1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2007 2018

98 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố của Việt Nam là cần thiết để từ đó gợi ý những chính sách phân bổ chi ngân sách nhà nước cho đầu

Trang 1

- -

BÙI THỊ HỒNG VÂN

TÁC ĐỘNG CỦA CHI ĐẦU TƯ CÔNG

ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2007 - 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

Việt Nam giai đoạn 2007 - 2014” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, năm 2016

Bùi Thị Hồng Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô khoa sau đại học của Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học này

Và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến người hướng dẫn khoa học của tôi - TS Phạm Đình Long đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy Cô, gia đình bạn bè và đồng nghiệp sức khoẻ

và thành đạt

Tác giả

Bùi Thị Hồng Vân

Trang 4

TÓM TẮT

Đầu tư công luôn là một nhiệm vụ tất yếu và cần thiết ở mọi quốc gia Vì đây là một nhiệm vụ không những liên quan đến sự phát triển kinh tế của đất nước, đầu tư công còn liên quan đến việc giải quyết những nhu cầu cấp bách, thiết yếu nhất của đời sống xã hội Do đó, bên cạnh việc đầu tư những công trình, dự án phục vụ cho phát triển kinh tế thì việc đầu tư các công trình phúc lợi xã hội, dịch vụ công cũng được ưu tiên trong chính sách phát triển của nước ta Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của chi đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở quy mô cấp tỉnh/vùng còn rất

ít Với mức phân bổ của ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng chi ngân sách nhà nước của cả nước Việc nghiên cứu tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố của Việt Nam là cần thiết để từ đó gợi ý những chính sách phân bổ chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam

Dựa trên mô hình tăng trưởng nội sinh và kế thừa các nghiên cứu trước, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động đến tăng trưởng kinh tế: chi đầu tư công (chi ngân sách địa phương cho đầu tư xây dựng cơ bản), chi đầu tư từ khu vực tư nhân, chi đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong nền kinh tế và giá trị xuất khẩu hàng hóa của địa phương

Để đánh giá tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, tác giả sử dụng dữ liệu chéo theo thời gian (dữ liệu bảng) của 63 tỉnh, thành trong giai đoạn 2007-2014, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng FEM, REM, XTSCC để ước lượng mô hình, giải quyết vấn đề cần nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Chi đầu tư công có tác động dương cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với mức 1% đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam Các yếu tố khác: vốn đầu

tư từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và giá trị xuất khẩu hàng hóa đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố của Việt Nam

Trang 5

Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các địa phương cần ưu tiên phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các công trình trọng điểm, các công trình khai thác lợi thế của địa phương, vốn đầu tư cần phân bổ một cách hợp lý, hướng tới chất lượng và hiệu quả hơn là quy mô Bên cạnh đó, trong phân

bổ nguồn lực, phải luôn quan tâm đến các công trình phúc lợi xã hội, các dịch vụ công, các lĩnh vực, dự án mà không thể huy động đầu tư tư nhân Trước mắt cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về nguồn vốn đầu tư công, chống thất thoát, lãng phí; chú trọng công tác thẩm định, đảm bảo chất lượng các công trình, không đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tập trung nguồn lực ngân sách địa phương để giải quyết và hạn chế nợ đọng xây dựng cơ bản nhằm phát huy hiệu ứng tích cực của chi đầu tư công đối với nền kinh tế, qua đó thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

PHỤ LỤC viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH VẼ x

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1.Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Dữ liệu nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 3

1.8 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5 2.1 Cơ sở lý thuyết 5

2.1.1 Các khái niệm 5

2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế 7

2.1.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu Chính phủ và tăng trưởng kinh tế 8

2.1.4 Một số mô hình lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 12

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước 17

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 17

Trang 7

2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài 20

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 24 3.1 Mô hình nghiên cứu 24

3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu: 24

3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình: 26

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 31

3.2.1 Dữ liệu bảng 31

3.2.2 Nguồn dữ liệu 32

3.3 Phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 33

3.3.1 Kiểm định đa cộng tuyến các biến độc lập: 34

3.3.2 Kiểm định tính dừng của dữ liệu bảng: 35

3.3.3 Kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp 36

3.3.4 Kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi 36

3.3.5 Phương pháp hồi quy XTSCC: 37

3.4 Quy trình nghiên cứu 37

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CHI ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 38

4.1 Thực trạng chi đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành Việt Nam 38

4.1 Một số vấn đề về chi đầu tư công ở các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007-2014 38 4.1.2 Thực trạng về chi đầu tư công ở các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007-2014 42

4.1.3 Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố và các yếu tố liên quan đến tăng trưởng 46

4.1.4 Xu hướng tăng trưởng sản lượng kinh tế, chi đầu tư công, chi đầu tư khu vực tư nhân và chi đầu tư khu vực FDI ở các tỉnh, thành phố 52

4.2 Phân tích kết quả tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế 53

4.2.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 53

Trang 8

4.2.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 55

4.2.3 Kiểm định đa cộng tuyến theo hệ số VIF 56

4.2.4 Kiểm định tính dừng của các biến độc lập 57

4.2.5 Kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 57

4.2.5.1 Giải thích các kiểm định của mô hình nghiên cứu 58

4.2.5.2 Phân tích kết quả hồi quy và suy diễn thống kê 59

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 64 5.1 Những điểm chính trong kết quả nghiên cứu 64

5.2 Các khuyến nghị chính sách 65

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 68

Trang 9

PHỤ LỤC

Trang

Phụ lục 1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 76

Phụ lục 2 Bảng ma trận tương quan 76

Phụ lục 3 Kiểm định đa cộng tuyến: Hệ số phóng đại phương sai VIF 77

Phụ lục 4 Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 78

Phụ lục 5 Lựa chọn phương pháp ước lượng FEM – REM 82

Phụ lục 6 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 85

Phụ lục 7 Kiểm định tự tương quan 85

Phụ lục 8 Kiểm định tương quan phần dư giữa các đơn vị chéo 85

Phụ lục 9 Kết quả hồi quy theo phương pháp XTSCC 86

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1 Tóm tắt và đo lường các biến trong mô hình 25

Bảng 3.2 Sự khác biệt với các nghiên cứu trước 26

Bảng 4.1 Tổng chi NSNN bình quân và chi đầu tư công bình quân các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007 – 2014 44

Bảng 4.2 GDP thực tế bình quân và chi đầu tư công bình quân các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007 – 2014 46

Bảng 4.3 So sánh xu hướng tăng trưởng sản lượng kinh tế, chi đầu tư công, chi đầu tư khu vực tư nhân và chi đầu tư khu vực FDI ở các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007 – 2014 52

Bảng 4.4 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 54

Bảng 4.5 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu 55

Bảng 4.6 Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu 56

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định tính dừng các biến độc lập mô hình nghiên cứu 57

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 57

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy các biến độc lập mô hình nghiên cứu 58

