Các đá của phức hệ Đại Lộc cũng chịu quá trình trao đổi biến chất: biến chất tiếp xúc trao đổi của các thành tạo xâm nhập trẻ hơn như xâm nhập granitoit phức hệ Bà Nà…, làm thay đổi mạnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ISBN: 978-604-82-1375-6
TOÀN VĂN KỶ YẾU HỘI NGHỊ Conference Proceeding Fulltext
TP HCM – 21/11/2014 www.hcmus.edu.vn
Trang 2TOÀN VĂN BÁO CÁO NÓI
ORAL Tiểu ban ĐỊA CHẤT
Trang 3V-O-1.1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, THẠCH HỌC, THẠCH ĐỊA HOÁ CÁC THÀNH TẠO MAGMA CỦA VỎ ĐẠI DƯƠNG (BỒN TÍCH CỰC SAU CUNGABAB) PHẦN PHÍA TÂY LÃNH THỔ
MIỀN NAM VIỆT NAM
Huỳnh Trung, Đinh Quốc Tuấn
Khoa Địa chất, Trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM
Từ khóa: đi ̣a chất, vỏ đại dương, ophiolit KonTum, bồn tích cực sau cung
Những năm gần đây, kết hợp với công tác nghiên cứu lập Bản Đồ Địa Chất và sinh khoáng với nhiều tỷ lệ khác nhau, cùng với các công trình nghiên cứu chuyên đề khác, các thành tạo magma phun trào và xâm nhập đã được đầu tư nghiên cứu chi tiết và đồng bộ
Với các kết quả, nghiên cứu về đặc điểm địa chất thạch địa hóa đã phát hiện tại nhiều nơi khác nhau thuộc lãnh thổ Miền Nam Việt Nam (Từ Quảng Trị trở vào) các magma bị biến chất (đá lục, amphibolit) có thành phần hóa học tương ứng với basalt loạt toleit và các đá biến đổi của chúng là apobasalt, spilit Những thành tạo magma phun trào bị biến chất đó được xếp vào hệ tầng Núi Vú tuổi Paleozoi sớm
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đáng tin cậy đó, cùng với các thành tạo magma xâm nhập đã được nghiên cứu có thể đối sánh với mô hình tổ hợp ophiolit của Moores, 1982 - đặc trưng cho các thành tạo magma của bồn tích cực sau cung (ABAB) theo C.Condie, 1988
Các thành tạo magma của bồn tích cực sau cung tuổi Paleozoi sớm (Huỳnh Trung, Nguyễn Kim Hoàng, Đinh Quang Sang, 12/2013) đã được mô tả trong các công trình nghiên cứu từ những năm 2010-2013 (Huỳnh Trung, Bùi Thế Vinh, Đinh Quốc Tuấn,…) và xác lập mô hình Ophiolit KonTum (2010) Các thành tạo magma phun trào basalt bị biến chất và các đá biến đổi của chúng (Spilit, apobasalt), được ghi nhận tại vùng A Hội, Khâm Đức, Nam Đông, Sa Thầy, Daklin…(Huỳnh Trung, 2013) Các đá biến chất: đá lục, amphibolit… có thành phần hoá học là basalt, apobasalt với hàm lượng Na2O=1,10-3,86, K2O=0,13-0,77, còn đá Spilit
Na2O=4,05-5,31; K2O=0,16 – 0,31
Ngoài ra còn gặp các đá phiến lục, amphibolit (phiến plagiocla, thạch anh, amphibol, epidot,…) có hàm lượng SiO2=56,31 – 65,04, Na2O =3,96 – 5,88, K2O=0,40 – 3,43 (tương ứng với các đá trachibasalt, albitophir, octophir (keratophir))
Các đá apopyroxenit thuộc phức hệ Ngọc Hồi tại Khâm Đức có hàm lượng SiO2=45,37 – 53,38, Na2O= 0,33 – 0,93, K2O= 0,03 – 0,28 Đặc biệt cũng như các đá apobasalt chúng có hàm lượng Cr rất cao từ 1096 –
1878 ppm Tuổi đồng vị là 530 triệu năm (K/Ar toàn đá)
Các thành tạo xâm nhập phức hệ Diên Bình của mô hình ophiolit có hàm lượng SiO2=53,66 – 64,30,
Na2O= 2,53 – 4,07, K2O= 0,80 – 4,11; Các đá pha hai với SiO2=66,90 – 73,30, Na2O= 2,70 – 3,88, K2O= 2,46 – 4,58 Các đá của phức hệ hầu hết đều bị biến đổi bởi ảnh hưởng của quá trình sau magma (biến chất tiếp xúc trao đổi) làm thay đổi tăng hàm lượng thạch anh, feldspat Nên hàm lượng SiO2, Na2O, K2O dao động ít nhiều Các
đá của phức hệ Đại Lộc cũng chịu quá trình trao đổi biến chất: biến chất tiếp xúc trao đổi của các thành tạo xâm nhập trẻ hơn như xâm nhập granitoit phức hệ Bà Nà…, làm thay đổi mạnh mẽ thành phần khoáng vật và thành phần hoá học (quá trình thạch anh hoá, feldspat hoá, greizen hoá,…) Vì vậy, các đá ban đầu là plagiogranit chỉ còn sót lại rất ít và phổ biến là apogranit Chúng hầu hết có cấu tạo dạng gneis Thành phần hoá học của nhóm plagiogranit (2 mẫu) SiO2=70,50 – 73,28; Na2O= 3,57 – 4,00; K2O= 0,00 – 2,84; nhóm apogranit : SiO2=69,46 – 73,36 Na2O= 1,57 – 3,03, K2O= 1,91 – 4,73 Đá có kiến trúc ban biến trạng với ban tinh là microclin, octocla,…(1-10% và bị greizen hoá không đồng đều) Các đá mạch ngoài plagiogranit còn gặp nhiều tia mạch
Trang 4thạch anh feldspat (albit, microclin vùng A Hội) Hàm lượng các nguyên tố tạo quặng Cu, Pb, Zn cao gấp hai ba lần Clark Khoáng vật phụ là magnetit khá phổ biến với hàm lượng 0,75 – 2,28 g/t, đặc biệt tại các khối vùng Khâm Đức magnetit có hàm lượng từ 42,33 đến 1594,6 g/t Ilmenit hầu như ít gặp Đặc biệt tại khối Đại Lộc khoáng vật zircon xuất hiện ở hầu hết các mẫu giã đãi (7 mẫu) với hàm lượng từ 0,70 – 23,32 g/t Các hạt Zircon
có vành màu đen và đôi khi tập trung thành đám nhiều hạt và khoáng vật uraninit xuất hiện ở 4/7 mẫu với hàm lượng vài hạt Đây là nguồn cung cấp urani tái trầm tích tích tụ trong than và trong cát kết vùng Nông Sơn (Huỳnh Trung, 1980) Tuổi của phức hệ được xếp vào Paleozoi giữa muộn (trước Devon) Tuổi đồng vị được xác định bằng phương pháp LA – ICP – MS: U – Pb là 426±9,9 triệu năm (Phan Thị Thoa, Phạm Trung Hiếu,12/2013)
Các thành tạo secpentinit (apoperidotit, apohacbuocgit) với các thể nhỏ dạng thấu kính, dạng lớp phân bố dọc theo các đứt gãy á kinh tuyến, á vĩ tuyến (từ Quảng Trị đến Khâm Đức vùng Giằng, Quế Sơn, KonTum đến bắc Sa Thầy, Ngọc Hồi,…) Chúng là các thành tạo của lớp manti trên được ép trồi lên (pzotrusi) theo đứt gãy vào thời kỳ Paleozoi muộn
Theo mô hình ophiolit của vùng lãnh thổ phía Tây Miền Nam Việt Nam (hình 1, 2) với các thành tạo magma tương ứng đã mô tả có thể đối sánh với tổ hợp thạch kiến tạo của bồn tích cực sau cung (ABAB) theo phân vùng kiến tạo của Kent C.Condie, 1988.Sự hình thành bồn tích cực sau cung (ABAB, biển rìa) ở phần phía Tây lãnh thổ miền Nam Việt Nam (vùng Quảng Trị, Khâm Đức, Kom Tum, Ngọc Hồi) do tác động của đới chạm mảng vào thời kỳ Paleozoi sớm (hình III.1), Gatinski Iu.G, 1986) tương ứng với mô hình của Moralev.V.M, 1973 (hình III.2) sau đới núi lửa kiềm vôi (cung đảo)
The magmatic formations of the active back-arc basin of the early Paleozoic (Huynh Trung, Nguyen Kim Hoang, Dinh Quang Sang, 12/2013) were described in 2010 – 2013 ( Huynh Trung, Bùi The Vinh, Đinh Quoc Tuan,…) and the Kontum ophiolite model was determined in 2010 The metamorphosed basalt extrusive magmatic formations and their altered rocks (spilite, apobasalt) were recorded in A Hoi, KhamDuc, NamDong,
Sa Thay, and Daklin (Huynh Trung, 2013) The metamorphic rocks are greenstones, amphibolites… whose chemical components include basalt, and apobasalt (with Na2O = 1,10 – 3,86, K2O = 0,13 – 0,77) and spilite (Na2O = 4,05 – 5,31, K2O = 0,16 – 0,31.)
In addition, grenschist, amphibolites (Plagioclase schist, Quartz, Amphibole, Epidote, etc.)were also found with contents of SiO2 = 56,31 – 65,04, Na2O = 3,96 – 5,88, K2O = 0,40 – 3,43 (corresponding with trachybasalt, albitophyre, orthophyre (keratophyre))
At Kham Duc massif, the apopyroxenite of Ngoc Hoi complex have contents of SiO2 = 45,37 – 53,38,
Na2O = 0,33 – 0,93, K2O = 0,03 – 0,28 Like in apobasalt, the Cr content of pyroxenite rocks are very high,
1096 – 1878 ppm The isotope age is 530 Ma (K/ Ar )
In ophiolite model, the intrusive formations of the Dien Binh complex have the contents of SiO2 = 53,66 – 64,30, Na2O = 2,53 – 4,07, K2O = 0,80 – 4,11 The rocks of second phase have contents of SiO2 = 66,90 – 73,30,
Na2O = 2,70 – 3,88, K2O = 2,46 – 4,58 Almost all rocks of the complex were altered as a result of the post magmatic process (contact metasomatism) which caused their contents to change, i.e with the increase in quartz and feldspar contents, leading to a change in the contents of SiO2, Na2O, and K2O
The rocks of Dai Loc complex were also subjected to the contact metasomatic process of the young intrusive formations like those in Ba Na complex…, which caused the mineral and chemical compositions to change considerably in the Dailoc complex, via quartization, feldspathization and greisenization) So, there remained very little of plagiogranite, the primary rocks, which are chiefly apogranite They most have the texture
of gneiss form
The chemical composition of the plagiogranite group includes SiO2 = 70,50 – 73,28; Na2O = 3,57 – 4,00,
K2O = 0,00 – 2,84; that of the apogranite group is SiO2 = 69,46 – 73,36,;Na2O = 1,57 – 3,03; K2O = 1,91 – 4,73 These rocks have metacrystal structure with microcline, orthoclase phenocrysts (1 -10% and greisenization was not regular) Besides plagiogranite, many feldspar – quartz veins (albite, microcline in A Hoi area) were also found The contents of metallogenis elements, such as Cu, Pb, Zn are 2-3 times higher than Clark index Magnetite was common with contents of 0,75 – 2,28 g/ton, and even higher, up to about 42,33 -1594,6 g/ton in the Kham Duc massif while ilmenite is much scarcer
At the Dai Loc massif, zircon was found in almost all crushed samples (7 samples) with contents ranging from 0,70 to 23,32 g/ton The zircon grains had black edges, and sometimes concentrated into clusters, with a few uraninite grains found in 4 out of 7 zircon samples This is the source of re-sedimented uranium reserves in charcoal and sandstones in the Nong Son zone (Huynh Trung, 1980) The Dai Loc complex dates back to the late – mid Paleozoic era (before the Devonian) Isotopic dating involved the LA – ICP – MS method with U – Pb =
426 ± 9,9 MA ( Phan Thi Thoa, Pham Trung Hieu, 12/ 2013)
Serpentinit formations (apoperidotite, apoharzburgite) with small lens, bedding forms are distributed along submeridian, sublatitude faults (from Quang Tri to Kham Duc, Giang, Que Son, Kon Tum , to the north of
Trang 5Sa Thay, Ngoc Hoi….) These are formations of the upper mantle layer that was protrusive along faults in the late Paleozoic period
The ophiolite model in Southwest Vietnam (Figure 1,2) with the corresponding described magmatic formations can be likened to the petrotectonic assemblage of active back-arc basin (ABAB) ( Kent C Condie, 1988)
pillow lavas and massive flows
Basalt, apobasalt, spilit, keratophir, albitophir, octophir
Hệ tầng Núi Vú (ϵ2 -O 1 ) Formation Nui Vu
Mafic sheeted dike complex
pyroxenit, gabropyroxenit
Complex Ngoc Hoi: pyroxenite, gabropyroxenite
Seismic Moho Ultramafic cumulates
“Petrologic Moho”
Ultramafic tectomite d= dunite Cr= chromite Rest is peridotite
Phức hệ Hiệp Đức secpentinit, (apoperidotit, apohacbuocgit)
Complex Hiep Duc:
secpentinite, (apoperidotite, apohacbuocgite)
Figure 1 Idealized ophiolite sequence The ophiolite layers are numbered and
named on the left and correspond to the discussion in the text, the correlation
with the seismically detecmined layers is shown on the right, ( After Moores, 1982)
Hình 1
Trang 6Hình 2 Vùng phân bố các thành tạo magma của mô hình Ophiolit bồn tích cực sau cung (ABAB)
Trang 7Ảnh A.5.Pocfiritoit (apobazan) Hạnh
nhân có dạng dẹt, không đều với thành
phần khoáng vật là clorit và cacbonat
(ven rìa hạnh nhân) Nền gồm các que
plagiocla, clorit, quặng.Lm A.1123,
1N-,4xx4x
Ảnh A.6 Đá phiến lục ( apobazan) Vi tinh plagioclas (dạng que) bị thay thế bởi cacbonat, clorit, epidot, cacbonat Lm
A.1045,2N+, 4x10x
Hình1e
