1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng việt

310 301 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 4,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Davis 2005 cũng khẳngđịnh vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữdụng học.” Không chỉ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ TỐ NINH

HÀM Ý VÀ PHƯƠNG THỨC

BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ TỐ NINH

HÀM Ý VÀ PHƯƠNG THỨC

BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 62 22 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 GS.TS NGUYỄN MINH THUYẾT

2 PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cảnhững vấn đề được trình bày và giải quyết; những kết luận trong luận

án đều chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

NGUYỄN THỊ TỐ NINH

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2 0.2.1 Về khái niệm hàm ý 2

0.2.2 Về phương thức biểu thị hàm ý

6 0.3 Tính thời sự của đề tài

7 0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

0.5 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 8

0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

0.6.1 Phương pháp nghiên cứu

8 0.6.2 Nguồn tư liệu 10

0.7 Bố cục đề tài

10 CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT 12

1.1 Phát ngôn

12 1.2 Cơ cấu nghĩa của phát ngôn

13 1.3 Nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái

15 1.3.1 Nghĩa mệnh đề 15

1.3.2 Nghĩa tình thái 17

1.4 Nghĩa chủ đề

18 1.5 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 19

1.5.1 Nghĩa tường minh 19

1.5.2 Nghĩa hàm ẩn 20

Trang 5

1.6 Hàm ý

22 1.6.1 Thuật ngữ hàm ý 22

1.6.2 Quan niệm về hàm ý 24

1.6.3 Quan niệm về hàm ý trong luận án 29

1.7 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp 38

1.7.1 Hoàn cảnh giao tiếp 38

Trang 6

1.7.2 Nhân vật giao tiếp 41

Tiểu kết

44 CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÀM Ý 46

2.1 Vấn đề phân loại hàm ý trong các tài liệu ngữ dụng học 46

2.2 Các loại hàm ý được phân loại theo phương tiện biểu hiện 48

2.2.1 Hàm ý của từ 48

2.2.2 Hàm ý của toàn phát ngôn 62

2.3 Các loại hàm ý được phân loại theo số lượng hàm ý của phát ngôn (theo tầng nghĩa)

70 2.3.1 Hàm ý đơn 70

2.3.2 Hàm ý phức 73

2.4 Các loại hàm ý phân loại theo quan hệ với nghĩa tường minh 78

2.4.1 Hàm ý tăng tiến 78

2.4.2 Hàm ý trái ngược 80

2.5 Các loại hàm ý phân loại theo quan hệ với các nghĩa hàm ẩn khác

83 2.5.1 Hàm ý kiêm chức 83

2.5.2 Hàm ý không kiêm chức 85

2.6 Các loại hàm ý phân loại theo mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp 85

2.6.1 Hàm ý quy ước 85

2.6.2 Hàm ý hội thoại 90

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU THỊ HÀM Ý TRONG TIẾNG VIỆT

93 3.1 Khái niệm “phương thức biểu thị hàm ý” 93

3.2 Điểm lại danh sách các phương thức biểu thị hàm ý 96

3.2.1 Phương thức biểu thị hàm ý khái quát (generalized implication)

Trang 7

963.2.2 Phương thức biểu thị hàm ý hội thoại đặc thù (particular

implicature) 99

Trang 8

3.2.3 Nhận xét chung 100

3.3 Thử đề xuất một danh sách các phương thức biểu thị hàm ý 107

3.3.1 Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc thù

108 3.3.2 Vi phạm phương châm hội thoại, quy tắc quan yếu 114

3.4 Về hiện tượng “lệch pha” trong giao tiếp 137

3.4.1 Dấu hiệu của sự “lệch pha” trong giao tiếp 138

3.4.2 Một số nguyên nhân

140 3.4.3 Giải pháp khắc phục 141

Tiểu kết

142 KẾT LUẬN 145

Trang 9

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P Grice

được đánh giá là một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ học, mới ra đờicách đây non nửa thế kỷ Tuy nhiên, việc sử dụng hàm ý để chuyển tảinhững thông tin mà vì một số lý do nhất định, người ta không tiện hoặckhông nên nói thẳng ra là một hiện tượng bình thường trong thực tế, hẳn

đã có ngay từ những cuộc giao tiếp đầu tiên trong xã hội văn minh Trongcác công trình của mình, H.P Grice nhận xét: trong giao tiếp, nhiều khichúng ta “nói điều này nhưng thật ra muốn nói một điều khác” Đồng tìnhvới ý kiến này, Hoàng Phê – người đầu tiên giới thiệu và vận dụng lý thuyếtcủa H.P Grice vào nghiên cứu tiếng Việt, bổ sung: “Hằng ngày sử dụngngôn ngữ, lắm khi chúng ta nói một điều này, nhưng lại muốn cho người

nghe từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu thêm một điều khác nữa” [58,

93] Thậm chí, ông cho rằng: “Khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngônthường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàmngôn, ý hàm ngôn là ý chính” [58, 93] W.A Davis (2005) cũng khẳngđịnh vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học:

“Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữdụng học.”

Không chỉ có tác dụng trong giao tiếp hằng ngày, hàm ý còn có giá trị

sử dụng rất lớn trong các hoạt động chính trị, ngoại giao và sáng tác vănhọc Bởi vậy, từ khi có những phát hiện của H.P Grice, đặc biệt là từ saukhi ông hoàn thiện và công bố chúng trong tập bài giảng ở Đại học Harvard

(1967), cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978), giới nghiên cứu đã tập trung khai thác rất nhiều vấn đề

xung quanh khái niệm hàm ý, các loại hàm ý và phương thức biểu thị hàm

ý Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất caogiữa các nhà nghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủyếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạo hàm ý ngônngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý

Trang 10

hội thoại) Đặc biệt, việc nghiên cứu hàm ý trong sáng tác văn học chưađược đầu tư thỏa đáng nên kết quả chưa có chiều sâu Phần lớn các nhàvăn, nhà nghiên

Trang 11

cứu, phê bình văn học mới dừng ở việc khai thác các chi tiết, hình tượngnghệ thuật từ kinh nghiệm cá nhân Ngược lại, phần lớn các nhà ngôn ngữhọc tự bằng lòng giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi ngôn ngữhọc đơn thuần, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa những kiến giải của lýthuyết hàm ngôn hội thoại với lĩnh vực văn học.