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

TrangHình 2.1: Mô hình mô tả sự cân bằng của nền kinh tế 08 Hình 2.2: Sự gia tăng mua hàng của Chính phủ trong giao điểm Keynes 10 Hình 2.3: Đường cong Rhan 11 Hình 2.4: Thuế suất tối ưu đối với tăng trưởng trong mô hình Robert Barro 13 Hình 4.1: Tốc độ tăng chi đầu tư công bình quân ở các tỉnh, thành phố trong

giai đoạn 2007-2014 42 Hình 4.2: Chi đầu tư công các tỉnh, thành phố bình quân giai đọan 2007-2014 43 Hình 4.3: Chi NSNN, chi đầu tư công và tỷ lệ chi NSNN cho đầu tư XDCB

trong tổng chi NSNN bình quân ở các tỉnh, thành phố 45 Hình 4.4: GDP thực tế và chi đầu tư công bình quân của các tỉnh, thành phố

giai đoạn 2007-2014 46 Hình 4.5: GDP thực tế năm 2014 và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân

các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007-2014 47 Hình 4.6: GDP thực tế bình quân và vốn đầu tư khu vực tư nhân bình quân

các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007- 2014 48 Hình 4.7: GDP thực tế bình quân và vốn đầu tư khu vực FDI bình quân các

tỉnh, thành phố giai đoạn 2007- 2014 48 Hình 4.8: Lực lượng lao động và GDP thực tế năm 2014 các tỉnh, thành phố 49 Hình 4.9: Lực lượng lao động và tốc độ tăng lực lượng lao động bình quân

giai đoạn 2007-2014 của các tỉnh, thành phố 50 Hình 4.10: GDP thực tế bình quân và giá trị xuất khẩu hàng hóa bình quân

của các tỉnh, thành phố qua các năm 51 Hình 4.11: GDP thực tế bình quân và giá trị xuất khẩu hàng hóa bình quân

của các tỉnh, thành phố giai đoạn 2007-2014 51 Hình 4.12: So sánh xu hướng tăng trưởng sản lượng kinh tế, chi đầu tư công,

chi đầu tư khu vực tư nhân, chi đầu tư khu vực FDI qua các năm 52

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB (The Asian Development Bank) : Ngân hàng Phát triển châu Á

ARDL (Autoregressive Distributed Lag) : Phân phối trễ tự hồi quy

ASEAN (Association of Southeast : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Asian Nations)

ECM (Error Components Model) : Mô hình các thành phần sai số

FDI (Foreign Direct Investment) : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ICOR (Incremental Capital - Output Ratio): Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

LSDV (Least Squares Dummy Variable) : Phương pháp biến giả bình phương tối thiểu NIEs (Newly Industrialized Countries) : Các nước công nghiệp mới

ODA (Official Development Assistance) : Vốn hỗ trợ phát triển chính thức

PPP (Public Private Partnership) : Hợp đồng đối tác công tư PPP

SURE (Seemingly-unrelated regression) : Ước lượng hồi quy không chắc chắn

VECM (Vector Error Correction Model) : Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Perkins và cộng sự (2006, trang 493-495) cho rằng đầu tư và tăng trưởng có mối quan hệ khắng khít nhau, đầu tư tác động tích cực tới tăng trưởng Ở nhiều quốc gia, đầu tư công là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong chi tiêu ngân sách hàng năm cũng như trong chiến lược phát triển lâu dài của chính phủ Vai trò kinh tế căn bản của đầu tư công là ở chỗ nó được tài trợ cho những dự án chú trọng trực tiếp đến lợi ích chung của cả cộng đồng chứ không chú trọng vào việc tạo ra lợi nhuận cho một nhà đầu tư cá nhân nào đó Ở những nước đang phát triển, chính phủ giữ vai trò chính trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở bao gồm đường giao thông, bến cảng, công trình cung cấp năng lượng, nước và hạ tầng bưu chính viễn thông Thêm vào đó, khu vực công sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng các trường học, bệnh viện, phòng khám và các trang thiết bị khác tại hầu hết các quốc gia kể cả ở những nước phát triển và những nước đang phát triển

Việt Nam là một trong những nước đang trên đà hội nhập sâu, rộng vào thị trường quốc tế, thực hiện phát triển toàn diện, xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng ngày càng đồng bộ, thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển vững chắc, hòa nhập vào sự phát triển chung của toàn thế giới Chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ sử dụng cho việc đầu tư xây dựng các kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng; chi cho các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn,

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm gần đây, thì chi đầu tư xây dựng cơ bản trong cơ cấu chi ngân sách Nhà nước gần như là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu và ngày càng liên tục tăng cao, chiếm tỷ trọng trên 30% trong tổng chi ngân sách nhà nước, cụ thể chi đầu tư xây dựng cơ bản tăng từ 64,8 nghìn tỷ đồng năm 2007 lên 179,8 nghìn

tỷ đồng năm 2014; nhiều dự án phát triển hạ tầng giao thông được khởi công xây dựng, nhu cầu xây dựng các công trình có vốn từ ngân sách Nhà nước, các dự án phát triển hạ tầng xã hội sử dụng vốn Nhà nước, vốn ODA, các công trình phục vụ

Trang 14

cho xây dựng xã nông thôn mới ngày càng tăng cao Cùng với đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng khởi sắc, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau tăng hơn năm trước

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã đề cập đến vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế như Phạm Thế Anh (2008), Hoàng Thị Chinh Thon

và các cộng sự (2010), Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014),

Tuy nhiên, để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Tác

động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 - 2014” để đánh giá và định lượng về mối quan hệ giữa chi đầu tư công và vấn đề tăng

trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích hiện trạng và định lượng tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2014

Từ kết quả phân tích đưa ra gợi ý chính sách trong phân bổ chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần nâng cao hiệu quả của chi đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Chi đầu tư công ở các tỉnh, thành phố (Chi đầu tư công từ ngân sách địa phương) có tác động đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành ở Việt Nam hay không?

(2) Nếu có thì mức độ tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến là mối liên hệ giữa chi đầu tư công và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn phân tích các nhân tố sau: tổng sản phẩm trong nước (GDP) của các tỉnh, thành phố đại diện cho tăng trưởng kinh tế; chi đầu

Trang 15

tư công (chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản), chi đầu tư từ khu vực

tư nhân, chi đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; lực lượng lao động trên 15 tuổi trong nền kinh tế; tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam

Kỳ nghiên cứu: dựa trên số liệu 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 08 năm từ 2007-2014 do Tổng cục Thống kê cung cấp

1.5 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập từ niên giám thống kê hàng năm của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2007-2014 do tổng cục Thống kê cung cấp

Dữ liệu áp dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu bảng với tập hợp các quan sát ở 63 tỉnh, thành phố và mỗi tỉnh theo thời gian 08 năm từ năm 2007 đến năm

2014, nên sẽ có 504 quan sát

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở các lý thuyết kinh tế và nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu để làm cơ sở phân tích Tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng để giải quyết các vấn đề về câu hỏi nghiên cứu trên cơ sở mô hình xây dựng và dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Tổng cục Thống kê, số liệu hàng năm của 63 tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 2007 đến năm 2014 Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đo lường tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, thông qua phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thống kê mô tả để thống kê phân tích dữ liệu

và kỹ thuật tổng hợp, so sánh để phân tích, nhận xét về vấn đề nghiên cứu

1.7 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa đề tài

Qua thực hiện tuần tự các bước trong phương pháp nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Trong đó, chi đầu tư công có tác động tích cực đến sản lượng của nền kinh tế các tỉnh, thành Bên cạnh đó, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư từ khu vực FDI, giá trị xuất khẩu hàng hóa và lực lượng lao động trên 15 tuổi cũng có đóng góp tích cực đến sản lượng của mỗi tỉnh, thành phố Bằng phương pháp phân tích định lượng, nghiên cứu cho thấy chính sách tài khóa -