Hình 1d Biểu đồ Crom-Vanadi của đá núi lửa cung đảo và rìa lục địa tích
cực
I-Trường basalt đại dương
II-Trường basalt cung đảo và rìa lục địa tích cực
1-dung nham siêu mafit;2-toleit; 3-basalt kiềm vôi;4-basalt kiềm;5-andezit
–basalt;6-andezit;7-daxit; 8-phun trào bị biến chất vùng Khâm Đức
Trang 8Hình II.B2.5 Biểu đồ phân loại thạch học theo ( Na2O +K2O và SiO2) của các thành tạo magma xâm nhập phức
hệ Ngọc Hồi, phức hệ Diên Bình, phức hệ Đại Lộc, ( PoPov.V.S Bogachicov O A.2001)
Trang 9Hình III.1.Sơ đồ thành hệ cấu trúc giai đoạn Silua muộn – Devon (425-380 triệu năm) Tác giả Gatinski Iu.G,
1986
Trang 10Hình III.2 Sơ đồ (mặt cắt) phân đới cấu trúc – magma và sinh khoáng liên quan dọc theo đới Benhiov (theo
Moralev V.M, 1973)
GEOLOGICAL, PETROGRAPHICAL, AND PETROCHEMICAL CHARATERICTICS OF THE MAGMATIC FORMATIONS OF THE OCEANIC CRUST (ACTIVE BACK-ARC
BASIN – ABAB) IN SOUTHWEST VIETNAM
Huynh Trung, Dinh Quoc Tuan
Department of Geology, University of Science, VNU HCMC
ABSTRACT
The magmatic formations of the active back-arc basin of the early Paleozoic (Huynh Trung, Nguyen Kim Hoang, Dinh Quang Sang, 12/2013) were described in 2010 – 2013 and the Kontum ophiolite model was determined in 2010 The ophiolit mode of Moores, 1982, magmatic formation includes: the metamorphosed basalt extrusives and their altered rocks (spilit, apobasalt, ); the apopyroxenit of Ngoc Hoi complex; diorite, granodiorit of Dien Binh complex Almost all rock of the complex were altrered as a result of the post magmatic process The rocks of Dai Loc complex were also subjected to the contact metasomatic process of the yong intrusive formations So, there remained very little of plagiogranite, the primary rocks, which are chief apogranite The accessory minerals are magnetite up to about 1594 g/t0n, zircon, uraninit… Isotopic dating involed the LA-ICP-
MS method with U-Pb = 426±9,9 MA (Pham Thi Thoa, 2013) The serpentinite of the Hiep Duc complex distributed along submeriduan, sublatitude faults The ophiolit model in Southwest VietNam with the corresponding described magmatitc formations can be likened to the petrotectonic assemblage of the active back – arc basin (ABAB), Kent C.Condie, 1988
Key words: geology, the oceanic crust, ophiolite at KonTum, active back-arc basin,
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lương, Huỳnh Trung Explanatory note to the geological map of Viet Nam on 1:500.000 scale Geological survey of Việt Nam Hà Nội (1994)
[2] Eldrige M Moores, Robert J Twiss Tectonics september (1995)
[3] Gatinski Iu.G Phân tích thành hệ cấu trúc ngang NXB “Lòng quả đất” Moscva (1986) C 1-191, (tiếng Nga)
[4] Nguyễn Kinh Quốc Các đá phun trào ở vùng bán đảo Hòn Gốm (Nam Trung Bộ) và lịch sử phát triển, tiến hóa magma – kiến tạo của chúng Tạp chí Địa chất – Loạt A Số 298 (2007).tr.18-25
[5] Phan Thi ̣ Thoa , Phạm Trung Hiếu Tuổi LA -ICP-MS U -Pb Zircon và thành phần đồng vi ̣ Hf của
granitoit phức hê ̣ Đa ̣i Lô ̣c khu vực Quảng Nam Proceedings International Conference on Geology and
Mineral Resources of Indochina and South China (12-2013) tr 36
[6] Đào Đình Thục, Huỳnh Trung Địa Chất Việt Nam Tập II Các thành tạo magma Cục Địa chất Việt Nam Hà Nội (1995)
[7] Nguyễn Tường Tri, Huỳnh Trung Các giai đoạn hoạt động magma kiến tạo chủ yếu ở Việt Nam Địa
chất và Mỏ số 1 Cơ quan thông tin khoa học của các tổ chức địa chất phía Nam Việt Nam TP.HCM,
[11] Huỳnh Trung , Nguyễn Xuân Bao Petrochemical characteristic of granitoit in Southern part of Truong
Son zone Tâ ̣p san NCTN và MT (Resource and enviroment studies review) Trường DHTH TpHCM
No=1 HCM city university (1994) tr.13-31
[12] Huỳnh Trung,2000 Tổng quan về kết quả nghiên cứu các thành tạo magma MNVN đến năm 2000 Địa chất tài nguyên môi trường, LĐBĐĐCMN Tp.HCM, (2000), tr 109-125
[13] Huỳnh Trung, Trần Phú Hưng , Lê Đứ c Phúc và nnk Các thành tạo magma xâm nhập phần phía Nam
Việt Nam (từ Quảng Trị trở vào) Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học nghiên cứu cơ bản trong lĩnh
vực các khoa học về trái đất khu vực Nam Bộ ĐHKHTN ĐHQG HCM Hội đồng ngành các khoa học
về trái đất – TP.HCM, (2004) tr.3-35
[14] Huỳnh Trung, Trần Phú Hưng, Lê Đức Phúc và nnk Thạch luận và sinh khoáng đại cương NXB ĐHQG HCM (2006)
[15] Huỳnh Trung, Trần Phú Hưng và nnk Đặc điểm địa chất và nguồn gốc thành tạo các đá siêu mafit
(secpentinit) phức hệ Hiệp Đức Tạp chí khoa học và phát triển công nghệ ĐHQG Tp.HCM Tập 12,
10/2009, (2008) tr.89 – 102
[16] Huỳnh Trung, Bùi Thế Vinh, Đinh Quốc Tuấn Đặc điểm địa chất, thạch học – khoáng vật, thạch địa
hóa các thành tạo magma của tổ hợp ophiolit KonTum Báo cáo khoa học trường ĐH KHTN ĐHQG
HCM (10/2010) (2011) tr.1-18
[17] Huỳnh Trung, Nguyễn Đứ c Thắng và nnk Các thành tạo xâm nhập granitoit khối Đại Lộc, Sa Huỳnh,
Chu Lai Địa chất và khoáng sản Việt Nam Công trình của LĐBĐĐC Q1, Hà Nội, (1979) tr 159-167
[18] Huỳnh Trung, Nguyễn Kim Hoàng , Đinh Quang Sang Về sự hình thành vỏ đa ̣i dương ở phần phía Tây lãnh thổ Miền Nam Việt Nam (Từ Quảng Tri ̣ trở vào ) Proceedings international conference on
Geology and Mineral University of Science HoChiMinh city (HCMUS – VNN 12/2013) (2013)
[19] Bùi Thế Vinh, Huỳnh Trung Đặc điểm địa chất, thạch học khoáng vật, thạch địa hóa các đá magma
phun trào vùng Tây Băc Quảng Nam Số đặc biê ̣t kỹ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Địa chất Việt
Nam Tập san Địa chất số 320 loạt A Cục Địa Chất và khoáng sản Việt Nam Hà Nội , (2010) tr 49-60
[20] Xobolev R N – Huỳnh Trung và nnk Evoliuxia khimiseskovo satchi Indoxinniscovo maxiva
Tikhiokeanskaia geologia No=1 Tiếng Nga (1991) C.50-58
Trang 12V-O-1.3
ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC VÀ RANH GIỚI TRÊN ĐÁ VÔI PERMI MUỘNTRONG MẶT
CẮT ĐI ̣A CHẤT VÙNG ĐÔNG NAM BỘ, VIỆT NAM
Ngô Trần Thiê ̣n Quý
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
Email: nttquy@hcmus.edu.vn
TÓM TẮT
Trong vùng Đông Nam bộ , Việt Nam, ranh giới đi ̣a tầng Permi – Trias từ lâu đã được xem là một ranh giới bất chỉnh hợp giữa hai hệ tầng Tà Vát (Permi muộn) và hệ tầng Sông Sài Gòn (Trias sớm) Kết quả nghiên cứu thạch học và cấu trúc đi ̣a chất từ mặt cắt mới được phát hiện tìm thấy tại Đông Nam Bộ cho thấy đây có thể là một ranh giới chỉnh hợp đi ̣a tầng , mang tính chất chuyển tiếp từ loạt đá vôi tuổi Permi muộn như grainstone , packstone, wackestone lên các đá trầm tích vụn như sét kết , sét kết vôi thuộc hệ tầng Sông Sài Gòn
Từ khóa:Đi ̣a tầng, Permi, Trias, Đông Nam bộ, thạch học
MỞ ĐẦU
Khu vực nghiên cứu đi ̣a chất thuô ̣cxã Tân Hoà, huyê ̣n Tân Châu , đông bắc tỉnh Tây Ninh, trong pha ̣m vi nghiên cứu và khu vực lân câ ̣n đã có mô ̣t số công trình nghiên cứu đã đươc thực hiê ̣n , trong đó có mô ̣t số công trình quan tro ̣ng như đo v ẽ bản đồ địa chất và khoáng sản 1:200.000 tờ Công Pông Chàm - Lộc Ninh do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên, báo cáo kết quả đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 nhóm tờ Lộc Ninh Qua các công trình này , có các thành tạo tuổi Permi muộn – Mesozoi sớm ba o gồm các hê ̣ tầng Tà Nốt (P3tn), Tà Vát (P3tv), hệ tầng Sông Sài Gòn (T1ssg) và hệ tầng Châu Thới (T2ct) Các đá carbonat hệ tầng Tà Vát
và các đá trầm tích mảnh vụn của hệ tầng Sông Sài Gòn phân bố hạn chế ở một số nơi, ranh giới giữa chúng trước đây chưa quan sát trực tiếp được , chúng thể hiện không rõ ràng qua một số ít mặt cắt hay trong các lỗ khoan tìm kiếm đá vôi ở mô ̣t số nơi [6]
Đặc điểm địa chất
Đi ̣a tầng Permi thươ ̣ng – Trias sớm trong khu vực bao gồm hê ̣ tầng Tà Nốt, Tà Vát và Sông Sài Gòn [2]
Hê ̣ tầng Tà Nốt (P3tn)
Hệ tầng Tà Nốt do Nguyễn Xuân Bao và nnk xác lập (1994, trên cơ sở tách riêng phần trầm tích lục nguyên ở dưới của hệ tầng Tà Thiết do Bùi Phú Mỹ xác lập năm 1984) Mặt cắt của hệ tầng lộ dọc sông Sài Gòn, đoạn trên cầu Tà Thiết Theo mặt cắt này, hệ tầng gồm hai tập từ dưới lên như sau:
Hình 1 Sơ đồ địa chất vùng nghiên cứu, đôngbắc Tây Ninh và tây Bình Phước Thành lập theo Bản đồ Địa chất
đồ địa chất và khoáng sản 1:200.000 tờ Công Pông Chàm - Lộc Ninh do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên
Trang 13Tập 1: cuội kết, sạn kết xen cát kết màu xám nhạt Ranh giới dưới của tập 1 không quan sát được Chiều dày đạt trên 100m
Tập 2: chuyển tiếp từ tập 1 lên gồm bột kết , đá phiến sét màu xám tro , xám sẫm, chứa nhiều vật chất hữu
cơ Trong đá phiến sét có chứa nhiều hóa thạch Chân Rìu và Tay Cuộn có tuổi Permi muộn Chiều dày đạt 150m
Ranh giới trên của hê ̣ tầng chuyển tiếp chỉnh hợp lên đá vôi của hệ tầng Tà Vát
Hê ̣ tầng Tà Vát (P3tv)
Hệ tầng được xác lập trong nhóm tờ Lộc Ninh (Ma Công Cọ, và nnk 2001) bao gồm các đá vôi, sét vôi ở phần trên của hệ tầng Tà Thiết do Bùi Phú Mỹ xác lập năm 1984 Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng lộ ra dọc thung lũng sông Sài Gòn từ trên cầu Tà Thiết xuống Phum Tà Vát, mặt cắt gồm 3 tập từ dưới lên như sau:
Tập 1: đá vôi xen ít lớp đá vôi sét, sét vôi, màu xám đen, xám tro Đá vôi hạt nhỏ phân lớp vừa đến dày, chứa các Trùng Lỗ Permi Chiều dày tập 5560m
Tập 2: chuyển tiếp từ tập 1 lên gồm đá vôi xám hồng, xám nhạt, hạt vừa, phân lớp dày đến dạng khối, chứa
di tích tảo Chiều dày đạt 2025m
Tập3: chuyển tiếp từ tập 2 lên gồm đá vôi xám đen, xám tro, hạt nhỏ vừa phân lớp dày, chứa Trùng Lỗ Chiều dày 90100m
Ranh giới trên có đá vôi tâ ̣p 3 chuyển tiếp lên sét vôi của hê ̣ tầng Sông Sài Gòn hay bất chỉnh hợp đi ̣a tầng , gián đoạn bởi lớp cuội sỏi mỏng (?) [6]
Hê ̣ tầng Sông Sài Gòn (T1ssg)
Hệ tầng Sông Sài Gòn được Bùi Phú Mỹ và Vũ Khúc xác lập (1979) trong công trình lập Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 Mặt cắt thượng nguồn sông Sài Gòn (Tống Lê Chàm) bao gồm 3 tâ ̣p
Tập 1: cuội sạn kết, bột kết vôi, sét vôi, cát bột kết Chiều dày của tập 200250m
Tập 2: bột kết màu xám đen phân lớp trung bình tới dày xen kẹp cát kết, cát bột kết màu xám đen phân lớp ngang đôi chỗ Chiều dày 300350m
Tập 3: thành phần chủ yếu là cát kết màu xám xen ít cát bột kết, bột kết Chiều dày là 250m
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
- Các mẫu đá được thu thâ ̣p từ thực đi ̣a , các mẫu được cho ̣n l ọc đa ̣i diê ̣n cho các nhóm đá trong vùng nghiên cứu
- Mặt cắt đi ̣a chất đươ ̣c đo vẽ ngoài thực đi ̣a
Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu đã nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa như lấy mẫu theo điểm, mặt cắt, lộ trình…, xác định yếu tố
Trang 14Đặc điểm thạch học
mô ̣t số ít còn la ̣i là các mảnh vụn bùn vôi Mảnh vụn sinh vật một số còn tương đối đầy đủ hình dạng sinh vật có thể xác đi ̣nh được như rong, tảo, san hô, foraminifera, bryozoa, huê ̣ biển… số còn la ̣i bi ̣ vỡ vụn khá nhiều hay lát cắt không thể hiê ̣n không đầy đủ hình da ̣ng nên không phân loa ̣i được Các mảnh vụn đá vôi thường chứa các sinh vâ ̣t bên trong chúng với nền xi măng canxit kết tinh thô , thấy rõ Mảnh bùn vôi có thành phần chủ yếu là canxit vi tinh , có nhiều vật liệu hữu cơ bên trong chúng , một số chỗ đã bi ̣ dolomic hoá rõ Xi măng có thành phần canxit, hầu như không có vâ ̣t liê ̣u hữu cơ xen lẫn trong chúng , canxit kết tinh thô kiểu kiến trúc sparite
