1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị sản xuất và dịch vụ ngày nay ứng dụng học thuyết lean vào quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả

19 169 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị sản xuất và dịch vụ ngày nay - Ứng dụng học thuyết Lean vào quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả Quản trị sản xuất là quá trình hoạch định,

Trang 1

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị sản xuất và dịch vụ ngày nay - Ứng dụng học thuyết Lean vào quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả

Quản trị sản xuất là quá trình hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra quá trình sản xuất nhằm đạt được những mục tiêu phát triển sản xuất đề ra Quản trị hoạt động sản xuất cùng với quản trị hoạt động marketing và quản trị hoạt động tài chính là ba chức năng cơ bản trong doanh nghiệp, nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh Ba chức năng tài chính, tiếp thị và sản xuất phải được thực hiện một các đồng bộ, nhịp nhàng, mới có thể phát huy hiệu quả, mang lại thành công cho doanh nghiệp Trong mối tương quan đó, hoạt động sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ là chức năng trung tâm, tạo

ra giá trị cốt lõi của một doanh nghiệp, các chức năng marketing và tài chính xoay quanh nó

Vào thế kỷ 19, 20; nhằm nâng cao năng suất, người ta đã áp dụng một số lý thuyết cơ bản để quản lý sản xuất

Khái niệm Năng suất phản ánh sự gia tăng (sản phẩm hoặc giá trị) của quá trình sản xuất Năng suất được tính toán bằng việc so sánh giữa kết quả đạt được với nguồn lực bỏ ra

Có thể nói hoạt động quản lý là hoạt động có từ khi xuất hiện loài người trên trái đất, nhưng lý thuyết quản lý lại là sản phẩm của xã hội hiện đại Các nhà quản lý vẫn dùng những lý thuyết và kinh nghiệm quản lý đã hình thành trong lịch sử vào trong nghề nghiệp của mình Tuy nhiên, lý thuyết quản lý cũng phải dựa trên những thực tế và quản lý cũng được nghiên cứu có hệ thống qua các thời đại

Quá trình xuất hiện các lý thuyết quản lý

Trang 2

- Phương Tây, những ý kiến quản lý áp dụng trong kinh doanh chỉ bắt đầu xuất hiện từ khoảng thế kỷ 16;

- Đến thế kỷ 18, là thời kỳ có những phát minh tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp, trong đó có sự ứng dụng động lực máy hơi nước, làm thay đổi qui mô sản xuất từ gia đình thành các nhà máy Tuy nhiên, hoàn cảnh sản xuất mới cũng chưa có tác động lớn đến sự phát triển của lý thuyết quản lý, vì trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, chức năng của người sở hữu và chức năng của người quản lý chưa đuợc phân biệt rõ rệt;

- Sản xuất kinh doanh phát triển càng mạnh thì chức năng của người sở hữu

và chức năng của người quản lý đuợc phân biệt ngày càng rõ rệt, đặc biệt trong các công ty cổ phần Người ta bắt đầu quan tâm đến việc cải tiến quản lý và bắt đầu xuất hiện những tác phẩm nhưng cũng chủ yếu có liên quan đến khía cạnh kỹ thuật sản xuất là chủ yếu;

- Đến cuối thế kỷ 19, các nổ lực nghiên cứu nhằm đưa ra những lý thuyết quản lý vẫn còn mới mẻ và chưa có một công trình tổng hợp nào về nguyên tắc và kỹ thuật quản lý một cách đầy đủ;

- Đầu thế kỷ 20, Taylor là người đặt nền móng đầu tiên cho quản lý học hiện tại vì đã biết chú ý đến khía cạnh khác của hoạt động quản lý

Thời kỳ đầu:

Ở Anh vào những năm đầu thế kỷ XVIII, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh kéo theo sự bùng nổ cách mạng công nghiệp Việc phát minh ra động cơ hơi nước của Jame Watt vào năm 1764, tạo điều kiện cho ra đời hàng loạt những máy móc