Trang 16

trong đó chính sách chi đầu tư công của chính phủ cũng như của chính quyền các địa phương có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu phù hợp và chứng minh tính đúng đắn của lý thuyết Keynes trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam

Từ kết quả nghiên cứu này, ta thấy ý nghĩa của đề tài vận dụng các kiến thức

về kinh tế học, đặc biệt kinh tế lượng, để phân tích tác động của chi đầu tư công ở các tỉnh, thành phố đến tăng trưởng kinh tế

Tìm ra tác động, ảnh hưởng của chi đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố làm cơ sở khoa học để các tỉnh, thành phố tham khảo trong quá trình định hướng phân bổ chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản ở địa phương phục vụ công tác quản lý và điều hành ngân sách được tốt hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương

1.8 Kết cấu luận văn

Luận văn nghiên cứu gồm có năm chương và được trình bày như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu gồm vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu luận văn, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt kết quả nghiên cứu và những đóng góp từ kết quả nghiên cứu của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố

Chương 5: Kết luận kết quả nghiên cứu Gợi ý giải pháp từ kết quả nghiên cứu

và những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương này u n văn trình bày các khái niệm và cơ sở ý thuyết về chi đầu tư công (chi ng n sách nhà nư c cho đầu tư x y dựng cơ bản) và tăng trưởng kinh tế, các nh n t ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Sau đ ph n tích và nh n xét các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có trư c iên quan đến vấn đề nghiên cứu đ c cơ

sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3

Theo Hughes (2012), NSNN là một tài liệu phản ánh số thuế thu được và các khoản chi tiêu công của Chính phủ trong một năm NSNN có nhiều chức năng, xét

về góc độ tài chính NSNN đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự lành mạnh của toàn bộ nền kinh tế

2.1.1.2 Chi tiêu công (Chi Ngân sách nhà nước)

Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản

lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ.Chi tiêu công phản ánh giá trị của các loại hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước (Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài, 2009, trang 82)

Luật ngân sách nhà nước (2002), chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của

bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách

Trang 18

phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp

2.1.1.3 Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển

Luật ngân sách nhà nước (2002), chi đầu tư phát triển của ngân sách địa phương, gồm đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Luật Đầu tư công (2014), đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội và đầu

tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Trong hệ thống NSNN được phân chia thành ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

Trong phạm vi đề tài này, chi đầu tư công của các tỉnh, thành phố là khoản chi đầu tư xây dựng vào các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế -

xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương (chi đầu tư xây dựng cơ bản), do các địa phương (các tỉnh, thành phố) thực hiện quản lý, chi tiêu và quyết toán NSNN

2.1.1.4 Tăng trưởng kinh tế

Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng (hay thu nhập) thực tế trong nền kinh tế trong một thời gian nhất định, thường

là một năm Sự gia tăng thể hiện ở quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008)

Nguyễn Trọng Hoài (2013), Theo Simon Kuznets, tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân Một nghĩa tương tự, theo Douglass và Thomas, tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số Dù theo định nghĩa nào thì tăng trưởng kinh tế cần

Trang 19

phải được hiểu như một quá trình thay đổi tạo ra sản lượng thực bình quân đầu người cao hơn Mặt khác, tăng trưởng kinh tế không chỉ là quá trình làm ra cùng một thứ nhiều hơn, mà còn là quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng cả về số lượng lẫn chất lượng

Sản lượng ở đây được hiểu một cách đầy đủ là một khái niệm bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ mà mọi cá nhân trong xã hội được thụ hưởng Chính vì thế tăng trưởng kinh tế có liên quan đến sự gia tăng và cải thiện phúc lợi xã hội, hay chính xác hơn, tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là sự gia tăng phúc lợi của con người (như là tuổi thọ,

y tế, giáo dục, dinh dưỡng, thụ hưởng nghệ thuật, an sinh, phúc lợi xã hội )

2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế

Nguyễn Trọng Hoài (2013), để đánh giá hiện trạng phát triển của một quốc gia hoặc một vùng và đề ra các chính sách phù hợp, chúng ta cần phải có một hệ thống thông tin chính xác, khoa học và khách quan phản ánh các mặt khác nhau của

sự phát triển Theo đó, tác giả giới thiệu một số chỉ tiêu cơ bản đo lường sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội:

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) phản ánh giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong lãnh thổ một quốc gia nhưng đó không hẳn là toàn bộ thu nhập mà công dân một nước kiếm được

Với các chỉ số này, tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần đề cập đến gia tăng năng lực để tạo ra giá trị gia tăng thông qua các hoạt động kinh tế Để đánh giá tăng trưởng kinh tế, GDP/GNP tính theo giá cơ sở của cùng một năm gốc (GDP/GNP thực) thường được quan tâm nhiều hơn do loại bỏ được biến động giá cả

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế Các chỉ tiêu này được tính theo công thức: gx =

Trong đó: - g là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X

Trang 20

- X có thể là GDP thực, GNP thực hay GDP thực tế bình quân đầu

người hoặc GNP thực tế bình quân đầu người

2.1.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu Chính phủ và tăng trưởng kinh tế

2.1.3.1 Lý thuyết của Keynes về tăng trưởng kinh tế:

* AS-LR là đường tổng cung phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế

* AS-SR là đường tổng cung phản ánh mức sản lượng thực tế của nền kinh tế

* Y là mức sản lượng

Phan Huy Đườngvà Tô Hiến Thà (2011), dựa vào lý thuyết của Keynes cho rằng nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển Mà nền kinh tế chỉ có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống như

mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, và AS - SR phản ánh khả năng thực tế Và, cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng thực tế đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi

mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người

Nền kinh tế có thể cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng (Yo <Y*)

Trang 21

* Vai trò của tổng cầu trong việc tăng sản ượng của nền kinh tế

Theo Keynes, khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết, có thể xuất hiện tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập Nhưng khi mức thu nhập tuyệt đối được nâng lên thì sẽ có khuynh hướng nới rộng sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng Đặc biệt khi người ta đạt đến sự tiện nghi nào đó, thì họ sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn, còn cho tiết kiệm nhiều hơn Đây là quy luật tâm lý

cơ bản của bất cứ cộng đồng tiên tiến nào Theo Keynes, khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập thực tế tăng lên, do vậy cũng làm tăng tiêu dùng Song do quy luật tâm lý nêu trên, nên sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thu nhập,

và khoảng cách đó ngày càng tăng theo tốc độ gia tăng thu nhập Nói cách khác, tiết kiệm có khuynh hướng gia tăng nhanh hơn Keynes cho rằng sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng là xu hướng của mọi xã hội tiên tiến Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng nền kinh tế trì trệ, suy giảm tăng trưởng kinh tế

Mặt khác, khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư của các doanh nghiệp, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân, cầu về tư liệu sản xuất Do vậy, làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên Đến lượt nó, tăng thu nhập lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới Đây là quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới - nền kinh tế tăng trưởng (Phan Huy Đường và Tô Hiến Thà, 2011)

* Chính phủ đ i v i tăng trưởng kinh tế

Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu

Trang 22

thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng (Phan Huy Đường và Tô Hiến Thà, 2011)

