SỰ CẦN THIẾT MỞ MÃ NGÀNH ĐÀO TẠO LUẬT KINH TẾ - TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN 1.1 Giới thiệu về Học viện Chính sách và Phát triển Học viện Chính sách và Phát t
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỀ ÁN MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO LUẬT KINH TẾ - TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
- Tên ngành đào tạo : Luật Kinh tế
- Chuyên ngành : Luật Đầu tư – Kinh doanh
- Mã số : 7380107
- Tên cơ sở đào tạo : Học viện Chính sách và Phát triển
- Trình độ : Đại học
HÀ NỘI – NĂM 2018
Trang 2i
MỤC LỤC
PHẦN 1 SỰ CẦN THIẾT MỞ MÃ NGÀNH ĐÀO TẠO LUẬT KINH TẾ -
TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN 3
1.1 Giới thiệu về Học viện Chính sách và Phát triển 3
1.2 Sự cần thiết về việc mở ngành đào tạo Luật kinh tế trình độ đại học tại Học viện Chính sách và Phát triển 4
1.2.1 Việc mở mã ngành đào tạo Luật Kinh tế là phù hợp với chiến lược phát triển của Học viện nhằm thích ứng với bối cảnh hội nhập và tác động của CMCN 4.0 4
1.2.2 Việc mở mã ngành đào tạo Luật Kinh tế đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cả nước đối với đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Luật Kinh tế 5
1.2.2.1 Nhu cầu nhân sự pháp lý của các doanh nghiệp và người dân 5
a Nhu cầu nhân sự pháp chế doanh nghiệp 5
b Nhu cầu chuyên gia tư vấn pháp lý 5
1.2.2.2 Nhu cầu chuyên gia pháp lý tại các cơ quan quản lý nhà nước 6
1.2.3 Sự khác biệt của chương trình đào tạo cử nhân Luật Kinh tế tại Học viện Chính sách và Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư 7
a Khác biệt về nội dung đào tạo 7
b Khác biệt về cách thức tổ chức triển khai đào tạo 8
Phần 2 NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO 10
PHẦN 3 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 11
3.1 Mục tiêu 11
3.1.1 Mục tiêu chung 11
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 11
3.1.2.1 Về kiến thức: 11
a Kiến thức cơ bản 11
b Kiến thức chuyên sâu (xem phần 3.1.3 Chuẩn đầu ra) 12
3.1.2.2 Về kỹ năng: (xem phần 3.1.3 Chuẩn đầu ra) 12
3.1.2.3 Về thái độ: (xem phần 3.1.3 Chuẩn đầu ra) 12
3.1.2.4 Vị trí và nơi làm việc sau khi tốt nghiệp: 12
3.1.2.5 Trình độ ngoại ngữ và tin học: 13
3.1.3 Chuẩn đầu ra 13
3.1.3.1 Chuẩn kiến thức 13
a Kiến thức cơ bản 13
Trang 3b Kiến thức chuyên sâu 13
3.1.3.2 Chuẩn kỹ năng 14
a Kỹ năng cứng 14
b Kỹ năng mềm 15
3.1.3.3 Yêu cầu về thái độ 16
3.1.3.4 Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường 17
3.1.3.5 Các chương trình, tài liệu, chuẩn quốc tế tham khảo 17
4 Khối lượng kiến thức toàn khóa 17
5 Đối tượng tuyển sinh 17
6 Quy trình đào tạo 18
7 Cách thức đánh giá 18
8 Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo 18
9 Kế hoạch đào tạo 21
9.1 Kế hoạch tuyển sinh 21
9.2 Điều kiện tốt nghiệp 21
9.3 Kế hoạch đào tạo 21
9.4 Mức học phí 23
9.5 Kế hoạch đảm bảo chất lượng 24
9.5.1 Kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên trong ngắn, trung và dài hạn 24
9.5.2 Kế hoạch tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư chi phí đào tạo theo yêu cầu kế hoạch đào tạo và tương xứng với mức học phí 24
9.5.3 Kế hoạch hợp tác quốc tế, tổ chức hội nghị, hội thảo và nghiên cứu khoa học 24
9.5.4 Kế hoạch hợp tác với các đơn vị tuyển dụng lao động 24
Trang 43
PHẦN 1 SỰ CẦN THIẾT MỞ MÃ NGÀNH ĐÀO TẠO LUẬT KINH TẾ - TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Giới thiệu về Học viện Chính sách và Phát triển
Học viện Chính sách và Phát triển được thành lập ngày 4/01/2008 theo Quyết định số 10/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là trường Đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ quan trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư – cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê
- Tên bằng tiếng Anh: Academy of Policy and Development
- Tên viết tắt bằng tiếng Việt: HCP; Bằng tiếng Anh: APD
- Cơ quan Bộ chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Địa chỉ: Tòa nhà D25 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngõ 7, phố Tôn Thất Thuyết, quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội
- Số điện thoại: (024) 37473186; Fax: (024) 37475217
- Website: http://apd.edu.vn
Học viện xác định sứ mạng của mình là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bậc Đại học, Thạc sỹ, Tiến sỹ về chính sách công, kinh tế và quản lý, có tư duy năng động, sáng tạo, đủ năng lực làm việc trong nước và quốc tế; nghiên cứu, bồi dưỡng, tư vấn và phản biện chính sách Tầm nhìn đến năm 2030, Học viện sẽ trở thành trường đại học theo định hướng nghiên cứu có uy tín trong nước và trong khu vực
Tổng số cán bộ giảng viên của Học viện tính tại thời điểm tháng 6/2018 là 126 người, trong đó có 91 giảng viên cơ hữu, chiếm tỷ lệ 72,2% tổng số cán bộ, giảng viên cơ hữu toàn Học viện Hiện nay, Học viện có 5 ngành đào tạo bậc đại học (Kinh tế, Chính sách công, Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế quốc tế, Quản trị doanh nghiệp) với 10 chuyên ngành/chương trình đào tạo gồm 02 chương trình chất lượng cao (Kinh tế đối ngoại, Tài chính ngân hàng) và 08 chương trình đại trà (Quản lý công, Tài chính, Ngân hàng, Đầu
tư, Đấu thầu, Kế hoạch phát triển, Kinh tế đối ngoại, Quản trị doanh nghiệp) Học viện đào tạo sau đại học trình độ Thạc sỹ có 03 chuyên ngành đào tạo (Chính sách công, Tài chính – ngân hàng, Kinh tế quốc tế) Học viện bắt đầu tiến hành tổ chức đào tạo 100% các chương trình đào tạo hệ đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ cho sinh viên khoá 3 (niên khoá 2012-2016) và các khóa tiếp theo Tính đến hết tháng 6/2018, Học viện đã có
Trang 55 khoá với tổng số gần 1800 sinh viên đã tốt nghiệp Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp luôn đạt khoảng 80% so với số tuyển vào
Trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, ngày 29/06/2018, Học viện chính thức hoàn tất kiểm định chất lượng giáo dục và đã được Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cấp Giấy chứng nhận đạt chất lượng giáo dục theo 10 tiêu chuẩn, 61 tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo1 Kết quả kiểm định đạt chất lượng giáo dục đã khẳng định vị thế, uy tín và chất lượng đào tạo của Học viện Chính sách và Phát triển và là đòn bẩy quan trọng giúp Học viện cải tiến, hướng tới tiêu chuẩn chất lượng khu vực và quốc tế
1.2 Sự cần thiết về việc mở ngành đào tạo Luật kinh tế trình độ đại học tại Học viện Chính sách và Phát triển
Học viện Chính sách và Phát triển mở mã ngành đào tạo Luật Kinh tế - trình độ Đại
học xuất phát từ 03 lý do chính: (1) phù hợp với chiến lược phát triển của Học viện nhằm thích ứng với bối cảnh hội nhập và tác động của CMCN 4.0; (2) đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cả nước đối với đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Luật Kinh tế và (3) đáp ứng một số khoảng trống trong đào tạo Luật Kinh tế hiện nay đồng thời đáp ứng triển khai một số nhiệm vụ của ngành Kế hoạch và Đầu tư, với một số tập trung ưu tiên và khác biệt
trong chương trình đào tạo Dưới đây chúng tôi xin phân tích cụ thể các lý do trên:
1.2.1 Việc mở mã ngành đào tạo Luật Kinh tế là phù hợp với chiến lược phát triển của Học viện nhằm thích ứng với bối cảnh hội nhập và tác động của CMCN 4.0