Packstone
Mẫu 6.3
Đá có màu xám, có thể quan sát được một số mảnh vụn với kích thước từ 0,5mm đến 1,8cm, các mảnh vụn lớn có da ̣ng tương đối đẳng thước và tròn ca ̣nh Quan sát dưới kính đá có kiến trúc mảnh vụn , cấu tạo bút thể (Stylolite), thành phần tạo đá bao gồm 75% mảnh vụn , 25% xi măng Kích thước của các mảnh vụn có thể chia thành hai cấp khác nhau rõ rệt , cấp 1 từ 0,5mm đến 5mm, cấp 2 lớn hơn 15mm, hầu hết tròn ca ̣nh, mô ̣t số mang hình dạng kế thừa của các sinh vật , các mảnh vụn cấp 1 hầu hết có viền canxit mỏng bao quanh , trong khi đó ở các hạt cấp 2 thì được xi măng gắn kết trực tiếp Mảnh vụn sinh vật chiếm 40%, vụn đá vôi và bùn vôi chiếm 35% Mảnh vụn sinh vật một số còn hình dạng đầy đủ , có thể phân loại được như bryozoa , san hô , tảo, rong, foraminifera, huệ biển , số còn la ̣i da ̣ng vỡ vụn nhiều hay lát cắt không thấy được rõ hình da ̣ng sinh vâ ̣t nên
không phân loại được Các mảnh vụn đá vôi thì hầu hết không có chứa sinh vật , có hai loại, một loa ̣i thì hầu như chỉ có thành phần là bùn vôi , bùn vôi lẫn hữu cơ , canxit vi tinh , đôi khi có cấu ta ̣o phân lớp mỏng ; loại còn lại chỉ bao gồm canxit thô ha ̣t , ít vật liệu hữu cơ , Xi măng bao gồm chủ yếu bùn vôi hay kết tinh canxit thô ha ̣t , chúng phân bố xen lẫn nhau , trong phần bùn vôi có lẫn ít vâ ̣t liê ̣u hữu cơ Dolomit hoá xảy ra trong mô ̣t số mảnh vụn đá vôi
Hình 2 Hình chụp ranh giớp tiếp xúc giữa đá
bô ̣t kết sét kết bên trên và đá vôi bên dưới
Hình 3.Hình chụp ranh giớp tiếp xúc giữa đá vôi bên
dưới chuyển tiếp lên đá sét vôi chen ke ̣p với sét bô ̣t
kết bên trên
Trang 15Mẫu 6.4-1, 6.4-2
Đá có màu xám, xám tối, có nhiều mảnh vụn kích thước nhỏ hơn 1,5mm, các mảnh vụn tròn cạnh, có nhiều hình dạng khác nhau Đá có kiến trúc mảnh vụn , thành phần bao gồm 55% đến 70% mảnh vụn, 30% đến 45% xi măng Các mảnh vụn chủ yếu là mảnh vụn đá vôi , ít mảnh vụn sinh vật và mảnh bùn vôi Các mảnh vụn một số
có viền canxit mỏng bao quanh , mô ̣t số không có viền canxit Các mảnh vụn đá vôi thì phổ biến cả hai loại là loại có thành phần canxit kết tinh thô và loại có canxit vi tinh hay bùn vôi , trong chú ng hầu như không có chứa sinh vâ ̣t, sinh vâ ̣t thỉnh thoảng có mă ̣t trong các mảnh đá vôi có kích thước nhỏ Mảnh vụn sinh vật phổ biến tảo , còn nhiều mảnh vụn sinh vâ ̣t khác khó xác đi ̣nh được do vỡ vụn nhiều hay lát cắt không thấy đầy đủ hình da ̣ng Các mảnh bùn vôi thường sẫm màu , có lẫn các vật liệu hữu cơ, không chứa các sinh vâ ̣t Xi măng có thành phần kết tinh thô ha ̣t chiếm ưu thế hơn , phần bùn vôi hay canxit vi tinh chiếm tỉ lê ̣ nhỏ hơn và phân bố rãi rác chen lẫn nhau Dolomit có trong mô ̣t số các mảnh vu ̣n đá vôi
Wackestone
Mẫu 6.6
Đá có màu xám sâ ̣m , có chứa các mảnh vụn có kích thước thay đổi từ 1mm đến 2cm Quan sát dưới kính cho thấy các mảnh vụn sinh vâ ̣t hầu hết có kích thước dưới 5mm, cá biệt có mảnh san hô ? khá lớn đến 1cm Các mảnh vụn có kích thước lớn là các mảnh đá vôi Thành phần mảnh vụn 45%, xi măng 55%, trong đó mảnh vụn đá vôi 15%, mảnh vụn sinh vật 30% Các mảnh vụn đá vôi có thành phần canxit vi tinh hay bùn vôi lẫn vật liệu hữu cơ Các mảnh vụn sinh vật với nhiều hình dạng khác nhau Xi măng là bùn vôi có lẫn các vâ ̣t liê ̣u hữu cơ , phân bố không đầu trong đá Đá bi ̣ nứt nẽ nhiều với các vi khe nứt lấp đầy canxit
Nhóm đá trầm tích mảnh vụn
Các đá sét kết, bô ̣t sét kết là phổ biến , các trầm tích thô hơ n như bô ̣t kết , cát kết hạt mịn ít gặp hơn , chúng phân bố thành các lớp phân bố chen ke ̣p trong sét kết, sét bột kết Cát kết hạt trung đến thô không gặp tại mặt cắt này
Hình 4,5 Hình chụp lát mỏng đá vôi grainstone Hình 4, 1nicol, 5X Hình 5, 2 nicol, 5X Mẫu 6.2
Hình 6,7 Hình chụp lát mỏng đá vôi packestone Hình 6 1nicol, 5X Hình 7, 2 nicol, 5X Mẫu 6.4
Trang 16Cát kết
Mẫu 2
Sét bột kết vôi phân lớp mỏng Đá có màu xám đen, có phân lớp rõ khi quan sát dưới kính, các lớp mỏng từ 1,5mm đến 3mm xen kẹp nhau , bao gồm sét , sét vôi, sét vôi chứa vụn thạch anh , vôi sét, bô ̣t kết xi măng vôi Lớp bô ̣t kết xi măng vôi có kích thước vụn từ 0,02mm đến 0,05mm, đô ̣ cho ̣n lo ̣c tốt, mảnh vụn có hình dạng góc cạnh đến bán góc cạnh vụn thạch anh 30%, vụn vôi 35%, mảnh chert rất ít , mô ̣t số ha ̣t tha ̣ch anh tắt làn sóng Lớp sét vôi có thành phần chủ yếu là các vi tinh canxit và thường có khoảng 5% vụn thạch anh Lớp vôi sét với hầu hết thành phần là canxit vi tinh, có một ít vảy xerixit phân bố rãi rác
Mẫu 3
Cát kết arkose hạt mịn có màu xám Quan sát dưới kính cho thấy đá có kích thước thay đổi từ 0,07mm đến 0,12mm, độ cho ̣n lo ̣c tố t, hình dạng hạt từ góc cạnh đến bán góc cạnh , tiếp xúc ha ̣t da ̣ng điểm , đường thẳng hay không tiếp xúc , mô ̣t số ha ̣t vụn có da ̣ng kéo dài xếp đi ̣nh hướng , thể hiê ̣n đá bi ̣ nén ép Thành phần tạo đá có mảnh vụn 60%, xi măng sét và silic 40%, trong đó vụn tha ̣ch anh 30%, chert 20%, feldspath kali 10%, thường bi ̣ biến đổi sét hoá ở mức độ trung bình Một số hạt thạch anh có hiện tượng tắt làn sóng rõ Xi măng sét và silic phân bố xen lẫn nhau
Mẫu 4
Sét kết có mảu xám đen , cấu ta ̣o phân lớp mỏng Quan sát dưới kính đá có 90% các khoáng vật sét, xerixit 10%, các đốm vôi có kích thước nhỏ phân bố rãi rác
Yếu tố thế nằm của đá vôi và loa ̣t đá sét bô ̣t cát kết
Tại mặt cắt cho thấy các đá vôi và trầm tích sét bột kết cắm về hướng tây bắc , thế nằm các đá vôi có tính phân lớp 320 ﮮ25; các đá trầm tích sét bột cát kết 320 ﮮ20, 330 ﮮ25 Loạt đá sét bột cát kết phủ trực tiếp lên đá vôi, ranh giới giữa đá vôi và loa ̣t trầm tích sét bô ̣t cát kết bên trên không thấy có bất chỉnh hợp góc cũng như không thấy hiê ̣n diện lớp cuội sạn sỏi kết
THẢO LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu mă ̣t cắt đi ̣a chất tr ên cho thấy rằng các đá vôi phân bố từ dưới lên trên có sự thay đổi mang tính chuyển tiếp dần từ đá vôi thành ta ̣o trong môi trường có năng lượng cao sang môi trường có năng
lươ ̣ng thấp hơn , thể hiê ̣n qua sự thay đổi đă ̣c điểm th ành phần thạch học của các đá vôi Phần bên dưới mă ̣t cắtmă ̣t cắt tích tụ các đá vôi rất giàu các mảnh vụn có da ̣ng tròn ca ̣nh hay đẳng thước như trứng cá vôi , hầu hết chúng có viền canxit mỏng bao quanh , xi măng kết tinh t hô, vâ ̣t liê ̣u hữu cơ hầu như không có ; phần trên có đá vôi tỉ lê ̣ mảnh vụn thấp hơn , trong đó có mô ̣t vài mảnh vụn sinh vâ ̣t có kích thước lớn , xi măng thường mi ̣n ha ̣t , chứa các vâ ̣t liê ̣u hữu cơ
Trong loa ̣i trầm tích mảnh vụn bên trên có tính chất xen ke ̣p lớp mỏng đến rất mỏng, bao gồm các đá sét kết, sét vôi, vôi sét, sét bột kết, bô ̣t sét kết, bô ̣t kết, cát kết Trong các lớp cát kết có đô ̣ cho ̣n lo ̣c tốt , cũng có một lươ ̣ng vôi đáng kể ở da ̣ng mảnh vụn hay xi măng Các đá được tích tụ trong môi trường tương đối yên tĩnh
Thế nằm của hai loa ̣i đá vôi và đá trầm tích vụn là tương tự nhau , ranh giớ i giữa chúng có quan hê ̣ chỉnh hợp Vì vậy, có thể xem đây là quá trình trầm tích mang tinh chuyển tiếp dần giữa loạt trầm tích vôi sang đá trầm tích mảnh vụn mi ̣n ha ̣t , môi trường trầm tích có tính năng lượng thấp dần
Hình 8 Hình chụp lát mỏng cho thấy phân lớp
mỏng xen kẹp sét/bô ̣t/vôi sét, 2 nicol, 2,5X Mẫu 2 Hình 9 Hình chụp lát mỏng cát kết, 2 nicol Mẫu 3
Trang 17Trong các mô tả mă ̣t cắt trước đây [2, 3,6] ranh giới trên của Permi thượng (Hê ̣ tầng Tà Vát ) là tập đá vôi và phần bên dưới của hê ̣ tầng Sông Sài Gòn (Trias ha ̣) là bột kết, sét vôi, cát bột kết, phù hợp đặc diểm phân bố tha ̣ch ho ̣c đươ ̣c mô tả ta ̣i mă ̣t cắt này
Vì vậy, đây có thể là mô ̣t mă ̣t cắt thể hiê ̣n quan hê ̣ chỉnh hợp đi ̣a tầng giữa đá vôi Permi thượng của hê ̣ tầng Tà Vát với các đá trầm tích vụn của hê ̣ tầng Sông Sài Gòn Tuy nhiên, do chưa tìm được hoá tha ̣ch trong loạt đá trầm tích vụn sét kết , bột sét kết, … ngay bên trên tâ ̣p đá vôi này , nên tuổi của loa ̣t đá trầm tích vụn này chỉ tạm thời được dự đoán là Triat hạ thuộc hệ tầng Sông Sài Gòn
PETROGRAPHY CHARACTERISTIC AND UPPER STRATIGRAPHIC BOUNDARY OF LIMESTONE LATE PERMIAN IN GEOLOGICAL SECTION IN SOUTH – EASTERN
REGION, VIETNAM
Ngo Tran Thien Quy
University of Science, VNU Hochiminh City
ABSTRACT
In the South – Eastern region, Vietnam, the stratigraphic boundary of Late Permian - Early Triassic has long been considered an unconformity boundary between Ta Vat formation (Late Permian) and Song Saigon formation (Early Triassic) The result of study on petrography and geological structure from the newly discovered geological section found in this region, suggests this may be a conformable stratigraphic boundary, the nature of the transition from limestone series such
as grainstone, packstone, wackestone of Ta Vat formation up of sedimentary rocks such as claystone, marl,… of the Song Saigon formation
Keywords: stratigraphic boundary, petrography, Permian, Triassic, Southeastern, Vietnam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Xuân Bao và nnk , Báocáo thuyết minh bản đồ Kiến tạo – Sinh khoáng Miền Nam Viê ̣t Nam , tỷ lệ 1:500.000 Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Đi ̣a chất Miền Nam (2001)
[2] Ma Công Cọ, Thuyết minh chú giải bản đồ đi ̣a chất và bản đồ dự báo tài nguyên khoáng sản đề án lâ ̣p bản đồ đi ̣a chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Lô ̣c Ninh , Tỷ lệ 1/50.000 Lưu trữ Liên đoàn bản đồ đi ̣a chất Miền Nam (1993)
[3] Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, Bản đồ địa chất và khoáng sản 1:200.000, tờ Công Pông Chàm - Lộc Ninh (1994)
[4] Trần Đứ c Lương, Nguyễn Xuân Bao, Đi ̣a chất Viê ̣t Nam, Tâ ̣p I, Đi ̣a tầng, Tổng Cu ̣c Đi ̣a chất và Khoáng sản (1986)
[5] Loren A Raymond Petrology: the study of igneous, sedimentary, metamorphic rocks, WCB publishers (1995)
[6] Tống Duy Thanh, Vũ Khúc, Các phân vị địa tầng Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nô ̣i (2006) [7] Phạm Huy Tiến, Trịnh Ích, Nguyễn Ngọc Mên , Thạch học trầm tích , Tâ ̣p 1, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1985)
Trang 18V-O-1.4
THẠCH HỌC ĐÁ VÔI NÚI CHÙA HANG, KIÊN LƯƠNG
Nguyễn Vĩnh Tùng 1 , Đinh Quốc Tuấn 1 , Trần Tấn Tài 2
1Khoa Địa chất, Trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM
2Công Ty Đi ̣a chất Nam Bô ̣ (NAGEO)
Email: dqtuan@hcmus.edu.vn
TÓM TẮT
Theo bảng phân loại của Dunham, đá vôi núi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang gồm các loại mudstone, wackstone, một số ít là packstone, và đặc biệt nhất là boundstone (bafflestone) Boundstone điềm chỉ tính chất của môi trường thủy động cũng như điều kiện sinh sống của các sinh vật (chủ yếu là huệ biển) hiện diện trong môi trường trầm tích Tính chất thạch học của đá vôi này cho phép nhóm tác giả phân biệt giữa đá vôi hệ tầng Chùa Hang , trước Permien, (Trương Công Đượng 1997 ) với đá vôi hệ tầng Hà Tiên (Permien trung- hạ)
Từ khóa: Đá vôi chứa huệ biển, Hệ tầng Chùa Hang, Boundstone
GIỚI THIỆU
Khu vực Hà Tiên-Kiên Lương(huyện Hà Tiên cũ) là khu vực duy nhất của đồng bằng sông Cửu Long có sự xuất lộ của các núi đá vôi dưới dạng các đồi núi sót chạy dọc bờ biển Các núi đá vôi này chủ yếu thuộc hệ tầng