Theo Hughes (2012, trang 252-253), chi tiêu của Chính phủ ảnh hưởng đến

sự phân bổ và phân phối nguồn lực trong khu vực kinh tế tư nhân Khi Chính phủ quyết định gia tăng chi đầu tư công cho các công trình xây dựng cơ bản như đường

sá, cầu cống, đê điều… sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới khu vực kinh tế tư nhân như đem lại lợi ích cho các nhà thầu, các nhà sản xuất vật liệu xây dựng và công nhân của họ, cũng như thế khi Chính phủ chi thường xuyên bằng cách mua hàng hóa tiêu dùng cho khu vực công sẽ đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất, thu nhập cho công nhân,

kể cả tiền lương của công chức được sử dụng để mua hàng hóa tiêu dùng cũng sẽ kích thích sự gia tăng sản xuất của khu vực kinh tế tư nhân … qua đó kích thích nền tăng trưởng kinh tế

Hình 2.2: Sự gia tăng mua hàng của Chính phủ trong giao điểm Keynes

Nguồn: Nguyễn Văn Ngọc biên soạn (Mankiw, 2010) (1)

(1) Tại mức thu nh p bất kỳ nào đ , sự gia tăng mua hàng của chính phủ bằng ∆G

àm cho chi tiêu dự kiến tăng thêm một ượng tương ứng Trạng thái c n bằng chuy n từ

đi m A sang đi m B, còn sản ượng tăng từ Y 1 lên Y 2 Mức tăng sản ượng (∆Y) cao hơn mức tăng mua hàng của chính phủ (∆G) Do v y, chính sách gia tăng chi tiêu công c tác dụng khuyếch đại sản ượng

Trang 23

2.1.3.2 Đường cong Rahn:

Phạm Thế Anh (2008), Đường cong phản ánh mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn (1986), và được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi khi nghiên cứu vai trò của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Đường cong Rahn hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêu chính phủ là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hoá công cộng cơ bản như cơ sở hạ tầng, bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Tuy nhiên chi tiêu chính phủ sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế khi nó vượt quá mức giới hạn này Tuy các nhà kinh tế còn bất đồng về con số chính xác nhưng về cơ bản

họ thống nhất với nhau rằng, mức chi tiêu chính phủ tối ưu đối với tăng trưởng kinh

tế dao động trong khoảng từ 15% đến 25% GDP

Hình 2.3: Đường cong Rahn Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Quy mô tối ưu Chi tiêu chính phủ theo % GDP

Điểm tối ưu tăng trưởng trên đường cong Rahn là một trong chủ đề nghiên cứu gây tranh cãi trong nhiều thập niên qua Các nhà kinh tế nói chung kết luận điểm này nằm trong khoảng từ 15% đến 25% GDP, mặc dù rất có thể những ước tính này là quá cao do những nghiên cứu thống kê bị hạn chế bởi sự sẵn có của số liệu Trong khi đó quy mô chi tiêu ngân sách của Việt Nam đang nằm ở phía bên kia dốc của đường Rahn, chiếm khoảng 30% GDP trong những năm gần đây

Về nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, nghiên cứu hiệu ứng ngưỡng chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam của Sử Đình Thành (2013) cho thấy ngưỡng chi tiêu công tối ưu ở mức 28% GDP và chi tiêu thường xuyên là 19% GDP; tuy nhiên đối với chi đầu tư tác giả chưa tìm ra giá trị ngưỡng tiềm năng

Trang 24

2.1.4 Một số mô hình lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

2.1.4.1 Mô hình của Robert Barro (1990):

Phạm Thế Anh (2008), kể từ khi xuất hiện bài báo “Chi tiêu chính phủ trong

mô hình tăng trưởng nội sinh " của Barro vào năm 1990, mục tiêu chính của bài báo

là đưa khu vực chính phủ vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển chuẩn để nghiên cứu mối quan hệ giữa các lựa chọn chính sách của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế

Ý tưởng chính của mô hình Barro (1990) có thể tóm tắt như sau:

Khu vực sản xuất: Barro (1990) giả định chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá

và dịch vụ công cộng, ví dụ chi xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ quyền sở hữu…, có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất của khu vực tư nhân Hàm tổng sản xuất trong nền kinh tế có dạng Cobb-Douglas và được biểu diễn như sau:

trong đó: y = Y / L và k = K / L lần lượt là sản lượng và tư bản bình quân một đơn vị lao động

Khu vực chính phủ: Barro (1990) giả định rằng chính phủ tài trợ cho chi tiêu

của mình nhờ áp dụng một mức thuế suất cố định τ Điều này hàm ý chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng Do vậy ta có:

Trang 25

trong đó: δ là tỉ lệ hao mòn của tư bản

s là tỉ lệ tiết kiệm cố định của khu vực tư nhân

Chia cả hai vế phương trình (2.5) cho k và kết hợp với (2.2), (2.3), và (2.4) chúng ta có thể thu được tốc độ tăng trưởng của sản lượng, γy , như sau:

γy = α [s (1 – τ ) (τ AL)(1-α)/α + δ] (2.6)

Từ phương trình này chúng ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng là cố định và nền kinh tế không có tính động Ảnh hưởng của chính phủ đối với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có thể được thực hiện theo hai kênh như sau:

Thứ nhất, chi tiêu chính phủ phải được tài trợ bằng thuế do chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng Việc tăng thuế sẽ làm giảm sản phẩm biên sau thuế của tư bản, và do vậy làm giảm tốc độ tích luỹ tư bản và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Tham số (1 - τ ) trong phương trình (2.6) phản ánh hiệu ứng tiêu cực này của thuế đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc tăng thuế cũng đồng nghĩa với tăng chi tiêu chính phủ cho các hàng hoá và dịch vụ công cộng như cầu cống, đường xá, hệ thống luật pháp… Những hàng hoá và dịch vụ công cộng này làm tăng sản phẩm biên và sản lượng của khu vực tư nhân như thể hiện trong hàm sản xuất (1.1) Tham số (τ)(1-α)/α trong phương trình (2.6) phản ánh hiệu ứng tích cực này của hàng hoá và dịch vụ công cộng đối với tăng trưởng kinh tế

Hình 2.4:

γmax

= 1-α τ = G/Y

trong đó: τ là thuế suất

γ là tốc độ tăng trưởng của sản lượng Chúng ta có thể tìm giá trị tối ưu của thuế suất đối với tăng trưởng bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất của γy theo τ

Trang 26

Kết quả thu được: τ* =1 – α (2.7) Đây chính là mức thuế suất tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế Điều kiện này hàm ý việc tăng chi tiêu chính phủ hay tăng thuế chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tác động tích cực của việc tăng chi tiêu lớn hơn tác động tiêu cực của việc tăng thuế, hay nói cách khác khi thuế suất nhỏ hơn hiệu suất biên của khoản chi tiêu chính phủ đối với tổng sản lượng của nền kinh tế Kết luận này cũng tương tự như những gì đường Rahn hàm ý

2.1.4.2 Mô hình của Harrod-Domar:

Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2014), Mô hình của Domar thì chủ yếu chú trọng đến vai trò của tích lũy vốn trong quá trình tăng trưởng Mô hình Harrod-Domar đã được sử dụng rộng rãi tại các nước đang phát triển nhằm xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng và các yêu cầu về vốn Mô hình dựa vào quan sát thực tế là có một số lao động thất nghiệp và vốn là điều kiện ràng buộc đối với sản xuất và tăng trưởng