Trong bối cảnh CMCN 4.0, việc đào tạo theo hướng đa ngành đang là xu thế bởi lao động trong kỷ nguyên CMCN 4.0 đòi hỏi trang bị nền tảng kiến thức rộng và có tư duy tổng hợp Hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý do các luật sư, chuyên viên pháp lý là một trong những ngành nghề đáp ứng các tiêu chí về xu hướng đào tạo trong bối cảnh CMCN 4.0 bởi khai thác sự sáng tạo, tư duy phân tích, giao tiếp, làm việc nhóm của người lao động Cùng với đó, toàn cầu hóa và sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi nhu cầu nhân sự pháp chế có chất lượng góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật ở Việt Nam
1 Quyết định số 93/QĐ-KĐCLGD ngày 29/06/2018 của Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục về việc cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục cho Học viện Chính sách và Phát triển
Trang 65
Nhận thức được các tác động của bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0, Học viện Chính sách và Phát triển đã đề ra những giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược2 theo định hướng tiếp tục đào tạo có chất lượng các ngành đào tạo hiện có đồng thời nghiên cứu mở rộng một số ngành học theo nhu cầu xã hội, trong đó có kế hoạch mở ngành Luật Kinh tế trình độ đại học
1.2.2 Việc mở mã ngành đào tạo Luật Kinh tế đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cả nước đối với đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Luật Kinh tế
1.2.2.1 Nhu cầu nhân sự pháp lý của các doanh nghiệp và người dân
a Nhu cầu nhân sự pháp chế doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp vai trò của đội ngũ chuyên gia pháp
lý, luật sư am hiểu pháp luật kinh tế là rất quan trọng giúp tư vấn và quản trị, phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp, đặc biệt là ở vị trí pháp chế, tư vấn pháp lý, hợp đồng kinh doanh Việt Nam hiện có trên 600 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và số lượng này tăng nhanh trong giai đoạn gần đây trong khi theo dự báo đến năm 2020, số lượng doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý là trên 90% Bên cạnh đó, xu hướng tích cực hội nhập vào thị trường quốc tế của Việt Nam thông qua việc ký kết nhiều FTAs… đặt ra nhiều áp lực
về nhân lực hiểu biết pháp luật trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, lực lượng chuyên gia pháp luật, luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh thương mại quốc tế ở nước
ta còn rất mỏng vì thế chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
b Nhu cầu chuyên gia tư vấn pháp lý
Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế được đẩy mạnh, quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng
cả về phạm vi và tính chất thì nhu cầu của các đương sự sử dụng dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có xu hướng tăng nhanh (do các quan hệ dân sự giữa các chủ thể trong xã hội cũng mở rộng hơn, phức tạp và đan xen) Theo Báo cáo của
Bộ Tư pháp tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, mặc dù trong thời gian qua, số lượng luật sư nước ta đã phát triển nhanh nhưng tỷ lệ luật sư trên số dân mới ở mức trung bình là
1 luật sư/14.000 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1.526, Singapore là 1/1.000, Nhật Bản là 1/4546, Pháp là 1/1.000, Mỹ là 1/250 Chính vì vậy, nhu cầu chuyên gia pháp lý ngành luật kinh tế (luật sư, luật gia, chuyên gia tư vấn pháp lý, cán bộ pháp
2 Kế hoạch chiến lược phát triển Học viện Chính sách và Phát triển giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-HVCSPT ngày 10/01/2016 của Học viện Chính sách và Phát triển)
