tài liệu là bức tranh toàn cảnh về XK VN 2007 - 2012, định hướng đến năm 2020, hướng phát triển bền vững, số liệu tìm kiếm mới...
Trang 1KHOA THƯƠNG MẠI
Đà Nẵng, 5/2013
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ 2
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Phát triển bền vững 5
1.2 Xuất khẩu bền vững 6
1.2.1 Khái niệm và nội dung xuất khẩu bền vững 6
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững 8
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 12
2.1 Tình hình chung 12
2.2 Xuất khẩu theo thị trường 14
2.3 Xuất khẩu theo mặt hàng 16
2.4 Sự phù hợp và dịch chuyển của các mặt hàng theo thị trường 18
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam 21
2.5.1 Các yếu tố đầu vào nhập khẩu và quan hệ với xuất khẩu 22
2.5.2 Quốc gia nhỏ tham gia thị trường toàn cầu 23
2.5.3 Chính sách và chương trình khuyến khích xuất khẩu 24
2.5.4 Chuyển đổi cơ cấu phù hợp với định hướng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa 25
2.6 Đánh giá hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với các tiêu chí phát triển bền vững 25
2.6.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 25
2.6.2 Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu 26
Trang 32.6.3 Đóng góp của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô 27
2.6.4 Xuất khẩu và các vấn đề môi trường 28
2.6.5 Xuất khẩu và tác động đến các vấn đề xã hội 30
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM 31
3.1 Định hướng phát triển xuất khẩu bền vững 2011- 2020 31
3.1.1 Định hướng chung 31
3.1.2 Định hướng phát triển ngành hàng 31
3.1.3 Định hướng phát triển thị trường 32
3.2 Một số chính sách và giải pháp định hướng phát triển xuất khẩu bền vững 33
3.2.1 Giải pháp chung 33
3.2.2 Giải pháp cụ thể 34
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam
Biểu đồ 3: Khả năng cung ứng nội địa và tăng trưởng cầu thị trường quốc tế
của hàng xuất khẩu Việt Nam 2011
16
Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 2012 và so sánh với
năm 2011 của Việt Nam
17
Biểu đồ 5: Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính 2012 và so sánh
với năm 2011 của Việt Nam
19
Biểu đồ 6: Dung lượng thị trường và mức tăng trưởng cung của thế giới của
hàng nhập khẩu của Việt Nam 2011
21
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển bền vững đang trở thành xu thế tất yếu mang tính toàn cầu, là mục tiêu phấn
đấu của các quốc gia trên thế giới Xét một cách chung nhất, phát triển bền vững là sự phát
triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến việc thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ trong tương lai Đó là sự đảm bảo về chất của sự phát triển, sự hài hòa
giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường
Trang 5Ở Việt Nam, phát triển xuất khẩu là định hướng chiến lược quan trọng trong đường lốiphát triển kinh tế Trong những năm đổi mới, xuất khẩu là một trong những động lực chủ yếucủa tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường Tuynhiên, xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua chưa bền vững Chất lượng tăng trưởngxuất khẩu chưa cao, chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, xuất khẩu chưa thể hiện xu thế côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Xuất khẩu còn thâm dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, gây ônhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái Hoạt động xuất khẩu làm nảy sinh một số vấn đề
về xã hội như bất bình đẳng trong việc chia sẻ lợi ích từ xuất khẩu
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai đoạn phát triển nhanh và bền vững,cần thiết phải khắc phục những hạn chế nói trên Cụ thể là cần có những chính sách để nângcao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng giá trị,hạn chế khai thác tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường Xuất khẩu phải góp phần vàogiải quyết các vấn đề xã hội như tăng việc làm, thu nhập, hạn chế bất bình đẳng trong phânphối thu nhập
