Sự cần thiết phải xây dựng đề án Để có được thành tích thể thao trên các đấu trường khu vực và quốc tế, tuyểnchọn và huấn luyện phải trải qua quá trình liên tục kéo dài từ 8 đến 10 năm
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
_ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2018
Dự thảo lần 4
ĐỀ ÁN TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO TÀI NĂNG TRONG LĨNH VỰC
THỂ THAO THÀNH TÍCH CAO ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2035
(Ban hành theo Quyết định số /QĐ-TTg ngày / /2018
của Thủ tướng Chính phủ)
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết phải xây dựng đề án
Để có được thành tích thể thao trên các đấu trường khu vực và quốc tế, tuyểnchọn và huấn luyện phải trải qua quá trình liên tục kéo dài từ 8 đến 10 năm liên tục.Tùy thuộc vào từng môn thể thao, vận động viên (VĐV) sẽ được tuyển chọn huấnluyện ban đầu ngay từ 4 đến 5 tuổi đối với các môn thể dục dụng cụ, 7 đến 8 tuổi mônbóng đá, bóng bàn, 10 đến 11 tuổi môn điền kinh, cử tạ… Quá trình huấn luyện đượcbắt đầu khi tuyển chọn được những trẻ em có năng khiếu bẩm sinh, có khả năng sinhvật tiềm tàng ở môn thể thao nào đó, các em sẽ được đưa vào trường năng khiếu thểthao, tại đây các cháu sẽ được học văn hóa, được các huấn luyện viên giỏi huấn luyệntheo các chu kỳ nghiêm ngặt chặt chẽ với những lượng vận động lớn về thể lực và tâm
lý, kết quả cuối cùng của quá trình huấn luyện thể thao chuyên nghiệp được hiện thựchóa bằng các huy chương vàng, các kỷ lục được thiết lập mới tại các giải đấu, đặc biệt
là tại các giải thuộc đấu trường châu lục, thế giới và thế vận hội Olympic
Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể không kinh ngạc và thán phục,trước sự phát triển nhanh chóng về trình độ thi đấu của các VĐV, các kỉ lục thế giớiliên tục bị phá cũng như trình độ phát triển cao của các loại hình thể thao Các giải đấungày càng căng thẳng, dữ dội đòi hỏi VĐV phải có tố chất và năng khiếu thể thao thiênphú, kết hợp với luyện tập một cách khoa học hợp lý, kiên trì nỗ lực mới có thể bước
ra đấu trường quốc tế tranh tài với các đối thủ mạnh trên thế giới để đem về vinhquang cho Tổ quốc Hiện nay sự cạnh tranh về trình độ thi đấu thể thao, thành tích thểthao đã phát triển thành cuộc chạy đua quyết liệt ở các châu lục nhằm tuyển chọn, đàotạo được những VĐV tài năng ưu tú nhất Nhìn từ góc độ thể thao quốc tế, các quốcgia giành được thành tích xuất sắc tại Olympic đều là những quốc gia có sự đầu tưchiến lược về thể thao thành tích cao, nắm bắt tốt các bước quan trọng bao gồm tuyểnchọn, đào tạo tài năng thể thao, huấn luyện khoa học, hồi phục cơ thể và khả năng củaVĐV, trong đó điều kiện tiên quyết là phải có một hệ thống tuyển chọn, đào tạo VĐVthể thao tài năng hoàn chỉnh
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể dục thể thao
đã có những bước phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Trong đó, thể thao thành tích cao
đã đạt được những kết quả đáng kể trên các đấu trường khu vực và thế giới Năm 2017Tài năng thể thao trẻ, VĐV Nguyễn Thị Ánh Viên đã giành được 8 HCV, 2 HCB vàphá 3 kỉ lục của Sea Games28 được tổ chức ở Singapore Năm 2018 đánh dấu cho sựphát triển vượt trội của thể thao Việt Nam là sự kiện được ghi nhận ngày 23/01/2018 độituyển bóng đá U23 của Việt Nam đã chiến thắng vang dội trong trận bán kết giải vô địch
Trang 2thúc đẩy, động viên, khích lệ cho thể thao Việt Nam tự tin vươn lên để sánh vai với cáccường quốc thể thao trong khu vực, châu lục và thế giới Tại giải vô địch điền kinh trong
nhà châu Á 2018 tổ chức tại Iran (từ ngày 1 đến ngày 3/2/2018), đội tuyển điền kinh
Việt Nam xuất quân với 3 tuyển thủ đã thi đấu xuất sắc và giành được 1 HCV, 3 HCĐhoàn thành mục tiêu đề ra Tại giải Điền kinh Singapore mở rộng Việt Nam có 4 VĐVthi đấu và đã giành được 4HCV, 1HCB Tại giải cử tạ vô địch trẻ và thanh thiếu niênchâu Á 2018 diễn ra từ ngày 24/4 tại Uzbekistan, đồng thời cũng là vòng loại Olympictrẻ 2018, lực sĩ Đỗ Tú Tùng đã giành cả 3 tấm HCV Có thể thấy, thể thao thành tíchcao, thể thao chuyên nghiệp của Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh cả về số lượng
và chất lượng Trong tương lai không xa, thể thao chuyên nghiệp Việt Nam hứa hẹn sẽ
có nhiều VĐV tài năng làm rạng danh cho Tổ quốc Tuy nhiên, để thể thao thành tích
cao của Việt Nam phát triển bền vững, đòi hỏi hệ thống tuyển chọn, đào tạo (huấn luyện) tài năng thể thao phải có sự đổi mới toàn diện, triệt để, phải có chiến lược đầu
tư về nhân lực, vật lực… khoa học, thiết thực, hiệu quả Vì tuyển chọn, đào tạo tàinăng thể thao là 2 mặt thống nhất, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của thể thaothành tích cao, thể thao chuyên nghiệp
Xác định được vai trò, tầm quan trọng của việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể
thao Việt nam trong tương lai, Đề án: “Tuyển chọn, đào tạo tài năng trong lĩnh vực thể thao thành tích cao đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2035” được Thủ
tướng Chính phủ triển khai thực hiện sẽ là tiền đề phát triển toàn diện thể thao Việt Namtheo định hướng tiên tiến, bền vững, tương xứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội vàphù hợp nhu cầu của nhân dân cả nước Sự kiện thể thao, hình ảnh đất nước, con ngườiViệt Nam yêu hòa bình, là bạn với tất cả các dân tộc sống trên trái đất sẽ được quảng
bá rộng rãi trên toàn thế giới
1.2 Mục đích, phạm vi, đối tượng của đề án
1.2.1 Mục đích
Đề án xây dựng nhằm đánh giá được thực trạng sự phát triển của thể thao thànhtích cao Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn từ 2008 đến 2017
(sau 10 năm) Trên cơ sở những kết quả đã đạt được cũng như những tồn tại, yếu kém
cần khắc phục Đề án sẽ đề xuất những giải pháp thiết thực, hiệu quả để Đảng, Nhà
nước có biện pháp tháo gỡ kịp thời, để ngành thể thao tuyển chọn, đào tạo (huấn luyện) được nhiều HLV, VĐV tài năng Trong thi đấu vận động viên sẽ giành được
nhiều HCV, HCB, HCĐ trong các giải quốc tế góp phần thực hiện thắng lợi Chiếnlược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 cũng như các Nghị quyết củaĐảng, Nhà nước đã ban hành về việc phát triển thể dục, thể thao nói chung và thể thaochuyên nghiệp, thể thao thành tích cao nói riêng, giúp thể thao Việt nam nhanh chóngphát triển theo kịp với trình độ thể thao của các nước có nền thể thao tiên tiến trongkhu vực, châu lục và thế giới
1.2.2 Phạm vi
- Phạm vi về không gian: Đề án được tiến hành trên phạm vi các trung tâm huấnluyện thể thao, trường năng khiếu thể thao, trung tâm đào tạo vận động viên của 63tỉnh thành trên toàn quốc Đặc biệt là 4 Trung tâm huấn luyện quốc gia, các trường Đạihọc TDTT và các trung tâm huấn luyện phụ trợ Công an, quân đội, các Liên đoàn,Hiệp hội thể thao quốc gia, các tổ chức xã hội hóa về thể thao như HAGL, JMG,VinGroup, Viettel…
- Phạm vi về thời gian: Đề án được triển khai theo 4 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: Từ năm 2019 – 2020
+ Giai đoạn 2: Từ năm 2021 – 2025
Trang 3+ Giai đoạn 3: Từ năm 2026 – 2030
+ Giai đoạn 4: Từ năm 2030 – 2035
1.2.3 Đối tượng
Những trẻ em có năng khiếu thể thao đặc biệt, học sinh, VĐV đang theo học tạicác trường TDTT trên cả nước; Vận động viên đang tập luyện, thi đấu tại các Trungtâm huấn luyện thể thao quốc gia, quân đội, công an, các Liên đoàn, Hiệp hội thể thaoquốc gia, các tổ chức xã hội hóa về thể thao…
Vận động viên đỉnh cao đam mê nghề nghiệp, có kinh nghiệm tập luyện, thiđấu, phẩm chất nhân cách, đạo đức tốt đã hết khả năng thi đấu được tuyển chọn, đàotạo thành huấn luyện viên thể thao tài năng
1.3 Căn cứ chủ yếu xây dựng đề án
1.3.1 Căn cứ mang tính quan điểm
- Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020;
- Nghị quyết số16/2013/NQ-CP, ngày 14/01/2013 của Chính phủ về triển khaithực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sựlãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục thể thao đến năm 2020
- Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 của Chính phủ về việc ban hànhchương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
- Nghị Quyết số 102/NQ-CP, ngày 31/12/2014 của Chính phủ về việc ban hànhchương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày
09/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đấtnước
- Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Thủ tướng
chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thể dục thể thao;
- Quyết định số 2198/QĐ-TTg, ngày 03/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020;
- Quyết định số 3067/QĐ-BVHTTDL, ngày 30/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực nhóm ngành Vănhóa và Thể thao giai đoạn 2011-2020;
- Quyết định số 1752/QĐ-TTg, ngày 30/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Quy hoạch cơ sở vật chất - kỹ thuật TDTT quốc gia Việt Nam đến năm 2020;
- Quyết định số 2160/QĐ-TTg, ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, địnhhướng đến năm 2030;
- Quyết định số 375/QĐ-BVHTTDL, ngày 06/02/2018 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch về việc xây dựng Đề án “Tuyển chọn, đào tạo tài năng tronglĩnh vực thể thao thành tích cao đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2035”
Trang 4- Công văn số 371/VPCP-TH ngày 02/02/2018 của Văn phòng Chính phủ vềChương trình công tác năm 2018.
