần của kết quả quản lýbởi hệ thống quản lý để nhằm xác định xem nó có thể được chấp nhận hay không

về mặt số lượng, chi phí và chất lượng Nếu kết quả là chấp nhận được, thì không

có sự thay đổi nào được yêu cầu trong hệ thống; nếu như kết quả không chấp nhậnđược, các hoạt động điều chỉnh về mặt quản lý cần phải thực hiện

Trang 5

Thuyết quản lý của Fayol

Henri Fayol (1841 – 1925) là người Pháp, được coi như “một Taylor của châuÂu” Cách tiếp cận vấn đề quản lý của ông ở tầm rộng hơn và xem xét dưới góc độ

tổ chức – hành chính Với thuyết này, ông chính là người đặt nền móng cho lý luậnquản lý cổ điển, là “người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại” ThuyếtFayol đã đề ra được hàng loạt vấn đề quan trọng của quản lý (như chức năng,nguyên tắc, phương pháp), vừa chú trọng việc hợp lý hóa lao động vừa quan tâmcao đến hiệu lực quản lý, điều hành Nhiều luận điểm cơ bản của các thuyết thuộctrường phái cổ điển vẫn mang giá trị lâu dài, được các thuyết tiếp sau bổ sung vànâng cao về tính xã hội và yếu tố con người cũng như về các mối quan hệ với bênngoài tổ chức

Tư tưởng chủ yếu của thuyết Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể tổ chứcquản lý xí nghiệp, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máylãnh đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý “Thành công của quản lýkhông chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyêntắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ sử dụng Với các nhàquản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới thì khả năngchuyên môn là quan trọng nhất” Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ thống kinh

Trang 6

doanh hiện đại, có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc nhiều lĩnhvực khác nhau.

Với các hoạt động của xí nghiệp, ông phân chia thành 6 nhóm công việc chínhgồm:

- Kỹ thuật (khai thác, chế tạo, chế biến)

- Thương mại (mua bán, trao đổi)

- Tài chính (huy động vốn, sử dụng vốn)

- An ninh (bảo vệ tài sản và nhân viên)

- Kế toán (kiểm kê tài sản, theo dõi công nợ, hạch toán giá thành, thống kê)

- Quản lý - điều hành (kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra).

Như vậy chức năng quản lý chỉ tác động đến con người, là sự quản lý của tổ chức

xã hội đối với con người Với quan niệm đó, thực chất thuyết Fayol là lý thuyết về

tổ chức xã hội Fayol phân biệt rõ lãnh đạo với quản lý, trong đó quản lý chỉ là mộtcông cụ bảo đảm sự lãnh đạo nhằm đạt được mục đích của cả tổ chức; và do đóhoạt động chủ yếu của người lãnh đạo là phát huy cao tác dụng của quản lý, thôngqua hoạt động quản lý để thúc đẩy các hoạt động của tổ chức

Mặt khác, Fayol cũng cho rằng quản lý không phải là đặc quyền và trách nhiệmriêng của cá nhân người đứng đầu, mà được phân chia cho các thành viên kháctrong hệ thống tổ chức quản lý Ông đưa ra trật tự thứ bậc trong hệ thống đó gồm 3cấp cơ bản, thể hiện sự phân phối quyền lực và trách nhiệm với ranh giới rõ ràng:

- Cấp cao: Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành;

- Cấp giữa: những người tham mưu và chỉ huy thực hiện từng phần việc, từng công đoạn;

- Cấp thấp là các người chỉ huy tác nghiệp ở từng khâu

Theo quan điểm của Fayol có 5 chức năng quản lý cơ bản đó là:

Trang 7

- Chức năng hoạch định - nội dung hàng đầu, cơ bản nhất Tuy vậy, ông cũng chỉ ra tính tương đối của công cụ kế hoạch, không thể dự đoán đầy

đủ và chính xác mọi biến động, cần phải xử lý linh hoạt sáng tạo

- Chức năng tổ chức bao gồm tổ chức sản xuất (các công đoạn, các khâu trong hoạt động) và tổ chức bộ máy quản lý (cơ cấu, cơ chế, các quan hệ chức năng, nhân sự)

- Chức năng điều khiển là tác động lên động cơ và hành vi của cấp dưới

để họ phục tùng và thực hiện các quyết định quản lý; vừa có tính kỷ luật cao vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo

- Chức năng phối hợp là kết nối, liên hợp, điều hòa tất cả các hoạt động

và các lực lượng, đảm bảo cho các hoạt động diễn ra hài hòa, gắn bó trong một thể thống nhất, tạo ra tổng hợp lực và sự cân đối

- Chức năng kiểm tra là nắm chắc diễn biến tình hình hoạt động để kịp thời phát hiện vấn đề cần điều chỉnh, sửa đổi đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra, quy rõ trách nhiệm.

Fayol cũng đề ra 14 nguyên tắc về quản lý để vận dụng linh hoạt, trong đónguyên tắc 4 (thống nhất chỉ huy) và nguyên tắc 9 (hệ thống cấp bậc) được coi làhai nguyên tắc quyết định Ưu điểm nổi bật là tạo được kỷ cương trong tổ chức.Nhược điểm là chưa chú trọng đầy đủ các mặt tâm lý và môi trường lao động,đồng thời chưa đề cập đến mối quan hệ với bên ngoài doanh nghiệp (với kháchhàng, với thị trường, với đối thủ cạnh tranh và với Nhà nước)

Thời kỳ sản xuất hàng loạt (Mass Production)-1930

Kỷ nguyên công nghiệp mới ở Hoa kỳ đã xuất hiện ngay khi bắt đầu thế kỷ 20,

đã tạo ra một giai đoạn mở rộng lớn lao về năng lực sản xuất Trong giai đoạn này,Henry Ford đã đề cập tới dây chuyền lắp ráp và sản xuất theo dây chuyền nhằm tạodòng nguyên liệu liên tục trong suốt quá trình sản xuất, chuẩn hóa các qui trình vàloại bỏ lãng phí Đặc tính của sản xuất hàng loạt:

Trang 8

- Kỹ năng của người thao tác thấp, thực hiện một công việc nhỏ trong dây chuyền

- Số lượng rất quan trọng

- Sự thỏa mãn trong công việc thấp

- Chi phí sản xuất rẻ

Thuyết quản lý của Mary Parker Follet (1868 – 1933)

Có thể thấy rằng tư tưởng quản lý của trường phái này dựa trên những thànhquả của tâm lý học, coi trọng yếu tố con người và quan hệ xã hội Theo đó “doanhnghiệp được coi là một hệ thống xã hội”; động lực lao động không chỉ là lợi íchvật chất mà còn là tâm lý xã hội và ảnh hưởng của tập thể lao động; quản lý khôngchỉ bằng quyền lực của tổ chức mà còn bằng tác phong điều hành thể hiện qua cácnội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất - Giải quyết mâu thuẫn: Có 3 phương pháp chủ yếu để lựa chọn khi

giải quyết mâu thuẫn, đó là: áp chế, thỏa hiệp và thống nhất

- Áp chế đem lại thắng lợi dễ dàng cho nhà quản lý, nhưng không làm cho người lao động tự nguyện chấp nhận, để lại hậu quả lâu dài

- Thỏa hiệp thường được các Công đoàn thực hiện song chỉ là chấp nhận tạm thời

- Thống nhất là tốt nhất vì nó tạo ra giá trị phụ trội lớn hơn tổng giá trị của các cá thể, giải quyết được triệt để mâu thuẫn Cần công khai mâu thuẫn, sau đó xem xét ý muốn của mỗi bên, tìm ra “tiếng nói chung” như

là nhu cầu chung cần đạt.

Thứ hai - Ra mệnh lệnh: Là việc cần thiết, song không coi đó là sự áp đặt theo

“chủ nghĩa ông chủ” khiến người chấp hành thụ động thiếu tự nguyện Ra mệnhlệnh phải đạt tới sự thống nhất với thái độ phù hợp tâm lý đối tượng, trong đó họthấy sự cần thiết và phần trách nhiệm chung, không bị thúc ép miễn cưỡng

Trang 9

Thứ ba - Quyền lực và thẩm quyền: Phân biệt quyền lực do tổ chức “ban” cho

với thẩm quyền (quyền hạn) được sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ cầntiến hành Nhà quản lý cần tập trung vào thẩm quyền (quyền lực liên kết) thay vìquyền lực tuyệt đối; gắn với chức năng thay vì chức vị

Thứ tư - Trách nhiệm tích luỹ: Đó là trách nhiệm chung mà mỗi cấp quản lý dự

phần trong việc ra quyết định và người thừa hành ý thức được Cần tăng cường cácmối quan hệ ngang (phối hợp – cộng tác) thay vì chỉ điều khiển – phục tùng

Thứ năm - Lãnh đạo và điều khiển: Quyền điều khiển thuộc về người đứng đầu

– một người hiểu biết sâu rộng nhất về hoàn cảnh cần có quyết định; phải có nănglực thuyết phục; biết tạo điều kiện và rèn luyện cho cấp dưới biết cách tự điềukhiển, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm

Nhìn chung, thuyết quản lý này quan tâm đến yếu tố tâm lý trong việc ra quyếtđịnh và điều hành các hoạt động; không lạm dụng quyền lực Song nó mới chỉ đềcập một số nội dung cụ thể, chưa đủ khái quát để trở thành một thuyết hoàn chỉnh

Nhận xét chung: Những lý thuyết mà tôi trình bày ở trên là các lý thuyết quản lý truyền thống, chúng không bác bỏ nhau mà bổ sung cho nhau và có vị trí quan trọng ở giai đoạn đầu của xã hội công nghiệp Tuy nhiên, mỗi trường phái

đó đều mang tính phiến diện, chỉ xem xét từng mảng của hoạt động quản lý với cách tiếp cận cục bộ.