Tình hình trên đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn những vấn đề chưa có

sự thống nhất cao, chưa có điều kiện đi sâu để góp phần phát triển nhậnthức chung về hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và khả năng ứng dụngnhững kiến giải này vào thực tế Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện

đề tài luận án Hàm ý và phương thúc biểu thị hàm ý trong tiếng Việt.

0.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.2.1 Về khái niệm hàm ý

Khái niệm “hàm ngôn hội thoại” được Herbert Paul Grice “thainghén” từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong phác thảothuyết hàm ngôn mà ông đưa vào tập bài giảng William James khi đanggiảng dạy tại Đại học Harvard năm 1967 Ngay từ đầu, các vấn đề về hàmngôn trong tập bài giảng William James đã có ảnh hưởng rất lớn nhưng có

lẽ phải một thời gian, sau khi cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978) ra đời thì thuyết hàm ngôn hội

thoại của Grice mới thực sự trở thành “một trong những chuyên luận kinhđiển” của ngữ dụng học

Phần lớn công trình Logic và hội thoại của Grice tập trung vào việc

làm rõ sự khác biệt (về mặt trực giác) giữa “cái được diễn tả bằng lời”trong câu nói và “cái được gợi ý” (hoặc nói bóng gió) trong câu nói Để chỉ

“cái được gợi ý” này, Grice (1975; 1978) đã sử dụng các thuật ngữ mới là

“hàm ý” (implicate) và “hàm ngôn” (implicature); đồng thời, ông xem phầnđược mã hóa ngôn ngữ của phát ngôn là “cái được nói đến” Ông chorằng, tổng số “cái được nói đến trong câu” và “cái được hàm ý” trong cùngmột câu nói đó được gọi là “các ý nghĩa biểu hiện của một phát ngôn” [96].Phát hiện của Grice đã mở ra một trào lưu mới trong nghiên cứungôn ngữ W.A Davis (2005) khẳng định: “Hàm ngôn hội thoại đã trởthành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”

Trang 12

2Cho đến nay, có thể nói các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đãđạt được quan niệm thống nhất về hàm ý như sau:

Trang 13

(1) Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn (nghĩa hàm ngôn) không được thểhiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩatường minh (nghĩa hiển ngôn) và hoàn cảnh giao tiếp.

Quan niệm này không chỉ được thể hiện trong các tác phẩm của Grice

mà còn được thể hiện rõ trong những tài liệu vận dụng lý thuyết củaông như các công trình của O Ducrot (1972), G Yule (1997), Hoàng Phê(1989), Nguyễn Đức Dân (1996), Hồ Lê (1996), Cao Xuân Hạo (1998),Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2005),… Chẳng hạn, O Ducrotquan niệm: “Thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, nghĩa lànói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa

là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng” (Dẫn theo [58;

98 – 100]); Hồ Lê (1996) viết: “Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình tháihàm ẩn mà người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài

ý nghĩa hiển hiện của phát ngôn, trong đó có việc biểu thị những sở chỉkhác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị” [44; 335];Nguyễn Thiện Giáp (2000) thì giải thích: “Hàm ý chính là những gìngười nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩacủa phát ngôn đó” [19; 136]

(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập vớitiền giả định (TGĐ) là phần không có giá trị thông tin

H.P.Grice (1975) phân biệt nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning)với nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning) O Ducrot thốngnhất với quan niệm của Grice nhưng thể hiện sự phân biệt đó bằngcác thuật ngữ “hàm ngôn” và “tiền giả định” (TGĐ) Ông coi TGĐ là mộthình thức hàm ngôn quan trọng, là hàm ngôn nằm trực tiếp trongbản thân “nghĩa từ ngữ” của lời (Dẫn theo [58; 98])

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm: TGĐ làloại nghĩa hàm ẩn nhưng là nghĩa hàm ẩn không có giá trị thông báo [10];[12]; [26]; [58] Theo các tác giả, sự đối lập giữa “cái đã biết” và “cái mới”theo phân đoạn thực tại câu sẽ cho phép vạch ra một sự đối lập khác,rộng hơn, trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời; đó là sự đối lập giữa phầnkhông có giá trị thông báo (gồm có TGĐ và cái đã biết trong hiển ngôn) và

Trang 14

phần có giá trị thông báo (gồm cái mới trong hiển ngôn cùng với hàmngôn) Vì vậy, nếu coi TGĐ là hàm ngôn (tức là phần có giá trị thông báo)

sẽ “không

Trang 15

thể thấy được mối quan hệ có tính quy luật hết sức quan trọng giữa TGĐ, hiển ngôn và hàm ngôn, mối quan hệ chi phối nội dung của hàm ngôn” [58;

99]

Mặc dù đã đạt được sự thống nhất cơ bản như trên, giữa cácnhà nghiên cứu vẫn còn những khác biệt tương đối lớn và có thể coi đây lànhững điểm chưa rõ trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại, cần được tiếp tụcnghiên cứu thêm

Sự khác nhau trước hết là cách dùng thuật ngữ Khi nghiên cứuthuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìmhiểu một vấn đề ngôn ngữ cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụngthống nhất thuật ngữ “hàm ý” (implicate) với tư cách động từ vàthuật ngữ “hàm ngôn” (implicature) với tư cách danh từ Có thể thấy rõđiều này qua một số phân tích, nhận xét, đánh giá và kết quả nghiêncứu của các nhà ngữ dụng học như: Harnish (1976), Leech (1983), J.Lyons(1995) W.A Davis (1998), (2005), Kent Bach (2005),… Chẳng hạn,

trong một nghiên cứu về hàm ngôn, Harnish (1976) cho rằng câu Bill và Tom di chuyển cái đàn “hàm ý” (implicates) một cách chung chung rằng

“Bill và Tom chuyển cái đàn cùng với nhau” Tương tự, Leech (1983: 91)

“lưu ý rằng John làm đứt tay ai đó hàm ý “John không tự cắt vào tay mình” […] Nhưng một lời khẳng định tương tự như John làm gãy tay thì không thể hàm ý sai (fails to implicate) là “John không làm gãy tay mình”.

Ngược lại, nó hàm ý rằng “John đã làm gãy tay mình” (Dẫn theo[96])

Ngoài các thuật ngữ trên, nhiều nhà nghiên cứu còn dùng động từ to imply thay cho implicate (hàm ý) Chẳng hạn, Jenny Thomas (1995), đã

chứng minh phần nào “sự năng động” giữa hai động từ này: “Họcthuyết của Grice được xây dựng nhằm giải thích quá trình mà bằng cáchnào đó, người nghe đi từ lớp ý 1 đến lớp ý 2, từ điều được nói tới điềuđược hàm ý (what is implied)” [144; 60]; hay: “Có hai điều mà chúng tacần ghi nhớ Thứ nhất là, người nói có thể hàm ý (imply) điều mà người ấybiết là không đúng và người nghe có thể hiểu chính xác điều người nóihàm ý (what a speaker has implied) mà không nhất thiết tin vào nó Thứ

Trang 16

hai là, thuyết của Grice cố gắng lý giải quá trình người ta đi từ lớp ý đượcdiễn đạt tới lớp ý được hàm ý (implied) Nhiều người hiểu lầm công trìnhcủa Grice do thực tế là người ta cứ cho rằng ông đang lý giải cách thứchình thành suy luận,

Trang 17

hơn là việc hàm ngôn được tạo ra và hiểu như thế nào” [144; 61) Khi đặtvấn đề phân biệt các khái niệm “muốn nói”, “nói” và “hàm ý”, các tác giảAdrian Akmajian, Richard A Demers, Ann K Farmer và Robert M.Harnish (1997) đã viết: “Như chúng ta đã thấy, người nói có thể muốntruyền đạt nhiều hơn cái mà họ nói Một loại giao tiếp đặc biệt và thú vị

đã được khảo sát bởi Grice dưới tên gọi hàm ngôn hội thoại

(conversational implicature), gọi như thế là do cái được ám chỉ (what is

implied) hay như Grice thích nói là được hàm ý (implicated)) đã được hàm

ý nhờ vào sự việc người nói và người nghe đang hợp tác đóng góp vàocuộc đàm thoại ” [93;

381)

Trong một số công trình, kể cả công trình của Grice (1975), “hàm ý”còn được dùng như một danh từ, với hai biến thể “implicating” và

“implication”, trong đó “implication” được sử dụng nhiều hơn cả

Ở Việt Nam, trong các công trình ngữ dụng học, có tình trạng cùngmột hiện tượng được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau và ngược lại,cùng một thuật ngữ lại được hiểu theo những nội dung khác nhau, phảnảnh quan niệm rộng, hẹp khác nhau ở mỗi nhà nghiên cứu Chẳng hạn,thuật ngữ “hàm ý” được dịch và hiểu tương đương với thuật ngữ “hàmngôn” trong ngôn ngữ học nước ngoài nhưng trong nghiên cứu, mỗi tácgiả lại đặt cho loại nghĩa hàm ẩn này một tên gọi khác nhau như: “hàmngôn”, “ẩn ý”, “ngụ ý”, “dụng ý”, “hiểu ngầm”, “ám chỉ”,… Có thể thấy rõđiều này qua các công trình của các tác giả tiên phong trong lĩnh vựcngữ dụng học ở Việt Nam như Nguyễn Đức Dân (1987), Hoàng Phê(1989), Đỗ Hữu Châu (2003),…

Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhànghiên cứu ngữ dụng học còn thể hiện quan niệm khác nhau về phạm vicủa hàm ý Phần đông các tác giả có xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩamiêu tả (nghĩa mệnh đề) [10]; [12]; [19]; [26]; [58], chỉ có một số ít tácgiả cho rằng nghĩa tình thái cũng có thể là hàm ý ([31]; [44])

H.P.Grice và nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông nhưHorn (1989), Levinson (1983; 1987b; 2000), George Yule (1997),… hay một

Trang 19

thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để phân biệt hai loại hàm ý là hàm ý quyước và hàm ý hội thoại Tuy nhiên, theo cách phân loại này, ranh giớigiữa TGĐ, dẫn ý với hàm ý quy ước cũng vẫn còn là vấn đề gây tranh luậntrong các thuyết giao tiếp Hậu Grice và Tân Grice [96]; [130]; [133],… Bêncạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quantrọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các khía cạnh rất phongphú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con

người Một tác giả Việt Nam là Hồ Lê đã đề xuất phân loại hàm ý theo khu vực tình thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn [44; 139 – 143],

nhưng theo chúng tôi, ranh giới của các loại hàm ý trong cách phânloại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng

0.2.2 Về phương thức biểu thị hàm ý

Theo nhiều công trình nghiên cứu ngữ dụng học, hàm ý được biểu thịbằng hai phương thức sau:

a) Vi phạm quy tắc ngữ dụng hay quy tắc hội thoại

Hầu hết, các nhà nghiên cứu đều dựa vào các quy tắc ngữ dụng (quytắc chiếu vật, chỉ xuất, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ…) và các quytắc hội thoại – đặc biệt là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) củaH.P.Grice và lý thuyết quan yếu (relevance theory) của D Sperber và D.Wilson – làm cơ sở để khái quát phương thức biểu thị hàm ý Các tác giảcho rằng: sự vi phạm các nguyên tắc giao tiếp của H.P Grice và lý thuyếtquan yếu của D Sperber và D Wilson là một phương thức hữu hiệu nhất

để tạo hàm ý hội thoại Chẳng hạn, Đỗ Hữu Châu (2005) coi “hàm ý là cáchành vi ngôn ngữ không được điều khiển đúng quy tắc giao tiếp”; CaoXuân Hạo (1998) coi hàm ý là “sản phẩm” của “sự cố tình vi phạm cácnguyên tắc hội thoại”

b) Sử dụng một số phương tiện từ ngữ và cấu trúc phát ngôn

Việc sử dụng một số phương tiện ngôn ngữ mang tính chất đặc thù(như: liên từ, phó từ chỉ thời, thể, các động từ tình thái, các cấu trúc phátngôn đặc thù…) cũng được các tác giả coi là phương thức biểu thị hàm ý(hàm ý quy ước) Chẳng hạn, dùng liên từ “và” để nối hai sự tình (mệnh đề)trong phát ngôn sẽ mang lại cho phát ngôn hàm ý về quan hệ nhân - quả;

Trang 20

6dùng phó từ “đi” trong một số trường hợp sẽ biểu thị hàm ý: sự thay đổitrạng thái của sự vật nằm ngoài mong muốn của người nói [31; 267-272];

Trang 21

dùng một số động từ tình thái trong những điều kiện, hoàn cảnh nhấtđịnh có thể tạo cho câu nói hàm ý “các hành động hay quá trình ấy có diễn

ra thật” hay “hành động hay quá trình ấy không diễn ra” [26; 521 – 533]hay “câu có chủ đề tương phản, nó có thể mang hàm ý phận cực đảo(reversed polarity implicature)” (thuật ngữ của Chungmin Lee)” [31; 201].Hai phương thức biểu thị hàm ý nói trên được khẳng định tronghầu hết các công trình nghiên cứu về hàm ý Tuy vậy, các tác giả mới dừng

ở sự trình bày khái quát với một số ví dụ đơn giản Chắc chắn là nhậnthức này sẽ phải được phát triển với những phân tích sâu hơn, cụ thể hơn

0.3 Tính thời sự của đề tài

Từ cuối thế kỷ XX, ngôn ngữ học đã chuyển hẳn sang nghiên cứu vềhoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp mà một trong nhữngtrọng tâm là ngữ nghĩa ngữ dụng của các đơn vị này, vì nói như Whorf thì

“thực chất của ngôn ngữ học chính là tìm hiểu nghĩa”([Dẫn theo[58, 94]).Đến bây giờ, hầu như không có công trình nào về nghĩa chỉ giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở hệ thống tĩnh về nghĩa của từ như trước mà không bàn vềnghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của câu/phát ngôn và nhữngvấn đề ngữ dụng học khác như diễn ngôn, hành vi ngôn ngữ, phươngchâm giao tiếp …

Nghiên cứu về hàm ý và các phương thức biểu thị hàm ý là đề tài nằmtrong xu hướng trên Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu có điều kiệntìm hiểu mối quan hệ giữa hàm ý với các khái niệm khác về nghĩa củacâu/phát ngôn vốn được xác định trên những bình diện phân tích khácnhư nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, chủ đề/thuật đề,… Điều này nói lêntính thời sự của đề tài

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.4.1 Về phương diện lý luận, đề tài là cơ hội để làm sáng tỏ thêmnhững đặc trưng cơ bản của hàm ý trên cả hai phương diện khái niệm vàphương thức biểu thị; góp phần vào việc nghiên cứu quy tắc chung củagiao tiếp – một trong những vấn đề mà ngữ dụng học đặc biệt quan tâm.0.4.2 Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thểđược sử dụng để bổ sung cho giáo trình ở bậc đại học, sách giáo khoa ở

Trang 22

trường phổ thông, góp phần hướng dẫn người nói, người viết nâng caochất lượng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hằng ngày và giúp ngườiđọc có

Trang 23

phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chắc chắn hơn,khoa học hơn Kết quả của đề tài cũng có thể là gợi ý cho công việc củanhững người sáng tác.

0.5 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hàm ý và phương thức biểu thịhàm ý trong tiếng Việt Phạm vi nghiên cứu là các hình thức diễn ngônkhác nhau, từ những cuộc thoại (đối thoại, đơn thoại) đến văn bản, baogồm các văn bản báo chí và nghệ thuật Vì vậy, đơn vị mà chúng tôi dựavào đó tìm hiểu đối tượng nghiên cứu không chỉ là đoạn thoại trực tiếp cóchứa từ hoặc phát ngôn thuộc kiểu được xét – phát ngôn có hàm ý, màcòn là các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

- Hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận hữu quan về phát ngôn,

cơ cấu nghĩa của phát ngôn, khái niệm hàm ý, ranh giới và mối quan hệ củahàm ý với các loại nghĩa khác của phát ngôn trong hoạt động giao tiếp trên

cơ sở tư liệu tiếng Việt và những kết quả nghiên cứu mới của giới nghiêncứu

- Phân loại hàm ý từ nhiều bình diện khác nhau

- Hệ thống hóa và bổ sung các phương thức tạo hàm ý trực tiếp, hàm ýgián tiếp trong tiếng Việt

0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận ánnày là phương pháp phân tích ngữ cảnh

Theo nhận thức chung, ngữ cảnh (hoàn cảnh giao tiếp) bao gồmvăn cảnh xuất hiện phát ngôn được xem xét (tức là những phát ngôn đứngtrước và đứng sau phát ngôn đó), những tri thức nền về ngôn ngữ, vănhóa và những mảng hiện thực khách quan ngoài ngôn ngữ tạo điều kiệncho việc tiếp nhận phát ngôn

Bàn về vai trò của ngữ cảnh trong việc tạo lập và tiếp nhận nghĩa củaphát ngôn, M.A.K Halliday cho rằng: „„Sự lựa chọn hình thức ngôn ngữ bịchi phối bởi môi trường văn hóa […]; nghĩa của từ và nghĩa của câu bị quy

Trang 24

định bởi ngôn cảnh.” (Dẫn theo [20, 45]) J.R Firth viết: „„Tất cả các lờinói đều bị hạn chế bởi phong tục xã hội, truyền thống văn hóa, giá trịđạo

Trang 25

đức‟‟ (Dẫn theo [20, 45]) Còn Hymes thì khẳng định: ngữ cảnh đóng vaitrò quan trọng trong việc „„giới hạn cách hiểu có thể có được‟‟ và „„hỗ trợcho cách hiểu theo dự định‟‟ (Dẫn theo [23, 67]).

Bởi vậy, trong luận án này, để xác định hàm ý mà người phát ngônmuốn gửi đến người nghe (người đọc), các phát ngôn đều được đặttrong ngữ cảnh mà nó xuất hiện Ví dụ, để hiểu người nói có hàm ý gì

khi dẫn câu thơ Trẻ em như búp trên cành, cần xem câu ấy xuất hiện trong

hoàn cảnh nào, với những từ ngữ kèm theo nó như thế nào So sánh:

(1) (Thấy bạn đang đánh con, A nói:)

- Này ông ơi, “trẻ em như búp trên cành” đấy!

(2) (Nghe B tâm sự về sự “đầu tư” cho con cái trong năm học mới:

Chẳng biết quan điểm của ông thế nào chứ với tôi, riêng việc đầu tư cho học hành của con cái là tôi không tiếc, A đáp:)

- Ừ, “trẻ em như búp trên cành” mà!

(3) (Nghe B kêu ca, phàn nàn về sự tốn kém tiền nong khi con bắt đầuvào năm học mới, A nói:)

- Trẻ em như búp trên cành đấy!

Ở (1), phát ngôn Trẻ em như búp trên cành có hàm ý nhắc nhở, phê

bình người bạn về cách giáo dục con cái; ở (2), phát ngôn này mang hàm ýđồng tình với quan điểm của B về việc đầu tư cho chuyện học hành củacon cái; còn ở (3), phát ngôn của A lại là sự chia sẻ và động viên đối với B.Trong nhiều trường hợp, để hiểu đúng hàm ý của phát ngôn, takhông chỉ dựa vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc giao tiếp mà còn phải dựavào một bối cảnh rộng lớn hơn Ví dụ, để hiểu hàm ý trong lời nhân vật

Mai nói với người yêu cô là Lộc ở trích đoạn dưới đây từ tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, cần phải đặt phát ngôn của cô vào diễn biến

câu chuyện giữa hai người và bối cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạngTháng Tám

1945 :

(4) Lộc: - Em cứ đùa! Anh xin em để anh nói chuyện việc nhà với em Mai: - Chuyện việc nhà cậu ư? [157, 151]

Trang 26

Chuyện tình giữa hai người tóm tắt như sau: Lộc là con quan Án sát,yêu Mai – một cô gái nhà nghèo Khi gặp sự phản đối của mẹ – bà Án, Lộchoang mang trước chữ “hiếu” và chữ “tình” Là một người mang tư tưởng

Âu Tây, Lộc hy vọng sẽ thuyết phục được mẹ mình Anh nhờ người đóng

Trang 27

giả vai bà Án để đến hỏi Mai làm vợ Một thời gian sau, kế hoạch của Lộc

bị Huy – em trai Mai – phát hiện Mai sống trong đau khổ, dằn vặt vì bị lừadối Nhưng rồi tình cảm chân thành của Lộc dành cho cô, tình yêu và sựhàm ơn trong cô đã giúp cô có nghị lực để sống, để “trả ơn” Lộc Về phầnLộc, càng ngày anh càng ân hận, áy náy về việc làm của mình Một hôm,anh quyết định tổ chức đi chơi để nói hết sự thật với Mai Dường nhưđoán được ý định của Lộc và cũng muốn quên đi nỗi đau, Mai cố gắngcười thật nhiều và nói chuyện thật nhiều Nhưng rồi khi nghe câu nóicủa Lộc, nỗi đau vì bị xúc phạm ùa về khiến Mai không kìm nổi lòng mình

Việc cô chuyển cách xưng hô quen thuộc em - anh sang cậu trong hoàn

cảnh này đã tạo cho phát ngôn hàm ý xa cách và báo hiệu sự rạn nứt trong

tình cảm của hai người Bởi nghĩa gốc của đại từ nhân xưng cậu trong hoàn

cảnh cụ thể này (chỉ người con trai những gia đình tầng lớp trên với ý coitrọng) đã hàm ý khoảng cách giữa Mai và Lộc bị kéo ra xa (trên cả trụcquan hệ và trục vị thế) Có lẽ ý thức được điều này mà sau câu nói của Mai,

vì là người có lỗi nên Lộc chỉ biết “ứa nước mắt không trả lời” còn Mai lạihối hận xin lỗi Lộc vì đã “lỡ lời”

Trong quá trình phân tích ngữ cảnh, ở những chỗ thích hợp, chúng tôi

sẽ sử dụng phối hợp các phương pháp thống kê, phân loại, so sánh

0.6.2 Nguồn tư liệu

Do gặp khó khăn trong việc tìm tư liệu bằng biện pháp ghi âm, ghi hìnhnên ngoài một số tư liệu có được do quan sát thực tế trong giao tiếp hằngngày, chúng tôi chủ yếu sử dụng những đoạn thoại mô phỏng đối thoạitrực tiếp ngoài đời thực, một số chi tiết của tác phẩm báo chí, vănchương Tác phẩm văn chương được chọn là tác phẩm của một số tác giảtiêu biểu, tác phẩm được dạy trong nhà trường, tác phẩm được dư luậnđánh giá là có văn phong diễn đạt mới lạ Trong một số trường hợp cầnthiết (để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác giả),chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu vềngữ dụng học trong, ngoài nước Tổng số 185/2.750 tư liệu được chọn

để phân tích, miêu tả trong luận án được lấy từ những nguồn trên

0.7 Bố cục đề tài

Trang 28

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:

Trang 29

Chương 1 hệ thống hóa và phát triển một số khái niệm xuất phát làm

cơ sở để triển khai đề tài

Chương 2 tập trung miêu tả các loại hàm ý, làm chỗ dựa để phân tích

phương pháp biểu thị hàm ý trong chương tiếp theo

Ở Chương 3, trên cơ sở điểm lại danh sách các phương thức biểu thị đã

được tổng kết trong các công trình ngữ dụng học, chúng tôi mạnh dạn đề

xuất và miêu tả một số phương thức biểu thị hàm ý thường dùng trong

tiếng Việt, gắn với văn hóa Việt

Trang 30

CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT

1.1 Phát ngôn

Theo John Lyons, thuật ngữ phát ngôn (tiếng Anh: utterance; tiếng Pháp: enonce) có thể biểu thị một quá trình hoặc thành phẩm, tức là được

dùng để chỉ hoạt động phát ra câu nói hoặc chính sản phẩm của hoạt động

ấy Nhưng trong trường hợp bình thường, có thể hiểu phát ngôn “là cái

mà một số nhà triết học ngôn ngữ gọi là thành phẩm (inscription), nghĩa

là chuỗi các ký hiệu được ghi lại trong một loại phương tiện vật chất nào

đó Ví dụ, một phát ngôn nói thường được ghi lại […] bằng phương tiện

âm thanh; một phát ngôn viết thì được ghi lại bởi một phương tiện thíchhợp nào đó mà thị giác có thể xác định được […] Phát ngôn có thể

được coi như là tín hiệu (signals) được truyền từ người nói sang người

nghe – hay khái quát hơn, là từ người phát sang người nhận – theo mộtkênh thích hợp nào đó.” [40, 53]

Trong hệ thống của John Lyons, phát ngôn là một thành phẩm của hoạtđộng giao tiếp tương đương với câu nhưng ở bình diện lời nói Đây cũng làquan điểm gặp ở nhiều nhà nghiên cứu khác Chẳng hạn, các ý kiến của cáctác giả I I Kovtunova: “Câu xét về mặt giao tiếp được gọi là phát ngôn”(Dẫn theo [5, 4 - 5]); Hoàng Trọng Phiến: “Câu là cái trừu tượng còn phátngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể, phát ngôn là biến thể, các phátngôn làm chức năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồngthời là phương thức tồn tại của mô hình đó.” [60, 13]; Đỗ Hữu Châu: “Kháiniệm phát ngôn không phủ định khái niệm câu Nói chung, phát ngôn đượcxây dựng trên câu Không có câu thì không có phát ngôn Tuy nhiên, câukhông trùng với phát ngôn Một câu có thể ứng với một số phát ngôn”[8, 12]; Diệp Quang Ban: “Phát ngôn được hiểu là một hành động giaotiếp, một đơn vị thông báo mà người nghe có thể tiếp nhận được trongđiều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Câu là cái tương đối ổn định,nằm trong các phát ngôn cụ thể và chỉ được rút ra từ các phát ngôn cụ thểqua việc nghiên cứu chúng Chính cái tính chất ổn định tương đối giúp ta

Trang 31

giữ phát ngôn ở thế đứng yên để mà nghiên cứu, để mà phân tích và phát hiện ra cái gọi là câu.” [2, 11 - 12]; Nguyễn Minh Thuyết: “Câu là đơn vị

ngôn ngữ, tức là

Trang 32

đơn vị trừu tượng chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thểtrong lời nói Các biến thể này gọi là phát ngôn Một mô hình trừu tượngcủa câu ở bậc ngôn ngữ có thể ứng với một vài phát ngôn Các phát ngônnày khác nhau về thành phần từ vựng cụ thể, sự lấp đầy hay bỏ trống các

vị trí trong mô hình, trật tự các thành tố” [22, 266 - 267]

Ngược lại, cũng có những tác giả như Skalicka, Harris,… tuy thống nhấtxếp phát ngôn vào cấp độ lời nói nhưng cho rằng kích thước của nó khôngxác định: có thể tương đương với một từ hay cả một cuốn tiểu thuyết (Dẫn

theo [2, 14]) Đây cũng là quan điểm của tập thể tác giả cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học Theo các tác giả này, phát ngôn là “đơn vị

thông báo có tính hoàn chỉnh về ý và có thể được người nghe tiếp nhậntrong những điều kiện nhất định của giao tiếp ngôn ngữ Một phát ngôn làmột ngữ đoạn, tương ứng với một xung động nào đấy Do đó, khốilượng của một phát ngôn có thể rất khác nhau Đôi khi phát ngôn chỉ gồmmột từ nhưng nó cũng có thể là một cuốn tiểu thuyết, hay một luận cảokhoa học Tính trọn vẹn của phát ngôn đạt được không chỉ nhờ các ký hiệungôn ngữ mà còn nhờ sự kết hợp các ký hiệu ngôn ngữ với những ký hiệukhác có tính phi ngôn ngữ” [92, 199]

Cuối cùng, có những nhà nghiên cứu quan niệm phát ngôn thuộc cấp

độ ngôn ngữ, có kích thước lớn hơn câu Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữhọc Tiệp Khắc I Danex, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm phátngôn với các hành động lời nói cũng như với câu như là một cấu trúc cúpháp Phát ngôn và các sơ đồ của phát ngôn đều thuộc vào hình thức cótính hệ thống của ngôn ngữ Phát ngôn được xếp vào một cấp độ đặc biệtcủa hệ thống ngôn ngữ đứng trên cấp độ câu (Dẫn theo [5, 5])

Có thể nhận thấy khái niệm phát ngôn theo cách hiểu thứ 2 và thứ 3 đã

được ngôn ngữ học ngày nay biểu thị bằng một thuật ngữ khác là

diễn ngôn Bởi vậy, trong công trình này, chúng tôi quan niệm phát ngôn là

biến thể của câu trong hoạt động giao tiếp, tức là một đơn vị thuộc cấp

độ lời nói, có kích thước bằng câu

1.2 Cơ cấu nghĩa của phát ngôn

Trang 33

Theo Ch Bally, nghĩa phát ngôn gồm hai thành phần cơ bản: phần ngôn liệu (dictum) và phần tình thái (modus) Ngôn liệu là thành phần biểu thị

nội dung sự tình ở dạng tiềm năng, còn tình thái là thành phần thểhiện

Trang 34

những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điềuđược nói ra (xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại vàhoàn cảnh giao tiếp) Tương tự, Fillmore quan niệm cơ cấu nghĩa của phát

ngôn bao gồm hai thành phần: “thành phần mệnh đề (được hiểu như tập

hợp những quan hệ có tính phi thời [tenseless] giữa các động từ và danh

từ), phân biệt với thành phần tình thái gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu [the sentence-a-whole] như phủ định, thì, thức và thể.”

(Dẫn theo [31, 88])

Một số tác giả khác như F R Palmer dựa theo lý thuyết hành động lờinói (theory of speech acts) phân tích cơ cấu nghĩa của phát ngôn

thành hành động tại lời (illocutionary acts) và hành động tạo lời

(locutionary acts) Còn Hare quan niệm nghĩa của phát ngôn gồm 3

thành phần: phrastic, tropic và neustic Tuy nhiên, như chính Palmer giải

thích, sự đối lập giữa hành động tại lời với hành động tạo lời rất gần gũivới đối lập giữa hai thành phần nội dung mệnh đề và tình thái của Ch.Bally: “Trong hành động tại lời, chúng ta nói về một điều gì đó, còn tronghành động tạo lời, chúng ta làm một cái gì đó như trả lời câu hỏi, thôngbáo một phán quyết, khuyến cáo hoặc hứa hẹn.” (Dẫn theo [31, 88]) Về

các thuật ngữ của Hare thì phrastic tương đương với nội dung mệnh đề hay nội dung sự tình, ngôn liệu… theo cách gọi của tác giả khác; còn tropic

“trong khá nhiều ngôn ngữ được ngữ pháp hóa (grammaticalization) ở cấp

độ thức”, và neustic “thể hiện sự cam kết, bảo đảm của người nói liên

quan đến tính thực hữu, sự mong muốn,…của nội dung mệnh đề đượctruyền đạt”, đúng như nhận xét của J Lyons (Dẫn theo [31, 89])

Bên cạnh sự phân biệt nội dung mệnh đề (nghĩa mệnh đề) với tình thái(nghĩa tình thái) hay hành động tại lời với hành động tạo lời, phrastic vớitropic và neustic, ngữ dụng học còn phát hiện nhiều cặp đối lập khác vềnghĩa, như: đối lập giữa nghĩa chủ đề với nghĩa thuật đề, giữa nghĩa tườngminh với nghĩa hàm ẩn Trong công trình này, chúng tôi sẽ sử dụng cả bacặp đối lập với quan niệm đó là kết quả của những bình diện phân tíchkhác nhau đối với nghĩa của phát ngôn, cụ thể là:

Trang 35

- Phân biệt nghĩa mệnh đề với nghĩa tình thái là phân biệt trên cơ sởđối chiếu nội dung các bộ phận phát ngôn với hiện thực.

Trang 36

- Phân biệt nghĩa chủ đề với nghĩa thuật đề là phân biệt trên cơ sở xemxét quan hệ giữa nội dung các bộ phận phát ngôn với giá trị thông báo củachúng

- Phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn là phân biệt trên cơ sởxem xét quan hệ giữa nội dung các bộ phận phát ngôn với cách thức biểuhiện chúng

1.3 Nghĩa mệnh đề và nghĩa tình thái

1.3.1 Nghĩa mệnh đề

Nghĩa mệnh đề (propositional meaning) là một thành tố của nghĩa phátngôn, biểu thị nội dung sự tình ở dạng tiềm năng Nó phản ánh sự tri nhận

và kinh nghiệm của con người về thế giới

Theo nghĩa hẹp, nghĩa mệnh đề “chính là cái nghĩa đen cơ sở của phátngôn do các từ riêng biệt và cấu trúc của phát ngôn tạo ra” [21, 269] Cáchhiểu này thể hiện rõ trong quan niệm về nghĩa mệnh đề của R A Jacobs và

M A K Halliday

R A Jacobs cho rằng mặc dù ngữ cảnh mà phát ngôn tồn tại có ảnhhưởng căn bản đến việc hiểu nghĩa của một câu (câu đơn – sentence)nhưng câu vẫn có nội dung mệnh đề độc lập với ngữ cảnh Ví dụ:

(5) Thoese plums look good! (Những trái mận này trông ngon quá!)

có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong những hoàn cảnh khácnhau mà (5) tồn tại Nó có thể được hiểu là “muốn ăn mận ngay” (nếu đó

là câu nói của một đứa trẻ háu ăn) hoặc “sẽ dễ bán và bán được giá cao”(nếu đó là lời của một người đi mua hoa quả về để bán),… Nhưng nghĩamệnh đề của (5) vẫn luôn là “những trái mận này trông có vẻ ngon” (Dẫntheo [77])

Về hình thức tồn tại (cách thức biểu đạt), Jacobs và Halliday đều chorằng nghĩa mệnh đề được biểu đạt một cách rõ ràng, tường minh trên

bề mặt câu chữ (từ và cấu trúc của phát ngôn) Jacobs coi “cái khái niệm

mà động từ biểu đạt chính là trọng tâm của nghĩa mệnh đề của câu” và

“mối liên hệ giữa ngữ trị của động từ và các ý nghĩa (sense) của động từ

ấy là một quan hệ chặt chẽ” (Dẫn theo [77]) Còn Halliday gọi các đơn vị

ngôn ngữ làm nhiệm vụ chuyên chở thông tin là cú (clause), có kích thước

Trang 37

tương ứng với một câu đơn; nghĩa mệnh đề là đơn vị nghĩa cơ sở của một

cú Như vậy, “đơn vị ngữ pháp tương đối trùng khớp nhất với nghĩa mệnh

đề có lẽ

Trang 38

là câu đơn hoặc cú, với cấu trúc gồm một động từ, kết hợp với cácdanh ngữ bắt buộc và các danh ngữ tùy ý Nghĩa cốt lõi của cú xuất phát từnội dung nghĩa mệnh đề mà cú vị ấy diễn đạt.” (Dẫn theo [77])

Theo nghĩa rộng, các tác giả cuốn Từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng

(Longman Dictionary of Applied Linguistics) coi “nghĩa mệnh đề là thuậtngữ chỉ toàn bộ nghĩa tường minh và ngầm ẩn của câu […] Một câu có thể

có một hoặc nhiều nghĩa mệnh đề.” (Dẫn theo [77]) Ví dụ:

(6) Cường, người yêu của Nhung, là một sinh viên khoa chế tạo máy nhưng lại thích làm thơ

sẽ có ít nhất 4 nghĩa mệnh đề như

sau:

- Nhung đã có người yêu

- Người yêu của Nhung tên là Cường

- Cường là sinh viên khoa chế tạo máy

- Cường thích làm thơ

Trong trường hợp trên, cả 4 nghĩa mệnh đề đều là nghĩa tườngminh Bên cạnh đó có những trường hợp nghĩa mệnh đề là nghĩa hàm ẩn,chỉ bộc lộ trong ngữ cảnh nhất định Ví dụ:

(7) Cô ấy đang đọc tài liệu.

Trong ngữ cảnh trả lời câu hỏi Bác làm ơn cho cháu hỏi cô X có nhà không ạ? Phát ngôn (7) có nghĩa mệnh đề là Cô X có ở nhà Trong ngữ cảnh trả lời câu hỏi Học viên do thầy hướng dẫn đã viết xong luận án chưa? sẽ có nghĩa mệnh đề là Cô ấy chưa viết luận án Còn trong ngữ cảnh trả lời câu hỏi Cậu vào gọi X ra đây cho tớ gặp một chút được không? thì

sẽ có thể có các nghĩa mệnh đề: Tớ ngại lắm (nên tớ không vào gọi X đâu) / Cậu không thể gặp X vào lúc này được đâu.

Về hình thức biểu đạt, khác với Jacobs và Halliday, các nhà nghiên cứutheo cách hiểu rộng về nghĩa mệnh đề cho rằng cả câu đơn lẫn câughép đều là đơn vị chuyển tải thông tin nghĩa mệnh đề (Dẫn theo [77]).Trong công trình này, chúng tôi hiểu nghĩa mệnh đề là loại nghĩa biểuthị sự tình, do các từ riêng biệt và cấu trúc cú pháp tạo ra hoặc được suy

ra từ ngữ cảnh Trong trường hợp nghĩa mệnh đề do các từ riêng biệt vàcấu trúc cú pháp tạo ra (nghĩa tường minh), nó là nghĩa của câu, nhưng vì

Trang 39

câu là bất biến thể của phát ngôn nên nghĩa nó cũng bao hàm trong nghĩacủa phát ngôn Loại nghĩa mệnh đề đặc trưng của phát ngôn là nghĩađược xác

Trang 40

định bởi ngữ cảnh Điều này cũng phù hợp với nhận xét của J Lyons:

“Nghĩa của câu (ở một mức độ cao) mang tính độc lập với văn cảnh(context-independent), trong khi nghĩa của phát ngôn thì không như vậy,

có nghĩa là nghĩa của phát ngôn (ở một mức độ cao hay thấp nào đó) đượcxác định bởi chính ngữ cảnh mà phát ngôn đó được nói ra.” [40, 55], mặc

dù chúng tôi không gạt bỏ nghĩa của câu khỏi nghĩa của phát ngôn nhưquan niệm của ông

1.3.2 Nghĩa tình thái

Trong ngôn ngữ học tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghĩatình thái (tình thái, modal meaning) J Lyons và Palmer nhấn mạnh tínhchất chủ quan của loại nghĩa này: “Tình thái là thái độ của người nói đốivới nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đómiêu tả” (John Lyons); “Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu, thể hiệnthái độ hoặc ý kiến của người nói đối với vấn đề được nói đến trong câu”(Palmer) Liapol tỏ ra cân bằng hơn trong việc xem xét tính chất chủquan và tính chất khách quan khi định nghĩa: “Tình thái là phạm trùngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngônvới thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điềuđược thông báo.” (Dẫn theo [31, 92])

Cũng từ quan điểm này mà nhiều nhà nghiên cứu phân biệt hailoại nghĩa tình thái: tình thái chủ quan và tình thái khách quan

Tình thái chủ quan bao gồm:

- Các trường hợp thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của ngườinói với nội dung thông báo (về độ tin cậy, tính hợp pháp của hành động,tính tích cực hay tiêu cực; về khả năng, tính hiện thực của điều đượcthông báo…)

- Các trường hợp thể hiện mục đích phát ngôn của người nói (hay thểhiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện), thể hiện sự tác độngqua lại giữa người nói và người đối thoại

Tình thái khách quan bao gồm:

- Các trường hợp khẳng định hoặc phủ định đối với sự tồn tại của sựtình

Ngày đăng: 20/02/2019, 11:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Thị Kim Anh. 2005. Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa “cây” trong thơ Việt Nam. Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa “cây” trong "thơ Việt Nam
[2] Diệp Quang Ban. 1989. Ngữ pháp tiếng Việt. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
[3] Dương Hữu Biên. 1997. Vài ghi nhận về lôgic và hàm ý. Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ghi nhận về lôgic và hàm ý
[4] Dương Hữu Biên. 2000. Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt. Hà Nội, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
[5] Phan Mậu Cảnh. 1996. Các phát ngôn đơn phần tiếng Việt. Hà Nội, Luận án PTS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phát ngôn đơn phần tiếng Việt
[6] Nguyễn Tài Cẩn. 1975. Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng, từ ghép, đoản ngữ. NXB ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: NXB ĐH và THCN
[7] Nguyễn Hữu Cầu. 1999. Bình diện ngữ dụng trong dạy tiếng. Kỷ yếu“Những vấn đề ngữ dụng học”. Hội Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình diện ngữ dụng trong dạy tiếng". Kỷ yếu“Những vấn đề ngữ dụng học
[8] Đỗ Hữu Châu. 1983. Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động.T/c Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động
[9] Đỗ Hữu Châu. 2003. Đại cương ngôn ngữ học. Hà Nội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[10] Đỗ Hữu Châu. 2005. Tuyển tập Đỗ Hữu Châu (tập 2). Hà Nội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
[11] Nguyễn Đức Dân. 1987. Lôgic - Ngữ nghĩa - Cú pháp. Hà Nội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic - Ngữ nghĩa - Cú pháp
Nhà XB: NXB Giáo dục
[12] Nguyễn Đức Dân. 1998a. Lôgic và tiếng Việt. Hà Nội, NXB Giáo dục. [13]Nguyễn Đức Dân. 1998b. Ngữ dụng học, tập 1. Hà Nội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic và tiếng Việt". Hà Nội, NXB Giáo dục. [13]Nguyễn Đức Dân. 1998b. "Ngữ dụng học, tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục. [13]Nguyễn Đức Dân. 1998b. "Ngữ dụng học
[14] Nguyễn Đức Dân. 1999.. Một số vấn đề về tam thoại. Kỷ yếu “Những vấn đề Ngữ dụng học”. Hội ngôn ngữ học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tam thoại". Kỷ yếu “Những vấn đề Ngữ dụng học
[15] Nguyễn Đức Dân. 2007. Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản. NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản
Nhà XB: NXBGD
[16] Nguyễn Dương. 1996. Im lặng – Một hành vi ngôn ngữ. Luận văn tốt nghiệp Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Im lặng – Một hành vi ngôn ngữ
[17] Lê Đông. 1996. Ngữ nghĩa – Ngữ dụng câu hỏi chính danh. Hà Nội, Luận án PTS, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa – Ngữ dụng câu hỏi chính danh
[18] Hà Minh Đức (chủ biên). 2002. Lý luận văn học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[19] Nguyễn Thiện Giáp. 2000. Dụng học Việt ngữ. NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w