Trang 3

khác trong kỹ nghệ Hệ quả tất yếu là sự thay thế rộng rãi lực lượng lao động thủ công bằng máy móc có năng suất cao hơn, cùng với sự thiết lập hệ thống nhà xưởng và các phát minh khác của thời đại Tác phẩm của Adam Smith “Sự giàu

có của quốc gia” viết năm 1776, chứng minh cho sự cần thiết của phân công lao động, hay còn gọi là chuyên môn hóa của lao động Việc sản xuất sản phẩm được phân chia ra thành từng bộ phận nhỏ, những nhiệm vụ chuyên biệt được phân công cho công nhân theo qui trình sản xuất Vì thế, các nhà máy vào cuối thời kỳ này không những chỉ chú ý đến việc trang bị máy móc thiết bị cho sản xuất, mà còn ở cách thức hoạch định và quản lý công việc sản xuất của công nhân;

Cách mạng công nghiệp lan truyền từ Anh sang Hoa kỳ Vào năm 1790, Eli Whitney, nhà phát minh Hoa kỳ, đã thiết kế mẫu súng trường sản xuất theo dây chuyền;

Kỳ nguyên công nghiệp mới ở Hoa Kỳ đã xuất hiện hay khi bắt đầu ở thế kỷ 20,

đã tạo ra một giai đoạn mở rộng lớn lao về năng lực sản xuất

Đầu thế kỷ 20 Henry Ford - là người sáng lập Công ty Ford Motor, ông là một trong những người đầu tiên áp dụng sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô Ông không chỉ cách mạng ngành công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ và châu Âu mà còn có nhiều ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội thế kỷ 20 tới mức sự phối hợp giữa sản xuất hàng loạt, tiền lương cao và giá thành sản phẩm thấp cho người tiêu dùng đã được gọi là "Chủ nghĩa Ford." Ông đã trở thành một trong hai hay ba người giàu nhất thế giới thời bấy giờ và ông ta nói có thể sản xuất những chiến hạm cho Mỹ bằng những lý thuyết dây chuyền lắp ráp cũng như trong sản xuất ô tô;

Trang 4

Frederick W.Taylor được xem như là cha đẻ của phương pháp quản trị khoa học Ông nghiên cứu các vấn đề thuộc về nhà máy vào thời đại của ông một cách khoa học, chú trọng đến tính hiệu quả với mong muốn đạt được kết quả về việc tiết kiệm thời gian, năng lực và nguyên vật liệu;

Frank và Lillian Gilbreth, là nhà thầu thành đạt, người đã quan tâm đến phương pháp làm việc khi mới bắt đầu làm thợ phụ Sau này ông có nhiều cải tiến trong phương pháp xây và các nghề khác của ngành xây dựng Ông quan niệm việc lập

kế hoạch công tác và huấn luyện cho công nhân những phương pháp làm việc đúng đắn không chỉ nâng cao năng suất, mà còn đảm bảo sức khỏe và an toàn cho công nhân;

Nghiên cứu tác nghiệp tìm kiếm việc thay thế các quyết định phức tạp bằng một phương pháp chỉ rõ những khả năng tối ưu thông qua việc phân tích;

Sự phát triển của các dịch vụ:

Một trong những sự phát triển khởi đầu trong thời đại của chúng ta là sự nở rộ của dịch vụ trong nền kinh tế Hoa kỳ Việc thiết lập các tổ chức dịch vụ đã phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ II và vẫn còn tiếp tục mở rộng cho đến nay

Giai đoạn hiện nay:

Giờ đây với sự đa dạng hóa về nhu cầu của con người, các doanh nghiệp cần có

sự linh hoạt trong việc quản trị hoạt động của doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm đáp ứng được sự đa dạng đó Việc quản trị của của doanh nghiệp cũng phải thay đổi để có thể thích ứng với tình hình thực tế hiện nay Các lý thuyết về quản trị

Trang 5

thời kỳ đầu xét về quan điểm quản trị hoạt động hiện đại đôi khi không còn phù hợp nữa chỉ có thể áp dụng cho một số các công ty lớn có sự đơn giản về sản phẩm, ví dụ như xi măng, điện Hiện nay đa số các doanh nghiệp áp dụng mô hình quản trị hiện đại để phù hợp với nhu cầu thực tế