Bước sang những thập niên cuối của thế kỷ 20, cùng với thời gian và sự tiến

bộ vượt bậc của kỹ thuật sản xuất, công nghệ tiên tiến là mức thu nhập và nhu cầu ngày một nâng cao của con người Những quan điểm sản xuất hiện đại trên cơ sở

kế thừa và phát huy những lý thuyết cũ đã đưa ra rất nhiều mô hình quản trị khác nhau Tuy nhiên một mô hình quản lý đáp ứng được cùng lúc các mục tiêu sẽ giúp doanh nghiệp vừa giảm chi phí sản xuất, vừa làm hài lòng khách hàng mới thực

sự cần thiết Có nhiều mô hình quản lý khác nhau hướng tới mục đích này Với phần bài làm của mình tiếp theo sau đây tôi sẽ đi sâu vào phân tích một số mô hình quản lý hiệu quả như: Quản trị chất lượng toàn diện ( TQM), Lean (Hệ thống sản xuất tinh gọn), 6 Sigma, ISO 9000.

Trang 10

Quản trị chất lượng toàn diện (TQM - Total Quality Management)

Nói một cách dễ hiểu thì TQM là một phương pháp quản lý của một tổ chức,định hướng vào chất lượng, dựa trên dự tham gia của mọi thành viên và nhằm đemlại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọithành viên của công ty và của xã hội

Mục tiêu của TQM :cải tiến chất lượng sản phẩm và thoả mãn khách hàng ởmức tốt nhất cho phép

Đặc điểm nổi bật của TQM :so với các phương pháp quản lý chất lượng trướcđây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọikhía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận

và mọi cá nhân để đạt mục tiêu chất lượng đã đề ra TQM tập trung kiểm soát conngười, kiểm soát phương pháp, kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào, và kiểm soáttrang thiết bị (Kiểm soát 4M – Men, Method, Material, Machine) Phương phápnày giảm được chi phí kiểm tra, duy trì ổn định chất lượng sản phẩm, đạt lợi nhuậncao giảm sai sót TQM đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, nâng cao năng suất,cải tiến không ngừng

Tóm lại: TQM là hệ thống quản lý chất lượng dựa trên:

- Sự tham gia của tất cả mọi người trong tổ chức

- Luôn nâng cao sự thoả mãn khách hàng (khách hàng là thượng đế)

- Luôn cải tiến chất lượng để làm hài lòng khách hàng

- Tập trung đi tìm nguyên nhân của sự không phù hợp – để ngăn ngừa sự tái diễn

- Thực hiện PDCA (Plan – Do - Check – Action)

Sản xuất tinh gọn (Lean)

Nhìn lại các mô hình sản xuất truyền thống, khi chuyển đổi từ sản xuất đơn lẻsang sản xuất hàng loạt, các đặc điểm về cấu trúc thị trường sản phẩm đã được

Trang 11

thay đổi Vào những năm 1950 – 1970, khi năng lực sản xuất còn thấp hơn nhu cầucần đáp ứng của thị trường, sản xuất tập trung vào dạng sản phẩm thông thường.Các nhà sản xuất cố gắng đáp ứng thị trường bằng số lượng, mô hình sản xuấthàng loạt ra đời Tới khi giữa các nhà sản xuất gia tăng sự cạnh tranh mạnh mẽ,đòi hỏi phải tạo ra sản phẩm với tính toán chi phí hiệu quả nhằm đáp ứng thỏa mãnkhách hàng Điều này thúc đẩy mô hình sản xuất đa dạng hóa sản phẩm, bắt đầu từcuối thập niên 1980 Các biện pháp cắt giảm chi phí và chế tạo ra sản phẩm mangtính đột phá trở nên quan trọng hơn nhằm tăng lợi nhuận Vòng đời của sản phẩmcũng được rút ngắn hơn so với thời kỳ sản xuất sản phẩm hàng loạt

Nếu nhìn vào cơ cấu giá thành của sản phẩm giữa 2 mô hình sản xuất này, hàngloạt và đa dạng, có thể thấy sự thay đổi cơ bản về cách tính giá bán Chính điềunày đòi hỏi nhà sản xuất phải có các chiến lược tiếp cận thị trường cho phù hợptheo từng giai đoạn Trong mô hình này, sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất cócùng loại sản phẩm cung cấp đã được tính toán để doanh nghiệp có được một giábán mang tính cạnh tranh nhất Lúc này, thị trường quyết định giá bán, và nếu nhàsản xuất muốn đạt được lợi nhuận cao nhất, chỉ còn cách giảm được càng nhiều chiphí càng tốt Chính vì thế, các mô hình quản lý sản xuất hướng tới việc giảm tối đachi phí trong sản xuất Mô hình sản xuất tinh gọn (LEAN) ra đời nhằm đáp ứngcác yêu cầu này Sự thành công điển hình của mô hình này chính là công tyToyota, mang tên “Toyota Production System” (Hệ thống sản xuất Toyota) Công

ty Toyota đã thành công tại thị trường vô cùng cạnh tranh ở Mỹ, và triết lý củangười Nhật trong quản trị sản xuất đã khiến các công ty của Mỹ phải học tập

Từ những năm 1995, mô hình Lean đã được nghiên cứu sâu rộng ở Mỹ, tại cáctrường đại học hàng đầu như Viện Công nghệ Mat-sa-chu-set (MIT) “Lean” trongtiếng Anh có nghĩa là sự tinh gọn, mạch lạc hay liền lạc Các cấp độ trong Leanbao gồm Lean manufacturing (sản xuất Lean), Lean enterprise (Doanh nghiệpLean), Lean thinking (Tư duy Lean)

Mô hình sản xuất tinh gọn tập trung vào 3 yếu tố chính là Con người – Quátrình – Công nghệ Mô hình hướng tới sự tham gia của mọi người, với tư duy Lean

Trang 12

(tinh gọn) luôn thường trực trong mỗi người khi tham gia vào các quá trình sảnxuất, dịch vụ Các quá trình tổ chức, quản lý sản xuất được tối ưu hóa nhằm loại

bỏ tối đa các loại chi phí và được hỗ trợ bởi ứng dụng công nghệ hiện đại, tự độnghóa Ở mô hình này, công nghệ được dùng để hỗ trợ con người và các quá trìnhsản xuất một cách hiệu quả nhất Mục tiêu tạo giá trị cho khách hàng là ít lãng phí,giao hàng nhanh, chất lượng tốt Kết hợp với đó là sự linh hoạt, tham gia của mọingười, trên nền tảng chuẩn hóa công việc Cuối cùng thì tất cả các yếu tố này đềuhướng tới sự thỏa mãn của khách hàng – đây mới chính là sự thành công

Mô hình 6 Sigma

Vào đầu những năm 1980, trong nỗ lực nâng cao chất lượng cao nhất cho cácsản phẩm của mình, công ty Motorola của Mỹ đã khởi xướng mô hình quản lý chặtchẽ các quá trình sản xuất và bắt đầu đưa ra khái niệm 6 Sigma Sự thành công của

mô hình quản lý này tại Motorola đã tạo nên một phong trào triển khai rộng rãi tạihàng loạt các công ty hàng đầu như IBM, DEC, Allied Signal, GE…

Cho đến nay, mô hình này không những được triển khai rộng rãi trong lĩnh vựcsản xuất Lĩnh vực dịch vụ cũng nâng cao dần chất lượng phục vụ với cách thứckiểm soát chặt chẽ các khâu, các quá trình cung cấp theo mô hình 6 Sigma Cácđiểm chính của mô hình như sau: đó là sự cải tiến thành quả của các quá trình: dựatrên sự kiện để giải quyết vấn đề theo vấn đề chất lượng nghiêm trọng đối vớikhách hàng (Customer critical to Quality – CTQ); Cải tiến sự hài lòng của kháchhàng: tăng trách nhiệm với khách hàng, giảm sự bất mãn của khách hàng; Giảmchi phí: Giảm sai sót về sản phẩm, dịch vụ và thời gian chuyển giao Tăng hiệusuất, giảm chế phẩm Tất cả nhằm tăng thu nhập và lợi nhuận

Điểm nổi bật của mô hình 6 Sigma là người sử dụng các kỹ thuật thống kê đểkiểm soát quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ Các quá trình được thiết kế saocho đạt được sự biến đổi được xác định thông qua các kỹ thuật thống kê, phân tíchcác yếu tố gây ra sai lỗi và tìm cách điều chỉnh để quá trình đạt được mục tiêu đãxác định

Ngày đăng: 22/02/2019, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w