Đảm bảo phát triển xuất khẩu bền vững cần có những chính sách đúng đắn và phù hợp,được xây dựng trên cơ sở khoa học, tính đến một cách hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội,môi trường Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc xây dựng chính sách phát triển xuất khẩuchưa thực sự dựa trên các căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững Chính vì vậy,cần có tiêu chí khoa học làm căn cứ cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách đảm bảo pháttriển xuất khẩu bền vững Đề án của em sẽ tập trung làm rõ khái niệm, nội dung và tiêu chícủa xuất khẩu bền vững, đánh giá thực trạng xuất khẩu của Việt Nam 2005- 2012 cũng nhưhoạt động xuất khẩu Việt Nam theo các tiêu chí phát triển bền vững và đề xuất một số giảipháp nhằm phát triển xuất khẩu bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 6CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Phát triển bền vững
Quan niệm “phát triển bền vững” xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế
kỷ 20 và chính thức được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của
chúng ta” của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới thuộc Liên hiệp quốc vào năm 1987
với hàm ý “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của hiện
tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Những năm sau đó, trên bình diện quốc tế, vấn đề phát triển bền vững ngày càng đượcnhiều các quốc gia quan tâm và trở thành yêu cầu phát triển trên phạm vi toàn cầu Tại Hộinghị thượng đỉnh quốc tế tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992, các quốc gia đã đồng thuậnthông qua tuyên bố Rio, xác định các hành động cho sự phát triển bền vững của toàn thế giớitrong thế kỷ thứ 21 Đây là những nguyên tắc chung nhất để các quốc gia có thể vận dụng vàoviệc xây dựng các nguyên tắc phát triển bền vững cho phù hợp với điều kiện của nước mình.Sau Hội nghị này, Chính phủ nhiều nước đã xây dựng chương trình Nghị sự 21 quốc gia.1
Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được nhận thức khá sớm và ngày càngđược hoàn thiện, thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng Ngay từ Đại hội lầnthứ III (năm 1960) và Đại hội lần thứ IV (năm 1976), Đảng ta đã đặt ra mục tiêu rõ ràng:
“Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội lần thứ VII, Đảng ta đã
đề ra: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa,
bảo vệ môi trường”; Đại hội VIII đã nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”; Đại hội
lần thứ IX đã thông qua mục tiêu chiến lược 10 năm (2001-2010) tập trung: “Phát triển
Trang 7nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; Đại hội lần thứ X chỉ rõ: “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp
độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.
Quán triệt quan điểm của Đảng, Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt
Nam giai đoạn 2011-2020 cũng đã khẳng định rất rõ mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng nền
nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”.
Như vậy, cho đến nay, các khái niệm về phát triển bền vững (PTBV ) tuy có sự khác
nhau ở phạm vi, nhưng đều phản ánh bản chất chung của phát triển là sự kết hợp giữa pháttriển kinh tế với các vấn đề xã hội, môi trường một cách hài hòa, linh hoạt và ổn định
1.2 Xuất khẩu bền vững
1.2.1 Khái niệm và nội dung xuất khẩu bền vững
Vận dụng lý thuyết phát triển bền vững đối với lĩnh vực xuất khẩu, xuất khẩu bềnvững là sự duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuấtkhẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội vàbảo vệ môi trường
Theo định nghĩa này, xuất khẩu bền vững (XKBV) là sự kết hợp hài hòa hai nội dung.Nội dung thứ nhất là duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, đảm bảo chấtlượng tăng trưởng được nâng cao Nội dung thứ hai là đảm bảo yêu cầu về sự hài hòa giữa cácmặt của PTBV: kinh tế, xã hội, môi trường
Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế, là một bộ phận của hoạt động kinh tế nói chung,
do đó phát triển xuất khẩu bền vững cũng giống như phát triển kinh tế bền vững phải duy trìđược tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, đảm bảo chất lượng tăng trưởng trên cơ sở tăng giá trị
Trang 8gia tăng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng hiện đại, sức cạnh tranh củahàng hóa xuất khẩu ngày càng được nâng cao Tăng trưởng xuất khẩu không liên tục, chứađựng nhiều rủi ro tăng trưởng khi có biến động lớn do cơ cấu không hợp lý, sức cạnh tranhhàng hóa xuất khẩu yếu kém, sụt giảm tốc độ xuất khẩu gây nên bất ổn kinh tế vĩ mô thìkhông thể coi là XKBV.
Xuất khẩu bền vững phải đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa của PTBV: kinh tế, xã hội,môi trường Xuất khẩu tăng trưởng cao và liên tục, chất lượng được nâng cao nhưng xuấtkhẩu chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ônhiễm môi trường, tức là đánh đổi môi trường để có được kim ngạch xuất khẩu cao thì khôngthể coi là xuất khẩu bền vững Hoặc là, xuất khẩu chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm người,nhất là trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên Trường hợp này thường xảy ra ở nhiềunước có nền dân chủ phát triển thấp, độc tài, tập trung quyền lực cao độ Trong trường hợpnày, chia sẻ lợi ích xuất khẩu không công bằng thì cũng không thể coi đây là xuất khẩu bềnvững
Như vậy, xuất khẩu bền vững phải là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng xuấtkhẩu và các mục tiêu ổn định kinh tế, xã hội và cải thiện môi trường Tuy nhiên, trong nhữnggiai đoạn phát triển khác nhau, việc đảm bảo sự hài hòa giữa các mặt của PTBV là khác nhau.Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, giai đoạn tích lũy tư bản, tăng trưởng xuất khẩucũng như tăng trưởng kinh tế phải dựa vào tài nguyên thiên nhiên, phát triển các ngành côngnghiệp có thể gây ô nhiễm Các quốc gia phải đánh đổi môi trường để có được sự tăng trưởngkinh tế Đây là mô hình phát triển xuất khẩu theo chiều rộng Tuy nhiên, mức độ đánh đổikhác nhau ở các nước do chính sách phát triển của chính phủ Chẳng hạn, các nước Đông Átheo đuổi mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu thành công hơn các nước Đông Nam Á trongvấn đề môi trường và xã hội Các nước Đông Á có nền kinh tế bền vững hơn, xã hội côngbằng hơn và môi trường được gìn giữ hơn Đó là do các nước Đông Á đã có mô hình phát
Trang 9triển hợp lý hơn, tạo ra những điều kiện để nhanh chóng chuyển từ mô hình tăng trưởng theochiều rộng (dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động rẻ) sang mô hình tăng trưởng theo chiềusâu, hạn chế khai thác tài nguyên, sử dụng công nghệ và chất xám Thành công của các nướcĐông Á dựa trên một nền giáo dục chất lượng cao, một chính phủ năng động và trong sạch,một nền kinh tế năng động và có sức cạnh tranh quốc tế Như vậy, XKBV phải dựa vào môhình tăng trưởng theo chiều sâu, trên cơ sở khai thác các lợi thế cạnh tranh do các yếu tố thểchế, chất lượng lao động, công nghệ mang lại.
Một vấn đề khác cũng cần chú ý khi nghiên cứu xuất khẩu bền vững là tính bềnvững của hoạt động xuất khẩu phải được xem xét trong dài hạn Tăng trưởng xuất khẩucao trong ngắn hạn trên cơ sở khai thác các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có mặc dù mang lạihiệu quả kinh tế cao (thu được nhiều ngoại tệ) chưa hẳn là xuất khẩu bền vững nếu chỉxuất khẩu hàng thô, có giá trị gia tăng thấp, làm cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môitrường, đem lại lợi ích cho một bộ phận tham gia xuất khẩu
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững
1.2.2.1 Các tiêu chí đánh giá tính ổn định và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu
i- Quy mô và nhịp độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất khẩu trong một thời gian nhấtđịnh Chỉ tiêu này thể hiện việc duy trì quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Đó là tổng kimngạch xuất khẩu hàng năm và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm Quy mô kim ngạch xuấtkhẩu được thể hiện ở chỉ tiêu tỷ trọng KNXK một nước trong tổng KNXK của khu vực hoặc thếgiới Tốc tăng trưởng xuất khẩu bình quân cần được so sánh với tốc độ tăng trưởng của GDP.Thông thường, ở những nước tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu hợp lý là mức cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 2 - 2,5 lần Chẳng hạn như ở nước ta,giai đoạn từ 1990-2000, xuất khẩu tăng bình quân 20%/năm, GDP tăng bình quân khoảng 7%
Trang 10ii- Tỷ trọng của xuất khẩu trong GDP cũng là một chỉ số để đo lường tính bền vững củahoạt động xuất khẩu về kinh tế Theo đó, tỷ trọng xuất khẩu trong GDP tăng nhanh Chỉ sốnày còn thể hiện độ mở của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
iii- Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu được thể hiện ở cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàngcũng như cơ cấu xuất khẩu theo mức độ chế biến Chẳng hạn, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàngcông nghệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một nước thể hiện trình độ công nghiệp hóacủa nước đó cũng như mức độ tăng giá trị của hàng hóa xuất khẩu
iv- Mức độ gia tăng giá trị của hàng hóa xuất khẩu Đây là chỉ số rất quan trọng đểđánh giá tính hiệu quả của hoạt động xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh của hàng hóaxuất khẩu
v- Tính bền vững của hoạt động xuất khẩu còn được thể hiện qua một số yếu tố khác nhưchất lượng hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng, dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, kết cấu hạ tầngkinh tế và xã hội, hệ thống phân phối
1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về kinh tế
i- Mức độ đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng GDP, thể hiện ở tỷ lệ phần trăm củaxuất khẩu trong tăng trưởng GDP hoặc điểm phần trăm của xuất khẩu trong mức tăng GDP
ii- Chỉ số nợ trên xuất khẩu Về thực chất, chỉ số này thể hiện mức độ an toàn về tàichính của một nước, tức là mức độ đóng góp của xuất khẩu vào dự trữ ngoại tệ và cân bằngcán cân thanh toán Nếu chỉ số nợ trên xuất khẩu tăng liên tục trong thời gian dài, điều nàycho thấy cả nợ và thâm hụt cán cân thanh toán sẽ không có khả năng chịu đựng Trái lại, nếuchỉ số nợ có xu hướng giảm xuống, thì nợ sẽ có khả năng chịu đựng được và nước vay nợ cókhả năng trả nợ của mình
iii- Tỷ lệ giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu cũng thể hiện mức độ ổnđịnh vĩ mô của nền kinh tế Nếu chỉ số tăng xuất khẩu/chỉ số tăng nhập khẩu lớn hơn 1, cho
Trang 11thấy sự lành mạnh của cán cân thương mại nhờ tăng trưởng xuất khẩu Đây cũng là một chỉ sốthể hiện tính lành mạnh của cán cân tài khoản vãng lai.
1.2.2.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về môi trường
i- Mức độ ô nhiễm môi trường được đo bằng nồng độ các thành phần môi trường khôngkhí, nước, đất, xử lý chất thải rắn Chẳng hạn như mối quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu vàmức độ ô nhiễm hay mức độ cải thiện các thành phần môi trường Những ngành sản xuất chịu tácđộng lớn đến các thành phần môi trường là nông nghiệp, dệt may, da giày, hóa chất, thép, ximăng
ii- Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo và mức độ khai thác và sử dụng cácnguồn tài nguyên không tái tạo Chẳng hạn, suy giảm đa dạng sinh học hay cải thiện nó dướitác động của việc mở rộng xuất khẩu như: xuất khẩu thủy sản và thu hẹp diện tích rừng ngậpmặn, tăng trưởng xuất khẩu lâm sản và thu hẹp diện tích rừng nguyên sinh, động thực vật quýhiếm
iii- Tỷ lệ các doanh nghiệp đạt được các chứng chỉ môi trường Chẳng hạn như tỷ lệ
các doanh nghiệp có chứng nhận tiêu chuẩn ISO 14000
iv- Mức độ đóng góp của xuất khẩu vào kinh phí bảo vệ môi trường cũng là một trongnhững chỉ tiêu đánh giá tính bền vững về môi trường của hoạt động xuất khẩu Trên thực tếkhó có thể tách bạch phần đóng góp của xuất khẩu dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường.Tuy nhiên, có thể thấy được phần đóng góp này thông qua đóng góp của xuất khẩu vào tăngtrưởng kinh tế
v- Khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động xuất khẩu để hạn chế cáctác động tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân Chỉ tiêu nàyđược phản ánh thông qua các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ môi trường
1.2.2.4 Các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về xã hội
Trang 12i- Mức độ gia tăng việc làm từ việc mở rộng xuất khẩu Điều này có thể nhận biết đượcqua việc phân tích mối quan hệ giữa mở rộng xuất khẩu và thu hút lao động, tạo ra những việclàm mới.
ii- Mức độ cải thiện thu nhập của dân cư từ hoạt động xuất khẩu Các chỉ số đo lườngmức thu nhập, tỷ lệ nghèo đói có thể được áp dụng để đánh giá tính bền vững về xã hội củahoạt động xuất khẩu
iii- Tỷ trọng các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu áp dụng các biện pháp để cảithiện môi trường và điều kiện lao động, chẳng hạn như áp dụng tiêu chuẩn SA 8000 cũng làmột chỉ tiêu khác đánh giá tính bền vững về xã hội của xuất khẩu
iv- Phát triển bền vững xuất khẩu về mặt xã hội cũng có thể đánh giá thông qua việcphân tích cơ chế chia sẻ lợi ích từ hoạt động xuất khẩu, các vụ biểu tình, đình công của côngnhân, khảo sát về bất bình đẳng thu nhập…
v- Tính bền vững của hoạt động xuất khẩu còn được đánh giá thông qua các chính sáchkhuyến khích xuất khẩu như trợ cấp xuất khẩu, hoàn thuế xuất khẩu, bảo hiểm xuất khẩu
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM
2.1 Tình hình chung
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2012 tổngkim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 228,36 tỉ USD, tăng 12,13% so với năm 2011 Trong đó, trị
Trang 13giá xuất khẩu đạt gần 114,57 tỉ USD tăng 18,22% so và trị giá nhập khẩu đạt gần 113,79 tăng6,6% so với năm 2011 Lần đầu tiên kể từ 20 năm trở lại đây(không kể năm 2009), cán cânthương mại của Việt Nam thặng dự, xuất siêu 0,78 tỉ USD đây là tín hiệu đáng mừng cho hoạtđộng thương mại của Việt Nam trong thời gian sắp tới.
Ngoài ra, năm 2012 đánh dấu bước tăng trưởng đáng kể từ khu vực vốn đầu tư nướcngoài FDI khi kim ngạch xuất khẩu từ khu vực FDI đạt gần 72,3 tỷ USD chiếm 63,09 % tổngkim ngạch xuất khẩu cả nước Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu từ khu vực này đạt gần60,3 tỷ USD tăng 23,5% so với năm trước
Quy mô xuất khẩu tăng từ 32,44 tỷ USD năm 2005 đến 114,57 năm 2012, tăng hơn 3,5lần Năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến nay đã có
18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhómhàng trên 2 tỷ USD Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220nước và vùng lãnh thổ
Trong 7 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế Cácđiều kiện nghiêm ngặt của thị trường nhập khẩu đã khuyến khích áp dụng các quy định về môitrường và an toàn vệ sinh thực phẩm, phương pháp sản xuất thân thiện môi trường Bên cạnh
đó, phát triển xuất khẩu góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ laođộng, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn Tuy nhiên, mô hình tăng trưởngtrong tương lai của Việt Nam phải chuyển đổi từ các ngành xuất khẩu thâm dụng lao độngsang các ngành mang hàm lượng tri thức và công nghệ cao đang là một bài toán chưa có lờigiải Nhưng ngành xuất khẩu hiện tại càng bền vững thì khả năng chuyển đổi càng khó khăn.Chuyển đổi mà không suy nghĩ đến việc toàn dụng lao động và dịch chuyển lao động sangcác ngành mới thì thất nghiệp gia tăng sẽ kéo theo những hệ lụy về an ninh và xã hội hơn nữa
Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố
về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ Chính sách phát triển xuất khẩu trong thời gian
Trang 14qua quá chú trọng đến chỉ tiêu về số lượng, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng và hiệu quảxuất khẩu Chúng ta chưa khai thác một cách hiệu quả lợi thế cạnh tranh xuất khẩu dựa vàocông nghệ, trình độ lao động, quản lý…để tạo ra các nhóm hàng xuất khẩu có khả năng cạnhtranh cao, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, có khả năng tham gia vào khâu tạo ra giátrị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu Bên cạnh đó, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơlàm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường Tăngtrưởng xuất khẩu chủ yếu dựa vào việc khuyến khích khai thác tài nguyên thiên nhiên và sửdụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào gây ô nhiễm Chia sẻ lợi ích từ xuất khẩu chưa thật
sự bình đẳng, đặc biệt là lợi ích thu được từ các nhóm hàng xuất khẩu có nguồn gốc thiênnhiên Cơ hội về thu nhập và làm việc dựa vào xuất khẩu chưa thật sự bền vững đối với nhóm
xã hội dễ bị tổn thương là người có thu nhập thấp, khu vực nông nghiệp, khoảng cách giàunghèo gia tăng
2.2 Xuất khẩu theo thị trường
Sử dụng dữ liệu tổng hợp của Trademap- ITC để đánh giá Top 10 thị trường nhập khẩucao nhất của Việt Nam tính từ năm 2006 đến nay là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc, Úc, Malaysia, Thái Lan, Thụy Sỹ, Đài Loan, Pháp Ngoài Top 10 thì trường nhập khẩucủa Việt Nam, các thị trường khác sau Top 10 tính tổng giá trị cho 6 năm trở lại đây làCanada, Thỗ Nhĩ Kỳ, Braxin, Nam Phi, Cộng hòa Séc, Chi lê
Trang 15Biểu đồ 2: Tăng trưởng cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu trọng điểm Việt Nam 2011
Biểu đồ quan hệ ba biến giữa (1) mức tăng trưởng xuất khẩu hằng năm củaViệt Nam với (2) tăng trưởng nhập khẩu của các thị trường xác định các vị trí các nước trêntrục tọa độ, kích thước bóng thể hiện thị phần nhập khẩu của đối tác trong tổng nhập khẩutoàn cầu tính cho tất cả các loại hàng hóa Hình trên cho thấy, mức tăng trưởng xuất khẩu củaViệt Nam so với mức tăng nhập khẩu chung của đối tác là cao hơn ( bong màu xanh), trừ cácthị trường Singapore và Úc có mức tăng trưởng nhập khẩu cao hơn Các thị trường năng độngnhư Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kong vừa có thị phần lớn vừa tăng trưởng nhanh và xuấtkhẩu của Việt Nam góp phần lớn vào sự tăng trưởng nhanh chóng này
Trong giai đoạn từ năm 2006- 2012, mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm chocác thị trường của Việt Nam nằm trong ngưỡng từ 10- 20%, trong khi các thị trường này đang
Trang 16ổn định và nhiều thị trường có xu hướng tăng trưởng âm Điều này ngụ ý rằng cạnh tranh sẽcàng gay gắt hơn và Việt Nam được lựa chọn là quốc gia cung ứng các sản phẩm hàng hóanguyên vật liệu thô với chi phí thấp hoặc là quốc gia được chọn thuê ngoài trong việc gia cônghàng dệt may và giày dép.
2.3 Xuất khẩu theo mặt hàng
Trong một thời kỳ dài kể từ năm 1986 đến nay, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu củaViệt Nam vẫn là than, dầu thô, gạo, cà phê, hạt tiêu, dệt may, giày dép và phụ kiện, thủy sản
và hàng điện tử
Phân tích 20 mặt hàng trọng điểm của Việt Nam xuất khẩu trong giai đoạn 2007- 2011trong Hình cho thấy mức quan heej của 3 yếu tố (1) mức độ tăng trưởng nhập khẩu hàng nămtrên thế giới với (2) thị phần của Việt Nam trên thế giới và kích thước bong thể hiện giá trịxuất khẩu , màu xanh thể hiện việc tăng thị phần của phía Việt Nam trong tổng thị phần toàncầu và màu vàng thể hiện việc giảm thị phần của Việt Nam trong tổng toàn cầu
Trang 17Biểu đồ 3: Khả năng cung ứng nội địa và tăng trưởng cầu thị trường quốc tế của hàng xuất khẩu Việt Nam 2011
Hai mặt hàng chúng ta mất thị phần lớn nhất là nhiên liệu khoáng sản dầu mỏ (mã HS27) và nồi hơi, máy móc, lò phản ứng hạt nhân ( mã HS 84) Ba nhóm tăng trưởng thị phầncao của Việt Nam là điện và thiết bị điện tử ( mã HS 85), giày dép (mã HS 64) và quần áophụ kiện dệt và không dệt ( mã HS 62)
Tăng trưởng thương mại toàn cầu cho tất cả các mặt hàng giai đoạn 2007- 2011 đặtmức 5%, có nghĩa là toàn cầu tăng trưởng nhập khẩu cũng tăng 5% So với mức bình quân thếgiới để thấy một số khác biệt theo mặt hàng của Việt Nam Xuất khẩu mặt hàng của Việt Namchủ yếu rơi vào hai khu vực chính là (1) tăng trưởng thị phần trong khu vực tăng trưởng toàncầu và (2) tăng trưởng thị phần trong khu vực suy giảm toàn cầu Ở khu vực 1 gồm các ngành
Trang 18liên quan đến thực phẩm thiết yếu như: thủy sản, thịt, cá, chế biến hải sản ngũ cốc…Ở khuvực 2 gồm các ngành như: nội thất, đồ gỗ, quần áo, phụ kiện không dệt.
2.4 Sự phù hợp và dịch chuyển của các mặt hàng theo thị trường
Một số nhóm mặt hàng chính gắn với các thị trường nhập khẩu và mức độ thay đổiđược liệt kê và phân loại dưới đây theo ngành Mỗi ngành có những đặc thù riêng trong giaiđoạn biến động mạnh về kinh tế và chính trị trên toàn thế giới Tuy nhiên, việc sản xuất cácmặt hàng như thực phẩm giúp cho Việt Nam đững vững trong giai đoạn biến động này
Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 2012 và so sánh với năm 2011 của Việt Nam
Gạo: Lượng gạo xuất khẩu của cả nước trong tháng 12 là 518 nghìn tấn, giảm 13,8%,
trị giá đạt 245 triệu USD, giảm 16,2% so với tháng trước Tính đến hết năm 2012, lượng xuấtkhẩu đạt hơn 8 triệu tấn, tăng 12,7% và trị giá đạt 3,67 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với năm2011
Trang 19Trung Quốc là thị trường lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt Nam với hơn 2 triệu tấn,tăng gấp gần 6 lần so với năm trước và chiếm 26% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước.Tiếp theo là Philippines 1,1 triệu tấn, tăng 14,2%; Indonessia 930 nghìn tấn, giảm 50,6%;Malaysia 765 nghìn tấn, tăng 44,2%; Bờ Biển Nga 480 nghìn tấn, tăng 64,4%,
Cà phê: Tổng lượng cà phê xuất khẩu cả nước năm 2012 là 1,73 triệu tấn, trị giá đạt
hơn 3,67 tỷ USD, tăng 37,8% về lượng và 33,4% về trị giá so với năm trước
Hạt điều: Lượng hạt điều xuất khẩu năm 2012 đạt 221 nghìn tấn, tăng 24,7% và trị giá
là 1,47 tỷ USD, giảm 0,2% so với năm 2011 Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu về tiêu thụđiều của Việt Nam, đạt 61 nghìn tấn, tăng 26,8% và chiếm gần 1/3 lượng điều xuất khẩu
Cao su: Do đơn giá bình quân cao su xuất khẩu năm 2012 giảm tới 29,4% so với năm
2011 nên dù lượng tăng cao (đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 25,3%) nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉđạt đạt 2,86 tỷ USD, giảm 11,6% so với năm trước
Sắn và sản phẩm từ sắn: Tính đến hết năm 2012, xuất khẩu nhóm hàng này của cả
nước đạt 4,23 triệu tấn, tăng 57,7% và trị giá là 1,35 tỷ USD, tăng 40,8%
Trung Quốc là thị trường chính nhập khẩu sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam với lượng đạt3,76 triệu tấn, tăng 54,4% so với năm trước và chiếm 88,9% tổng lượng xuất khẩu nhóm hàngnày
Thủy sản: Tổng trị giá xuất khẩu cả năm 2012 đạt 6,09 tỷ USD giảm 0,3% so với năm
2011 Đối tác dẫn đầu nhập khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam trong năm 2012 là Hoa Kỳ với1,17 tỷ USD, tăng 0,7% Tiếp theo là EU 1,13 tỷ USD, giảm 16,7%; Nhật Bản 1,08 tỷ USD,tăng 6,8% và Hàn Quốc đạt 510 triệu USD, tăng 4%;…
Dầu thô: Tính đến hết tháng 12-2012, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 9,28
triệu tấn, tăng 12,7% và trị giá đạt 8,23 tỷ USD, tăng 13,6% (tương đương tăng 987 triệuUSD) so với năm 2011
Trang 20Than đá: Tính cả năm 2012, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là 15,2 triệu tấn,
giảm 11,4% với trị giá là 1,24 tỷ USD, giảm 24,1% so với cùng kỳ năm 2011
Trong năm 2012, lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang các thị trường chính đềugiảm so với cùng kỳ năm trước Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất nhập khẩu than đá củaViệt Nam với 12,1triệu tấn, giảm 9,9% và chiếm tới 80% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng nàycủa cả nước
Hàng dệt may: Tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2012 đạt 15,09 tỷ
USD, tăng 7,5% so với năm 2011
Biểu đồ 5: Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính 2012 và so sánh với năm
2011 của Việt Nam
Trong năm 2012, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục là 4 đối tác lớn nhất củahàng dệt may Việt Nam Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 12,96
tỷ USD, chiếm tới 86% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước
Điện thoại các loại và linh kiện: Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này năm 2012
đạt 12,72 tỷ USD, tăng 98,8% so với năm 2011
Trang 21Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong năm qua
là EU với 5,66 tỷ USD, tăng 93% và chiếm 44,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của
cả nước Tiếp theo là Hoa Kỳ gần 1,5 tỷ USD, tăng gấp 3 lần; Nga 771 triệu USD, tăng43,8%; Hồng Kông 530 triệu USD, giảm 19,8%;… so với năm 2011
Giày dép các loại: Tính đến hết năm 2012, xuất khẩu nhóm hàng này đạt 7,26 tỷ
USD, tăng 10,9% so với năm 2012 Giày dép của Việt Nam năm 2012 chủ yếu được xuất sangcác thị trường như EU đạt 2,65 tỷ USD, tăng 1,6%; Hoa Kỳ đạt 2,24 tỷ USD, tăng 17,6%;Nhật Bản đạt 328 triệu USD, tăng 31,9%; Trung Quốc đạt 301 triệu USD, tăng 19,1%;… sovới năm 2011
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam
Theo kết quả điều tra, các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam đến từ bốnnhóm nhân tố chính, thứ nhất là thiếu vốn( 24,36% rất khó khăn và 24,49% khá khón khăn),thiếu nguyên liệu đầu vào ( 16,9% rất khó khăn và 26,76% khá khó khăn), yêu cầu thị trườngphức tạp (21,95% rất khó khăn và 37,8% khá khó khăn ) và giá thành các chi phí vận chuyểnphân phối và lưu trữ tại Việt Nam cao đặc biệt là các chi phí vận động và bôi trơn trong việcthực hiện các thủ tục hành chính được tính vào chi phí Doanh nghiệp có thể tiết giảm chi phíđầu vào, tối thiểu lương và quản trị nhân sự hiệu quả nhưng lại không thể và không có cáchnào để giảm các chi phí giao dịch xã hội mà các chi phí này cấu thàng một phần không nhỏtrong giá thành để có thể cạnh tranh
Do các mặt hàng Việt Nam không đòi hỏi công nghệ cao nên sử dụng công nghệ đại trà
và cơ cấu nhập khẩu cho thấy đây là các công nghệ ít tiên tiến ( so sánh tương đối với Hoa Kỳ
và Châu Âu) vì ta chủ yếu nhập công nghệ từ Trung Quốc và ASEAN) Tương tự, các ngànhnông nghiệp và gia công xuất khẩu tại Việt Nam chưa đến mức đòi hỏi nguồn nhân lực có trithức cao nhưng lại cần các kỹ năng thực hành giỏi Trong khi lao động phổ thông chuyển đổi