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị sản xuất và dịch vụ ngày nay:

- Chất lượng, dịch vụ khách hàng và các thách thức về chi phí;

- Sự phát triển nhanh chóng của các kỹ thuật sản xuất tiên tiến;

- Sự tăng trưởng liên tục của khu vực dịch vụ;

- Sự hiếm hoi của các tài nguyên cho sản xuất;

- Các vấn đề trách nhiệm xã hội

Ảnh hưởng quan trọng của nhân tố này lên các nhà quản trị tác nghiệp là biên giới một quốc gia đã không còn khả năng bảo vệ khỏi việc nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài Cuộc cạnh tranh đang gia tăng và ngày càng trở nên gay gắt hơn Để thành công trong việc cạnh tranh, các công ty phải hiểu rõ các phản ứng của khách hàng và cải tiến liên tục mục tiêu phát triển nhanh chóng sản phẩm với sự kết hợp tối ưu chất lượng ngoại hạng, thời gian cung ứng nhanh chóng và đúng lúc, với chi phí và giá cả thấp Cuộc cạnh tranh này đã chỉ ra rằng, các nhà quản trị tác nghiệp sử dụng phương pháp sản xuất phức tạp hơn thông qua việc mở rộng một cách nhanh chóng kỹ thuật sản xuất tiên tiến

Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ

Trang 6

Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ Sự chuyển đổi này

là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị hệ thống sản xuất, là các hoạt động chuyển hóa của sản xuất

Quản trị sản xuất ngày càng được các nhà quản trị cấp cao quan tâm, coi đó như

là một vũ khí cạnh tranh sắc bén Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng sản xuất Sản xuất hiện đại có những đặc điểm:

1 Sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội ngũ kỹ

sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại;

2 Quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm Đây

là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao;

3 Càng nhận thức rõ con người là tài sản quí nhất của công ty Yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết

bị, vai trò năng động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công trong các hệ thống sản xuất;

4 Sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí Việc kiểm soát chi phí được quan tâm thường xuyên hơn trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý;

Trang 7

5 Sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hóa cao Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm cho các công ty thấy rằng không thể tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực nào mình có thế mạnh để giành vị thế cạnh tranh

6 Sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất Sản xuất hàng loạt, qui mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi phí sản xuất Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi nhỏ, độc lập mềm dẻo thì các đơn vị vừa có vị trí thích đáng;

7 Sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao động nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình;

8 Ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ tin học, máy tính trợ giúp đắc lực cho các công việc quản lý hệ thống sản xuất;

9 Mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho việc

ra quyết định sản xuất – kinh doanh

Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ các doanh nghiệp đều phải thực hiện 3 chức năng

cơ bản: Marketing, sản xuất và tài chính Các nhà quản trị Marketing chịu trách nhiệm tạo ra nhu cầu cho sản phẩm và dịch vụ của tổ chức Các nhà quản trị tài chính chịu trách nhiệm về việc đạt được mục tiêu tài chính của doanh nghiệp Các doanh nghiệp không thể thành công khi không thực hiện đồng bộ các chức năng tài chính, Marketing và sản xuất Không quản trị sản xuất tốt thì không có sản phẩm hoặc dịch vụ tốt; không có Marketing thì sản phẩm hoặc dịch vụ cung ứng không nhiều; không có quản trị tài chính thì các thất bại về tài chính sẽ diễn

Trang 8

ra Mỗi chức năng hoạt động một cách độc lập để đạt được mục tiêu riêng của mình đồng thời cũng phải làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung cho tổ chức về lợi ích, sự tồn tại và tăng trưởng trong một điều kiện kinh doanh năng động

Do đó có thể nói rằng quản trị sản xuất và tác nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của doanh nghiệp Nếu quản trị tốt, ứng dụng các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn cho doanh nghiệp Ngược lại nếu quản trị xấu sẽ làm cho doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản Ngày nay quản trị hoạt động trong các doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều các yêu tố, có những yếu tố bên trong doanh nghiệp nhưng cũng có rất nhiều yếu tố bên ngoài Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định trong quản trị mà trong bài này với thời gian và điều kiện không thể nói hết được