Hà Tiên, ngoài ra còn có đá vôi hệ tầng Chùa Hang được tìm thấy tại Chùa Hang(chùa Hải Sơn) thuộc địa phận
ấp Ba Trại, xã Bình An huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
Hình 1 Sơ đồ vị trí khảo sát
Khu vực nghiên cứu là khu vực núi đá vôi có đi ̣a hình “tai mèo” đặc trưng thuô ̣c hệ tầngChùa Hang,các núiđá vôi cao khoảng 100m đến 200m sát bờ biển phía Tây Bắc của khu vực núi Chùa Hang, cách tỉnh lộ 11 khoảng 500m về phía Nam, cách trung tâm huyện Kiên Lương khoảng 15 km về phía Đông Nam
Từ trước cho đến nay đá vôi ở vùng Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang được nhiều các tác giả đề cập tới như Mansuy (1902), Lê Thị Viên (1959), Saurin (1971), Fontaine (1970), Nguyễn Đức Tiến (1966, 1970)
và Tôn Thất Tý (1984) Các công trình đo vẽ bản đồ địa chất 1/500.000, 1/200.000, 1/50.000 lần lượt của Trần Đức Lương (1980), Nguyễn Ngọc Hoa (1991) , Nguyễn Xuân Bao (hiệu đính) (1994) và Trương Công Đượng (1997) Có tác giả nghiên cứu về phương diện cổ sinh, có tác giả khảo sát về đặc điểm trữ lượng khoáng sản, nhìn chung phần lớn nghiên cứu tổng quan về đá vôi, quan hệ địa tầng của đá vôi với các thành tạo địa chất khác mà chưa quan tâm về điều kiện và môi trường trầm tích hình thành nên đá vôi trong vùng
Với lý do trên, bài báo cáo với đối tượng nghiên cứu la đá vo i chứa sinh va ̣t hu ệ biển thuộc hệ tầng Chùa Hang (Trương Công Đượng, 1997), hi vọng phần nào có thể phản ánh và lý giải được môi trường thủy động cũng như điều kiện sinh sống của các sinh vật Từ đó giúp phân biệt đá vôi giữa hệ tầng Chùa Hang với đá vôi hệ tầng Hà Tiên
Trang 19PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp khảo sát thực địa nhằm xác định vị trí phân bố của đá vôi chứa sinh vâ ̣t hu ệ biển hệ tầng Chùa Hang và lấy mẫu thạch học và mô tả mẫu cũng như chụp hình ngoài thực địa Phương pháp trong phòng thí nghiệm có phương pháp phân tích lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực tại phòng thí nghiệm Bộ môn Trầm Tích
và Bộ môn Địa Chất Cơ Sở nhằm mô tả chi tiết các đặc điểm về thành phần khoáng vật, kiến trúc, cấu tạo, các biến đổi thứ sinh của thành tạo đá vôi Số lát mỏng phân tích gồm 5 lát mỏng Cách phân loại và những lý giải về môi trường trầm tích của đá vôi theo tài liệu của các tác giả Dunham (1962), Embry & Klovan (1972), Wilson (1975), Flügel (2010) (Được trình bày chi tiết trong bảng 1)
Bảng 1 Bảng phân loại đá vôi theo tác giả Dunham (1962) ( hình C.G St C Kendall, 2005)
Các thành phần về nguồn gốc không liên kết với nhau
trong quá trình trầm tích
Các thành phần
về nguồn gốc có liên kết với nhau trong suốt quá trình trầm tích, thể hiện rõ bởi vật liệu cốt bộ sinh vật mọc xen nhau
Bùn vôi ưu thế Mảnh vụn cỡ hạt (hạt vụn) ưu thế
< 10% hạt vụn >10% hạt vụn
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đá vôi nghiên cứu bằng mắt thường có màu xám sáng, chứa đầy các cuống huệ biển kích thước lớn trong
tư thế sống Các nhánh cuống huệ biển đan xen nhau tạo thành một quần thể huệ biển phong phú, thân huệ biển với thành phần vôi có màu trắng sáng phân biệt với nền đá có màu xám sáng Cuống huệ biển với kích thước lớn hơn 3 cm, có cuống đạt tới 15 cm theo chiều dài Với những đặc trưng mô tả như trên, có thể phân loại đá vôi theo Dunham (1962) thuộc nhóm boundstone, chi tiết hơn nữa là bafflestone (Embry & Klovan, 1972 và Wright, 1992)
Phân tích mẫu đá vôi dưới lát mỏng, quan sát thấy chứa các cuống huệ biển từ nhỏ đến rất lớn Nền chủ yếu là bùn vôi Các mảnh huệ biển còn nguyên thành phần vôi của chúng, chứng tỏ đá vôi chứ a sinh vâ ̣t hu ệ biển này là đá vôi tại sinh được hình thành do các tích chất vùi lấp nhanh cùng với huệ biển để tạo thành đá Đáng chú ý, dưới lát mỏng các cuống huệ biển được bao quanh bởi một riềm microspar, có thể giải thích hiện tượng này là do quá trình phân hủy sinh vật sinh ra acid làm hòa tan bùn vôi bao xung quanh mảnh vỏ sau đó lại được tái kết tinh lại dưới dạng microspar Phần nền đá chiếm ưu thế là bùn vôi minh chứng cho điều kiện thủy động yên tĩnh, năng lượng kém, đây là điều kiện thuận lợi để tích tụ vật liệu bùn vôi Các biến đổi của quá trình xuyên sinh gồm có sự dolomit hóa xảy ra ở nền bùn vôi và cả trên sinh vật, còn quan sát thấy có cấu tạo đường khâu stylolite kèm theo là dolomit xen giữa
Theo nhà cổ sinh Nguyễn Đình Hồng và Đặng Trần Huyên thì các hóa thạch huệ biển gồm có các loài:
Cyclocyclicus aff digraes Yeltyshewa, Cyclocyclicus sp., Pentagonyclicus sp có tuổi chủ yếu là Carbon
(Trương Công Đượng, 1997)
Từ những mô tả đá vôi trên, ta có thể phân biệt đá vôi hệ tầng chùa Hang với đá vôi hệ tầng Hà Tiên chỉ với nhóm đá vôi chứa chủ yếu huệ biển như sau:
Đá vôi hệ tầng chùa Hang có màu xám sáng, đá vôi boundstone – đá vôi tại sinh chứa các cuống huệ biển nguyên vẹn trong tư thế sống, chất vôi trong vỏ sinh vật phần lớn còn giữ nguyên Môi trường trầm tích có năng lượng yếu, yên tĩnh, dưới mực sóng cơ sở (Weather wave base) với tốc độ trầm tích nhanh nên còn bảo tồn nguyên vẹn các cuống huệ biển
Trong khi đó, đá vôi hệ tầng Hà Tiên* có màu xám sậm đến xám tối, có chứa chất hữu cơ, thuộc nhóm đá vôi packstone, grainstone chứa các mảnh vụn cuống huệ biển, các mảnh vụn huệ biển hầu hết đều bị tái kết tinh thành calcit đồng trục Môi trường trầm tích có năng lượng lớn, trên mực sóng cơ sở nên chịu tác động chọn lọc mạnh mẽ của sóng (*)Đá vôi ở Hang Cây Ớt
Trang 20KẾT LUẬN
Đá vôi ở khu vực Chùa Hang khảo sát là đá vôi boundstone có huệ biển màu xám sáng với thành phần nền
đá chủ yếu là bùn vôi Từ những phân tích về đặc tính của đá vôi ở đây cho thấy đá được hình thành trong môi trường thủy động yên tĩnh, năng lượng yếu, tốc độ vùi lấp nhanh nên bảo tồn huệ biển khá tốt Với đặc tính của
đá vôi chứa sinh vâ ̣t hu ệ biển của hệ tầng Chùa Hang như vậy cho phép có thể phân biệt dễ dàng với đá vôi chứa sinh vâ ̣t huệ biển ở hệ tầng Hà Tiên
Hình 2
1 Tổng quan lộ điểm đá vôi khảo sát tại Chùa Hang;
2 Đá vôi chứa huệ biển trong tư thế sống thuộc hệ tầng Chùa Hang;
3,4 Đá vôi huệ biển quan sát dưới lát mỏng với nền đá chủ yếu là bùn vôi, thành phần vôi của cốt bộ sinh
Trang 21Lời cảm ơn: Nhóm tác giả chân thành cảm ơn đến PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Lan vì những ý kiến, đóng
góp giúp cho bài báo cáo hoàn thiện hơn Cảm ơn các cán bộ của Bộ môn Trầm Tích và Bộ môn Địa chất Cơ
Sở Khoa Địa Chất Trường ĐH KHTN đã tạo điều kiện thuận lợi để nhóm tác giả hoàn thành bài báo này
PETROGRAPHY OF LIMESTONES AT CHUA HANG, KIEN LUONG
1Department of Geology, University of Science, VNU HCMC
2NAGEO
ABSTRACT
According to the Dunham carbonate rock’s classification, the limestones at Chua Hang, Kien Luong district, Kien Giang province are mudstone, wackstone, a small amount of packstone, and especially boundstone (bafflestone) Boundstone reflects not only the characteristic of the hydrodynamic condition but also living condition (primary crinoids) in depositional environment The features of these boundstones allow the group authors to distinguish limestone of Chua Hang formation, pre-Permian, (Truong Cong Duong, 1977) from limestone of Ha Tien formation (Early- middle Permian)
Key words:Crinoidal limestone, Chua Hang formation, Boundstone
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng việt:
[1] Trương Công Đượng (Chủ biên) 1997 Báo cáo Địa chất và Khoáng sản nhóm tờ Hà Tiên-Phú Quốc, kèm theo Bản đồ Địa chất và Khoáng sản nhóm tờ Hà Tiên-Phú Quốc tỷ lệ 1:50.000 Lưu trữ Liên đoàn BĐĐC Miền Nam Tp.HCM
[2] Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, 1991 Báo cáo công tác lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản 1/200.000 nhóm tờ Đồng bằng Nam bộ Lưu trữ Liên đoàn BĐĐC Miền Nam Tp.HCM
Tiếng nước ngoài:
[3] Dunham R.J., 1962 Classification of carbonate rocks according to depositional texture American Association of Petroleum Geologists Memoir 1: pp.108-121
[4] Flügel, E., 2010, Microfacies of carbonate rocks, analysis, interpretation and application, Second edition Berlin, Springer–Verlag, 976 pp
[5] Fontaine H.,1970 Note sur les régions de Hà Tiên et de Hòn Chông : Arch Géol Vietnam, 13, 2,
Trang 22V-O-1.5
ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC, THẠCH ĐỊA HÓA VÀ KHOÁNG HÓA SẮT LIÊN QUAN KHỐI
MAGMA MAFIC KHU VỰC TÂN HÒA, TÂN CHÂU, TÂY NINH
Nguyễn Thế Công, Nguyễn Kim Hoàng
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Tp.HCM
TÓM TẮT:
Khối magma mafic khu vực Tân Hòa, Tân Châu, Tây Ninh (Đồi 95) được phát hiện vào năm
1986 và được xếp vào phức hệ Tây Ninh (K 1 tn, Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, 1995) Thành phần thạch học của khối xâm nhập này được làm sáng tỏ qua các lỗ khoan năm 2013 bao gồm gabrodiorit, gabronorit, gabro, gabropyroxenit, pyroxenit.Thành phần khoáng vật chính gồm plagioclas, pyroxen xiên đơn, pyroxen trực thoi, hornblend lục, thứ yếu có biotit; khoáng vật phụ có apatit, sphen, magnetit, pyrotin.Tổ hợp gabro – pyroxenit phức hệ Tây Ninh có hàm lượng titan cao, chứa nhiều các nguyên tố thuộc nhóm sắt như Fe, Ti, V nhưng chứa thấp Rb, Sr, Y, Cs, Ba, Sm, Eu, Nd Các nguyên
tố vết, nguyên tố hiếm chuẩn hóa theo manti nguyên thủy và chondrit cho thấy chúng có nguồn gốc rất sâu từ manti sạch, thuộc mô hình tách giãn trên rìa lục địa tích cực Phức hệ Tây Ninh có đặc trưng về dị thường từ địa vật lý, các kết quả phân tích hóa, quang phổ và giã đãi cho thấy tổ hợp này
có tính chuyên khoáng và triển vọng về quặng hóa sắt và titan
Từ khóa: Gabro, gabbro-pyroxenit, phức hệ Tây Ninh, khu vực Tân Hòa
GIỚI THIỆU
Khu vực Tân Hòa trước đây gọi là Đồi 95 [3] chủ yếu thuộc địa phận xã Tân Hòa và một phần phía Tây thuộc xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; cách UBND xã Tân Hòa khoảng 3 km về phía Tây – Tây Bắc, cách thành phố Tây Ninh khoảng 45km về phía Đông Bắc và cách Tp Hồ Chí Minh 150km về phía Bắc Trong công tác Đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Đồng Bằng Nam bộ tỷ lệ 1/200.000 (Hoàng Ngọc Kỷ và nnk, 1980 – 1989; Nguyễn Ngọc Hoa và nnk 1990), Liên đoàn Địa chất 6 (nay là Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam – LĐBĐĐCMN), đã phát hiện điểm khoáng hóa sắt trên cơ sở đo dị thường từ và qua công tác khoan sâu một lỗ khoan 500m ở đồi 95, khu vực Tân Hòa (1986).Năm 1995, trong hiệu đính “Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1/200.000 tờ Công Pông Chàm-Lộc Ninh” do Nguyễn Xuân Bao chủ biên đã phân chia chi tiết phức hệ Tây Ninh; trong đó, khối gabro có thành phần thạch học chính
là gabro, gabropyroxenit, pyroxenit được cho là có tuổi Jura muộn Từ năm 2005 đến 2014,LĐBĐĐCMNđã tiến hành “Đo vẽ lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Tân Biên tỷ lệ 1/50.000” do Lê Minh Thủy chủ biên Trong công tác này, đã tiến hành điều tra chi tiết biểu hiện khoáng hoá sắt khu vực Tân Hòa với 2 lỗ khoan sâu Cũng trong năm 2013, Tập đoàn Hoàng Gia cũng đã có 4 lỗ khoan khảo sát đánh giá khả năng làm đá ốp lạt đối với khối xâm nhập sẫm màu này
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
Đặc điểm địa chất khu vực Tân Hoà như sau (Hình 1):
Địa tầng
Hệ tầng Tà Nốt (P 3 tn) (Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1994) chỉ có diện nhỏ chừng 1km2lộ ở phía Bắc khối xâm nhậpsẫm màu.Các đá trầm tích này thường phân bố dạng dải.Thành phần thạch học gồm đá phiến sét màu đen, sét bột kết xen kẹp bột kết màu xám, chứa hóa thạch tay cuộn và hai mảnh Bề dày của hệ tầng này là 250m.Chuyển tiếp lên trên hệ tầng này là hệ tầng Tà Vát
Hệ tầng Tà Vát (P 3 tv)(Ma Công Cọ và nnk, 2001) có một diện lộ nhỏ ở phía Đông và một diện tích lớn ở
phía Tây Bắc khối xâm nhập sẫm màu.Thành phần thạch học bao gồm đá vôi vi hạt màu xám chứa tàn tích sinh vật, chuyển lên là sét vôi Trong đá vôi hạt nhỏ phân lớp vừa đến dày chứa các Trùng lỗ tuổi Permi muộn (P3) Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng dày 100-150m gồm: đá vôi xám phân lớp dày xen sét vôi xám đen, chuyển lên đá
vôi xám trắng dạng khối, đá vôi xám đen phân lớp dày Bề dày chung của hệ tầng Tà Vát thay đổi 150 ÷ 180m
Hệ tầng Sông Sài Gòn (T 1 ssg)(Bùi Phú Mỹ và Vũ Khúc, 1979) phân bố thành 2 diện lộ ở phía Đông Nam
và Tây Bắc Thành phần thạch học chia làm 3 tập, từ dưới lên như sau:
- Tập 1 (T1ssg1): Gồm sét vôi, sét bột kết vôi, bột kết vôi xen kẹp cát kết vôi Đá có kiến trúc sét bột hoặc bột cát với xi măng lấp đầy kiểu cơ sở, cấu tạo vi phân lớp, định hướng yếu hoặc dạng khối
- Tập 2 (T1ssg2): Gồm bột kết, cát kết, cát bột kết, đôi chỗ xen kẹp các thấu kính cuội kết đa khoáng gian tầng Đá có kiến trúc sét bột hoặc cát bột với xi măng lấp đầy kiểu cơ sở, cấu tạo phân lớp đến dạng khối
- Tập 3 (T1ssg3): Gồm cát kết, bột kết, xen kẹp sét bột kết Đá có kiến trúc cát sạn, sét bột hoặc cát bột với
Trang 23Hệ tầng Bà Miêu (N 2 2 bm)(Lê Đức An và nnk, 1981) phân bố rộng rãi xung quanh khối xâm nhập sẫm
màu.Trầm tích chủ yếu gồm cát bột, bột sét, bột sét lẫn cát mịn, xen các thấu kính cát chứa sạn sỏi, cát bột sét chứa kaolin Trầm tích có màu xám vàng, vàng nâu, nâu đỏ, tím nhạt loang lổ Bề dày của hệ tầng thay đổi 20÷>70m
Magma xâm nhập
Phức hệ Định Quán (Gb/K 1 đq 1 )(Huỳnh Trung, 1989), được xếp vào phức hệ này là dạng xâm nhập nhỏ
xuyên cắt xâm nhập nhập sẫm màu phức hệ Tây Ninh trong lỗ khoan LK2 (LĐBĐĐCMN, 2013).Thành phần thạch học gồm: gabro, gabrodiorit và diorit hạt nhỏ đến vừa (Pha 1) và microgabrodiorit và microdiorit (Pha đá mạch) Đá có màu xám đen, cấu tạo khối Thành phần khoáng vật gồm: plagioclas, amphibol và ít pyroxen tàn
dư Khoáng vật phụ có apatit và sphen; khoáng vật quặng có magnetit và pyrotin Ở đới tiếp xúc giữa các thành tạo magma phức hệ Định Quán với đá vôi hệ tầng Tà Vát có hiện tượng trao đổi biến chất gây skarn hóa (skarn vôi) Trong đới này thường chứa các thể tù đá vây quanh, dạng đẳng thước, kích thước 5 ÷ 10cm
Phức hệ Tây Ninh (Gb/K 1 tn)(Nguyễn Ngọc Hoa và Dương Văn Cầu, 1995) có dạng khối đẳng thước
xuyên cắt qua các đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Sông Sài Gòn và đá trầm tích lục nguyên – carbonat hệ tầng
Tà Vát Đôi chỗ, các thành tạo xâm nhập sẫm màu này xuyên cắt và gây biến đổi đá vây quanh tạo nên đá sừng pyroxen với kiến trúc sừng đặc trưng gồm những hạt pyroxen xiên đơn dạng đẳng thước phân bố đều Trong khối xâm nhập có những tia mạch nhỏ của “granit”, mạch thạch anh, canxit xuyên cắt Thành phần thạch học chính gồm pyroxenit, gabropyroxenit, gabro, gabronorit, gabrodiorit Đá có màu đen, xám đen đến xám xanh, cấu tạo khối, phân dải Tổ hợp khoáng vật đặc trưng: plagioclas, pyroxen xiên đơn, pyroxen trực thoi, amphibol; khoáng vật phụ có apatit, sphen, magnetit, pyrotin Trong đá, phổ biến hiện tượng clorit hóa, epidot hóa
Phần trên của khối xâm nhập này bị phong hóa mạnh tạo vỏ phong hóa dày có màu nâu đỏ, vàng nâu đến lục, có thành phần chủ yếu ở trên là laterit, chuyển tiếp xuống dưới là sét bột và lớp sét màu xám trắng phớt lục
Về phía Tây của khối magma xâm nhập sẫm màu chính, còn lộ ra một khối xâm nhập nhỏ diện tích khoảng
50 m2) có thành phần thạch học chủ yếu là gabronorit và gabro
Kiến tạo
Vị trí kiến tạo
Khối xâm nhập sẫm màu nằm trên khối nâng Sài Gòn thuộc đới kiến trúc – sinh khoáng Đà Lạt phát triển trên miền vỏ lục địa Tiền Cambri Nam Việt Nam và [1, 4] Trong khu vực, có các thành tạo lớp phủ: kiểu thềm lục địa yên tĩnh trong Permi muộn-Trias sớm, kiểu rìa lục địa tích cực trong Mesozoi muộn và kiểu căng giãn nội lục có phun trào bazan kiểu chảy tràn trong Kanozoi Sau giai đoạn Permi – Trias thuộc chu kì kiến tạo Indosini,
do kết quả của quá trình hút chìm của mảng đại dương Paleotethys phía tây Thái Bình Dương xuống mảng lục địa châu Á đã ảnh hưởng đến những giai đoạn sau này Theo đó, vào giai đoạn Mesozoi muộn, phần lãnh thổ Nam Việt Nam nói chung và khu vực Tân Hoà nói riêng biểu hiện như một rìa lục địa tích cực với hoạt động magma mãnh liệt tạo ra các sản phẩm đá rất đa dạng về thành phần và phức tạp về nguồn gốc Các thành tạo magma trong giai đoạn này là sản phẩm độc đáo của bối cảnh kiến tạo xảy ra trên rìa lục địa: một mặt có các thành tạo đặc trưng cho đới hút chìm, mặt khác lại có các thành tạo của đới tách giãn ngay trên cung đó gần như trong cùng một giai đoạn Tổ hợp gabro – pyroxenit khu vực Tân Hòa và một số khối nhỏ gabro – pyroxenit khác phân bố rải rác ở các vùng: Vạn Giã, Núi Đan, Krong Nô, Ga Lăng… được xếp vào các thành tạo liên quan đến căng dãn thuộc tổ hợp thạch kiến tạo cung magma rìa lục địa kiểu Đông Á cổ Định Quán – Ankroet [1] Khối xâm nhập sẫm màu khu vực Tân Hòa nằm riêng rẽ gồm các đá gabro và pyroxenit cao titan và có nguồn rất sâu từ manti sạch, thường xuất hiện trong các đới tách giãn thạch quyển, mặt khác chúng lại mang yếu tố của rìa
lục địa tích cực Như vậy, khối magma xâm nhập này đặc trưng cho mô hình tách dãn trên rìa lục địa tích cực
Đứt gãy
Bằng các phương pháp địa vật lý, ghi nhận được các đứt gãy cục bộ tập trung chủ yếu trong khối xâm nhập gabro, theo phương Tây Bắc – Đông Nam, phương Đông Bắc – Tây Nam và phương á vĩ tuyến Phía Tây Nam của khối xâm nhập có đứt gãy khu vực Kà Tum – Suối Ngô kéo dài 200km theo phương Tây Bắc – Đông Nam,
độ sâu 30km, phân chia khối Tống Lê Chân ở phía Đông Bắc và khối Tây Ninh – Bến Cầu ở phía Đông Nam
Đứt gãy có tính chất thuận bằng trái trong Kainozoi sớm và thuận bằng phải trong Pliocen đến Pleistocen
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong khu vực nghiên cứu đã tiến hành khảo sát địa chất, theo dõi, thu thập 2 mẫu lỗ khoan LK1, LK2 của LĐBĐĐCMN (5/2013) và 4 lỗ khoan HK1, HK2, HK3, HK5 của Tập đoàn Hoàng Gia Ceramic (6/2013) Trong phòng, gia công và phân tích thạch học khoáng vật – thạch địa hoá của 2 lỗ khoan LK2 và HK1 Trong đó, phân tích 30 mẫu lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực, phân tích 10 mẫu khoáng tướng dưới kính phản quang nhằm nghiên cứu thành phần thạch học – khoáng vật, thành phần khoáng vật quặng của các thành tạo xâm nhập sẫm màu trong khu vực; gửi phân tích 7 mẫu hóa silicat, 4 mẫu quang phổ bán định lượng tại LĐBĐĐCMN; gửi
Trang 24phân tích 2 mẫu (HK136,3 và HK1.39,1) nguyên tố hiếm, vết, phóng xạ bằng phương pháp cảm ứng cao tần ghép nối khối phổ trên thiết bị ICP – MS tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm xác định đặc điểm thạch địa hóa, nguồn gốc và khoáng hóa liên quan của các thành tạo xâm nhập sẫm màu trong khu vực Sau
đó, xử lý các tài liệu thạch học, khoáng vật, thạch địa hóa trên các biểu đồ bằng các phần mềm địa chất chuyên dụng như Igpetwin, đối sánh với các tài liệu đã có để đưa ra kết luận Cuối cùng, xử lý tài liệu, lập bản vẽ, tổng hợp, luận giải, hệ thống hóa toàn bộ các kết quả thu được
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm thạch học, thạch địa hoá các thành tạo xâm nhập sẫm màu
Đặc điểm địa chất
Khối xâm nhập sẫm màu khu vực Tân Hòa có dạng khối đẳng thước khoảng 10 km2 với thành phần chủ yếu là các đá gabro- pyroxenit phức hệ Tây Ninh (Ảnh 1) và một ít các đá gabrodiorit – diorit phức hệ Định Quán (Ảnh 2) Các thành tạo này nằm ở độ sâu 25 ÷ 30m, phần trên bị phong hóa tạo vỏ phong hóa có thành phần chủ yếu là laterit, sét, bột.Chúng xuyên cắt qua các đá vây quanh gây biến đổi sừng hóa và skarn hóa
Đặc điểm thạch học
Theo tài liệu lỗ khoan sâu 500m trong công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm khoáng sản nhóm tờ Đồng bằng Nam bộ tỷ lệ 1/200.000 (1986), các thành tạo xâm nhập sẫm màu trong khu vực chủ yếu là gabro, gabropyroxenit, ít pyroxenit Qua hai lỗ khoan LK2 (độ sâu 75m, LĐBĐ ĐCMN, 2013) và lỗ khoan HK1 (độ sâu 56m, Tập đoàn Hoàng Gia, 2013), còn có các đá xâm nhập khác gồm: gabronorit, gabrodiorit, diorit và các
đá mạch microgabrodiorit, microdiorit với đặc trưng là hàm lượng amphibol tăng cao Như vậy, ngoài các đá được xếp vào phức hệ Tây Ninh, còn có các đá xâm nhập sẫm màu được xếp vào phức hệ Định Quán
Tổ hợp gabro – pyroxenit phức hệ Tây Ninh
- Pyroxenit: Có màu xám đen, cấu tạo khối và kiến trúc toàn tự hình với kích thước hạt lớn Thành phần khoáng vật chủ yếu là pyroxen xiên đơn (~90%) Có rất nhiều mạch thạch anh nhỏ như sợi chỉ xuyên cắt Khoáng vật quặng trong đá chủ yếu là magnetit và titanomagnetit
- Gabropyroxenit: Có màu xám đen, cấu tạo khối, kiến trúc tự hình, hạt đều, có kích thước từ nhỏ đến trung bình (Ảnh 3) Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagioclas, pyroxen xiên đơn và amphibol thứ sinh Hàm lượng khoáng vật màu khoảng 45 ÷ 65% Đôi chỗ, gabropyroxenit bị các mạch thạch anh hoặc mạch canxit xuyên cắt qua Khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit và một lượng nhỏ sulfur là pyrotin
- Gabro: Có màu xám đen phớt lục, lấm tấm trắng, cấu tạo khối, kiến trúc gabro với kích thước hạt trung bình đến lớn (Ảnh 4) Thành phần khoáng vật gồm plagioclas ~ 35 ÷ 65%, pyroxen xiên đơn ~ 30% ÷ 45%, còn lại là amphibol Khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, pyrotin, có dạng xâm tán Gabro bị các mạch nhỏ thạch anh, canxit xuyên cắt Một vài nơi có hiện tượng clorit hóa, epidot hóa mạnh Đôi chỗ, epidot, clorit tập trung trong các khe nứt nhỏ trên đá
- Gabronorit:Có màu xám trắng, xám đen, độ khoáng vật màu khoảng 50%, cấu tạo khối, kiến trúc gabro, kích thước hạt trung bình đến lớn (Ảnh 5) Thành phần khoáng vật gồm plagioclas ~ 40 ÷ 45%, pyroxen xiên đơn
~10% ÷ 45%, amphibol ~15%, pyroxen trực thoi ~ 5% Đôi chỗ có biotit dạng vảy nhỏ phân bố rải rác trong đá
- Gabrodiorit: Có màu xám lục, độ khoáng vật màu khoảng 50%, cấu tạo khối, phân dải, kiến trúc định hướng Các khoáng vật có dạng que, lăng trụ, kích thước hạt nhỏ (Ảnh 6) Thành phần khoáng vật: plagioclas
~45 ÷ 50%, amphibol ~ 45 ÷ 50% và ít pyroxen xiên đơn; khoáng vật quặng là magnetit, dạng xâm tán
Tổ hợp diorit – gabrodiorit phức hệ Định Quán
- Gabrodiorit: Có màu xám phớt lục, lấm tấm trắng, độ khoáng vật màu phổ biến ~ 40 ÷ 55%, cấu tạo khối, kiến trúc diorit, kích thước hạt nhỏ Thành phần khoáng vật gồm plagioclas ~ 45 ÷ 50%, pyroxen xiên đơn ~ 30
÷ 35%, amphibol ~ 10 ÷ 20% có nơi lên tới 60% Khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, pyrotin, có dạng xâm tán Gabrodiorit bị các mạch nhỏ thạch anh, canxit xuyên cắt Một vài nơi, có hiện tượng clorit hóa, epidot hóa khá mạnh Đôi chỗ epidot, clorit tập trung trong các khe nứt nhỏ trên đá
- Diorit: Có màu xám trắng lấm tấm màu lục, độ khoáng vật màu phổ biến khoảng 40 ÷ 55%, cấu tạo khối, kiến trúc diorit đôi chỗ có kiến trúc khảm, kích thước hạt nhỏ đến trung (Ảnh 7) Thành phần khoáng vật gồm plagioclas ~ 40 ÷ 45%, amphibol ~ 45 ÷ 55%, còn lại là ít pyroxen còn sót lại Một số nơi, các khoáng vật này bị thạch anh hạt tương đối lớn thay thế, chen xuyên Hiện tượng clorit hóa, epidot hóa cũng khá phổ biến
- Microdioritporphyrit: Đá mạch có màu xám trắng lấm tấm màu lục, kích thước hạt nhỏ; cấu tạo khối, kiến trúc porphyr Độ khoáng vật màu phổ biến ~ 40 ÷ 55% Một số nơi, các khoáng vật này cũng bị thạch anh hạt tương đối lớn thay thế, chen xuyên Hiện tượng clorit hóa, epidot hóa khá phổ biến
- Microgabrodioritporphyrit: Đá mạch có màu xám phớt lục, bị biến đổi mạnh (Ảnh 8) Cấu tạo phân dải, định hướng, kích thước hạt nhỏ xuyên cắt qua gabro có trước Độ khoáng vật màu khoảng 50%
Đặc điểm khoáng vật
Trang 25Khoáng vật trong các tổ hợp đá magma xâm nhập sẫm màu có đặc điểm như sau:
- Plagioclas: Có dạng lăng trụ từ tự hình đến nửa tự hình, đẳng thước hay dạng que Các tinh thể có dạng song tinh sắc nét chủ yếu theo luật albit, một vài nơi có dạng song tinh casbat,dạng song tinh periclin cũng tương đối phổ biến Khoáng vật bị biến đổi khá mạnh như sotxurit hóa phổ biến trong hầu hết các loại đá cho đến sericit hóa Số hiệu plagioclas đo được bằng phương pháp đo góc tắt đối xứng lớn nhất trên tiết diện thẳng góc với mặt (010) theo luật song tinh albit đối với các thành tạo mafic đến á mafic như gabro, gabrodiorit là 53 ÷ 55 tương ứng labrado, trên các đá trung tính như diorit (phức hệ Định Quán) là 45 ÷ 50 tương ứng andezin
- Pyroxen:Phổ biến trong hầu hết các loại đá, gồm 2 loại là pyroxen xiên đơn và pyroxen trực thoi
+ Pyroxen xiên đơn:Có dạng lăng trụ nửa tự hình, dạng tấm hay đẳng thước, một số có dạng hình lục giác Thường không màu cho đến vàng nhạt hay lục nhạt,phổ biến tiết diện có một hướng cát khai, một vài tiết diện có hai hướng cát khai với góc cát khai ~870 Góc tắt C^Ng dao động trong khoảng 35 ÷ 450, nằm trong loạt augit – diopsit Đa phần các tiết diện của tinh thể bị amphibol hóa ven rìa hay loang lổ trên bề mặt hạt; những tiết diện này còn phân biệt được dựa vào những phần pyroxen còn sót lại ở nhân hay rìa hạt Nhiều tiết diện pyroxen xiên đơn bị amphibol hóa hoàn toàn cho đa sắc màu lục sẫm, lục nhạt Đôi chỗ pyroxen bị clorit hóa và epidot hóa, thường xảy ra ở ven rìa hoặc trên các khe nứt của tiết diện Phổ biến hiện tượng khảm, trong đó các khoáng vật pyroxen xiên đơn bao lấy các khoáng vật plagioclas
+Pyroxen trực thoi: Ít phổ biến (3 ÷ 5%) trong gabronorit Có dạng lăng trụ hoặc có dạng hạt tha hình do hiện tượng gặm mòn của pyroxen xiên đơn; kích thước 0,2 ÷ 0,3mm Dưới 1 nicol: không màu cho đến hồng nhạt, có 1 phương cát khai rõ Dưới 2 nicol: màu giao thoa thấp, tắt thẳng
- Amphibol: gồm 2 loại nguồn gốc: amphibol nguyên sinh và amphibol do biến đổi từ pyroxen
+ Amphibol nguyên sinh: Có dạng lăng trụ nửa tự hình, dạng lục giác, dạng que, dạng đẳng thước; Kích thước thay đổi từ nhỏ đến lớn Đa sắc theo Ng lục sẫm > Nm lục >Np lục nhạt, phần lớn có một hướng cát khai, một số tiết diện có hai hướng cát khai với góc cát khai là ~560, một vài hạt có dạng hợp tinh.Góc tătC^Ng ~17 ÷
250, thuộc loại hornblend lục Nhiều nơi amphibol bao lấy các khoáng vật plagioclas (kiến trúc khảm) Amphibol
bị clorit hóa và epidot hóa không đều thường xảy ra nơi rìa hạt hay khe nứt giữa các hạt
+ Amphibol do biến đổi từ pyroxen: Thường có hình dạng và kích thước phụ thuộc hoàn toàn vào khoáng vật ban đầu Đa sắc Ng màu lục nhạt >Np màu lục phớt vàng Dưới 2 nicol: màu giao thoa, cát khai và góc tắt vẫn có những nét giống với pyroxen nguyên thủy Một số hạt amphibol còn tàn dư của pyroxen (5÷10%)
- Biotit:Có dạng tấm, vẩy nhỏ; đôi chỗ tập trung thành cụm, đám Dưới 1 nicol: màu nâu, đa sắc theo Ng màu nâu sẫm >Np màu vàng nâu, có một hướng cát khai rõ; tắt thẳng Biotit thường bị clorit hóa và epidot hóa dọc theo rìa hạt hay theo khe nứt; mức độ biến đổi 10 ÷ 15% Một vài tấm, vẩy bị clorit hóa hoàn toàn
- Thạch anh: Là tập hợp dạng mạch nhiệt dịch đi cùng clorit và epidot hay lấp đầy các khe nứt trong đá Có dạng đẳng thước, tha hình, méo mó; thường tập trung thành cụm, đám Vài hạt có hiện tượng tắt làn sóng nhẹ
- Apatit: Có dạng lăng trụ dài hay dạng lục giác, kích thước nhỏ, phân bố rải rác
- Sphen: Có dạng hình thoi đặc trưng, đôi chỗ bị gặm mòn, méo mó; đôi chỗ tập trung thành cụm, đám
- Quặng:Các khoáng vật quặng chủ yếu gồm hai nhóm: oxid và sulfur
+ Khoáng vật nhóm oxid chủ yếu là magnetit Có dạng tha hình đến nửa tự hình hay méo mó, kích thước 0,2÷0,3mm; tập trung thành cụm hay xâm tán đều trong đá Thường bị pyrotin gặm mòn, thay thế ven rìa
+ Khoáng vật nhóm sulfur chủ yếu là pyrotin.Kích thước <0,5mm, thường tập hợp dạng ổ, đám Thường gặm mòn, thay thế ven rìa các hạt magnetit
- Granat:Phổ biến trong đới tiếp xúc giữa các thành tạo xâm nhập gabrodiorit, diorit với đá vôi vây quanh (đới skarn) Dạng đẳng thước, kích thước hạt lớn bao lấy các khoáng vật khác Dọc theo các đường nứt của granat thường có sự thay thế của epidot
- Clorit: Là khoáng vật thứ sinh khá phổ biến Chúng có thể là dạng biến đổi trên các khoáng vật nguyên sinh ban đầu có dạng ổ, đám, thay thế ven rìa hay dạng tia mạch nhiệt dịch trong các khe nứt đi kèm với epidot, trong khe nứt giữa các khoáng vật ban đầu hay có dạng tấm kéo dài, tỏa tia trong các khe nứt
- Epidot:Gồm hai loại: một là do biến đổi từ các khoáng vật nguyên sinh, hai là loại nhiệt dịch trong các khe nứt đi cùng clorit Chúng tập trung thành cụm, đám, dạng đẳng thước hoặc có dạng tỏa tia trong các khe nứt
- Canxit: là khoáng vật thứ sinh phổ biến Tập trung thành cụm, đám, chen lấn giữa các hạt khoáng vật khác hay tập trung dạng mạch.Có chiết suất thay đổi (biến chiết), màu giao thoa cao, ánh xà cừ
Đặc điểm thạch hóa
Các thành tạo xâm nhập sẫm màu trong khu vực có hàm lượng SiO2biến thiên trong khoảng 35,20 ÷ 48,02%, tổng kiềm Na2O + K2O thấp (0,25 ÷ 3,44) tỷ lệ K2O/Na2O thay đổi trong khoảng khá rộng (0,05 ÷ 0,39).) kiểu kiềm Na Tổng sắt dao động trên một khoảng rộng (4,71 ÷ 21,61) Các thành tạo xâm nhập sẫm màu
Trang 26có hàm lượng (%) titan cao (0,44 – 1,93), trung bình 1,28, rất thấp P2O5 (0,002); tỷ lệ TiO2/P2O5 rất cao Hàm lượng MgO dao động từ thấp (2,85) đến cao (9,76) Hàm lượng Al2O3 khá cao, dao động 14,28 ÷ 23,70
Trên biểu đồ tương quan (Na2O + K2O) – SiO2 theo K.G Cox và nnk (1979) (Hình 2), hầu hết các đá magma xâm nhập sẫm màu thuộc phức hệ Tây Ninh đều nằm trong trường đặc trưng cho pyroxenit và gabro Trên biểu đồ AMF theo Irvine và Baragar (1971), tất cả các mẫu thuộc tổ hợp đá sẫm màu phức hệ Tây Ninh đều nằm trong trường tholeit (Hình 3); trên biểu đồ Jensen (1976), chúng thuộc kiểu tholeit cao sắt một phần thuộc kiểu vôi - kiềm (Hình 4) Các thành tạo này luôn có kiểu kiềm đặc trưng natri trội hơn kali
Mối tương quan giữa MgO với các oxid tạo đá được thể hiện trên biểu đồ Hình 5.Phần lớn trong các mẫu phân tích, các oxid này có mối tương quan nghịch với MgO, thể hiện tính quy luật trong quá trình phân dị kết tinh tức là magma ban đầu giàu MgO; qua quá trình phân dị sẽ có sự thay đổi với hàm lượng tăng cao của các thành phần oxid khác
Tương quan giữa Al2O3 – MgO (Hình 5) cho thấy các thành tạo xâm nhập sẫm màu phức hệ Tây Ninh có khả năng phân dị cho ra một dãy liên tục bao gồm pyroxenit – gabropyroxenit – gabro – gabrodiorit.Tương quan giữa SiO2 với MgO thường là kiểu tương quan nghịch, ngược lại với TiO2 phần lớn là tương quan thuận (Hình 6)cho thấy, các đã có thành phần càng mafic thì hàm lượng TiO2 sẽ cao hơn các loại đá khác Tương quan thuận giữa TiO2 và FeO(Hình 6) cho thấy các đá có hàm lượng Fe cao thì hàm lượng Ti cũng cao
Các thành tạo xâm nhập sẫm màu khu vực Tân Hòa có thành phần hóa học khá tương đồng với các thành tạo xâm nhập sẫm màu được xếp vào phức hệ Krông Nô (Huỳnh Trung, 1988) [12] Các thành tạo này thường có diện lộ nhỏ, khoảng trên dưới 10 km2, có dạng đai mạch (dike) hoặc thế cán (stock) tương đối đẳng thước như khối Thanh Tùng, vùng Định Quán [2], khối Núi Đan, Hàm Thuận Nam [13] Thành phần thạch học đặc trưng là gabro, gabronorit; thành phần khoáng vật gồm: plagioclas, pyroxen xiên đơn, pyroxen trực thoi và rất ít olivin Đặc điểm địa hóa
Hành vi nguyên tố vết được thể hiện trên các biểu đồ chân nhện (Hình 7, Hình 8, Hình 9, Hình 10)
Các nguyên tố đất hiếm có đồ hình rất phẳng, với sự biến thiên rất nhỏ đồng thời giá trị cũng khá nhỏ, chỉ gấp vài lần so với chondrit, phản ánh nguồn rất sâu của magma Các nguyên tố khác được chuẩn theo manti nguyên thủy của McDonough (1989) và chondrit của Sun (1980) cho thấy chúng có giá trị không cao vượt trội
so với miền nguồn và biến thiên song hành cùng với bazan rìa lục địa tích cực Điều này cho thấy các đá thuộc tổ hợp gabro – pyroxenit Tây Ninh có nguồn gốc rất sâu, từ manti sạch Các thành tạo gabro phức hệ Định Quán có hàm lượng các nguyên tố đất hiếm cao hơn nhiều so với các thành gabro – pyroxenit Tây Ninh (Hình 10) [1] Các nguyên tố quặng thuộc nhóm sắt và đồng
Hàm lượng các nguyên tố thuộc nhóm sắt (Fe, Ti, V) cao hơn nhiều so với các nguyên tố nhóm đồng (Cu,
Co, Ni) cho thấy các đá thuộc tổ hợp gabro – pyroxenit phức hệ Tây Ninh đặc trưng cho kiểu khoáng hóa sắt – titan; không đặc trưng cho kiểu khoáng hóa đồng – niken
Điều kiện và nguồn gốc thành tạo
Trên biểu đồ phân loại các đá núi lửa theo hàm lượng (%) SiO2 và K2O cho thấy các mẫu rơi vào loạt bazantholeit(Hình 11) Trên biểu đồ phân loại bazan theo Pearce, 1976 (Hình 12), hầu hết các đá rơi vào trường bazan nội mảng, một phần rơi vào trường bazan kiềm vôi và bazantoleit cung đảo, một vài mẫu thuộc bazan sống núi giữa đại dương Đối sánh với bối cảnh kiến tạo có thể kết luận rằng: Các thành tạo xâm nhập mafic – siêu mafic phức hệ Tây Ninh được thành tạo trong điều kiện tạo núi muộn, xuất hiện trong đới tách giãn thạch quyển ngay trên rìa lục địa tích cực Chúng có nguồn rất sâu từ manti trên, thuộc loạt bazantholeit
Tuổi thành tạo: Do quan hệ địa chất xuyên cắt các trầm tích tuổi Jura nên gabro Tây Ninh có tuổi trẻ hơn Jura và tuổi đồng vị phân tích bằng phương pháp Sm – Nd cho hai giá trị 143 và 114 triệu năm, tuổi K – Ar phân tích tại Hungary cho giá trị 135 triệu năm (Nguyễn Xuân Bao và nnk, 2000) [1] Do đó, các đá gabro phức hệ Tây Ninh được xếp vào tuổi Kreta sớm
Khoáng hóa liên quan
Bằng phương pháp địa vật lý từ, trong khu vực Tân Hòa có 10 đới dị thường từ có khả năng liên quan đến khoáng hóa sắt magnetit Trong các mẫu giã đãi, luôn có các khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit và ít ilmenit
Trang 27tích thành phần hóa và sự thể hiện của chúng trên biểu đồHình 13 (A.I Bagachev, 1969) cho thấy phần lớn các
đá thuộc tổ hợp gabro – pyroxenit phức hệ Tây Ninh có đặc trưng về khoáng hóa sắt và titan
Đặc điểm khoáng hóa sắt
Đặc điểm phân bố và hình thái thân khoáng hóa
Khối xâm nhập sẫm màu nằm dưới lớp vỏ phong hoá khá dày và số lượng các lỗ khoan còn hạn chế nên việc phát hiện và khoanh định các thân khoáng hóa sắt trong khu vực được thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp địa vật lý (LĐBĐĐCMN) [8]
Các đới dị thường từ gồm 10 đới có thể coi là các thân khoángdài 320 ÷2000m và rộng trung bình 60
÷400m Trong đó, các thân khoáng 1, 2, 3, 4 và 5 phân bố ở Đông Bắc và Đông Nam khối xâm nhập; thân khoáng 6 phân bố ở Tây Bắc khối xâm nhập; các thân khoáng 7, 8 và 9 phân bố ở trung tâm và thân khoáng 10 phân bố ở phía Bắc khối xâm nhập
Khoáng hóa sắt trong khu vực được chia làm 2 loại dựa trên đặc điểm phân bố và thành phần khoáng vật đặc trưng của chúng, bao gồm: thân khoáng hóa nằm trong vỏ phong hóa và thân khoáng hóa nằm trong đá gốc Khoáng hóa nằm trong vỏ phong hóa: Thành phần khoáng vậtbao gồm magnetit, ilmenit, limonit và goethit.Trong đó, Magnetit là khoáng vật nguyên sinh tàn dư được giải phóng khỏi đá gốc bởi các quá trình phong hóa; hematit là khoáng vật biến đổi thứ sinh của magnetit; goethit và limonit hình thành do sự thủy phân magnetit Trong mẫu giã đãi, hàm lượng magnetit khá cao> 4kg/tấn
Khoáng hóa sắt trong đá gốc:Xâm tán dạng ổ, dạng thấu kính, tập trung chủ yếu ở phần vòm khối xâm nhập Thành phần khoáng vật chủ yếu là magnetit; ngoài ra, còn có ít pyrotin và ilmenit tập trung thành cụm trong đá gốc Magnetit khó thấy bằng mắt thường vì kích thước hạt rất bé
Thành phần và đặc điểm khoáng vậtquặng
Thành phần khoáng vật quặng của khoáng hóa sắt trong đá gốc gồm magnetit ~ 2 ÷ 8% và pyrotin ~ 2 ÷ 3% (mẫu khoáng tướng) và ít ilmenit (mẫu giã đãi) Đặc điểm của các khoáng vật này như sau:
- Magnetit:Dạng nửa tự hình, khung xương Kích thước thay đổi từ các hạt rất nhỏ <0,1mm đến các hạt lớn (lớn nhất 0,4 x 0,6mm) Phân bố xâm tán tương đối đều trên nền phi quặng, khó thấy được bằng mắt thường Magnetit thường bị pyrotin gặm mòn và thay thế ở ven rìa; ngoài ra, còn bị gặm mòn bởi các biến đổi thứ sinh
- Pyrotin: Dạng tha hình, nửa tự hình; bề mặt nhẵn bóng Kích thước trung bình 0,2 ÷ 0,3; lớn nhất 0,5 x 1,0mm Phân bố xâm tán rải rác, các hạt lớn thấy được bằng mắt thường; Pyrotin gặm mòn và thay thế ở ven rìa magnetit, một số chỗ pyrotin gần như thay thế phần lớn magnetit
Trong mẫu giã đãi có hàm lượng (g/t) các khoáng vật nặng như sau: magnetit: 3.103; ilmenit: 118; turmalin: 236; barit : 1 ÷ 2; sphen, zircon [1], magnetit: 3.086,67; ilmenit: 118,42; turmalin: 235,13; limonit: rất ít[8] Kết quả cho thấy trong đá gabro có chứa tổ hợp khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit vàít ilmenit
Chất lượng và triển vọng khoáng hoá
Chất lượng: Theo phân tích hóa silicat trong các đá có chứa khoáng hóa, hàm lượng sắt đạt 3,49 ÷ 15,82%, trung bình 9,94%; hàm lượng Al2O3 + SiO2 là 52,16 ÷ 69,47%, trung bình 60,45%; P trung bình 0,03% Theo phân tích ICP – MS, hàm lượng sắt là 3,90 ÷ 5,44%, trung bình 4,67% Các nguyên tố S, Pb, Zn, As, Cu đều có giá trị ≤ 0,1% Theo các chỉ tiêu hàm lượng công nghiệp tối thiểu về chất lượng khoáng sản áp dụng trong điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 (QCVN49:2012/BTNMT) quặng sắt phải đáp ứng được các chỉ tiêu với bề dày thân khoáng ≥ 1m là: Hàm lượng chất có ích: Fe ≥ 23%, hàm lượng chất có hại: Al2O3 + SiO2 ≤ 25%; P ≤ 0,25%; mỗi nguyên tố S, Pb, Zn, As, Cu ≤ 0,1% Như vậy, so với tiêu chuẩn QCVN49:2012/BTNMT hiện hành, khoáng hóa sắt ở đây không đạt chỉ tiêu công nghiệp về chất lượng
Triển vọng: Mặc dù khoáng hóa sắt có quy mô phân bố khá rộng với 10 thân khoáng hóa (tương ứng 10 đới dị thường vật lý) kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam và kích thước các thân khoáng hóa khá lớn (dài
300 ÷ 2000m, rộng 60 ÷ 400m),các lỗ khoan trong khu vực luôn có magnetit ở dạng xâm tán Tuy nhiên, hàm lượng sắt trong các thân khoáng đều ≤ 23% Như vậy, khoáng hóa sắt trong các thành tạo magma xâm nhập sẫm màu thuộc phức hệ Tây Ninh ít có triển vọng để trở thành mỏ
Nguồn gốc khoáng hóa sắt
Khoáng hóa sắt trong khu vực Tân Hòa có những đặc trưng như sau:
- Đá chứa:Các thành tạo magma xâm nhập phức hệ Tây Ninh với thành phần thạch học là pyroxenit, gabropyroxenit, gabro, và gabronorit
-Hình thái thân khoáng hóa:Xâm tán dạng ổ hay thấu kính không đều Các khoáng vật liên quan khoáng hóa sắt hình thành muộn hơn so với các khoáng vật tạo đá Thân khoáng hóa nằm trong khối magma, có thể là kết quả của quá trình phân dị giai đoạn cuối cùng của magma
- Tổ hợp cộng sinh khoáng vật: Gồm magnetit + ilmenit + pyrotin,…là những khoáng vật điềm chỉ cho loại hình nguồn gốc magma xâm nhập thuộc kiểu mỏ magnetit - ilmenit xâm tán, mạch trong đá mafic cao titan
Trang 28-Hình thái khoáng vật:Các khoáng vật quặng liên quan khoáng hóa sắt có dạng tự hình đến nửa tự hình, mọc chen lấn vào khoảng không gian giữa các khoáng vật tạo đá Dựa vào đặc điểm này cho thấy các khoáng vật liên quan khoáng hóa sắt được hình thành ngay sau khi khoáng vật tạo đá kết tinh
- Tổ hợp các nguyên tố chỉ thị:Hàm lượng các nguyên tố Fe, Ti, Vcao hơn so với trị số Clark của chúng trong đá mafic Giữa các nguyên tố Fe, Ti, V có sự tương quan tỷ lệ thuận với nhau
Dựa trên những đặc điểm đã phân tích cùng với việc so sánh với các mỏ sắt trong nước như mỏ titan – sắt Cây Châm [10, 11] có thể nhận định rằng, khoáng hóa sắt trong khu vực Tân Hòa có nguồn gốc magma muộn liên quan khối magma xâm nhập sẫm màu gabro – pyroxenit phức hệ Tây Ninh thuộc kiểu mỏ magnetit – ilmenit xâm tán, mạch trong đá mafic cao titan
>55%.Các đặc trưng cho thấy khoáng hóa sắt ở đây có nguồn gốc magma muộn, thuộc kiểu mỏ magnetit – ilmenit xâm tán trong đá mafic cao titan So với quy chế QCVN 49:2012/BTNMT, chất lượng sắt ở đây rất thấp, chưa đạt chỉ tiêu công nghiệp; do đó, về tiềm năng, mức độ từ ít triển vọng đến không có triển vọng
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến KS Nguyễn Thanh Long (Liên đoàn Bản đồ
Địa chất Miền Nam), ThS Trương Chí Cường (BM Khoáng Thạch, Khoa Địa chất) đã giúp đỡ trong qua trình thực địa và thu thập mẫu Xin cảm ơn PGS.TS Huỳnh Trung đã có những góp ý, giúp đỡ về mặt chuyên môn trong quá trình viết bài báo
PETROGRAPHICAL, GEOCHEMICAL CHARACTERISTICS AND IRONMINERALIZATION OF MAFIC MASSIF AT TAN HOA AREA, TAN CHAU, TAY
NINH
Nguyen The Cong, Nguyen Kim Hoang
Department of Geology, University of Science VNU-HCM, Vietnam
ABSTRACT
The mafic massif at Tan Hoa area, Tan Chau, Tay Ninh (Hill 95) was detected in 1986 and was classified as Tay Ninh complex (K 1 tn, Nguyen Ngoc Hoa et al, 1995) Petrographical composition of this complex was clarified through the bores in 2013 It includes gabbrodiorite, gabbronorite, gabbro, gabbropyroxenite, pyroxenite The main mineral components include plagioclase, clinopyroxene , orthopyroxene, green hornblende The secondary mineral is biotite The accessory minerals are apatite,sphene, magnetite, pyrrhotite.Tay Ninh complex are high content of titanium, rich in elements
of Fe, Ti, V but low content of Rb, Sr, Y, Cs, Ba, Sm, Eu, Nd The rare and trace elements standardized with primitive mantle and chondriteshow that their origin is from the deep, clear mantle and classified in rift on active continental margin pattern.Tay Ninh complex ischaracterized byits high anomalies in geophysics The results of chemical analysis, spectroscopy, grinding and ore selection showed that this complex has specialization and offered prospect of iron and titanium mineralization
Key words: gabbro,gabbro-pyroxenite, Tay Ninh complex, iron mineralization, Tan Hoa area, Hill 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Xuân Bao (chủ biên) và nnk, 2000 Báo cáo nghiên cứu kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam Lưu trữ LĐBĐĐCMN TP.HCM
[2] Nguyễn Thị Hiếu, 1999 Đặc điểm thạch học các thành tạo magma xâm nhập vùng Định Quán – Đồng Nai Luận văn Thạc sĩ Khoa học Địa chất Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG – HCM
[3] Nguyễn Ngọc Hoa (chủ biên) và nnk, 1994 Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:200.000, Tờ Công Pông Chàm – Lộc Ninh (C48-IV & C48 –V) LĐBĐĐCMN TP.HCM
[4] Nguyễn Kim Hoàng, 2013 Đặc điểm quặng hóa vàng nhiệt dịch đới Đà Lạt qua nghiên cứu các vùng: Trảng
Trang 29[5] Trần Quốc Hùng, Bùi Ấn Niên, Phạm Thị Dung, Hoàng Việt Hằng, 2004 Some material composition characteristics of the mafic-ultramafic intrusions in Central Việt Nam, Central Highlands and North Việt Nam
Tạp chí địa chất số 23, Tổng cục Địa chất Hà Nội
[6] Bùi Ấn Niên, 2002 Thạch luận các thành tạo magma xâm nhập mafic – siêu mafic Mesozoi Bắc Trung Bộ và tiềm năng chứa quặng của chúng Luận án Tiến sĩ Địa chất Viện Địa chất, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội
[7] Đào Đình Thục, 2006 Sử dụng tài liệu địa hóa trong nghiên cứu thạch luận Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Hà Nội
[8] Lê Minh Thủy (chủ biên) và nnk, 2012 Báo cáo “Đo vẽ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 nhóm
tờ Tân Biên” Lưu trữ LĐBĐĐCMN TP.HCM
[9] Đỗ Đình Toát, Lê Thanh Mẽ, 2002 Đặc điểm các hoạt động magma Mesozoi - Kainozoi khu vực Trung
Trung Bộ và mối liên quan của chúng với kiến tạo mảng Tạp chí địa chất số 272, Tổng cục Địa chất Hà Nội
[10] Trần Văn Trị và nnk,2000, Tài nguyên khoáng sản Việt Nam, Cục Địa chất và Khoáng sảnViệt Nam.Hà Nội
[11] Trần Văn Trị và Vũ Khúc (đồng chủ biên) và nnk, 2009 Địa chất và tài nguyên Việt Nam NXB Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Hà Nội
[12] Huỳnh Trung và nnk, 2004 Các thành tạo magma xâm nhập phần Phía Nam Việt Nam (từ Quảng Trị trở vào) Sơ đồ phân bố các thành tạo magma xâm nhập miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1/1.500.000 TP Hồ Chí Minh [13] Bùi Thế Vinh, Bùi Anh Lân, Đỗ Hùng Thắng, Phạm Văn Hường, Trần Ngọc Khai, 2006 Các thành tạo
gabroid tuổi Kreta muộn mới phát hiện ở Núi Đan, Bình Thuận Tạp chí địa chất số 294, Trung tâm Thông tin
Lưu trữ Địa chất, Tổng cục Địa chất Hà Nội
[14] Michael J Bakera, Anthony J Crawforda, Ian W Withnallb, 2010 Geochemical, Sm–Nd isotopic characteristics and petrogenesis of Paleoproterozoic mafic rocks from the Georgetown Inlier, north Queensland:
Implications for relationship with the Broken Hill and Mount Isa Eastern Succession Precambrian Research177
(page 39-54)
[15]Pavel A Balykin, Gleb V Polyakov, Trần Trọng Hoà, Ngô Thị Phượng, Hoàng Hữu Thành, Trần Quốc Hùng, Bùi Ấn Niên, Phạm Thị Dung and Tamara E Petrova, 2006 Early Mesozoic complexes of differentiated
gabbroids in the North and Central Việt Nam Tạp chí địa chất số 28, Tổng cục Địa chất
[16] John W Shervais, 1982 Ti-V plots and the petrogenesis of modern and ophiolitic lavas Earth and
Planetary Science Letters59 (101 -118) Elsevier Scientific Publishing Company, Amsterdam - Printed in The
Netherlands
Trang 31Ảnh 1 Gabro hạt lớn phức hệ Tây Ninh.HK1.48,4m Ảnh 2 Diorit hạt nhỏ phức hệ Định Quán.LK2.42,3m.
Ảnh 3.Gabropyroxenit hạt vừa (phức hệ Tây Ninh)
Tập hợp khoáng vậtpyroxen xiên đơn dạng tha hình
Lm: HK1.47,5; 2N+; 5x10
Ảnh 4.Gabro hạt vừa (phức hệ Tây Ninh)
Kiến trúc gabro.Lm: HK1.36,1; 2N+; 5x10
Ảnh 5.Gabronorit hạt vừa (phức hệ Tây Ninh)
Kiến trúc gabro, pyroxen trực thoi
Lm: HK1.39,3; 2N+; 5x10
Ảnh 6.Gabrodiorit (phức hệ Tây Ninh)
Kiến trúc phân dải, định hướng
Trang 32Kiến trúc điorit.Lm: LK2.68; 2N+; 20x10 (phức hệ Định Quán) Lm: LK2.68; 2N+; 20x10
Hình 2 Biểu đồ tương quan Na2O + K2O – SiO2 phân
bố các trường thành phần theo K.G Cox và nnk (1979)
Hình 13 Biểu đồ phân loại trường quặng hóa theo
A.I Bagachev (1969)
:Mẫu của Nguyễn Thế Công, 2014 ; :Mẫu của
LĐBĐĐCMN, 2000 [1]
Hình 3 Biểu đồ tương quan A – F – M
theo Irvine và Baragar (1971)
Hình 4 Biểu đồ tương quan (FeO + Fe2O3 + TiO2)
– Al2O3 – MgO của Jensen (1976) có hiệu chỉnh của Jensen, Pyke (1982) và Rickwood (1989)
Trang 33Hình 5 Biểu đồ tương quan giữa các oxid SiO2, Al2O3, FeO*, CaO, Na2O và K2O với MgO
(% trọng lượng) các đá xâm nhập sẫm màu
Trang 34Hình 7 Sự phân bố các nguyên tố đất hiếm trong
các đá magma sẫm màu
chuẩn hóa theo chondrit (Sun and McDonough,
1989)
Hình 8 Sự phân bố các nguyên tố hiếm, đất hiếm
trong các đá xâm nhập sẫm màu chuẩn hóa theo manti nguyên thủy(Sun and Mc Donough, 1989), so sánh với bazan rìa lục địa tích
cực
Hình 9 Sự phân bố các nguyên tố hiếm, đất hiếm trong
các đá xâm nhập sẫm màu chuẩn hóa theo chondrit(Sun
and McDonough, 1980),
so sánh với bazan rìa lục địa tích cực
Hình 10 Sự phân bố các nguyên tố hiếm, đất hiếm
trong các đá xâm nhập sẫm màu chuẩn hóa theo chondrit (Nakamura, 1974) (Mẫu 97VM-48, LĐBĐĐCMN)[1]
Hình 11 Biểu đồ phân loại các đá núi lửa
theo SiO2 và K2O
I-Loạt toleit; II-Loạt kiềm vôi; III-Loạt kiềm [18]
Hình 12 Phân loại bazan theo Pearce, 1976
IB–Bazan nội mảng; IIB-Bazan sống núi giữa đại dương (MORB); IIIB-Bazan kiềm vôi;
IVB-Bazantoleit cung đảo; V.S-Bazansosonit
Trang 35V-O-1.6
ĐẶC ĐIỂM THẠCH ĐỊA HÓA VÀ TUỔI U-PB ZIRCON CÁC ĐÁ GRANITOID KHU VỰC
ĐÈO KHẾ, YÊN BÁI
Hoàng Thị Hồng Anh, Phạm Trung Hiếu
Khoa Địa chất, Trường ĐH KHTN, ĐHQG-HCM
Email:httanh@hcmus.edu.vn
TÓM TẮT
Granitoid khu vực đèo khế phân bố dưới dạng các khối nhỏ phát triển trong diện lộ các đá trầm tích biến chất phức hệ Sin Quyền (PP1sq) và trondhjemit - tonalit - granodiorit phức hệ Ca Vịnh thuộc phần đông nam và nam á địa khu Phan Si Pan Thành phần thạch học chủ yếu là granit và granit biotit Về đặc điểm địa hóa tương ứng với đá granit với SiO 2 cao (71.14 - 77.13%) Tổng lượng kiềm khá cao, trội kali (K 2 O = 4.16 - 8.22%; Na 2 O= 1.7 - 3.9%).Chỉ số ASI trong tất cả các mẫu từ 1.05- 1.27, hầu hết rơi vào trường peraluminous.Rất giàu các nguyên tố đất hiếm đặc biệt là chuỗi các nguyên tố đất hiếm nhẹ Các nguyên tố trường bền vững cao khá giàu như La, Ce, Zr Sr trung bình 178ppm và Rb trung bình 153ppm, tương đối nghèo Nb và Ta Tỉ lệ 10 4 Ga/Al thấp (1.7-2.42), dị thường âm Eu (Eu/Eu*=0.47-1.2) Hai mẫu phân tích cho các tuổi trùng hợp tập trung 1836 ± 9.5 Ma
và 1835 ± 6,3 Ma Các giá trị εHf(t) dao động từ -23.6 đến -17.5, tuổi mô hình T DM1 của granitoid khu vực Đèo Khế tập trung khoảng từ 2.9- 3.1Ga Vậy quá trình thành tạo của các thành tạo granitoid giai đoạn Paleoproterozoi khu vực Đèo Khế có thể là sản phẩm từ sự nóng chảy vỏ lục địa cổ Archean ban đầu liên quan đến sự kiện hình thành và tan vỡ siêu lục địa Columbia
Từ khóa: Plaeoproterozoi, Granitoid, zircon age, Hf isotope
MỞ ĐẦU
Granit khu vực Đèo Khế trước kia được xếp vào phức hệ Xóm Giấu trong công trình báo cáo lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Yên Bái tỉ lệ 1:50.000 [6] Chúng chủ yếu là những khối nhỏ phân bố rải
rác trong diện lộ của các đá trầm tích biến chất hệ tầng Suối Chiềng (MA-NA sc) và Sin Quyền (PP1sq) (hình 1)
Thành phần thạch học các đá granitoid khu vực Đèo Khế chủ yếu gồm granit sáng màu ít hơn có granit biotit Lịch sử tiến hóa magma-kiến tạo khu vực Phan Si Pan tây bắc Việt Nam khá gần gũi với tiến hóa magma kiến tạo mảng Dương Tử Nam Trung Hoa, các giai đoạn magma Paleoproterozoi khu vực mảng Dương Tử phân
bố khá rộng rãi cả về diện tích và quy mô phân bố [1, 13] Nhưng tại tây bắc Việt Nam cho tới nay chưa nhiều công trình công bố các kết quả hoạt động magma vào giai đoạn trên Trong nghiên cứu này chúng tôi công bố những kết quả mới về thạch địa hóa và tuổi U-Pb zircon granit khu vực Đèo Khế Phan Si Pan tây bắc Việt Nam, nhằm minh chứng sự tồn tại pha magma - kiến tạo mạnh mẽ trong giai đoạn Paleoproterozoi giữa Đây là một giai đoạn hoạt động magma khá quan trọng trong lịch sử tiến hóa thành tạo vỏ Trái Đất ngày nay
ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC – KHOÁNG VẬT GRANITOID KHU VỰC ĐÈO KHẾ
Thành phần thạch học các khối granitoid khu vực Đèo Khế tương đối đơn giản, chủ yếu là granit sáng màu ít hơn có granit biotit, phần lớn đá có kiến trúc hạt vừa và cấu tạo định hướng nhẹ Thành phần khoáng vật chính gồm thạch anh (30-45%), felspat kali (35-55%), plagioclas (10-25%), biotit (3-5%), muscovit (5-10%) Thạch anh phổ biến hiện tượng tắt làn sóng mạnh, một số bị cà nát cùng với felspat kali hoặc dạng mạch xuyên cắt bên cạnh đó cũng phổ biến thạch anh dạng hạt đẳng thước Felspat kali gồm hai biến thể là orthoclas và microlin Nhiều nơi microlin thay thế orthoclas và plagioclas, hầu hết orthoclas và microlin đều thể hiện cấu tạo pertit nhiều nơi có dạng mạng mạch song song và bị biến đổi thứ sinh (kaolin hóa) Một số microlin ít biến đổi hơn orthoclas có đặc điểm song tinh mạng lưới mờ nhạt, biểu hiện của sự tái kết tinh ở trạng thái cứng của orthoclas Plagioclas bị biến đổi thứ sinh khá nhiều chủ yếu là sericit hóa, muscovit hóa và phần lớn bị thay thế bởi felspat kali ven rìa đến trung tâm Bên cạnh đó phổ biến plagioclas, anbit song tinh treo hiện diện cùng với thạch anh, đây là sự thành tạo trong giai đoạn biến chất trao đổi (kiềm muộn) về sau, nhiệt độ kết tinh thấp(hình 2) Tất cả các mẫu đều có hiện tượng muscovit hóa từ ít đến nhiều Biotit trong đá thường có màu xanh lục sẫm đến lục tối, hầu hết bị chlorit hóa mạnh hay tập trung cùng với khoáng vật quặng và các hạt epidot màu vàng chanh dưới 1 nicol, độ nổi cao Muscovit hiện diện hầu hết các mẫu với hàm lượng thấp nhất khoảng 5% , phần lớn có kích thước nhỏ phân bố rải rác gần plagioclas đôi nơi có cấu tạo dải, uốn nếp nhẹ với thạch anh bị cà nát Khoáng vật phụ thường thấy trong granit khu vực Đèo Khế là zircon, quặng, epidot…
Trang 36Hình 1 Sơ đồ địa chất khu vực nghiên cứu
Hình 2 Một vài đặc điểm thạch học – khoáng vật của granit Đèo Khế
Microlin với kiến trúc pertit b) Orthoclas bị xuyên cắt bởi các mạch thạch anh c) Muscovit hóa trên plagioclas d) Felspat kali hóa trên plagioclas e) Microlin với song tinh mạng lưới mờ f) Mạch thạch anh – anbit xuyên cắt qua orthoclas.Q=thạch anh; Fk=felspat kali; Pl=plagioclas; Ms=muscovit
Trang 37ĐẶC ĐIỂM THẠCH ĐỊA HÓA GRANITOID KHU VỰC ĐÈO KHẾ
Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố chính và nguyên tố vết của granitoid khu vực Đèo Khế được trình bày cụ thể trong bảng 1 và bảng 3 Từ kết quả đó cho thấy:
Hàm lượng SiO2 cao và khoảng dao động khá hẹp 71,14 -77,13, trung bình 73,63 Hàm lượng K2O ~ 8,22 cao, trung bình 5,67%, Na2O ~ 1,7-3,9, trung bình 3,03 tổng lượng kiềm cao (Na2O + K2O) 8,18 – 9,92, tỉ lệ
4,43-K2O/Na2O trên tất cả các mẫu đều lớn hơn 1 Điều này phù hợp với kết quả soi lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực, hàm lượng nhóm khoáng vật felspat K chiếm hàm lượng rất cao trong mẫu 35-55%, phổ biến là microlin, nhiều nơi quan sát thấy hiện tượng microlin thay thế orthoclas và cả plagioclas Nhìn chung hàm lượng Al2O3 từ trung bình đến cao 12,42-15,11 và chỉ số bão hòa nhôm A/CNK trong tất cả các mẫu đều lớn hơn 1 và dao động trong khoảng ~ 1–1,27 bên cạnh đó tỷ số Al2O3/Na2O+K2O ở tất cả các mẫu đều lớn hơn 1 Hầu hết các mẫu đều
có hàm lượng CaO thấp ~ 0,05-0,64, hàm lượng các oxit khác nhìn chung thấp MgO ~ 0,07 – 0,09 %, FeO ~ 0,3 – 1,47 %, các oxit MnO ~ 0 – 0,02 % , P2O5 ~ 0,01 – 0,07 là rất thấp
Qua các số liệu tính toán các khoáng vật định mức CIPW (bảng 2) cho thấy: thạch anh ~ 25,42 – 35,53%, orthoclas: 26,18 – 48,58%; anbit: 14,39 –27,75; anoctit: 0 – 2,72%; ilmenit: 0,02 – 0,28%; manhetit: 0,14 – 1,48% Chỉ số Corindon tiêu chuẩn (C) cao hầu hết lớn hơn 1 đến cao nhất là 3,34
Tổng lượng đất hiếm thay đổi mạnh từ 88,9 – 567,49ppm, trong đó các nguyên tố đất hiếm nhẹ chiếm chủ yếu: LREE = 85,71 – 556,71ppm Biểu đồ chân nhện chuẩn hóa với chondrit theo Sun và M.Donough (1989) [15] (hình 9a) với đồ hình có độ nghiêng âm cho thấy hàm lượng đất hiếm nặng (HREE) nghèo hơn so với đất hiếm nhẹ (LREE) từ La đến Sm khá dốc, nhóm HREE (Er, Tm, Yb, Lu) khá tương đồng với đồ hình gần như nằm ngang
Hàm lượng Eu dao động trong khoảng 0,4 – 2,94 ppm, phần lớn các mẫu cho dị thường âm Eu nhẹ (Eu/Eu* dao động từ 0,47-0,8), mặt khác có hai mẫu khác biệt với dị thường dương nhẹ Eu (1,1-1,2) có thể do sự biến đổi
về sau của đá mà phổ biến nhất là hiện tượng felspat hóa mạnh mẽ trên các khoáng vật plagioclas mà Eu là nguyên tố tương hợp trong felspat kali Dị thường âm Eu thể hiện quá trình kết tinh phân dị của plagioclas Các nguyên tố ion lớn (LIL) Ba, Pb cao hơn chỉ số clack còn lại Sr, Cs Eu từ trung bình đến thấp
Tỷ số (La/Yb)N dao động: 12,4 – 251, (Ce/Yb)N: 10,3 – 106, tỉ số 104xGa/Al thấp: 1,7 – 2,42, Rb/Sr dao động trong một khoảng khá rộng: 0,35 – 4,34, tỉ số K/Rb cao: 108 – 372 cùng với giá trị cao của Nb/Ta: 8,81 – 25,96 và Th/U: 2,12 – 26,91 phản ánh nguồn gốc vỏ của dung thể (nóng chảy vỏ)
Nhóm nguyên tố trường lực mạnh (HFS): cao Sc, Th, U, Hf, La, Ce; thấp Y, Zr, Ti, Nb, Ta Hàm lượng các nguyên tố kim loại chuyển tiếp như : V, Cr, Co, Ni, Co rất thấp, Cu và Zn có phần trội hơn các nguyên tố trên nhưng vẫn thấp hơn giá trị clack
Biểu đồ chân nhện chuẩn hóa theo manti nguyên thủy (hình 9b) cho dị thường âm: Zr, Eu, Nb, Ti, P Dị thường âm Zr, Eu cho thấy một phần felspat lưu lại trong nguồn trong quá trình nóng chảy từng phần, dị thường
Ti, P phản ánh sự có mặt apatit và ilmenit trong các pha tàn dư (restite) Những đặc điểm hành vi các nguyên tố nêu trên cùng với đặc điểm thành phần hóa học có độ kiềm cao (loạt cao kiềm kali) và kết quả xử lý của các biểu
đồ tương quan giữa 104Ga/Al với Ce, Nb, Zr và Zr+Nb+Ce+Y (hình 8) phần lớn các mẫu rơi vào kiểu I, S Sử dụng biểu đồ phân định granit theo bối cảnh kiến tạo của Pearce, 1984 (hình 10) tất cả các mẫu đều rơi vào trường granit đồng va chạm và granit cung núi lửa
Bảng 1 Hàm lượng các nguyên tố chính (%)granitoid Đèo Khế
Trang 38Fe* = FeO/(FeO + MgO), FeO = 0.8998 × Fe2O3t
LOI: loss of ignition – mất khi nung
Bảng 2 Thành phần khoáng vật định mức (CIPW) (%) của granitoid Đèo Khế
Trang 39Hình 4 Biểu đồ tương quan giữa A/NK và A/CNK cho granitoid Đèo
Khế( Manniar và Piccolli, 1984)
(A/NK=Al2O3/(Na2O+K2O);A/CNK=Al2O3/(CaO+Na2O+K2O; Metaluminous=nhôm trung bình; Peraluminous = bão hòa nhôm;
Peralkaline= bão hòa kiềm)
Hình 3.22- Biểu đồ phân loại granit theo An-Ab-Or
Hình 6 Biểu đồ ACF (white và chappel,
1977)cho granitoid Đèo Khế C=CaO; A=Al2O3-
Na2O- K2O; F=Total Fe +MgO (in molar ratio)
Hình 7 Biểu đồ Rb-Hf-Ta phân loại granitoid Đèo Khế theo
bối cảnh kiến tạo (Harris et al., 1986) VAG-granit cung núi lửa; syn-COLG- granit đồng chạm mảng; WPG- granit nội
mảng; Post-COLG-granit sau va chạm
Trang 40Hình 8 Biểu đồ tương quan giữa Zr và 10000xGa/Al, Ce và 10000xGa/Al, Nb và 10000xGa/Al, chỉ số kiềm và
Zr+Nb+Ce+Y (theo Whalen et al., 1987 và Eby, 1990) cho granitoid khu vực Đèo Khế
Hình 9a Sơ đồ phân bố đất hiếm chuẩn hóa theo
Chondrite các đá granitoid khu vực Đèo Khế (theo Sun
và M.Donough, 1989)
Hình 9b Sơ đồ nhện chuẩn hóa theo thành phần
Manti nguyên thủy các đá granitoid khu vực Đèo Khế (theo Sun và M.Donough, 1989.)
10000*Ga/Al 10000*Ga/Al