- Căn cứ vào quy mô, số lượng, chất lượng huấn luyện viên
- Căn cứ vào thực tiễn cơ sở vật chất, cơ chế chính sách đối với huấn luyệnviên, vận động viên thể thao thành tích cao
- Những kết quả điều tra, thống kê, về thực trạng việc tuyển chọn, đào tạo tàinăng thể thao thành tích cao giai đoạn hiện nay cho thấy, chủ yếu dựa trên kinhnghiệm chưa có hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn cũng như chưa có chương trình đàotạo huấn luyện thống nhất cho các lứa tuổi
Phần thứ Hai: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tuyển chọn, đào
tạo tài năng thể thao thành tích cao đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2035
Phần thứ Ba: Tổ chức thực hiện.
Trang 5PHẦN THỨ NHẤT TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO TÀI NĂNG LĨNH VỰC THỂ THAO
THÀNH TÍCH CAO GIAI ĐOẠN 2008 - 2017 1.1 Khái quát chung về tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao lĩnh vực thể thao thành tích cao.
1.1.1 Trên thế giới
Lý luận về tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao và dự báo tài năng thể thao đãhình thành từ những năm 60 của thế kỷ 20, nhưng nó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽvào thập kỷ 80 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lớn trên thế giới Các côngtrình khoa học trong lĩnh vực dự báo và tuyển chọn thể thao được thực hiện theo hai
xu hướng:
Một là, nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận phương pháp tuyển chọn và dự báo,tiêu biểu có: A.A.Guzannovski, 1979, 1986; B.K.Bansevich, C.V.Khrusev, 1984;V.P.Philin, V M Vonkov, 1983; E.G.Marchinrosov, G.C.Tumannhian
Hai là, nghiên cứu về tuyển chọn và dự báo trong từng môn thể thao, các đạidiện tiêu biểu có: N.G Bungacôva, 1986; L.A.Sevchenco,1989; M.C.Brinlia, 1980;V.I.Kotov, 1988; V.Đ.Xiatrin, 1992
Cho đến ngày nay việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao đã đạt được kếtquả đáng ghi nhận Các quốc gia có nền thể thao phát triển mạnh như Mỹ, Nga, Đức,
Ý, Trung Quốc quan tâm thời kỳ và giai đoạn tuyển chọn, kết quả nghiên cứu củanhiều nhà khoa học như P.E.Motulianski (1979), V.M.Vôncôv, V.P.Philin (1983) đềuchia quá trình tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao làm 4 giai đoạn: Tuyển chọn sơ bộ;tuyển chọn định hướng ban đầu; tuyển chọn tài năng trong từng môn thể thao chuyênsâu theo từng giai đoạn huấn luyện của quá trình huấn luyện nhiều năm và tuyển chọncho đội tuyển quốc gia hoặc tuyển chọn qua 3 giai đoạn: Giai đoạn tuyển chọn địnhhướng cho môn thể thao chuyên sâu; giai đoạn tìm kiếm các trẻ em thích ứng thực sựvới loại hình hoạt động trong quá trình đào tạo và giai đoạn tuyển chọn những em thực
sự có tài, có khả năng phô diễn thành tích thể thao cao ở trình độ quốc tế
Những thành tựu nghiên cứu vào những năm 80 và đầu 90 trong lĩnh vực tuyểnchọn và đào tạo tài năng thể thao đã tạo ra cơ sở tốt nhằm giải quyết một loạt nhiệm vụthen chốt về phương pháp tuyển chọn và xây dựng những nền tảng cho việc dự báotriển vọng của các tài năng thể thao trẻ Việc xác định các thuộc tính riêng biệt dướitác động của bài tập kiểm tra và mức độ phát triển trạng thái tâm lý phổ biến của tàinăng thể thao trẻ trong các giai đoạn huấn luyện và hoàn thiện thể thao khác nhau cóvai trò đặc biệt quan trọng Các cơ sở phương pháp luận này được thể hiện rõ nhất ởnhững nguyên tắc “quyết định luận” và “đồng nhất luận” do B.K Bansevich thiết lậpkhi nghiên cứu công nghệ mới trong quá trình đào tạo lực lượng Olympic kế cận vàcác tài năng thể thao có trình độ chuyên môn cao Quan điểm phương pháp luận nóitrên đặc biệt chú ý tới việc xác định những thuộc tính chung và riêng biệt trong cấutrúc hình thái, chức năng của tài năng thể thao trong quy trình tuyển chọn và huấnluyện thể thao nhiều năm
Một vấn đề hết sức rõ ràng là trong giai đoạn hoàn thiện hệ thống tuyển chọn vàđào tạo thể thao hiện nay cần chú ý nhiều đến nguyên tắc cá thể hóa trong quá trìnhtìm kiếm tài năng thể thao và đào tạo họ Quan điểm này hình thành trên cơ sở nhữngthành tựu của các môn khoa học như: động lực học phân tử, tâm – sinh lý học vậnđộng và y học lượng tử Xuất phát từ những môn khoa học này đã hình thành cơ sởkhoa học vững chắc trong việc dự báo những đặc điểm tâm sinh lý, hình thái, chức
Trang 6gen tổng hợp và sử dụng công nghệ DNK có thể xác định những tố chất vận độngđược kế thừa bền vững, có ảnh hưởng lớn tới những đặc điểm hình thái và khả năngbẩm sinh của con người Ngay từ những nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng vào thựctiễn khoa học TDTT, các phương pháp phân tích chuyển động của các phân tử đã xácđịnh được mẫu gen của từng vận động viên, căn cứ vào những kiểu gen có chứa menbiến đổi Angiotenzim đã cho phép chứng minh rằng các vận động viên có các kiểu genchứa men biến đổi Angiotenzim (II, ID, DD) khác nhau thường có sự khác biệt về khảnăng chịu đựng lượng vận động trong các dạng hoạt động thể lực.
Kết quả nghiên cứu về mối tương quan giữa các gen chứa men biến đổiAngiotenzim và mức độ sức bền thể lực, tâm lý của tài năng thể thao đã chỉ rõ về hiệusuất ưa khí tối đa của cơ thể tài năng thể thao có các kiểu gen có chứa gen biến đổiAngiotenzim khác nhau Các cuộc thực nghiệm đối với các sinh viên chuyên sâu điềnkinh của học viện TDTT mang tên P.E Lexgaft không những đã khẳng định quy luậtnói trên, mà còn cho phép xác định những đặc điểm của sự tác động tương hỗ giữanhân tố động lực học và “những ảnh hưởng trung gian” của quy trình học tập - tậpluyện Các số liệu thu được đã chứng tỏ ảnh hưởng của nhân tố động lực học trong quátrình huấn luyện một năm của các vận động viên có bị yếu đi, mặc dầu vậy vẫn duy trì
sự tác động có độ tin cậy thống kê cao đối với hoạt động thể thao Các nghiên cứukhoa học đã khẳng định các mẫu gen có chứa men biến đổi Angiotenzim (II, ID, DD)
có liên hệ chặt chẽ với khả năng đồng hóa của cơ thể trước tác động của các lượng vậnđộng tập luyện Việc ứng dụng những thành tựu nghiên cứu về gen sẽ nâng cao đượchiệu quả trong quá trình tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao
Tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao sẽ đạt được kết quả tốt nhờ ứng dụngnhững phương pháp lý – sinh và y học hiện đại như: Công nghệ điện sinh học chophép đánh giá khách quan những khả năng huy động năng lực tâm lý của tài năng thểthao và quá trình tự điều chỉnh tâm lý Những nghiên cứu được tiến hành ở các nhómthực nghiệm tại thành phố San – Peterburg cho phép khẳng định các mô hình về mứctiêu hao năng lượng có mối quan hệ cả với nhân tố động lực học lẫn các nhân tố “trunggian” Điều đó phản ánh khả năng tiềm tàng về tải trọng tâm lý của tài năng thể thao.Công nghệ điện sinh học RGV cho phép nâng cao hiệu quả chẩn đoán chính xác vềtrạng thái tâm lý và đảm bảo việc đánh giá khả năng hoạt động chức năng tiềm ẩn củamỗi vận động viên Trên cơ sở đó có thể xây dựng quy trình tập luyện tối ưu và dự báothành tích trong các cuộc thi đấu
Việc hiện thực hóa những quan điểm đổi mới trên đây trong hệ thống tuyểnchọn, đào tạo tài năng thể thao kế cận hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tuyển chọntích cực dựa trên những thành tựu khoa học TDTT thế giới Những quan điểm này tạođiều kiện để nâng cao tính hiệu quả của việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thaotrong tương lai
Tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao xuất sắc trình độ thế giới là công việctiềm tàng, tổng hợp rất nhiều yếu tố bao gồm gen di truyền, hình thái cơ thể, chứcnăng sinh lý, tố chất vận động, tố chất tâm lí, kiến thức vận động, kĩ thuật vận động…
Đặc điểm nổi bật của tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao hiện đại là vận dụngtổng hợp các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, đặc biệt là ứng dựng các kiếnthức mới, các thành tựu mới, các kỹ thuật mới của Di truyền học, Sinh học phân tử,Giải phẫu cơ thể người, Sinh lí học thể dục thể thao, Tâm lí học thể dục thể thao, Sinhhóa thể thao, Sinh cơ thể thao, Lý luận chuyên ngành thể dục thể thao, Giáo dục học
thể dục thể thao… Điều đó dẫn đến tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao đã được chuyển từ hình thức tuyển chọn, đào tạo dựa vào kinh nghiệm, dựa vào sự may mắn
Trang 7sang tuyển chọn, đào tạo một cách khoa học và trí tuệ Tất nhiên, khoa học tuyển
chọn, đào tạo tài năng thể thao hiện nay vẫn còn chưa phát triển đầy đủ cả về cơ sở lýluận, cơ sở sinh học cũng như cơ chế, hệ thống, vẫn còn tồn tại sự không ăn khớp vàđồng bộ giữa lý luận và thực tiễn Điều này đòi hỏi những người làm công tác quản lý,tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao phải nỗ lực không ngừng để đóng góp hơn nữacho sự nghiệp phát triển thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao
Thực tế tuyển chọn và huấn luyện thể thao các nước trên thế giới có thể sơ lượcnhư sau:
- Giai đoạn 2: Kiểm tra, đánh giá khả năng và trình độ của VĐV qua các bàikiểm tra thể lực như giai đoạn 1 nhưng yêu cầu kết quả cao hơn Những học sinh nào
vượt qua bài kiểm tra giai đoạn này sẽ được tham gia vào một “ chương trình đào tạo tài năng” được tổ chức bởi cấp quốc gia hay cấp bang
- Giai đoạn 3: Giai phát triển tài năng có khoảng 10% học sinh đạt yêu cầu ởgiai đoạn 2 sẽ được chuyển xang giai đoạn 3 Những học sinh còn lại được khuyếnkhích tham gia các câu lạc bộ thể thao để phát triển kỹ năng
2 Các nước Tây Âu
Theo Riordan(1988) các nước Tây Âu có những đặc điểm chung trong chươngtrình tìm kiếm và phát triển tài năng thể thao là quá trình này gồm 3 giai đoạn là:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn tuyển chọn cơ bản, giai đoạn này được thực hiện tại cáctrường học thông qua chương trình GDTC hoặc tại một số CLB thể thao Những tiêuchuẩn cơ bản gồm: Chiều cao, cân nặng, tốc độ, khả năng chịu đựng, khả năng tiếp thu
và những bài kiểm tra ở những môn thể thao cụ thể để đánh giá trình độ và kỹ năng cơbản Những học sinh vượt qua giai đoạn 1 sẽ được tập luyện khoảng 1 đến 1,5 năm
- Giai đoạn 2: Giai đoạn được gọi là giai đoạn tuyển chọn ban đầu Đây là giaiđoạn nhằm đánh giá sự tiến bộ của VĐV về thể lực chung và chuyên môn cũng nhưnhững phẩm chất tâm sinh lý cần thiết VĐV được thử sức trong một môn thể thao cụthể hoặc một nội dung thi đấu trong môn thể thao nào đó, giai đoạn này kéo dàikhoảng 2 năm đến 2,5 năm Trong khoảng thời gian này VĐV sẽ được tham gia nhiềugiải đấu để tích tũy kinh nghiệm và cọ sát nâng cao trình độ
- Giai đoạn 3: Giai đoạn tuyển chọn cuối cùng, giai đoạn này chú trọng vàonhững yếu tố như: sự tiến bộ trong tập luyện, sự ổn định thành tích, phong độ, kết quảkiểm tra thể lực, tâm sinh lý Nếu VĐV nào vượt qua giai đoạn 3 sẽ được tuyển chọnvào trung tâm đào tạo tài năng với những huấn luyện viên giỏi nhất cùng với những cơ
sở vật chất tối ưu và dịch vụ y tế tốt nhất
3 Cộng hòa liên bang Nga
Cộng hòa Liên bang Nga quá trình tuyển chọn chia là 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Bao gồm Tuyển chọn thể thao chủ động và tuyển chọn thể thaothụ động
+ Tuyển chọn thể thao chủ động: Đối tượng là tất cả trẻ em có nguyện vọng
Trang 8đấu chính và không chính thức, kiểm tra đại trà một lần trong vòng 1 tuần, giáo viên,huấn luyện viên, bác sỹ Mục tiêu tuyển chọn là định hướng cho trẻ tham gia tậpluyện, hình thành nên các nhóm trẻ tham gia tập luyện ban đầu theo 1 môn thể thao.Nhiệm vụ tuyển chọn là quan sát sư phạm các giờ lên lớp thể dục và các bài tập thiđấu Xác định trạng thái sức khỏe và loại bỏ những trường hợp chống chỉ định tuyệtđối Phát hiện động cơ ham thích của trẻ có năng lực và sơ bộ bước đầu xác định mônthể thao Tuyển chọn sơ bộ được nhóm trẻ tham gia tập luyện ban đầu tại các cơ sở đàotạo Phương pháp và kết quả tuyển chọn thông qua các chỉ tiêu y học tổng quát và chỉtiêu hình thái cơ bản cũng như kiểm tra một số chỉ tiêu đơn giản đánh giá các tố chấtvận động theo các tiêu chẩn chung Xây dựng hồ sơ theo dõi sức khỏe và ghi danh vàodanh sách lớp tham gia tập luyện ban đầu
+ Tuyển chọn thể thao thụ động(tự nguyện): Đối tượng là những trẻ em tự tậpluyện và tham gia tuyển chọn tự nguyện, mục tiêu là tuyển chọn lực lượng dự tuyểnvào các nhóm môn thể thao ưa thích Phương pháp tuyển chọn là trao đổi với các trẻham thích thể thao, những giáo viên, bác sỹ từng theo dõi việc tập luyện khuyên bảocác cháu tham gia cùng tuyển chọn như tuyển chọn thể thao chủ động
- Giai đoạn 2: Tuyển chọn chặt chẽ (Tuyển chọn dự báo năng lực thích ứng thể
thao) Đối tượng là tất cả trẻ đã qua lớp tập luyện ban đầu, mục tiêu tuyển chọn giai
đoạn này là: Đánh giá trạng thái sức khỏe và dự báo trong tương lai; Đánh giá đượccác chỉ tiêu có độ di truyền cao, có ảnh hưởng hàng đầu đến tập luyện môn địnhhướng; Xác định mức độ đạt được và nhịp tăng trưởng của các dấu hiệu phản ánh nănglực tương ứng với VĐV hàng đầu; Đánh giá mức độ và nhịp tăng trưởng chiều cao,khả năng thích nghi, khả năng hồi phục, chức năng thần kinh-cơ, tâm lý, năng lựcchuyển hóa năng lượng; Đánh giá mức độ thích ứng với môn thể thao lựa chọn của cácchỉ tiêu sinh cơ; Thiết kế và điều chỉnh kế hoạch huấn luyện Đánh giá một cách hệ
thống (6 tháng 1 lần) nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu hình thái: cao, tỷ lệ các thành phần
cơ thể; Đánh giá một cách hệ thống mức độ phát triển và xác định nhịp tăng trưởngcác chỉ tiêu chức năng sinh lý, sinh hóa, tâm lý; Kiểm tra sinh hóa sâu về các chỉ tiêumáu, cơ, hệ mao mạch; Đánh giá tổng thể các chỉ tiêu để kết luận về khả năng thíchứng thể thao trong việc chuyên môn hóa hẹp
- Giai đoạn 3: Tuyển chọn dự báo cho giai đoạn hoàn thiện tài năng thể thao và
chuyên môn hóa hẹp Đối tượng là các vận động viên đã qua giai đoạn 2 của quá trìnhtuyển chọn Mục tiêu giai đoạn này là tuyển chọn những VĐV ưu tú trình độ cao đểhình thành các đội tuyển làm nhiệm vụ thi đấu Tuyển chọn để tham gia huấn luyệnđặc biệt chuẩn bị cho Olympic, các cuộc thi đấu quốc tế lớn Nhiệm vụ giai đoạn 3 làđánh giá trạng thái sức khỏe trước và sau khi thi đấu, đánh giá thành tích thể thao,đánh giá mức quá tải lượng vận động, và nhịp tăng trưởng của năng lực thích nghi vàhồi phục, đánh giá nhân cách, năng lực tâm lý, trạng thái sung sức thể thao
Phương pháp kiểm tra là: Đánh giá, phân tích hoạt động thể thao và thành tích trongtập luyện, Kiểm tra y học và tâm lý, Kiểm tra y sinh học với các chỉ tiêu chọn lọc,Kiểm tra một cách hệ thống (theo nội dung thu hẹp) các chỉ tiêu chức năng, thành phần