Harrod-Mối quan hệ Harrod-Domar cơ bản cho một nền kinh tế:

trong đó: s là tiết kiệm

v là năng suất của vốn Hàm ý của phương trình này là quan điểm cho rằng vốn do đầu tư tạo ra là yếu tố cơ bản quyết định tăng trưởng sản lượng và tiết kiệm giúp ta có thể thực hiện được đầu tư Nó tập trung sự chú ý vào hai yếu tố then chốt của quá trình tăng trưởng: tiết kiệm (s) và năng suất của vốn (v) Thông điệp từ mô hình này là tiết kiệm nhiều hơn và đầu tư hiệu quả hơn sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Các nhà phân tích kinh tế có thể sử dụng mô hình này để dự đoán tăng trưởng hoặc để tính toán mức tiết kiệm cần thiết nhằm đạt được một tốc độ tăng trưởng đề ra

Ưu điểm của Mô hình Harrod-Domar là tính đơn giản; đồng thời mô hình có thể cho những ước tính chính xác từ năm này sang năm sau Nói chung, nếu không

có cú sốc kinh tế nghiêm trọng (như hạn hán, khủng hoảng tài chính, hay sự thay đổi lớn của giá xuất nhập khẩu) thì mô hình có thể ước lượng khá hợp lý tốc độ tăng

Trang 27

trưởng kỳ vọng cho hầu hết các nước trong những thời đoạn rất ngắn (một vài năm) Một ưu điểm khác của mô hình là nó tập trung vào vai trò cốt lõi của tiết kiệm, các quyết định cá nhân về việc tiết kiệm bao nhiêu và tiêu dùng bao nhiêu từ thu nhập là trọng tâm của quá trình tăng trưởng Mô hình Harrod-Domar cho thấy rõ rằng tiết kiệm là yếu tố sống còn để tăng thu nhập trong thời gian dài

Tuy nhiên, Mô hình Harrod-Domar cũng có một vài hạn chế căn bản Một hạn chế xuất phát từ chính sự nhấn mạnh quá nhiều vào tiết kiệm Cho dù tiết kiệm

là điều kiện cần để tăng trưởng, nhưng dạng đơn giản của mô hình ngụ ý rằng tiết kiệm cũng là điều kiện đủ để tăng trưởng, mà điều này là không đúng Có lẽ hạn chế lớn nhất của mô hình bắt nguồn từ giả định cứng nhắc về các tỷ lệ vốn – lao động, vốn – sản lượng, và lao động – sản lượng là cố định, cho thấy nền kinh tế ít linh hoạt theo thời gian Để duy trì các tỷ lệ này không đổi, thì vốn, lao động và sản lượng phải tăng trưởng với cùng tốc độ chính xác như nhau, mà điều này rất khó xảy ra trong thực tế Và hệ quả của sự cứng nhắc này là mô hình có xu hướng trở nên ngày càng kém chính xác trong những quãng thời gian dài vì ICOR thực tế thay đổi, và cùng với nó, tỷ lệ vốn trên lao động cũng thay đổi Và một hạn chế nữa của mô hình Harrod-Domar là không có vai trò của tiến bộ công nghệ Tiến bộ công nghệ nói chung vẫn được xem là có vai trò then chốt trong tăng trưởng và phát triển dài hạn, nhờ nó làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất

2.1.4.3 Mô hình tăng trưởng của So ow:

Do những nhược điểm của mô hình Harrod-Domar, dựa trên những tư tưởng của lý thuyết tân cổ điển, năm 1924, Solow đã xây dựng nên mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow Nếu như mô hình của Harrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng trưởng và ông cũng khẳng định rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến tăng trưởng, cả ngắn hạn và dài hạn Mô hình này cho biết: tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian Điểm đột phá nhất của mô hình tăng trưởng của Solow là đã giảm sự cứng nhắc của mô hình Harrod-Domar bằng cách sử dụng hàm sản xuất có năng suất giảm dần của các nhân tố sản

Trang 28

xuất, trong đó giả định tiền công và hệ số giữa vốn và sản lượng là có thể điều chỉnh, thay vì bất biến như ở mô hình Harrod-Domar Nhờ đó nền kinh tế có thể điều chỉnh để tiến tới trạng thái cân bằng và trạng thái này là ổn định (Nguyễn Thanh Đức, 2012)

Võ Văn Đức và các cộng sự (2005), Vốn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Cụ thể, công nhân ở những nước giàu có do được trang bị nhiều máy móc hơn nên họ có năng suất lao động cao hơn Nhưng để tích lũy vốn thì cần có sự

hy sinh tiêu dùng của thế hệ hiện tại trong nhiều năm Kinh nghiệm cho thấy những nước tăng trưởng nhanh nhất đều dành 10% đến 20% thu nhập cho việc tạo vốn

Lao động với tư cách là nguồn lực của sản xuất, là nhân tố sản xuất đặc biệt, lao động không đơn thuần chỉ là số lượng lao động hay thời gian lao động mà nó còn bao gồm cả chất lượng lao động mà người ta gọi là vốn nhân lực

Vốn nhân lực là một khái niệm phức tạp hàm chứa tất cả những kỹ năng, tri thức, khả năng lao động, những giá trị của con người Vốn nhân lực cũng giống như vốn vật chất nó có thể được đầu tư thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế Về mặt thực tế, giáo dục và sức khỏe là hai biến đại diện quan trọng để nâng cao vốn nhân lực của một quốc gia Cùng với vốn vật chất, lao động, công nghệ thì vốn nhân lực quyết định đến sự thịnh vượng của một quốc gia trong dài hạn (Nguyễn Trọng Hoài, 2010)

Thay đổi công nghệ hay tiến bộ công nghệ có nghĩa là chúng ta có thể sản xuất ra nhiều sản lượng hơn so với cùng một lượng vốn và lao động Tiến bộ công nghệ có thể làm tăng năng suất tổng hợp của cả vốn và lao động Tiến bộ công nghệ cũng có thể tập trung vào nâng cao hiệu quả lao động, ví dụ như kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, trình độ máy tính, đều có thể làm một người lao động trở nên hiệu quả hơn Tương tự như vậy, tiến bộ công nghệ cũng có thể tập trung vào nâng cao hiệu quả vốn, ví dụ như chất lượng máy móc, thuốc trừ sâu, kỹ thuật sản xuất Trong mô hình tăng trưởng của Solow, việc tiếp thu công nghệ mới là yếu tố quyết định để duy trì tăng trưởng bền vững (Đinh Vũ Trang Ngân, 2010)

Trang 29

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước

Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra thực nghiệm tác động của chi tiêu công cho đầu tư đến tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu khác nhau, phương pháp khác nhau và không gian khác nhau để thực hiện nghiên cứu Các nghiên cứu có thể chia thành: nghiên cứu trong nước và nghiên cứu nước ngoài

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước

(1) Nghiên cứu của Phạm Thế Anh (2008), dựa trên mô hình lý thuyết của Barro để nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế trong quá trình chuyển đổi ở các tỉnh của Việt Nam Nghiên cứu thu thập số liệu 61 tỉnh, thành của Việt Nam từ năm 2001 – 2005 và chia chi ngân sách địa phương theo