Trang 7lý ) là rất lớn và sẽ ngày càng tăng cùng với sự phát triển và quá trình hội nhập kinh tế của đất nước Theo Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì đến năm
2020 Việt Nam cần phát triển số lượng khoảng từ 18.000 - 20.000 luật sư, đạt tỷ lệ số luật
sư trên số dân khoảng 1/4.500, đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, phấn đấu đạt khoảng 1.000 luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập quốc
tế Tuy nhiên, tính đến hết năm 2017, cả nước hiện chỉ có tổng số 12.581 luật sư đã được cấp thẻ hành nghề - một con số còn khiêm tốn so với mốc tối thiểu 18.000 luật sư cần đạt được đến năm 2020.Đặc biệt, từ nay đến năm 2020, ước tính chỉ riêng các chức danh liên quan đến tư pháp, Việt Nam cần khoảng 13.000 nhân sự, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành viên, 300 thẩm tra viên và chuyên viên làm công tác thừa phát lại
Do vậy, để đáp ứng nhu cầu nhân lực pháp lý của các doanh nghiệp, tổ chức và người dân, công tác đào tạo cử nhân luật kinh tế trong thời gian tới là rất cần thiết
1.2.2.2 Nhu cầu chuyên gia pháp lý tại các cơ quan quản lý nhà nước
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, dự kiến một lượng lớn các luật, pháp lệnh ở nước ta cần phải được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, chưa kể các dự án luật, pháp lệnh khác để thể chế hóa Nghị quyết Trung ương, các hiệp định thương mại ký kết với đối tác nước ngoài… để đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành Bên cạnh đó, tại các cơ quan, tổ chức, đoàn thể khác trong hệ thống chính trị thì số lượng văn bản pháp lý đòi hỏi phải soạn thảo, xây dựng là rất lớn Nhiều nội dung hoạt động đòi hỏi cán bộ phải được đào tạo bài bản về pháp luật như: có kiến thức về kinh tế, pháp luật, công tác xây dựng,thẩm định, kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật Do vậy, nhu cầu về nguồn công chức, viên chức có kiến thức pháp luật và hiểu biết về quy trình lập chính sách – xây dựng pháp luật để đáp ứng yêu cầu trong công tác xây dựng, phổ biến, thực thi pháp luật trong thời gian tới là rất lớn Trong việc thực hiện chức năng của mình, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì soạn thảo nhiều dự án Luật quan trọng,
có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, Luật Quy hoạch…
Vì vậy cầu cán bộ có kiến thức kinh tế và am hiểu pháp luật của ngành Kế hoạch và Đầu
tư là rất lớn Trước những yêu cầu ngày càng cao đang đặt ra, Bộ và các cơ quan của ngành
Kế hoạch và Đầu tư luôn cần có một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn về kinh tế, quản lý cũng như có nền tảng kiến thức về pháp luật trong những
Trang 87
lĩnh vực này Do vậy, việc đào tạo nhân lực Luật Kinh tế có ý nghĩa quan trọng góp phần
nâng cao hiệu quả công việc trong các lĩnh vực của ngành kế hoạch và đầu tư tại các cơ quan quản lý nhà nước ở cả trung ương lẫn địa phương
Bên cạnh đó, nhu cầu đào tạo nhân lực ngành Luật ở Việt Nam cao còn thể hiện qua
số lượng thí sinh đăng ký đông3, điểm trúng tuyển ngành luật kinh tế khá cao4 và khả năng sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp khá cao5
1.2.3 Sự khác biệt của chương trình đào tạo cử nhân Luật Kinh tế tại Học viện Chính sách và Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
a Khác biệt về nội dung đào tạo
- Thứ nhất, cung cấp kiến thức chuyên sâu hơn về pháp luật đầu tư kinh doanh, đặc biệt các nội dung liên quan đến chức năng, thế mạnh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
và Học viện, đây cũng là các hoạt động phổ biến trong nền kinh tế, có nhu cầu nguồn nhân