cơ thể (hình thái) nhằm so sánh và đưa ra mô hình hình thái và chức năng, Kiểm tra laibằng các phương pháp vi tính
- Giai đoạn 4: Giai đoạn tuyển chọn thành phần tham gia đội tuyển thi đấu
Olympic, các cuộc thi đấu quốc tế lớn Đối tượng là các VĐV đã vượt qua 3 giai đoạntrước đó Các VĐV phải hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trước toàn đội, hội đồngtuyển chọn, có trạng sức khỏe tốt ở thời điểm thi đấu, có tâm lý ổn định, thích ứng với
Trang 9các phương án chiến thuật có tính đến đặc điểm hành động của đối phương Đánh giá,phân tích trạng thái thể thao của các VĐV trước thi đấu theo kết quả thi đấu
4 Trung Quốc: Vận động viên được tuyển chọn theo cách thức sau: HLV sẽ là
người phát hiện ra những VĐV tài năng qua các sự kiện thể thao tại các trường học;
- Giáo viên GDTC sẽ đưa ra nhận xét về học sinh được lựa chọn; Những họcsinh này sẽ phải kiểm tra về thể lực, hình thái, chức năng tâm sinh lý
- Những học sinh từ 13-17 tuổi có tài và khả năng đặc biệt sẽ được tuyển chọnvào các trường năng khiếu thể thao, tất cả các chi phí do nhà nước trợ cấp
- Quá trình tuyển chọn, đào tạo cũng thực hiện theo 4 giai đoạn thông dụng nhưcác quốc gia có nền thể thao phát triển mạnh như Nga, Tây Âu, Mỹ, Úc trên thế giới
Từ dẫn chứng trên cho thấy, những quốc gia đang thống trị các thành tích, kỷlục thể thao trên các đấu trường Olympic và thế giới, đã ứng dụng rộng rãi khoa họctuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao một cách có hiệu quả từ nhiều năm trước Quátrình này được Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội đầu tư bài bản, khoa học và hệ thốngtất cả các điều kiện cần thiết cho tài năng thể thao phát triển như : tuyển chọn, đào tạohuấn luyện, trang thiết bị , cơ sở vật chất, kinh phí, chế độ ưu đãi cho VĐV, HLV…
(Phụ lục 1)
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam vào những năm 2000 nghiên cứu về tuyển chọn, đào tạo tài năng thểthao đã bắt đầu được một số nhà khoa học quan tâm, những kết quả nghiên cứu vềtuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao qua các test y học, sư phạm và tâm lý đã giúpcho việc tuyển chọn thu được kết quả tương đối tốt Chúng ta bước đầu đã ứng dụngkhoa học tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao vào thực tế và tuyển chọn được một sốVĐV có năng khiếu đặc biệt đưa vào huấn luyện như: Nguyễn Thị Ánh Viên, Lê TúChinh, Nguyễn Thị Huyền, Dương Thuý Vi, Lê Thanh Tùng, Hoàng Anh Tuấn, TrầnHiếu Ngân Đặc biệt là đội tuyển bóng đá U23 của Việt Nam đã chiến thắng vang dội,làm nên lịch sử trong trận bán kết giải vô địch U23 Châu Á tại Giang Tô Trung Quốc
Để các vận động viên Việt Nam giành được huy chương vàng, bạc, đồng danh giá tạiđấu trường châu lục và Olympic thì vận động viên phải hội tụ nhiều yếu tố như: Phải
có năng khiếu thể thao xuất chúng; quá trình huấn luyện phải khoa học - hợp lý; cácđiều kiện tập luyện phải đáp ứng được yêu cầu của thể thao thành tích cao; xã hội phảiquan tâm đặc biệt; chế độ tiêu chuẩn của vận động viên phải thỏa đáng và hơn nữa vậnđộng viên phải đam mê và quyết tâm cao để vượt qua khó khăn, gian khổ trong suốtcuộc đời tập luyện của người vận động viên
Ở Việt Nam quá trình tuyển chọn cũng theo 4 giai đoạn giống các nước có nềnthể thao tiên tiến trên thế giới, tuy nhiên đầu tư về kinh phí, trang thiết bị tập luyện, cơhội giao lưu thi đấu quốc tế của VĐV rất hiếm hoi, chỉ những trường hợp đặc biệt xuấtsắc mới được quan tâm, những trường hợp khác chưa thực sự được chú ý, đây cũng lànhững bất cập ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của thể thao thành tích cao ViệtNam
Chúng ta cùng phân tích một số trường hợp tiêu biểu sau đây để tìm ra mô hìnhtìm kiếm và phát triển tài năng thể thao phù hợp với Việt Nam:
1 Nguyễn Thị Ánh Viên
Nguyễn Thị Ánh Viên (sinh ngày 9 tháng 11 năm 1996 tại ấp Ba Cau, xã GiaiXuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ) là 1 nữ vận động viên thuộc đội tuyểnbơi lội quốc gia Việt Nam Khi 19 tuổi cô đã giành 8 huy chương vàng, 1 huy chươngbạc, 1 huy chương đồng cho Việt Nam và phá 8 kỷ lục và được công nhận là vận động
Trang 102015 ở Singapore, với 8 huy chương vàng giành được, Ánh Viên là người giành nhiềuhuy chương vàng thứ 2 sau vận động viên bơi lội nam Joseph Schooling của Singaporetại Seagame 28 Ánh Viên còn đứng thứ 25 thế giới cự ly 400m tự do của nữ và thứ 9thế giới nội dung 400m hỗn hợp Cô cũng là vận động viên duy nhất của Việt Nam, từkhi hội nhập 1993, được đầu tư trọng điểm Việc tập huấn dài hạn trong 6 nămtại Florida, Hoa Kỳ, cường quốc số 1 về bơi lội, của cô có kinh phí lên tới gần 12 tỷđồng
Ban đầu được ông nội dạy bơi, đến khi học lớp 5, Ánh Viên được nhà trườngchọn đi thi đấu tại Hội khỏe Phù Đổng cấp huyện Với thành tích xuất sắc, Ánh Viêntiếp tục được chọn đi thi đấu tại Hội khỏe Phù Đổng cấp thành phố Sau đó Ánh Viên
đã được các huấn luyện viên của Trung tâm TDTT Quốc phòng 4 (Quân khu 9) tuyểnchọn huấn luyện
Năm 2012 Nguyễn Thị Ánh Viên được đưa sang Mỹ ăn tập dài hạn trong vòng
6 năm với kinh phí 2 tỷ đồng/năm (ngành Thể thao chi 60 nghìn USD còn đơn vị chủ quản quân đội chi 40 nghìn USD, hơn cả tổng kinh phí môn bơi được cấp mỗi năm).
Được tập luyện tại Mỹ, Ánh Viên khoác áo câu lạc bộ bơi Saint Augustine(bang Florida), CLB nổi tiếng Ebiscobal và được dẫn dắt bởi chuyên gia Cray AnthonyTeeters, một trong những HLV giỏi nhất của làng bơi lội Mỹ Tại chặng một FINAWorld Cup 2015 tại Moscow, Nga, Ánh Viên đã xuất sắc mang về 2 tấm huy chươngdanh giá cho đoàn thể thao Việt Nam: huy chương đồng ở nội dung 200m hỗn hợp vàhuy chương bạc ở nội dung 400m hỗn hợp cá nhân Tại chặng 2 ở Paris, Ánh Viên tiếptục giành thêm 1 tấm huy chương Bạc nội dung 400m hỗn hợp cá nhân 2017, ÁnhViên đã lập kỉ lục khi có riêng cho mình 8 chiếc HCV ở các nội dung 200m tự do, 50mngửa, 400m hỗn hợp, 200m hỗn hợp, 800m tự do, 400m tự do, 200m ngửa, 100mngửa; hai HCB ở các nội dung 200m ếch, 100m tự do và phá 3 kỉ lục của Sea Games
Đến nay sau hơn 5 năm tập huấn tại Mỹ với khoản kinh phí trên 10 tỷ đồng,kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên đã bước lên đỉnh cao thế giới với hàng loạt kỳ tích, màmới nhất là hai tấm huy chương tại Cúp Thế giới
2 Lê Tú Chinh
VĐV chạy cự ly ngắn Lê Tú Chinh được phát hiện, tuyển chọn tại trường tiểuhọc Tuy Lý Vương quận 8 TPHCM Cô được tập luyện tại Trung tâm Thể thao TPHCM Tháng 11/2016, trong khuôn khổ Giải điền kinh VĐQG 2016 tại Hàng Đẫy, TúChinh giành HCV nội dung 100 và 200m, qua đó tái lập được kỳ tích của chính HLVThanh Hương Lê Tú Chinh chính là người đã chấm dứt cơn khát huy chương củaTP.HCM sau 21 năm Nhận thấy được vai trò, tầm quan trọng cũng như những điềukiện cần thiết để ươm mầm tài năng, tạo điều kiện tối ưu cho tài năng tỏa sáng tháng 2/2018, VĐV điền kinh Lê Tú Chinh cùng HLV Nguyễn Thị Thanh Hương đã lên đường sang Mỹ tập huấn dài hạn Chuyến tập huấn của Tú Chinh kéo dài trong 4 năm tại học viện thể thao IMG (bang Floria, Mỹ) Dự kiến, chi phí học
và tập huấn tại Học viện IMG của Lê Tú Chinh vào khoảng 60.000 USD/năm Mục tiêu của Tú Chinh là giành huy chương tại ASIAD 2018.
2 Đội tuyển bóng đá U 23 Việt Nam
Đội cầu thủ U23 Việt Nam gồm 23 cầu thủ trong đó có 6 cầu thủ thuộc(HAGL), 6 (Hà Nội), 3 (SHB Đà Nẵng), 2 (Sài Gòn), 2 (Viettel), 2(FLC Thanh Hóa),
1 (SLNA) và 1 (Gangwon FC) Qua danh sách trên cho thấy, 23 cầu thủ đội tuyểnbóng đá U23 Việt Nam chủ yếu được tuyển chọn, đào tạo tại 7 Trung tâm bóng đá nổitiếng trong cả nước Quá trình tuyển chọn, đào tạo đều bài bản, có sự đầu tư lớn vàđược xã hội hóa tối đa
Trang 11Dẫn chứng quá trình tuyển chọn, đầu tư tài chính và đào tạo VĐV bóng đá tại
Học viện HAGL – JMG (Học viện bóng đá HAGL) như sau: Học viện tổ chức tuyển
sinh hai năm một lần Năm 2007, trong số 7.000 thí sinh đã có 16 người trúng tuyển.Năm 2009, từ 9.991 thí sinh chỉ chọn được 10 em đến từ 21 tỉnh thành Các học viênthuộc lứa tuổi từ 12 đến 14 Các học viên được đào tạo tại đây trong 7 năm, khôngphải đóng bất kỳ khoản chi phí nào Trúng tuyển, học viên được Học viện lo toàn bộchi phí ăn, học văn hoá, tiếng Anh và tiếng Pháp Chế độ sinh hoạt, ăn uống của cáchọc viên ở đây với chi phí khoảng 400 triệu đồng/em/năm
Quá trình huấn luyện nghiêm ngặt tuân theo các quy luật của Huấn luyện thểthao chuyên nghiệp được các huấn luyện viên tài năng, giàu kinh nghiệm đến từVương Quốc Anh thực hiện
Tóm lại: Từ những dẫn chứng trên cho ta thấy, thành công của các vận động
viên Việt Nam (Nguyễn Thị Ánh Viên, Lê Tú Chinh, Đội bóng đá U23 Việt Nam) đều
phụ thuộc vào các yếu tố quyết định sau:
1 Phải tuyển chọn được các em có năng khiếu thể thao bẩm sinh đặc biệt trên
cơ sở ứng dụng các phương tiện, phương pháp tuyển chọn khoa học hiện đại
2 Các điều kiện đảm bảo để tài năng tỏa sáng như: đầu tư tài chính, cơ sở vậtchất, phương tiện tuyển chọn, huấn luyện, chế độ tiêu chuẩn của VĐV, HLV
3 Vận động viên phải thường xuyên được tham gia các giải đấu trong nước vàquốc tế
4 Vận động viên phải được đào tạo tại những trung tâm thể thao lớn có uy tín ởtrong nước và quốc tế, đặc biệt là các nước Châu Âu, châu Mỹ…
Từ thực tế công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV các môn thể thao ở các tuyến, các
tỉnh thành trên toàn quốc cũng chỉ ra rằng: Việc tuyển chọn, đào tạo (huấn luyện) tài
năng thể thao vẫn còn nhiều bất cập, tuyển chọn, đào tạo theo kinh nghiệm vẫn phổbiến, một số huấn luyện viên không chủ động học hỏi, vươn lên trong việc tiếp cận vớikhoa học tuyển chọn, huấn luyện hiện đại nên tụt hậu, kết quả tuyển chọn, huấn luyện
chưa cao Kinh phí đầu tư cho tập luyện, tập huấn của VĐV, HLV quá thấp (trung bình 190 ngàn/1 người/1 ngày cả ăn ở, đi lại) cho VĐV các đội tuyển trẻ của cá tỉnh
thành phố Đây có thể là những khó khăn cần nhanh chóng tháo gỡ nếu muốn thể thaoViệt Nam nhanh chóng phát triển theo kịp các nước trong khu vực và thế giới
1.1.2.1 Về đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện tuyển chọn, huấn luyện
- Trên cơ sở giao dự toán ngân sách nhà nước cấp cho từng năm các đơn vịchuyên môn làm nhiệm vụ quản lý, tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao có kếhoạch giải ngân phục vụ nhiệm vụ chính trị của mình Bên cạnh đó công tác tuyểnchọn, đào tạo tài năng thể thao đã có những đổi mới tích cực như: xã hội hóa được chútrọng nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển thể thao thànhtích cao và thể thao chuyên nghiệp
- Tăng cường phát triển kinh tế thể thao, xác định rõ các lĩnh vực hoạt độngkinh doanh thể dục, thể thao, thúc đẩy hoạt động kinh doanh thể thao chuyên nghiệp;khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác giữa nhà nước, các tổ chức xãhội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong phát triển kinhdoanh thể dục, thể thao ở trong và ngoài nước, phù hợp với chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước
- Từng bước chuyển giao các hoạt động tác nghiệp trong hoạt động thể dục, thểthao cho các liên đoàn, hiệp hội thể thao thực hiện
Trang 12- Công tác tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao đã có những đổi mới về mụctiêu; đa dạng hoá loại hình đào tạo và các nguồn kinh phí, việc xã hội trong tuyểnchọn, đào tạo tài năng thể thao bước đầu đã có những chuyển biến rõ rệt, nhiều tậpđoàn lớn tham gia tích cực, có hiệu quả như: HAGL, JMG, VinGroup, Viettel… đónggóp quan trọng cho sự phát triển toàn diện của thể thao thành tích cao, thể thao chuyênnghiệp Việt Nam.
Đại hội Thể thao Đông Nam Á năm 2003 là SEA Games lần thứ 22 được tổchức tại Việt Nam từ 5 đến 13 tháng 12 năm 2003 Đây là lần đầu tiên Việt Nam đăngcai SEA Games, đ ịa điểm thi đấu được tổ chức tại 10 tỉnh và thành phố trên cả nước là:
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, NinhBình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình Có thể nói để Đại hội Thể thao Đông Nam Ánăm 2003 ( SEA Games lần thứ 22) thành công tốt đẹp, Đảng, Nhà nước đã đầu tư xâydựng mới nhiều sân vận động nhà thi đấu, trang thiết bị dụng cụ tập luyện đến naysau 15 năm khai thác, sử dụng nhiều sân vận động, nhà thi đấu đã xuống cấp cầnphải tu sửa lại Tuy nhiên do nguồn kinh phí hạn hẹp dành cho thể dục thể thao nêngặp nhiều khó khăn Mặc dù vậy việc khai thác để tập luyện vẫn được tiến hànhthường xuyên
1.1.2.2 Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng tuyển chọn, đào tạo
- Hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và côngnghệ vào tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao được các trường đại học TDTT, CácTrung tâm đào tạo VĐV quốc gia quan tâm nghiên cứu hàng năm có nhiều kết quảnghiên cứu được ứng dụng vào thực tế trong các lĩnh vực của thể thao thành tích caonhư: Huấn luyện thể thao, tuyển chọn thể thao, quản lý thể thao, kinh tế thể thao, y họcthể thao
- Việc tháo gỡ nhiều rào cản, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để huy động độngtối đa các nguồn lực ở trong và ngoài nước đầu tư cho khoa học và công nghệ, ứngdụng vào hoạt động thể dục, thể thao được thực hiện
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và ứng dụng khoa học vàcông nghệ trong y học thể thao cho các cơ sở y học thể thao và các cơ sở thể thaokhác, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học, kiểm tra y học, đánh giá thể chất, phòngngừa, chữa trị, hồi phục chấn thương, nhất là đối với thể thao thành tích cao
- Phát huy lợi thế của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về thể dục, thể thao trongđào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho nhân lực khoa học và công nghệ trong hoạtđộng thể dục, thể thao
1.1.2.3 Công tác hợp tác quốc tế về tuyển chọn, đào tạo
- Các cơ sở đào tạo, các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia, các Liên đoàn,Hiệp hội thể thao, Ủy ban Olympic Việt Nam đã chủ động, tích cực triển khai có hiệuquả các hoạt động hợp tác quốc tế; củng cố và phát triển các hoạt động hợp tác với cácquốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực đã và đang có quan hệ hợp tác truyền thống về thểdục, thể thao, chú trọng khu vực Đông Nam Á, châu Á và một số quốc gia khác; hợptác đào tạo, tập huấn VĐV trong các môn thể thao thế mạnh của mỗi quốc gia; nghiêncứu khoa học, đào tạo cán bộ quản lý, huấn luyện viên
- Đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các quốc gia phát triển về thể dục, thể thao ởchâu Á và thế giới, chú trọng các nội dung hợp tác, liên kết đặc thù đối với mỗi quốcgia; duy trì hợp tác với Hội đồng thể thao quân sự quốc tế (CISM)
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư, hỗ trợ nguồnlực phát triển thể dục, thể thao Việt Nam
Trang 131.1.2.4 Về cơ chế chính sách trong tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao
Từ năm 1990 đến nay Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan đã banhành 12 văn bản liên quan tới chế độ, chính sách của huấn luyện viên, VĐV thể thaonhư sau (bảng 1):
Bảng 1 văn bản liên quan tới chế độ, chính sách của huấn luyện viên, vận động viên thể thao ST
1 TTLB 01/TTLB/BGD-
TCTDTT-BTC-BLĐTBXH
10/1/1990 Thông tin về một số chế độ đối với
giáo viên, vận động viên, huấn luyệnviên thể dục thể thao
2 TTLB 86/TTLB/-
TCTDTT-BTC-BLĐTBXH
24/10/1994 Thông tư về hướng dẫn thực hiện chế
độ dinh dưỡng đối với VĐV và HLVthể thao
3 TTLT
14/1998/TTLT-
BTCCBCP-BLĐTBXH-BTC-UBTDTT
30/12/1998 Thông tư về hướng dẫn thực hiện một
số chế độ đối với vận động viên, huấnluyện viên thể thao
4 QĐ 429/1999/QĐ-
UBTDTT 4/5/1999 Quyết định về việc tạm thời mức tiềnthưởng cho các vận động viên, huấn
luyện viên đạt huy chương ở giải vôđịch trẻ và giải thể thao quần chúngcấp quốc gia
5 TTLT
98/1999/TTLT/BTC-UBTDTT
16/8/1999 Thông tư về việc hướng dẫn nội dung
và mức chi chương trình quốc gia vềthể thao
6 TTLT
103/2004/TTLT/BTC-UBTDTT
5/11/2004 Thông tư về việc hướng dẫn thực hiện
chế độ dinh dưỡng đối với vân độngviên, huấn luyện viên thể thao
7 QĐ 15/2005/QĐ-
UBTDTT 7/1/2005 Quyết định về việc ban hành quy địnhkhung về phong đẳng cấp vận động
viên cho các môn thể thao
8 QĐ 44/2005/QĐ-
UBTDTT 13/1/2005 Quyết định về việc ban hành quy chếđảm bảo y tế cho vận động viên các
đội tuyển thể thao
9 QĐ số 234/2006/QĐ-TTg 18/10/2006 Quyết định về một số chế độ đối với
Huấn luyện viên, Vận động viên thểthao
10 32/2011/QĐ-TTG 06/06/2011 Về một số chế độ đối với huấn luyện
viên, vận động viên thể thao được tậptrung tập huấn và thi đấu
11
149/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL
07/11/2011 về hướng dẫn thực hiện chế độ dinh
dưỡng đặc thù đối với vận động viên,huấn luyện viên thể thao thành tích cao
12 QĐ số 82/2013/QĐ-TTg 31/12/2013 Về một số chính sách đặc thù đối với
huấn luyện viên, vận động viên thể thaoxuất sắc
Trang 14Đối với huấn luyện viên, vận động viên trực thuộc Bộ công an và Bộ Quốcphòng quản lý cũng có những chế độ riêng phù hợp để huấn luyện viên, vận động viênyên tâm tập luyện, thi đấu Ví dụ, ngày 12 tháng 09 năm 2016, Bộ Quốc phòng đã banhành Thông tư số 138/2016/TT-BQP hướng dẫn thực hiện một số chế độ đối với HL
viên, vận động viên thể thao quân đội được tập trung tập huấn và thi đấu (phụ lục 2)
1.2 Yếu tố ảnh hưởng tới tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao
1.2.1 Tính đặc thù trong tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao.
Tài năng thể thao(vận động viên tài năng) là sự kết hợp ổn định của các khả
năng vận động, tâm lý, cũng như các tư chất giải phẫu - sinh lý, tạo thành tiềm năngtổng hợp để đạt thành tích cao ở môn thể thao đó Tài năng thể thao không mang tínhchất bẩm sinh, nhưng những tiền đề sinh vật học tự nhiên như: đặc điểm giải phẫu -sinh lý, năng lực chuyển hóa sinh học là những yếu tố cơ bản để phát triển tài năngthể thao thì lại luôn mang tính di truyền Khả năng đạt thành tích cao hay thấp tronghoạt động vận động nào đó tùy thuộc vào mức độ và chất lượng của sự kết hợp ấy Bảnthân những tư chất sinh học mới chỉ là những tiền đề sinh học, trong đó các dạng năngkhiếu còn đang tiềm ẩn, chưa bộc lộ Vì vậy, để một tài năng thể thao có được thànhtích thể thao cao trong tương lai, cần phải tập luyện lâu dài nhằm xây dựng vững chắcđược các kỹ năng, kỹ xảo động tác của môn thể thao chuyên sâu và rèn luyện cácphẩm chất tâm lý cần thiết Một thành tích thể thao nổi bật là kết quả không chỉ củaquá trình khổ luyện, mà còn là kết tinh của các năng lực mang đặc điểm di truyền vốn
có của chính VĐV
Như vậy, tài năng thể thao là sự tổng hòa những đặc điểm rất đa dạng về hìnhthái, chức phận, tâm lý, các tố chất thể lực và những đặc điểm khác của con người kếthợp với sự tập luyện kiên trì, lâu dài để đạt được những kết quả kỷ lục trong từng mônthể thao cụ thể Việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao là một quá trình chặt chẽ,khoa học và lâu dài Là quá trình tuân thủ những nguyên tắc huấn luyện đặc thùnghiêm ngặt mang tính đặc thù rất cao
Huấn luyện viên tài năng chủ yếu đều xuất thân từ vận động viên cấp cao cótrình độ chuyên môn giỏi sau khi không còn khả năng giành huy chương trong các giảiđấu quốc gia, quốc tế Họ là những người đã có quá trình tập luyện gian khổ, đã đượctôi luyện ý chí, nghị lực, sự quyết tâm vượt qua những khó khăn, những yêu cầu khắtkhe, nghiêm ngặt của thể thao thành tích cao Họ là những người đã được tích lũy vốnkinh nghiệm dày dạn, phong phú thông qua quãng đời hoạt động thể thao chuyênnghiệp, họ có khát vọng vươn lên, có đam mê nghề nghiệp cháy bỏng, có phẩm chất,nhân cách, đạo đức tốt muốn tiếp tục cống hiến khả năng, sức lực của mình cho sựphát triển thể thao của nước nhà
1.2.2 Quy trình tuyển chọn, đào tạo(huấn luyện) tài năng thể thao
Huấn luyện thể thao được xây dựng như một quá trình nhiều năm bao gồm cácthời kỳ lứa tuổi của VĐV Nội dung và hình thức cấu trúc huấn luyện sẽ thay đổi đểphù hợp với đặc điểm lứa tuổi và Logic quá trình hoàn thiện thể thao Trên thực tế quátrình huấn luyện nhiều năm được phân chia tương đối thành 4 giai đoạn lớn, ở mỗi giaiđoạn đó tập luyện mang những đặc điểm cơ bản: giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ,giai đoạn chuyên môn hóa thể thao bước đầu(hoặc chuẩn bị cơ sở), giai đoạn hoànthiện sâu và giai “đoạn tuổi thọ thể thao” Giới hạn tuổi của các giai đoạn đó giao độngkhá lớn (tùy thuộc tính chất riêng biệt của các môn thể thao và những đặc điểm cánhân của VĐV)
Hiện nay giai đoạn 3 được nghiên cứu đầy đủ hơn cả Sự chú ý của các nhànghiên cứu trước tiên tập chung vào giai đoạn này vì nó có quan hệ đến những nhiệm
Trang 15vụ chuẩn bị các đội tuyển quốc gia tham gia các cuộc thi đấu quốc tế quan trọng Hiệnnay những hiểu biết khoa học về những gia đoạn khác còn có nhiều hạn chế Điều đócắt nghĩa chủ yếu bằng những khó khăn của việc thu thập những số liệu nghiên cứu về
cả “quãng đường” nhiều năm tiến tới những thành tích cao trong thể thao Tuy vậy đểquá trình tuyển chọn, đào tạo có hiệu quả tốt cả 4 giai đoạn này đều có vai trò quantrọng không thể coi nhẹ
Thực tế việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao cho thấy đây là quá trình trảiqua 2 giai đoạn lớn là tuyển chọn, đào tạo tài năng trẻ và tuyển chọn, đào tạo tài năngcấp cao
Giai đoạn 1 đào tạo tài năng trẻ: VĐV, huấn luyện viên (HLV) tương lai đượctuyển chọn, đào tạo tại các trường đại học TDTT, trường năng khiếu thể thao, cáctrung tâm thể thao các tỉnh, thành phố trên cả nước
Giai đoạn 2 tuyển chọn, đào tạo tài năng cấp cao: VĐV, HLV được tuyển chọnhuấn luyện tại 04 trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và trung tâm đào tạo VĐVcủa Đại học TDTT Bắc Ninh có kết hợp huấn luyện đào tạo tại các TTHLTT ngoàinước
1.2.3 Các điều kiện đảm bảo chất lượng tuyển chọn, đào tạo
Thành tích thể thao cao phụ thuộc vào các điều kiện cơ bản sau:
1.2.3.1 Đối với vận động viên
- Phải tuyển chọn được trẻ em có năng khiếu bẩm sinh phù hợp với nộidung thi đấu ở môn thể thao nhất định nào đó
- Trẻ em sau khi đã được tuyển chọn phải được đưa vào các trường năngkhiếu thể thao để huấn luyện và tuyển chọn theo các quy trình định sẵn
- Việc học văn hóa trong chương trình phổ thông từ mẫu giáo tới trung họcphổ thông, đại học… phải được quan tâm thích đáng
- Chế độ chính sách, chế độ khen thưởng… phải cụ thể, khuyến khích đượccác VĐV, gia đình VĐV yên tâm, tin tưởng, để VĐV chuyên tâm, tích cực tậpluyện
- Chế độ dinh dưỡng, hồi phục… phải được thực hiện tốt đảm bảo đểVĐV, huấn luyện viên có đủ sức lực, tinh thấn quyết tâm vượt qua những khó khăntrong tập luyện để vươn tới thành tích mới, đỉnh cao mới
- Trang thiết bị, sân bãi tập luyện phải đảm bảo đáp ứng được những yêucầu tập luyện…
- Trong quá trình tập luyện, nếu VĐV không có khả năng đạt thành tíchcao, không thể tiến xa hơn trên con đường chinh phục kỷ lục thể thao, hoặc họ bịchấn thương… các cơ quan ngành thể dục thể thao phải có giải pháp kịp thời giúp
họ có hướng phát triển mới trong tương lai
- Khi VĐV chuyên nghiệp sau thời gian dài cống hiến sức lực, trí tuệ, tàinăng của mình cho thể thao thành tích cao đã hết khả năng đạt huy chương ngànhthể thao phải có giải pháp thích hợp tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, hoặctạo công ăn việc làm phù hợp, tương ứng để họ không gặp những khó khăn dongành nghề mang lại, ảnh hưởng xấu tới nhu cầu, động cơ của những VĐV khác
1.2.3.2 Đối với huấn luyện viên
- Huấn luyện viên phải là những người giỏi có nhiều kinh nghiệm trong tậpluyện và thi đấu thể thao, họ đã trải qua thời kỳ là VĐV chuyên nghiệp, huấn luyệnviên phải có đạo đức, phẩm chất nhân cách tốt, có lòng say mê yêu nghề, có tráchnhiệm cao
Trang 16- Thường xuyên học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, huấn luyện viên phảiđược tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng trong và ngoài nước.
- Chế độ chính sách của huấn luyện viên phải được quan tâm thích đáng để
họ yên tâm làm chuyên môn
- Để trở thành huấn luyện viên tài năng, những vận động viên này cần được đàotạo bài bản, khoa học tại các trường Đại học có uy tín về TDTT ở trong và ngoài nước,trên cơ sở đó giúp họ cập nhật những kiến thức mới tiên tiến, hiện đại về huấn luyệnthể thao của các quốc gia trên thế giới kết hợp với kinh nghiệm bản thân đã tích lũycùng với nhiều điều kiện cần thiết đảm bảo khác họ mới có cơ hội trở thành huấnluyện viên tài năng
1.2.3.3 Các điều kiện đảm bảo cho tài năng thể thao phát triển.
-Trang thiết bị, sân bãi dụng cụ, phương tiện tập luyện, thi đấu… phải đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu cao trong tập luyện
- HLV, VĐV phải được tham gia các giải đấu trong nước, quốc tế thường xuyên
- Chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật phải thỏa đáng, công bằng, kịpthời…
- Vấn đề sử dụng nhân lực sau đào tạo phải phù hợp, nhân văn: Để đạt đượcthành tích thể thao VĐV phải trải qua quá trình tập luyện kiên trì, lâu dài 8 đến 10năm mới có cơ hội đạt huy chương, kỷ lục trong các giải đấu quốc tế Tuy nhiênthành tích khó đạt được, trong khi rủi ro luôn dình dập VĐV luôn đối mặt với căngthẳng của lượng vận động tập luyện, với sức ép tâm lý của thành tích, của huấnluyện viên, của đối phương, khán giả, trọng tài, thời tiết, chấn thương,… trong tậpluyện Vì vậy, vấn đề sử dụng tài năng thể thao sau khi không còn khả năng đạtthành tích cao có ý nghĩa rất quan trọng Thời gian huấn luyện dài, thời gian đạtthành tích ngắn, thậm chí có VĐV chưa kịp thi đấu để giành thành tích đã phải giảinghệ vì chấn thương, hoặc nhiều lý do khác… Giải quyết việc làm đối với họ thực
sự là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu, có như vậy những VĐV trẻ tài năngkhác, những huấn luyện viên khác mới đam mê đem hết khả năng của mình để cốnghiến cho sự phát triển của thể thao đỉnh cao nước nhà
- Vấn đề cơ chế chính sách đãi ngộ đối với tài năng thể thao: Cơ chế chínhsách đãi ngộ đối với tài năng thể thao có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyển chọnVĐV trẻ tương lai Có thể thấy, chế độ ưu đãi trong học tập văn hóa, chế độ bồidưỡng tập luyện, chế độ lương, bảo hiểm, cơ chế đãi ngộ đặc biệt, khuyến khíchnhân tài , góp phần quyết định đến vấn đề thu hút người người có tài, tâm huyết,cống hiến với nghề nghiệp Tuy nhiện vấn đề này hiện nay còn nhiều bất cập VĐVcác trường năng khiếu thể thao gặp rất nhiều khó khăn trong việc đan xen giữa họcvăn hóa và tập luyện thể thao
- Toàn xã hội phải chung tay góp sức người, sức của, đồng lòng tiếp thêmsức mạnh cho vận động viên, huấn luyện viên có thêm động lực, niềm tin, sự quyếttâm trong tập luện thi đấu để giành giải cao trong các cuộc thi châu lục thế giới vàOlympic
1.2.4 Thực trạng tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao giai đoạn
2008 -2017
1.2.4.1.Tuyển chọn, đào tạo vận động viên thể thao tài năng
Hiện nay tham gia tuyển chọn, đào tạo vận động viên thể thao tài năng, có 6 cơ
sở trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là: Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh;Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội; Trung tâm huấn luyện thể thao quốcgia Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Đà Nẵng; Trung
Trang 17tâm huấn luyện thể thao quốc gia Cần Thơ và Viện Khoa học Thể dục thể thao cùngvới 27 Liên đoàn, Hiệp hội thể thao cấp quốc gia và 02 tổ chức xã hội về thể dục, thểthao là Ủy ban Olympic Việt Nam.
Ngoài ra có các Trung tâm HL thể thao phụ trợ: Trung tâm huấn luyện thể thao(TTHLTT) thành phố Hà Nội, TTHLTT thành phố Đà Nẵng, TTHLTT thành phố HồChí Minh, TTHLTT thành phố Hải phòng, TTHLTT thành phố Cần Thơ, Trung tâmhuấn luyện thể thao Quân đội nhân dân, Trung tâm huấn luyện thể thao Công an nhândân, 01 Trường Cao đẳng TDTT, 03 Trường Trung cấp TDTT do các tỉnh thành phốquản lý, khoảng trên 1.100 Trung tâm huấn luyện thể thao, câu lạc bộ thể thao, trườngnăng khiếu thể thao, thuộc 63 tỉnh thành trên cả nước tham gia tuyển chọn, đào tạo tàinăng thể thao
Việc tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao còn được thông qua phong tràoTDTT trong các trường học, sẽ phát hiện được trẻ em có năng khiếu để đưa đi đào tạo
Việc tuyển chọn, đào tạo vận động viên tài năng được thực hiện theo 3 giaiđoạn sau:
Giai đoạn 1 Chuẩn bị thể thao sơ bộ: Bắt đầu từ tuổi học sinh cấp I (trong một
số môn TT có thể sớm hơn, ví dụ: thể dục thi đấu, trượt băng nghệ thuật có thể tuyểnchọn, huấn luyện từ 4 đến 5 tuổi) Huấn luyện thể thao trong giai đoạn này chỉ mangtính ước lệ, buổi tập được xây dựng chủ yếu theo hình thức huấn luyện thể lực chung,với việc sử dụng rộng rãi các phương tiện giáo dục và giáo dưỡng thể chất toàn diện,vừa sức Trẻ em được thử sức mình trong nhiều môn thể thao khác nhau và nhờ sựhướng dẫn của các nhà sư phạm mà chọn cho các em môn tập phù hợp Giai đoạn nàythường được kéo dài từ 1 - 2 năm Kết thúc giai đoạn này và chuyển sang giai đoạntiếp theo khi lựa chọn được một môn thể thao chuyên sâu
Giai đoạn 2 Chuyên môn hoá thể thao bước đầu: (hoặc chuẩn bị cơ sở): Giai
đoạn này đặt nền móng cho thành công trong tương lai, chuyên môn hóa bước đầuthực hiện theo xu hướng huấn luyện chung là chủ yếu Giai đoạn này VĐV đượcchuyên môn hoá đa môn Trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tính thể thao cũngtăng lên dần Cuối giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu việc huấn luyện được tổ chứcphù hợp với những quy luật thành tích cao trong thể thao Giai đoạn này kéo dài 3 - 4năm
Giai đoạn 3 Hoàn thiện sâu (phát huy khả năng tối đa): Đây là giai đoạn hưng
thịnh nhất cho tập luyện thể thao, cho tiếp cận đỉnh cao của tài nghệ đối với mỗi vậnđộng viên Trong giai đoạn này tất cả các quy luật chuyên môn của huấn luyện thểthao đều bộc lộ rõ rệt, quá trình huấn luyện có đầy đủ đường nét của chuyên môn hoásâu, tỷ lệ huấn luyện thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý chuyên môn tăng đáng kể vàchiếm ưu thế Tổng khối lượng và cường độ đều tăng với nhịp độ cao và đạt tới mứctối đa với mỗi cá nhân (thường vào nửa đầu giai đoạn này) Ở giai đoạn này các VĐVtiếp tục phân hoá: những người có tài năng sẽ được tuyển vào lĩnh vực thể thao thànhtích cao, tiếp tục con đường hoàn thiện tài năng Còn những người không được vào độituyển họ có thể duy trì xu hướng thành tích tối đa trong chừng mực cụ thể cho phép.Giai đoạn hoàn thiện sâu được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ “tuổi thành tích cao” tuổi
mà trong đa số các môn thể thao có tuổi từ 18 -22, 22-26 ở một số môn thể thao kháctuổi có thể cao hơn ở thời kỳ duy trì thành tích
Giai đoạn 1 và 2 việc tuyển chọn, đào tạo vận động viên thể thao tài năng đượcthực hiện tại các Trung tâm huấn luyện thể thao và trường năng khiếu TDTT địaphương Hiện nay có khoảng 20.000 VĐV trẻ đang tập luyện và thi đấu tại các trung
Trang 18tuyển chọn, đào tạo và cung cấp nguồn VĐV trẻ tài năng cho các Trung tâm huấnluyện thể thao quốc gia
Giai đoạn 3 khi đã tuyển chọn được các vận động viên trẻ có năng khiếu đặcbiệt và chọn được môn thể thao làm phương tiện thi đấu phù hợp với khả năng củamình thì được chuyển lên 4 Trung tâm HLTTQG và trường Đại học TDTT Bắc Ninh.Các cơ sở này có nhiệm vụ huấn luyện cho VĐV thuộc đội tuyển quốc gia phục vụtrực tiếp cho thi đấu quốc tế
Qua khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi 291(Phụ lục 3) vận động viên đội tuyển
quốc gia đang tập luyện tại Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh; Trung tâm huấn luyệnthể thao quốc gia Hà Nội; Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Đà Nẵng cho thấy,vận động viên có năng khiếu đến với tập luyện thể thao là 39,5%; do đam mê thể thao68,7%; do hoàn cảnh gia đình 2% và thần tượng thể thao 2%; vận động viên tham giatập luyện dưới 5 năm 52%; vận động viên tham gia tập luyện trên 5 năm 40 %; VĐVtham gia tập luyện trên 10 năm 8% (sơ đồ 1)
Sơ đồ 1 Thâm niên tập luyện thể thao chuyên nghiệp
của vận động viên tài năng (n=291)
Thành tích thi đấu đã đạt được qua giải đấu quốc tế huy chương vàng 20,2%; huy chương bạc 8,2%; huy chương đồng 4,8%
Mỗi năm vận động viên được tham gia học tập các lớp bồi dưỡng kiến thức 1lần 33%; 2 lần 23,7%; 3 lần 6,3%; nhiều lần 37%; vận động viên được tham gia thiđấu trong nước 1 lần 20,3%; 2 lần 19%; 3 lần 26,5%; nhiều lần 34,2% ( sơ đồ 2) Vậnđộng viên được tham gia thi đấu quốc tế nhiều lần 8,6%; 3 lần 1,7%; 2 lần 6,9%; 1 lần
27,5%; không được thi quốc tế lần nào 55,3% ( sơ đồ 3).
Sơ đồ 2 Số lần tham gia các giải đấu trong nước
của vận động viên(n=291)
Trang 19Sơ đồ 3 Số lần tham gia các giải đấu quốc tế
của vận động viên(n=291)
Sân bãi, dụng cụ đáp ứng yêu cầu tập luyện 63%, Cần trang bị tốt hơn 34,3%,
“Không” đáp ứng được, chiếm tỷ lệ 2,7% (sơ đồ 4)
Sơ đồ 4 Thực trạng sân bãi, dụng cụ phục vụ tập luyện
của vận động viên(n=291)
Việc quản lý, đào tạo VĐV hiện nay là Tốt 61,5%, khá 22,7%, Bìnhthường” chiếm tỷ lệ 15,4%, “Kém” chiếm tỷ lệ 0,34% (sơ đồ 5)
Sơ đồ 5 Thực trạng việc quản lý, đào tạo vận động viên
thể thao tài năng(n=291)
Quá trình tập luyện VĐV “Lạc quan” về tương lai của mình 50,5%, Lo lắng” vềtương lai của mình 42%, Không nghĩ gì” về tương lai của mình 7,5% (sơ đồ 6)
Trang 20Sơ đồ 6 Suy nghĩ của các vận động viên thể thao tài năng
về tương lai (n=291)
Chấn thương trong thể thao không làm vận động viên sợ hãi 23,3%, Sợ hãi70,4%, không nghĩ gì 6,3% (sơ đồ 7)
Sơ đồ 7 Cảm nghĩ của vận động viên thể thao tài năng
về chấn thương trong tập luyện(n=291)
Trong số 291 vận động viên được hỏi có 97,2% muốn được ra nướcngoài để tập luyện, thi đấu, chỉ có 2,8% không muốn ra nước ngoài, có 82,8%vận động viên muốn được tập luyện với chuyên gia nước ngoài, 17,1 % thế nàocũng được hoặc không muốn tập với chuyên gia nước ngoài (sơ đồ 8)
Trang 21Sơ đồ 8 Suy nghĩ của vận động viên về việc tập luyện
với chuyên gia nước ngoài (n=291)
Trong năm 2017, Tổng cục Thể dục thể thao đã triệu tập tập huấn 2.104 lượt
VĐV, (847 lượt VĐV các đội tuyển trẻ) để chuẩn bị tham dự tham dự SEA Games 29,
Đại hội Thể thao trong nhà và Võ thuật châu Á tại Turkmenistan và các đại hội, giảithể thao quốc tế khác
VĐV 10 môn thể thao trọng điểm loại I là: điền kinh, bơi, cử tạ, Taekwondo,vật (hạng cân nhẹ), bắn súng, Karatedo, boxing (nữ), cầu lông, bóng bàn và 22 mônthể thao trọng điểm loại 2 (bóng đá, bóng chuyền, Judo, Wushu, cầu mây, đấu kiếm,thể dục dụng cụ, Pencak Silat, bắn cung, xe đạp, cờ vua và cờ tướng, bi sắt, lặn, bóngném, Dance Sport, Sport Aerobic, quần vợt, thể hình, Canoe-Kayak, Rowing, Billiard-Snooker và Vovinam) thường xuyên được tập huấn, tập trung cả năm
Ngoài một số những vấn đề cơ bản nêu trên 100% vận động viên thể thao tàinăng đề có mong muốn: Cần nhiều thời gian hơn trong quá trình học văn hóa; có nhiềuphương pháp điều trị chấn thương hơn, quan tâm hơn về việc sinh hoạt của các vậnđộng viên, tăng tiền công vì hiện tại so với giá cả, chi phí bên ngoài thì tiền công củaVĐV rất thấp, mong được nhận tiền lương đúng hạn, trang bị thêm trang thiết bị, dụng
cụ luyện tập (sửa chữa máy móc, khắc phụ trang thiết bị trong phòng và thêm quạt vào mùa hè), tạo điều kiện cho đi học trong thời gian có giải đấu, thay đổi về quần áo
đồng phục của vận động viên tại trung tâm, quần áo Thể thao cải tiến về hình thứcthẩm mỹ cũng như chất lượng, cần đạn tập luyện, có chế độ đãi ngộ sau khi các VĐVhết tuổi hoặc không có khả năng tham gia tập luyện và thi đấu do chấn thương, cầnđược quan tâm hơn trong ăn ở, sinh hoạt và tập luyện thi đấu, tăng chế độ ăn uống(hiện tại vẫn thường xảy ra trường hợp khi đi tập về hết thức ăn), cần thời gian tậpluyện dài hạn, tập 6 tháng hay 1 năm như hiện nay rất khó phát triển, không phù hợp,cần tổ chức giải đấu nhiều hơn ở trong nước để vận động viên có nhiều cơ hội thi đấuđược đi tập huấn ở nước ngoài đế mở mang tầm mắt, có kế hoạch tập huấn ở trongnước và nước ngoài lâu dài để nâng cao năng lực và mong muốn được cọ sát với cácđội khác nhiều hơn…
1.2.4.2.Thực trạng tuyển chọn, đào tạo các huấn luyện viên tài năng
Việc đào tạo huấn luyện viên tài năng được thực hiện tại 3 trường: đại họcTDTT Bắc Ninh; đại học TDTT Đà Nẵng và đại học TDTT TP Hồ Chí Minh Trườngcao đẳng TDTT, 27 Liên đoàn, IFs, Afs, Ủy ban Olympic… các HLV tài năng tươnglai theo học tại khoa huấn luyện thể thao chủ yếu là các VĐV đang vừa tập luyện thiđấu, vừa theo học đại học
Bên cạnh huấn luyện chuyên môn, các Trung tâm, các cơ sở đào tạo VĐV, HLVtrên toàn quốc cũng thực hiện công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức lối sốngtrang bị những tri thức có liên quan tới quá trình tập luyện cho VĐV, HLV
Trong năm 2017, Tổng cục Thể dục thể thao đã triệu tập tập huấn 404 huấn
luyện viên, 28 chuyên gia( 32 môn thể thao trọng điểm nhóm 1 và 2) để chuẩn bị tham
dự các đại hội, giải thể thao quốc tế
Thông thường huấn luyện viên tại các trường năng khiếu thể thao hoặc cácTrung tâm huấn luyện thể thao là những người đã từng là VĐV, nhưng không còn khảnăng thi đấu đạt thành tích cao nữa Đa số họ đã tốt nghiệp đại học TDTT, là huấnluyện viên, huấn luyện viên chính, đặc biệt có cả huấn luyện viên cao cấp tham giahuấn luyện Các huấn luyện viên nếu có VĐV giỏi, có thành tích xuất sắc sẽ được tập
Trang 22Qua khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi 106 (Phụ lục 4) huấn luyện viên đội tuyển
quốc gia đang làm công tác huấn luyện tại Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh; Trungtâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội; Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia ĐàNẵng cho thấy, trước khi tham gia công tác quản lý, huấn luyện có 92.4% huấn luyệnviên từng là “vận động viên”, 6.6% là “giảng viên”, 1.88%chiếm tỷ lệ làm ngànhkhác” (sơ đồ 9)
Sơ đồ 9 Thực trạng nghề nghiệp của huấn luyện viên tài năng( n=106)
Thâm niên công tác của các huấn luyện viên đã tham gia quản lý, huấn luyệndưới 5 năm 24.5%, trên 5 năm 40,5%, trên 10 năm 35% (sơ đồ 10)
Sơ đồ 10 Thâm niên công tác của huấn luyện viên tài năng( n=106)
Thành tích huấn luyện đã đạt được qua giải đấu Trong nước 47,1%, Quốc tế”70,7% Những phương pháp tuyển chọn VĐV hiện nay đang áp dụng tại trung tâm
“Tuyển chọn khoa học” chiếm tỷ lệ 63,2%, Tuyển chọn theo kinh nghiệm” 39,6%,
“Tuyển chọn qua các giải đấu” chiếm tỷ lệ 50%
Qua khảo sát 106 huấn luyện viên, cũng chỉ ra công tác tuyển chọn và đào tạo hiện nay Tốt 75%, Chưa tốt 11.5%, Cần quan tâm” chiếm tỷ lệ 13,7%( sơ đồ 11)
Trang 23Sơ đồ 11 Thực trạng công tác tuyển chọn và đào tạo
hiện nay qua khảo sát (n=106)
Chế độ chính sách cho huấn luyện viên hiện nay Phù hợp chiếm tỷ lệ27,3%, Chưa phù hợp 39,6%, Cần quan tâm 33,1% ( Sơ đồ 12)
Sơ đồ 12 Khảo sát về chế độ chính sách cho huấn luyện viên(n=106)
Việc chức các giải thể thao trong nước và quốc tế rất cần thiết 52,8%, cần thiết”
47,1% Vấn đề đưa huấn luyện viên đi tập huấn, đào tạo ở nước ngoài rất cần thiết
68,8%, cần thiết” chiếm tỷ lệ 31,1%, thường xuyên tổ chức lớp bồi dưỡng nâng caotrình độ, nhận thức cho huấn luyện viên rất cần thiết, cần thiết 18%, mở các khóa họcnâng cao trình độ ngoại ngữ rất cần thiết 54,7%, cần thiết” 45,2% (sơ đồ 13)
Sơ đồ 13 Vai trò của việc mở các khóa học nâng cao trình độ ngoại ngữ
cho huấn luyện viên(n=106)
Vấn đề thuê chuyên gia có trình độ cao có uy tín của nước ngoài tham gia đàotạo rất cần thiết 54,7%, cần thiết” chiếm tỷ lệ 43,5%, không cần thiết” chiếm tỷ lệ1,8% (sơ đồ 14)