05 khu vực kinh tế, chi tiêu trong mỗi khu vực lại được phân theo chức năng chi đầu

tư và chi thường xuyên Bằng cách sử dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS), kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi ngân sách khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế Tác giả đã đưa ra kết luận: thứ nhất, các khoản chi đầu tư có hiệu ứng tích cực hơn so với các khoản chi thường xuyên trong các ngành nông lâm, thủy sản, giáo dục & đào tạo, y

tế và ngành khác; thứ hai, cả chi đầu tư và chi thường xuyên cho ngành giao thông vận tải, giáo dục & đào tạo và ngành khác có vai trò tích cực lớn hơn đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn với hệ số hồi quy lần lượt là 0,50 và 0,47

(2) Nghiên cứu của Hoàng Thị Chinh Thon và các cộng sự (2010), dựa trên bộ

số liệu của 31 địa phương năm 2005, 2006 để xem xét mối liên hệ ngắn hạn giữa tỷ trọng thành phần chi tiêu ở các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện) và tăng trưởng kinh tế

Tác giả sử dụng sử dụng phương pháp ước lượng Pooled OLS hồi quy biến số dạng logarit Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Chinh Thon và các cộng sự đưa ra kết quả cho thấy quy mô chi tiêu của chính phủ trên GDP ở các địa phương có mối quan hệ ở dạng phi tuyến với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, mô hình lại cho kết quả ngược với một số kết quả thực nghiệm trên thế giới là hàm phi tuyến ở dạng đường cong Rahn (lồi so với góc tọa độ), nghĩa là phải tăng tỷ trọng chi tiêu ngân sách vượt quá mức giới hạn nào đó thì mới ảnh hưởng tốt đến tăng trưởng kinh tế địa phương Điều này có thể được giải thích bởi các lý do sau: (i) thứ nhất, hệ thống cơ sở hạ

Trang 30

tầng ở nước ta vẫn còn rất yếu kém, nếu lượng đầu tư không đủ thì các khoản đầu tư

ấy tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, nó thể hiện tính thiếu đồng bộ và tính dàn trải trong đầu tư công Khi việc đầu tư vượt qua một ngưỡng nào đó thì việc đầu

tư mới phát huy hiệu quả tích cực đến tăng trưởng kinh tế (ii), thứ hai, tác động ngược chiều này có thể hiểu do độ trễ của đầu tư cơ sở hạ tầng mà thời gian xem xét của bài nghiên cứu ngắn; Hay tăng chi tiêu để trợ cấp gây ra hiện tượng ỷ lại, giảm tính cạnh tranh và hiệu quả trong nền kinh tế Ngoài ra, có thể do đặc điểm của thu chi ngân sách tại Việt Nam theo hình thức là thu tập trung và chi phân cấp NSNN đã tập trung nguồn lực của các địa phương và phân bổ lại các nguồn lực đó theo định hướng phát triển của Nhà nước Cho nên, chi ngân sách ở nhiều địa phương không được tài trợ trực tiếp từ các nguồn lực của địa phương đó

Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu có hai biến rất có ý nghĩa và có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế đó là biến chi đầu tư phát triển cấp huyện và khoản chi khác của tỉnh với hệ số hồi quy lần lượt là 0,2903 và 0,2257

(3) Nghiên cứu của Tô Trung Thành (2012), nghiên cứu “Đầu tư công „lấn át‟ đầu tư tư nhân” nhằm mục đích đánh giá đầu tư công trong mối quan hệ với đầu tư

tư nhân tại Việt Nam

Tác giả sử dụng mô hình VECM ước lượng hồi quy với ba biến số (ở dạng logarit) là đầu tư khu vực nhà nước (GI), đầu tư tư nhân (PI) và GDP (Y), các biến

số này được thu thập từ năm 1986 - 2010 từ nguồn Tổng cục thống kê tính theo giá

so sánh 1994

Kết quả nghiên cứu của Tô Trung Thành đưa ra phương trình hồi quy:

Y = 6.57 + 0.23GI + 0.33PI

Từ phương trình trên, tác giả cho rằng cả đầu tư tư nhân và đầu tư công đều

có tác động tích cực đến mức sản lượng và các tác động này đều có ý nghĩa về mặt thống kê Tác giả cho rằng kết quả của nghiên cứu khá nhất quán với các nghiên cứu khác về Việt Nam, theo đó tăng trưởng kinh tế đạt được chủ yếu từ việc tăng đầu tư, bao gồm cả đầu tư tư nhân và đầu tư công Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy đầu tư tư nhân hiệu quả hơn đầu tư công, 1% tăng lên của đầu tư tư nhân có thể làm tăng 0,33% tăng trưởng, trong khi đầu tư công tăng 1% chỉ đóng góp 0,23%

Trang 31

tăng sản lượng trong cân bằng dài hạn Bên cạnh đó, qua kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiện tượng đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân thể hiện rõ nét, tác động là không đáng kể trong một vài năm đầu tiên, và hiệu ứng sẽ đạt cực đại vào năm thứ

5 Sau một thập niên, 1% tăng vốn đầu tư công ban đầu sẽ khiến đầu tư của khu vực

tư nhân bị thu hẹp khoảng 0,48% và chỉ đóng góp trung bình 0,05% vào tăng trưởng sản lượng

Với kết quả trên, bài nghiên cứu hàm ý rằng trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, cần theo xu thế giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong tổng vốn đầu tư của xã hội, đồng thời tăng cường mạnh mẽ hiệu quả và chất lượng của đầu tư công Không nên phân bố đầu tư nhà nước vào các ngành mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm và đảm nhiệm tốt, chuyển trọng tâm ra ngoài lĩnh vực kinh tế, tập trung vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để tạo được ngoại ứng tích cực lan tỏa đến khu vực tư nhân, hỗ trợ khu vực này trong quá trình kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

(4) Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014), sử dụng bộ dữ liệu trong khoảng thời gian 1988-2012, được thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế (g), tỷ lệ vốn đầu tư công trên GDP (Ig), tỷ lệ vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh trên GDP (Ip), tỷ lệ vốn đầu tư từ khu vực

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP (If), tốc độ tăng lực lượng lao động hàng năm (L) được thể hiện ở dạng logarit cơ số tự nhiên với mục tiêu là kiểm tra hiệu ứng của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1988-2012 Trên cơ sở mô hình đa biến được phát họa từ hàm sản xuất, bằng cách tiếp cận phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) Nghiên cứu cho thấy đầu tư công, đầu tư

từ khu vực ngoài quốc doanh, đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

và tăng trưởng lực lượng lao động đều có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh

tế trong dài hạn Tuy nhiên, tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế là yếu nhất

Với kết quả thực nghiệm minh chứng tác động đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, tác giả nghĩ rằng chính phủ cần thiết phải tái cấu trúc đầu

tư công trong điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững trong dài hạn Và các giải pháp đặt ra cho chính sách đầu tư

Trang 32

công trong giai đoạn tới là: (i) tái cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm dần đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời tăng cường mạnh mẽ hiệu quả và chất lượng của đầu tư công; (ii) tập trung ưu tiên đầu tư công cho phát triển kết cấu

hạ tầng cũng như những nền tảng khác cho sự phát triển bền vững như: đầu tư cho giáo dục đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội để phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao; (iii) quản lý chặt chẽ việc huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư công; (iv) tăng cường công khai minh bạch trong hoạt động đầu tư công, tăng cường giám sát của cộng đồng; (v) hoàn thiện việc phân công, phân cấp việc phân

bổ NSNN; (vi) đẩy mạnh cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả đầu tư công

(5) Trần Phạm Khánh Toàn (2014) nghiên cứu về "Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở dữ liệu bảng, thu thập của 09 quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1995-2012 (ADB) Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy bảng để xây dựng mô hình hồi quy bội và kiểm định các giả thiết nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố tác động và xem mức độ tác động của các yếu tố đó Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia khu vực Đông Nam Á, thể hiện ở sự tác động của biến số tổng chi tiêu công, chi tiêu công cho y tế, chi tiêu công cho an ninh – quốc phòng tác động dương tới tăng trưởng kinh tế, riêng biến số chi tiêu công cho giáo dục thì tác động âm Ngoài ra, các biến số như lực lượng lao động, đầu tư tư nhân, FDI có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế; trong khi đó các biến độ mở nền kinh tế, lạm phát thì ngược lại Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra một số bài học cần thiết cho Việt Nam để nâng cao tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài

(1) Nghiên cứu của Bukhari và cộng sự (2007), dựa trên bộ dữ liệu bảng không đồng nhất được thu thập từ đĩa CD-ROM chỉ số Phát triển Thế giới (2001) của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 1971 – 2000 ở các nước NIEs Đông Á gồm Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan để nghiên cứu sự đóng góp của chi tiêu công vào tăng trưởng kinh tế theo những cách khác nhau Dựa trên lý thuyết tăng trưởng tân

Trang 33

cổ điển, với việc thể hiện tất cả các biến ở dạng logarit nhân với 100 Tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận tích hợp để xem xét tác động trong dài hạn của các loại chi tiêu công khác nhau Các phân tích trong nghiên cứu cho thấy rằng cả đầu tư công (GI), đầu tư tư nhân (PI) và tiêu dùng công (GC) có tác động dài hạn về tăng trưởng kinh tế (GDP) ở tất cả các nước trong mẫu nghiên cứu của tác giả Ngoài ra, bằng cách sử dụng thử nghiệm mối quan hệ nhân quả (Granger) trên bảng dữ liệu và

dữ liệu riêng của từng nước, kết quả còn cho thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế là rất tốt

(2) Nghiên cứu của Bose và cộng sự (2003), với bộ số liệu thu thập của 30

quốc gia đang phát triển giai đoạn 1970 – 1980 Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy không chắc chắn (SURE) với mục tiêu đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu đưa ra hai kết quả thực nghiệm chính cho thấy: (1) chi đầu tư của Chính phủ tương quan tích cực và có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế; trong khi chi thường xuyên có tác động không đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế; (ii) ở cấp địa phương, chi đầu tư công và chi tiêu công cho giáo dục có tác động rất mạnh đến tăng trưởng kinh tế

(3) Nghiên cứu của Ellahi và Kiani (2011), dựa trên bộ dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1975 – 2009 để phân tích mối quan hệ giữa chi đầu tư công và tăng trưởng kinh tế cho Pakistan Tác giả sử dụng phân phối trễ tự hồi quy (ARDL)

để xem xét tác động trong ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu cho thấy rằng đầu tư công, đầu tư tư nhân và tiêu dùng của khu vực chính phủ có tác động mạnh mẽ trong ngắn hạn cũng như dài hạn đối với tăng trưởng kinh tế của Pakistan

Ngoài ra nghiên cứu cũng cho kết quả là đầu tư công có tác động âm đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng lại có tác động dương trong dài hạn

(4) Nghiên cứu của Erden và Holcombe (2005) nghiên cứu tác động của đầu

tư công đến đầu tư tư nhân ở các nền kinh tế đang phát triển qua đó nhằm tìm hiểu xem liệu đầu tư công có tác động hỗ trợ hay lấn át đầu tư tư nhân hay không Nhóm tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM, REM để thực hiện hồi quy dữ liệu bảng gồm 19 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1982-1997

Trang 34

Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công có tác động hỗ trợ đầu tư tư nhân, trung bình đầu tư công gia tăng 10% sẽ hỗ trợ đầu tư tư nhân tăng 2%

(5) Nghiên cứu của Kandenge (2010) Sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh nghiên cứu tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế ở Namibia trong giai đoạn 1970-2005, với bộ dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu chung của Liên Hợp Quốc theo giá so sánh năm 1990 (GDP thực tế - LGDP, khối lượng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ - LEXPORTS, khối lượng nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ -LIMPORTS, lãi suất thực trao đổi - LEXCH, đầu tư công - LPUB, đầu tư

tư nhân -LPRIV, thương mại - LTOT, vốn con người - LHUM, lao động - LLABOUR) và Viện Fraser (Tự do kinh tế -LEF) Bằng phương pháp hồi quy OLS

có chỉnh sửa (ECM) Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư công và đầu tư tư nhân, xuất khẩu, nhập khẩu, tự do kinh tế, lao động và vốn con người có tác động tích cực

và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn với mức ý nghĩa 5% Ngược lại, các biến số hệ thống thương mại và tỷ giá thực được tìm thấy có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư tư nhân có hiệu quả hơn đầu tư công

Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng và bằng nhiều phương pháp khác nhau (SURE, ARDL, OLS, VECM, ) để định lượng tác động của chi đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế và đã chứng minh có tồn tại mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa chi đầu tư công và tăng trưởng kinh tế

Trong ngắn hạn, các kết quả không nhất quán: chi đầu tư công có tác động cùng chiều hoặc ngược chiều, thậm chí có nghiên cứu chỉ ra rằng không có tác động lên tăng trưởng Trong dài hạn, chiều hướng tác động của chi đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế trong hầu hết các nghiên cứu là tích cực, cùng chiều với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tác động từ khu vực công thấp hơn các khu vực khác Một vài nghiên cứu trong nước đưa chi đầu tư như thành phần chi tiêu trong tổng chi NSNN Ngoài ra, nghiên cứu của Bukhari và cộng sự (2007) còn cho thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế là rất tốt Không gian của các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu ở phạm vi quốc gia hoặc khu vực bao gồm nhiều quốc gia ở những thời điểm khác nhau, trong khi các nghiên cứu trong nước thực

Trang 35

hiện ở các tỉnh, thành trong những giai đoạn khác nhau Dữ liệu khác nhau có thểcho ra các kết quả khác nhau

Do đó, đề tài nghiên cứu: “Tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng

kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam giai đoạn 2007-2014” để xem xét tầm quan

trọng của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam, mang lại những thông tin định lượng có ích cho các địa phương về chi đầu tư XDCB

và tăng trưởng kinh tế

Trang 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này t p trung vào mô hình nghiên cứu, mô tả và đo ường các biến trong mô hình, trình bày dữ iệu nghiên cứu và các bư c trong phương pháp nghiên cứu mô hình dữ iệu bảng

3.1 Mô hình nghiên cứu

3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu

Dựa trên lý thuyết kinh tế học về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế và xem xét các nghiên cứu trước, tác giả cho rằng mối quan hệ giữa chi đầu tư công và tăng trưởng kinh tế thường xuất hiện dưới dạng phi tuyến theo theo dạng: Yi = β1 Xiβ2eui

Theo Hoàng Ngọc Nhậm và cộng sự (2008), để ước lượng mô hình dạng phi tuyến cần phải lấy logarit tự nhiên 2 vế của phương trình để mô hình trở thành:

EY/X cho biết khi X tăng 1% thì Y tăng hay giảm bao nhiêu %

Đề tài này chủ yếu nghiên cứu tác động của chi đầu tư công của ngân sách địa phương tác động thế nào và bao nhiêu đối với sự tăng trưởng sản lượng kinh tế của địa phương ở Việt Nam, nghĩa là khi chi ngân sách địa phương cho đầu tư tăng hay giảm 1% sẽ làm cho sản lượng của nền kinh tế địa phương tăng hay giảm bao nhiêu %

Bên cạnh đó, để tăng tính vững của mô hình nghiên cứu tác giả cũng đưa thêm các biến số kinh tế vĩ mô khác vào mô hình mà tác giả cho là có tác động đến

sự thay đổi sản lượng của nền kinh tế

Trang 37

Tác giả đề xuất mô hình tác động của chi đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố của Việt Nam như sau:

LnGDPit = βo + β1LnGIit + β2LnPIit + β3LnFDIit + β4LnLABORit

Các nghiên cứu trước có liên quan đến biến sử dụng trong mô hình

Kandenge (2010) Hoàng Thị Chinh Thon

và cộng sự (2010)

Tô Trung Thành (2012) Bukhari và cộng sự (2007)

Biến giải thích (biến độc lập)

Kandenge (2010)

Đầu tư khu vực tư nhân

Kandenge (2010)

Tô Trung Thành 2012) Bukhari và cộng sự (2007)

LnLABOR Lực lượng lao động từ 15 tuổi

trở lên

Trần Phạm Khánh Toàn (2014)

LnEXPORT

Tổng giá trị xuất khẩu hàng

Khối lượng xuất khẩu hàng hóa và

Trang 38

Bảng 3.2: Sự khác biệt với các nghiên cứu trước

nghiên cứu

Hồi quy dữ liệu bảng theo nhiều phương pháp khác nhau, như:

SURE, ARDL, OLS, VECM,

Hồi quy dữ liệu bảng theo FEM, REM, dùng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp, sử dụng lệnh XTSCC trong Stata 13 để diều chỉnh độ lệch chuẩn cho dữ liệu bảng có vấn đề về tự tương quan và phương sai thay đổi

tư khu vực nhà nước

Biến chi đầu tư công trong nghiên cứu là khoản chi đầu tư XDCB của các tỉnh, thành phố

3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình

Các biến được sử dụng để đưa vào mô hình phân tích gồm: biến độc lập (GDP) và các biến phụ thuộc (vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư từ khu vực FDI, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn) được trình bày cụ thể như sau:

3.1.2.1 Biến phụ thuộc

LnGDP – Tổng sản phẩm trong nước hay còn gọi là mức sản lượng của nền kinh tế Theo Tổng cục thống kê đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định; phản ánh các

Trang 39

mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Trong các nghiên cứu thường

sử dụng GDP thực tế như biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế: Kandenge (2010),

Tô Trung Thành (2012), Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự (2010)…Trong đề tài này tác giả sử dụng GDP thực tế theo giá so sánh năm 2010 (đơn vị tính tỷ đồng) như đại diện cho tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố

3.1.2.2 Biến độc lập:

+ LnGI – Chi đầu tư công (đơn vị tính: tỷ đồng), là khoản chi đầu tư XDCB trong cơ cấu chi NSNN của các tỉnh, thành phố Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và hiện trạng chi tiêu cho đầu tư XDCB của ngân sách các tỉnh, thành phố Chi NSNN cho đầu tư XDCB trong nghiên cứu này là tổng số quyết toán chi đầu tư XDCB từ ngân sách các tỉnh, thành phố hàng năm đã được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố phê chuẩn, được tính bằng đơn vị tỷ đồng Tác giả kỳ vọng hệ số hồi quy có dấu (+) và có ý nghĩa thống kê, nghĩa là khi chi đầu tư công tại các địa phương tăng 1%

sẽ thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởng β1%

Perkins và cộng sự (2010, trang 495), đầu tư và tăng trưởng có mối quan hệ khắng khít, mặc dù đầu tư tác động tích cực tới tăng trưởng nhưng mối quan hệ ngược lại thì chưa bộc lộ rõ ràng Ở nhiều quốc gia cho thấy đây là tác động qua lại theo một chu kỳ nhanh dần: Đầu tư tăng lên tại những khu vực đem lại hiệu quả cao

sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Nhưng đồng thời, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn cũng làm cho nhiều nhà đầu tư mới nhận ra họ có thể thu được lợi nhuận tiềm tàng và chính điều đó làm tăng đầu tư trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh

Ở Việt Nam, Mai Đình Lâm (2012), sử dụng số liệu tỉ lệ giữa chi đầu tư phát triển phân cấp cho địa phương so với GDP để nghiên cứu phân cấp tài khóa với tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990 – 2011, và kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của chi đầu tư phát triển của địa phương với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu đầu tư công với tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam của Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư (2014) đã cho thấy đầu tư công có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng thấp hơn đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh Theo Nguyễn Phi Lân (2009),

Trang 40

mặc dù việc phân cấp quản lý chính sách tài khóa là thiết thực đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nhưng chính quyền trung ương nên quan tâm giám sát chặt chẽ các hoạt động đầu tư tại các địa phương Trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, chính quyền trung ương nên tiến hành các dự án đầu tư xây dựng cơ bản mang tính chiến lược để đảm bảo ổn định chính sách vĩ mô của nhà nước

+ LnPI – Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân (tỷ đồng) Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân là một trong những yếu tố cấu thành GDP nên tác giả kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền (2014), doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài nhà nước là đại diện chủ yếu của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân Biến PI được đo lường bằng chỉ tiêu vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại thời điểm 31/12 hàng năm, gồm ba khu vực: (i) khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; (ii) khu vực Công nghiệp và xây dựng ; và (iii) khu vực Dịch vụ (Niên giám Thống

kê hàng năm - Tổng cục Thống kê)

Nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả Kandenge (2010), Bukhari và cộng

sự (2007), Ellahi và Kiani (2011), Erden và Holcombe (2005), Tô Trung Thành (2012), Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014) đều cho thấy vốn đầu tư khu vực kinh tế tư nhân có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Kandenge (2010) sử dụng số liệu ở Namibia trong giai đoạn 1970-2005 thu thập từ cơ sở dữ liệu chung của Liên Hợp Quốc theo giá so sánh năm 1990 và Viện Fraser để nghiên cứu đầu tư công, đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế, ở Namibia bằng phương pháp hồi quy ECM, kết quả nghiên cứu cho thấy cả đầu tư công và đầu

tư tư nhân đều có tác động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư tư nhân có hiệu quả hơn đầu tư công

Tô Trung Thành (2012) với mục tiêu nghiên cứu đầu tư công và đầu tư tư nhân tác động đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư công có tác động chèn lấn hay thúc đẩy đầu tư tư nhân; bằng phương pháp phân tích định lượng VECM tác giả đã ước lượng mô hình hồi quy gồm 3 biến logarith sản lượng của nền kinh tế (GDP), đầu tư công (GI) và đầu tư tư nhân (PI) Kết quả nghiên cứu cho thấy cả đầu tư công và đầu

tư tư nhân đều có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên đầu tư tư nhân có

Ngày đăng: 20/02/2019, 21:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w