lực khá cao Trong chương trình giảng dạy ngành Luật Kinh tế của Học viện Chính sách và Phát triển sẽ có các môn học chuyên sâu về những lĩnh vực này đó là: pháp luật đầu tư, pháp luật về đầu tư công, luật đầu tư quốc tế, pháp luật về đấu thầu Đây là các lĩnh vực thuộc thế mạnh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản trong các lĩnh vực này với đội ngũ chuyên gia am hiểu, giàu kinh nghiệm
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiến triển với tốc độ nhảy vọt, trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, các hoạt động trên nền tảng của công nghệ thông tin hiện đại, giao dịch điện tử cũng phát triển nhanh chóng Hiểu biết sâu sắc về môi trường pháp lý trong hoạt động đầu tư quốc tế, thương mại quốc tế, trong hoạt động giao dịch điện tử là một trong những yêu cầu rất cần thiết, cấp bách Để đáp ứng được yêu cầu đó, chương trình Luật Kinh tế cũng giảng dạy các học phần luật đầu tư quốc tế, luật thương mại quốc tế, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, pháp luật giao dịch điện tử
- Thứ hai, chương trình đào tạo thiết kế đảm bảo đủ kiến thức nền tảng về luật đồng thời chọn lọc, bổ sung một số kiến thức cơ bản về kinh tế: Thực tiễn cho thấy những người
được đào tạo chuyên ngành luật làm việc trong lĩnh vực kinh tế sẽ làm việc hiệu quả hơn
Trang 9nếu được trang bị thêm những kiến thức cơ bản về kinh tế Kết quả khảo sát về thực trạng
sử dụng nguồn nhân lực ngành Luật kinh tế (với 2 nhóm đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp và cử nhân Luật) cho thấy nhân lực được đào tạo về kinh tế (tại các trường Kinh tế) lại thiếu kiến thức về Luật còn nhân lực được đào tạo về luật (tại các trường Luật) lại thiếu
kiến thức về kinh tế (xem thêm kết quả khảo sát ở Phụ lục 1) Do vậy, trong chương trình
đào tạo cử nhân ngành Luật Kinh tế tại Học viện Chính sách và Phát triển sẽ chọn lọc, bổ sung một số kiến thức cơ bản về kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động, như Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô; Lý thuyết tài chính tiền tệ; Kinh tế quốc tế; Kinh
tế đầu tư; Nguyên lý kế toán; Tài chính doanh nghiệp; Thương mại điện tử; Thị trường chứng khoán
- Thứ ba, lồng ghép nội dung về luật với nội dung về chính sách trong chương trình học: Việc lồng ghép này có ý nghĩa quan trọng bởi giúp sinh viên ngành Luật Kinh tế có
khả năng bao quát được thực tiễn pháp lý đang diễn ra, mở ra cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên ở cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước Đối với chương trình Luật Kinh tế tại Học viện Chính sách và Phát triển, các nội dung về chính sách công sẽ được giảng dạy tập trung
ở 02 học phần: Chính sách công, Luật và Chính sách công
b Khác biệt về cách thức tổ chức triển khai đào tạo
Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế về kiến thức, kỹ năng của nhân lực ngành Luật Kinh tế, trong đó nổi bật là các hạn chế về kiến thức thực tiễn, kỹ năng trình bày, tư duy phản biện trong công việc, kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng, xây
dựng văn bản (xem thêm kết quả khảo sát ở Phụ lục 1) Với mục tiêu hướng tới đào tạo
toàn diện để sinh viên nhanh chóng thích nghi và gia nhập thị trường lao động, hoặc tự tạo việc làm cho bản thân và cho xã hội ngay sau khi ra trường (khởi nghiệp), chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế tại Học viện Chính sách và Phát triển dự kiến sẽ giải quyết các hạn chế trong cách thức triển khai đào tạo theo hướng bổ sung kiến thức thực tiễn và tăng cường rèn luyện các kỹ năng thực hành thông qua các biện pháp:
- Tăng cường cơ hội trải nghiệm thực tiễn và thực hành cho sinh viên qua học tập