Trong thế kỷ 20 và đầu những năm của thế kỷ 21 này người ta đang áp dụng và

áp dụng thành công mô hình quản trị Lean nhất là các công ty hàng đầu của Nhật bản

Lean Manufacturing, còn gọi là Lean Production, là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất Lợi ích chính của hệ thống này là giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, và rút ngắn thời gian sản xuất Cụ thể hơn, các mục tiêu bao gồm:

1 Phế phẩm và sự lãng phí - Giảm phế phẩm và các lãng phí hữu hình không cần thiết, bao gồm sử dụng vượt định mức nguyên vật liệu đầu vào, phế phẩm có thể ngăn ngừa, chi phí liên quan đến tái chế phế phẩm, và các tính năng trên sản phẩm vốn không được khách hàng yêu cầu;

Trang 9

2 Chu kỳ sản xuất - Giảm thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất bằng cách giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn

bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm;

3 Mức tồn kho - Giảm thiểu mức hàng tồn kho ở tất cả công đoạn sản xuất, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn Mức tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn;

4 Năng suất lao động - Cải thiện năng suất lao động, bằng cách vừa giảm thời gian nhàn rỗi của công nhân, đồng thời phải đảm bảo công nhân đạt năng suất cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những công

5 Tận dụng thiết bị và mặt bằng - Sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất hiệu quả hơn bằng cách loại bỏ các trường hợp ùn tắc và gia tăng tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian dừng máy;

6 Tính linh động – Có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp nhất;

7 Sản lượng – Nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian dừng máy, công ty có thể gia tăng sản lượng một cách đáng kể từ cơ sở vật chất hiện có Hầu hết các lợi ích trên đều dẫn đến việc giảm giá thành sản xuất – ví dụ như, việc sử dụng thiết bị và mặt bằng hiệu quả hơn dẫn đến chi phí khấu hao trên đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn, sử dụng lao động hiệu quả hơn sẽ dẫn đến chi phí nhân công cho mỗi đơn vị sản phẩm thấp hơn và mức phế phẩm thấp hơn sẽ làm giảm giá vốn hàng bán

Trang 10

Một cách hiểu khác về Lean Manufacturing đó là việc nhắm đến mục tiêu: với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào thấp hơn – ít thời gian hơn, ít mặt bằng hơn, ít nhân công hơn, ít máy móc hơn, ít vật liệu hơn và ít chi phí hơn

Khi công ty Lantech, một công ty sản xuất thiết bị của Mỹ hoàn tất việc triển khai Lean năm 1995, công ty cho biết đã đạt được các cải tiến sau so với hệ thống sản xuất theo lô sản phẩm trong năm 1993:

 Mặt bằng sản xuất trên mỗi máy giảm 45%;

 Phế phẩm giảm 90%;

 Chu kỳ sản xuất giảm từ 16 tuần xuống còn 5 ngày 14 giờ; và

 Thời gian giao hàng giảm từ 4 - 20 tuần xuống còn 1 - 4 tuần

Nhiều khái niệm về Lean Manufacturing bắt nguồn từ Hệ thống sản xuất Toyota (TPS) và đã được dần triển khai xuyên suốt các hoạt động của Toyota từ những năm 1950 Từ trước những năm 1980, Toyota đã ngày càng được biết đến nhiều hơn về tính hiệu quả trong việc triển khai hệ thống sản xuất Just-In-Time (JIT) Ngày nay, Toyota thường được xem là một trong những công ty sản xuất hiệu quả nhất trên thế giới và là công ty đã đưa ra chuẩn mực về điển hình áp dụng Lean Manufacturing Cụm từ “Lean Manufacturing” hay “Lean Production” đã xuất hiện lần đầu tiên trong quyển Cỗ máy làm thay đổi Thế giới (The Machine that Changed the World) xuất bản năm 1990

Lean Manufacturing đang được áp dụng ngày càng rộng rãi tại các công ty sản xuất hàng đầu trên toàn thế giới, dẫn đầu là các nhà sản xuất ôtô lớn và các nhà

Ngày đăng: 22/02/2019, 15:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w