các môn hướng dẫn kỹ năng làm việc (như Khởi sự kinh doanh; Kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng; Đạo đức nghề luật ) đồng thời liên kết với các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trong triển khai chuyên đề thực tế cũng như ở các môn học Học viện sẽ thường xuyên
tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn và thực hành cho sinh viên (tham dự các phiên tòa, tham quan tìm hiểu các cơ quan trong bộ máy nhà nước, thực tế hoạt động đầu tư kinh
Trang 109
doanh của các doanh nghiệp); tham dự các cuộc thi tìm hiểu pháp luật nhằm thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá trình tiếp thu kiến thức
- Tăng cường tiếp xúc với chuyên gia, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư, đấu thầu Trong
một số môn học về Luật, Kinh tế sẽ có các buổi trao đổi với chuyên gia, cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư (từ Vụ Pháp chế, Viện Quản lý kinh tế Trung ương, Cục quản lý đấu thầu, Cục Phát triển doanh nghiệp, Cục đầu tư nước ngoài, Cục quản
lý đăng ký kinh doanh ) Việc tiếp xúc, trao đổi với các chuyên gia, cán bộ quản lý trực tiếp soạn thảo, thực thi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế giúp sinh
viên có nhiều kiến thức thực tiễn và kỹ năng làm việc sau khi tốt nghiệp
- Rèn luyện năng lực tư duy logic, khả năng diễn thuyết, lập luận và trình bày văn
bản thông qua các môn học Phương pháp nghiên cứu khoa học và làm Khóa luận Hiện
nay, nhiều trường đào tạo về Kinh tế, Luật giảng dạy chưa sâu về môn Phương pháp nghiên cứu khoa học vì thế kỹ năng nghiên cứu của sinh viên còn nhiều hạn chế cả về tư duy lẫn cách diễn đạt Việc Học viện xác định học môn Phương pháp nghiên cứu khoa học và viết Khóa luận tốt nghiệp (là yêu cầu bắt buộc đối với 100% sinh viên) góp phần củng cố tư duy khoa học, kỹ năng nghiên cứu (phương pháp làm việc nhóm, viết báo cáo, trình bày kết quả…) cho người học Bên cạnh 02 môn học này, việc thường xuyên tổ chức các buổi sinh viên thuyết trình ở hầu hết các môn học cũng góp phần rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề
và năng lực tư duy logic, ứng phó tình huống của người học
Trang 11Phần 2 NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO
Trang 1211
PHẦN 3 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: Đại học
NGÀNH ĐÀO TẠO : Luật Kinh tế
MÃ NGÀNH ĐÀO TẠO: 7380107
CHUYÊN NGÀNH: Luật Đầu tư – Kinh Doanh
LOẠI HÌNH ĐÀO TẠO: Chính quy
3.1 Mục tiêu
3.1.1 Mục tiêu chung
Chương trình đào tạo đại học hệ chính quy ngành Luật Kinh tế, chuyên ngành Luật Đầu tư – Kinh doanh trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về pháp luật kinh tế, thực tiễn pháp lý và những kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan đến lĩnh vực pháp luật kinh tế Sản phẩm của chương trình đào tạo là các Cử nhân Luật Kinh tế
có phẩm chất chính trị, đạo đức và sức khỏe tốt; có kiến thức cơ bản về kinh tế - xã hội, quản lý kinh tế; có kiến thức chuyên sâu về pháp luật trong các lĩnh vực kinh tế đặc biệt chú trọng pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư, pháp luật đấu thầu, luật và chính sách công và thương mại quốc tế; có tư duy khoa học, độc lập và sáng tạo; có khả năng tự nghiên cứu bổ sung kiến thức, tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp Định hướng đào tạo cử nhân Luật Kinh tế tại các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh
tế, các cơ quan trong ngành kế hoạch và đầu tư, các cơ quan tư pháp, các tổ chức hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước, các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu