Bên cạnh những quy định của VAS 19 chi phối các hoạt động kế toán đối với HĐBH trong thực tiễn, DNBH còn bị chi phối bởi các văn bản pháp luật khác có liên quan như Thông tư 232/2012/TT-
Trang 1PHẠM NGỌC QUỲNH MAI
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ HÒA HỢP GIỮA
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ
VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2PHẠM NGỌC QUỲNH MAI
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ HÒA HỢP GIỮA
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ
VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS TRẦN ĐÌNH PHỤNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Nghiên cứu mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm” là đề tài do chính tác giả thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu được phản ánh trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Phạm Ngọc Quỳnh Mai
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.1 Nghiên cứu về mức độ hòa hợp thực tế kế toán 6
1.1.2 Nghiên cứu về hòa hợp CMKT 8
1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 12
1.3 Khe hổng nghiên cứu 13
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
2.1 Hòa hợp kế toán 16
2.1.1 Khái niệm về hòa hợp, hội tụ kế toán 16
2.1.2 Hòa hợp CMKT và hòa hợp thực tế kế toán 16
2.1.3 Hòa hợp về trình bày thông tin và hòa hợp về đo lường 16
Trang 52.1.4 Tiến trình phát triển của hòa hợp kế toán 17
2.1.4.1 Tiến trình hòa hợp kế toán trên thế giới 17
2.1.4.2 Tiến trình hòa hợp kế toán tại Việt Nam 19
2.2 CMKT quốc tế về HĐBH 20
2.2.1 Quá trình phát triển 20
2.2.2 Nội dung IFRS 4 21
2.2.3 Nội dung IFRS 17 24
2.3 CMKT Việt Nam về HĐBH 29
2.3.1 Quá trình phát triển 29
2.3.2 Nội dung VAS 19 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phương pháp nghiên cứu 32
Hình 3.1 Mô hình đo lường hòa hợp CMKT 33
Bảng 3.1 Nguyên tắc, phương pháp kế toán quy định trong CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 34
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 46
3.3 Mô hình nghiên cứu 46
3.3.1 Hệ số Jaccard có điều chỉnh (JACC) 47
3.3.2 Chỉ số Absence (ABSE) 47
3.3.3 Chỉ số Divergence (DIV) 48
3.3.4 Khoảng cách Average (AD) 48
3.3.5 Mối quan hệ giữa JACC, ABSE, DIV 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 51
4.1 Kết quả nghiên cứu 51
Bảng 4.1 Phân loại các quy định kế toán của CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 51
Bảng 4.2 Các chỉ số về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 52
Trang 64.2 Phân tích thống kê mô tả 54
Bảng 4.3 Tổng hợp số liệu thống kê mô tả về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 54
4.3 Nhận xét 55
Bảng 4.4 Giá trị về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 55
4.4 Kết luận về giả thuyết 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
5.2.1 Kiến nghị đối với việc xây dựng, ban hành CMKT và thông tư hướng dẫn 60
5.2.2 Kiến nghị đối với thành phần tham gia vào việc xây dựng CMKT về HĐBH 61
5.2.3 Kiến nghị đối với nguồn nhân lực tham gia và thực hiện CMKT về HĐBH 62
5.2.4 Kiến nghị đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai 62
5.2.5 Kiến nghị đối với nội dung CMKT Việt Nam theo IFRS 17 63
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 63
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: CHUẨN MỰC KỂ TOÁN VIỆT NAM
PHỤ LỤC 2: CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
PHỤ LỤC 3: CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
PHỤ LỤC 4: SỐ LIỆU SPSS
PHỤ LỤC 5: TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HÒA HỢP KẾ TOÁN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
PHỤ LỤC 6: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CMKT QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh
Standard
quốc tế
International Accounting Standards Board
tế
International Accounting Standards Committee
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng tóm tắt những nghiên cứu về hòa hợp kế toánError! Bookmark not defined
Bảng 3.1 Nguyên tắc, phương pháp kế toán quy định trong CMKT quốc tế và
Việt Nam về HĐBH 34
Bảng 4.1 Phân loại các quy định kế toán của CMKT quốc tế và Việt Nam về
HĐBH 51
Bảng 4.2 Các chỉ số về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 52
Bảng 4.3 Tổng hợp số liệu thống kê mô tả về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế
và Việt Nam về HĐBH 54
Bảng 4.4 Giá trị về mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH 55
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Các yếu tố tác động đến việc áp dụng IAS/IFRS 84
Hình 3.1 Mô hình đo lường hòa hợp CMKT 33
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày nay, vấn đề sử dụng các quy tắc, phương pháp kế toán đồng nhất được đặt ra để làm tăng tính so sánh được và tính minh bạch của BCTC mà các doanh nghiệp hoạt động trong và ngoài nước phát hành Để giải quyết vấn đề này, hệ thống CMKT quốc tế (IAS/IFRS) đã được ban hành và có khả năng áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Nhiều nước đã xem IAS/IFRS là bộ chuẩn mực duy nhất hoặc cho phép áp dụng các chuẩn mực này Năm 2015, các nhà lãnh đạo G20 cũng đã cam kết thúc đẩy tiến trình áp dụng CMKT toàn cầu
Tại châu Á, nhiều nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc…cũng lấy IAS/IFRS làm nền tảng để thiết lập các CMKT trong nước nhằm tiến tới hòa hợp, hội tụ với IAS/IFRS Việt Nam cũng đã nắm bắt xu thế đó khi hệ thống CMKT Việt Nam được Bộ Tài Chính ban hành qua 5 đợt với 26 CMKT được xây dựng và chọn lọc
để phù hợp với đặc điểm kinh tế của Việt Nam và tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước CMKT về HĐBH (VAS 19) được ban hành trong đợt 5 ngày 28/12/2005 dựa theo chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS 4, quy định các nguyên tắc, phương pháp kế toán trên BCTC của DNBH
Các CMKT Việt Nam nói chung và CMKT Việt Nam về HĐBH nói riêng đã được ban hành từ rất lâu nhưng chưa được cập nhật kịp thời để phù hợp với những điều chỉnh của IAS/IFRS cũng như để phù hợp với mục tiêu hướng đến nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế toàn cầu của đất nước Thêm vào đó, chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS 17 (giai đoạn 2) đã được ban hành ngày 18/05/2017 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2021 sẽ thay thế IFRS 4 (giai đoạn 1) Trong khi các nước phương Tây đang chuẩn bị các bước để áp dụng IFRS 17 thì Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch điều chỉnh, ban hành CMKT mới có liên quan
Mặt khác, lĩnh vực bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và có hoạt động kinh doanh ở cả trong nước lẫn ngoài nước, do đó ngành bảo hiểm đòi hỏi các quy tắc, phương pháp kế toán đồng nhất để ghi nhận các sự kiện kế toán và trình bày
Trang 10thông tin trên BCTC của các DNBH nhằm phục vụ cho mục đích so sánh thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng Tuy nhiên, trong khi các quốc gia trên thế giới đang dần áp dụng theo quy định mới của IFRS 17 thì việc áp dụng CMKT Việt Nam về HĐBH cũ đang khiến cho các DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm Việt Nam cũng như nước ngoài gặp khó khăn trong việc ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC, khiến người dùng gặp trở ngại trong việc so sánh thông tin và ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư chiến lược
hòa hợp, hội tụ với IAS/IFRS
Bên cạnh những quy định của VAS 19 chi phối các hoạt động kế toán đối với HĐBH trong thực tiễn, DNBH còn bị chi phối bởi các văn bản pháp luật khác có liên quan như Thông tư 232/2012/TT-BTC, Thông tư 200/2014/TT-BTC, Thông tư 50/2017/TT-BTC, Nghị định 23/2018/NĐ-CP…Vì vậy, việc nghiên cứu về thực tế
áp dụng chế độ kế toán về HĐBH yêu cầu phải xem xét trên nhiều quy định khác nhau và nghiên cứu tại từng DNBH mới có thể đánh giá được chính xác mức độ hòa hợp thực tế kế toán về HĐBH Do đó, trong bài nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung xem xét các quy định của CMKT về HĐBH để nghiên cứu về mức độ hòa hợp CMKT Ngoài ra, VAS 19 được xây dựng trên nền tảng IFRS 4 nên việc đánh giá mức độ hòa hợp của VAS 19 và IFRS 4 sẽ phù hợp hơn việc đánh giá mức độ hòa hợp CMKT về HĐBH giữa VAS 19 và IFRS 17 do có sự khập khiễng về các quy định kế toán giữa hai chuẩn mực này
quốc tế và Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm” được lựa chọn để thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu này, một số nội dung sẽ được đề cập trong bài nghiên cứu gồm:
Trang 11- Tổng hợp các khái niệm về hòa hợp kế toán, phương pháp đo lường mức độ hòa hợp kế toán từ các nghiên cứu trước
- Khái quát nội dung CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH
- Xây dựng giả thuyết và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp để đo lường mức độ hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH
- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để gia tăng mức độ hòa hợp của CMKT về HĐBH
3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra câu hỏi nghiên cứu là:
- Hòa hợp CMKT là gì? Phân loại hòa hợp CMKT? Phương pháp nào được sử dụng để đo lường mức độ hòa hợp giữa các CMKT?
- Các văn bản pháp luật nào của quốc tế và Việt Nam được quy định cho HĐBH?
- Mức độ hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH là bao nhiêu?
- Các giải pháp nào có thể được áp dụng để làm tăng mức độ hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này là mức độ hòa hợp giữa chuẩn CMKT quốc tế về hợp đồng bảo hiểm (IFRS 4) so với CMKT Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm (VAS 19)
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được dùng để thực hiện nghiên
cứu cho đề tài “Nghiên cứu mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và
Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm” Trong đó, nghiên cứu định tính được dùng để đối
chiếu hai bộ CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH Về định lượng, phương pháp quan sát được dùng để thu thập dữ liệu và phương pháp thống kê mô tả dùng để phân tích dữ liệu
Phương pháp thống kê mô tả:
Phương pháp này sử dụng hệ số Jaccard có điều chỉnh, chỉ số Absence, chỉ số Divergence, khoảng cách Average để phân tích các dữ liệu đã được thu thập nhằm đánh giá sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH
6 Đóng góp của đề tài
Về phương diện khoa học:
- Khái quát các lý thuyết về sự hòa hợp thực tế kế toán, CMKT về HĐBH, tiến trình hòa hợp kế toán quốc tế và Việt Nam
- Tổng hợp các nghiên cứu về hòa hợp kế toán và khái quát các phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng
Về phương diện thực tiễn:
- Tổng hợp thông tin về xu hướng chuyển đổi từ IFRS 4 sang IFRS 17
- Đánh giá được sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế về HĐBH (IFRS 4) so với CMKT Việt Nam về HĐBH (VAS 19)
Trang 13- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế
và Việt Nam về HĐBH
7 Kết cấu của luận văn
Bài nghiên cứu được được xây dựng theo bố cục gồm 5 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Chương 5: Kết luận, kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Xu hướng của kế toán quốc tế hiện nay là xây dựng một hệ thống CMKT nhất quán để sử dụng chung trên toàn thế giới Để thực hiện mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia đã đề ra định hướng phát triển hệ thống CMKT trong nước tiếp cận với CMKT quốc tế Tuy nhiên, tùy thuộc vào các yếu tố về pháp luật, kinh tế, văn hóa… mà các nước đã có những hướng tiếp cận IAS/IFRS khác nhau nhằm đáp ứng các đặc điểm riêng của từng quốc gia Do đó, CMKT của các nước chưa đạt đến mức độ hội tụ mà chỉ đạt được một mức độ hòa hợp nhất định với IAS/IFRS Việt Nam là một trong các quốc gia sử dụng IAS/IFRS làm tiêu chuẩn
để xây dựng CMKT trong nước nên CMKT Việt Nam cũng tuân thủ theo IAS/IFRS nhưng được chọn lọc áp dụng dựa trên đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam và tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong nước tại thời điểm ban hành các CMKT
Chính vì tầm quan trọng của sự hòa hợp/hội tụ CMKT quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu mà trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về hòa hợp kế toán, phương pháp đo lường hòa hợp kế toán và các công trình này đã được công bố rộng rãi trên toàn thế giới
Một số nghiên cứu tiêu biểu về hòa hợp kế toán trên thế giới và Việt Nam được trình bày sau đây được phân làm hai nhóm nghiên cứu chính: nghiên cứu hòa hợp thực tế kế toán và nghiên cứu hòa hợp CMKT Trong đó, nghiên cứu về hòa hợp CMKT là mục tiêu xuyên suốt của đề tài này nên nhiều nghiên cứu về hòa hợp CMKT trên thế giới và Việt Nam được đề cập chi tiết theo thời gian thực hiện để xem xét các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng và lựa chọn cách thức đo lường mức độ hòa hợp CMKT về HĐBH phù hợp nhất để áp dụng vào bài nghiên cứu này
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về mức độ hòa hợp thực tế kế toán
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hòa hợp kế toán đã được thực hiện Nghiên cứu về hòa hợp kế toán gồm hai phương diện là hòa hợp chuẩn mực (các
Trang 15quy định, tiêu chuẩn…) và hòa hợp thực tế (thực tế BCTC của doanh nghiệp) Một
bộ phận nhà nghiên cứu cho rằng bản chất của hòa hợp kế toán là làm tăng tính so sánh được của BCTC, nên nghiên cứu về hòa hợp thực tế kế toán được ưu tiên thực hiện Các nghiên cứu có thể kể đến là:
Nghiên cứu của Evans và Taylor (1982)
Nghiên cứu về hòa hợp thực tế của Evans và Taylor (1982) được xem là khởi đầu của các nghiên cứu về hòa hợp thực tế kế toán Evans, Taylor đã dùng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách xem xét các BCTC nhằm đưa ra những bằng chứng
về việc tuân thủ các IAS để xác định tác động của những chuẩn mực của IASC đến BCTC trong các quốc gia nghiên cứu (Pháp, Nhật, Anh, Mỹ và Tây Đức) Nguồn
dữ liệu là 9-10 BCTC của mỗi quốc gia được khảo sát trong giai đoạn 1975-1988 Theo tỷ lệ phần trăm tuân thủ tính được cho từng quốc gia mỗi năm thì CMKT mà IASC ban hành có ảnh hưởng rất nhỏ đến thực tế kế toán tại các nước khảo sát
Nghiên cứu của Van der Tas (1988)
Nghiên cứu về hòa hợp thực tế của Van der Tas (1988) dựa trên báo cáo thường niên ở các nước Anh, Mỹ, Hà Lan từ năm 1978 đến năm 1984 với các vấn đề nghiên cứu như sau:
- Phát triển một quy chuẩn để định nghĩa sự hòa hợp, xác định các thành phần của
sự hòa hợp, phát triển một phương pháp đo lường mức độ hòa hợp của BCTC;
- Xác định sự hòa hợp được diễn ra khi nào và ở mức độ nào;
- Đo lường mức độ ảnh hưởng đến sự hòa hợp BCTC theo ba yếu tố sau: (1) ban hành hoặc sửa đổi các quy định bắt buộc, (2) ban hành hoặc sửa đổi các quy định không bắt buộc và (3) sự hòa hợp ngẫu nhiên
Khác với các nghiên cứu trước đó sử dụng thống kê mô tả để đo lường mức độ hòa hợp thì nghiên cứu của Van der Tas đã áp dụng chỉ số H (đo lường hòa hợp thực tế kế toán trong một quốc gia), C (đo lường mức độ có thể so sánh được giữa các BCTC trong cùng một nước), I (đo lường hòa hợp thực tế kế toán giữa các quốc gia) Tuy nhiên, những chỉ số này không phù hợp để đo lường hòa hợp CMKT Kết
Trang 16lường được mức độ ảnh hưởng của các điều khoản bắt buộc, không bắt buộc có liên quan đến BCTC và mức độ hòa hợp ngẫu nhiên
Nghiên cứu của Archer và cộng sự (1995)
Nghiên cứu của Archer và cộng sự (1995) sử dụng cơ sở dữ liệu là báo cáo thường niên của 89 công ty châu Âu có vốn nước ngoài (gồm Bỉ, Pháp, Đức, Ai Len, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Anh) trong giai đoạn 1986 – 1991 Mục tiêu chính là nghiên cứu sự ảnh hưởng của hòa hợp kế toán đến báo cái tài chính trong các công ty được lựa chọn để nghiên cứu và đề xuất chỉ số C toàn diện, trong đó, chính sách kế toán về lợi thế thương mại hợp nhất và khoản thuế hoãn lại được phân tích sâu trong công trình nghiên cứu này Archer và cộng sự đã phát triển chỉ số C
ở khoản thuế hoãn lại và lợi thế thương mại hợp nhất diễn ra trong giai đoạn 1986/87 và 1990/91, mức độ hòa hợp chỉ tăng khi so sánh trong phạm vi từng quốc gia nhưng lại rất thấp nếu so sánh giữa các nước
1.1.2 Nghiên cứu về hòa hợp CMKT
Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng mức độ hòa hợp chuẩn mực cần được chú trọng nghiên cứu hơn là mức độ hòa hợp thực tế do mức độ ảnh hưởng của CMKT đến thực hành kế toán ngày càng tăng
Trong giai đoạn đầu, các nghiên cứu của Nair và Frank (1981), Doupnik và Taylor (1985),… được tiến hành, mở ra những bước đi đầu tiên cho các nghiên cứu
về hòa hợp CMKT sau này Trong giai đoạn tiếp theo, nhiều công trình nghiên cứu khác về hòa hợp CMKT được tiếp tục thực hiện như nghiên cứu của Rahman và cộng sự (1996), Fontes, Rodrigues và Craig (2005), Ding và cộng sự (2007), Yu và
Qu (2009)…Những nghiên cứu này đã góp phần hoàn thiện các thước đo định lượng sự hòa hợp CMKT một cách chính xác và phù hợp hơn
Nghiên cứu của Nair và Frank (1981)
Nghiên cứu này được xem là khởi đầu của các nghiên cứu về hòa hợp CMKT Mục tiêu nghiên cứu là nhằm đánh giá mức độ thành công trong việc thực hiện hòa
Trang 17hợp CMKT của IASC với phạm vi nghiên cứu là các chuẩn mực từ IAS 1 đến IAS
10 tại 30 quốc gia năm 1973, 1975 và 1979 bằng bảng khảo sát Price Waterhouse (PW survey) Tác giả đã xem xét những thay đổi giữa các yêu cầu kế toán của các quốc gia trong các năm 1973, 1975, 1979 và kiểm tra mức độ ý nghĩa bằng kiểm định ANOVA của Friedman Kết quả nghiên cứu nhận được là sự tồn tại của IASC góp phần làm gia tăng sự hòa hợp các CMKT
Nghiên cứu của Doupnik và Taylor (1985)
Mục tiêu nghiên cứu của các tác giả là đánh giá sự tuân thủ của các quốc gia Tây
Âu đối với việc thực hành kế toán cơ bản theo các chuẩn mực từ IAS 1 đến IAS 8
và những thay đổi về mức độ tuân thủ theo thời gian bằng bảng khảo sát PW năm
1979 và bảng câu hỏi Các quốc gia được nghiên cứu là 16 nước Tây Âu Các khoản mục kế toán được cho trọng số, điểm trung bình được tính toán cho từng khu vực và từng quốc gia, sau đó các kiểm định phi tham số được thực hiện theo từng khu vực
và nhóm khác nhau
Nghiên cứu này đưa ra kết luận là nhiều điểm khác biệt về thực hành kế toán của các nước Tây Âu theo các CMKT vẫn còn tồn tại
Nghiên cứu của Rahman và cộng sự (1996)
Nghiên cứu của Rahman và cộng sự (1996) đặt ra mục tiêu nghiên cứu là mô tả một phương pháp nghiên cứu để đánh giá trạng thái của sự hòa hợp chuẩn mực ở các quốc gia Nghiên cứu này cung cấp một phương pháp đo lường các điểm khác biệt giữa những quy định của hai quốc gia theo các khoản mục kế toán Mỗi khoản mục kế toán thường có một số khoản mục con nên kỹ thuật thống kê đa biến (multivariate statistical technique), phương pháp phân tích đa khác biệt (multiple discriminant analysist) đã được áp dụng để xác định các khoản mục giống nhau và không giống nhau, kỹ thuật phân tích này yêu cầu đo lường từng khoản mục Sau
đó, khoảng cách Mahalonobis được dùng để đo khoảng cách giữa các mục Úc và New Zealand là hai quốc gia được lựa chọn để nghiên cứu do thuộc cùng một nhóm các quốc gia tương đồng về môi trường kinh tế, pháp luật và hệ thống kế toán Nghiên cứu này so sánh các quy định kế toán đối với các công ty niêm yết có thị
Trang 18trường vốn quốc tế Cơ sở dữ liệu là các quy định về trình bày và đo lường các thông tin trong CMKT và văn bản pháp luật liên quan Các quy định kế toán được xác định như sau:
- Loại 1: Bắt buộc đối với tất cả doanh nghiệp có niêm yết
- Loại 2: Được quy định bởi các quy định, yêu cầu niêm yết chứng khoán, CMKT, hướng dẫn kế toán (Úc) và các công cụ hỗ trợ thực hành kế toán (New Zealand)
- Loại 3: Cho phép hoặc không quy định hoặc không cấm do các quy định trên
- Loại 4: Cấm do các quy định, yêu cầu niêm yết chứng khoán hoặc CMKT
Kết quả của công trình này là mức độ hòa hợp về công bố thông tin thấp hơn mức độ hòa hợp về đo lường
Nghiên cứu của Fontes, Rodrigues và Craig (2005)
Nghiên cứu của Fontes, Rodrigues và Craig (2005) tập trung khám phá những thước đo phù hợp để đánh giá và so sánh mức độ thành công trong việc hội tụ các CMKT quốc gia với hệ thống CMKT quốc tế Dữ liệu được sử dụng là 43 yêu cầu
kế toán trong CMKT quốc tế và CMKT của Bồ Đào Nha với những sửa đổi đáng kể trong giai đoạn nghiên cứu (1997-2003) theo ba giai đoạn phát triển của hệ thống kế toán quốc tế và hệ thống kế toán của Bồ Đào Nha như sau:
Đối với hệ thống kế toán quốc tế
- Giai đoạn 1 (1973-1989): các chuẩn mực kế có mức độ linh hoạt cao của IASB
- Giai đoạn 2 (1989-1995): dự án gia tăng tính so sánh được của BCTC của IASB
- Giai đoạn 3 (1995-2003): sự chấp thuận từ Tổ chức quốc tế của các ủy ban chứng khoán (IOSCO) trong việc xác nhận 30 CMKT được áp dụng cho thị trường vốn
Đối với hệ thống kế toán Bồ Đào Nha
- Giai đoạn 1 (1977-1989): dự án kế toán Bồ Đào Nha (POC) được thực hiện
- Giai đoạn 2 (1989-1995): thông qua một số chuẩn mực quốc tế và bắt đầu ban hành CMKT để hoàn thành dự án kế toán Bồ Đào Nha (POC)
Trang 19- Giai đoạn 3 (1995-2003): quốc tế hóa thông qua việc ban hành CMKT Bồ Đào Nha chủ yếu dựa trên CMKT quốc tế
Các yêu cầu kế toán sẽ được phân loại theo cách thức mà Rahman và cộng sự đề xuất với loại 1 – Bắt buộc, loại 2 – Được quy định, loại 3 – Cho phép và loại 4 – Cấm, sau đó được phân tích theo ba thước đo định lượng là (1) thước đo mức độ hội
tụ được phác thảo bởi Garrido và cộng sự (2002), (2) hệ số liên kết Jaccard và (3)
hệ số tương quan Spearman Nghiên cứu này cho thấy hệ số Jaccard và hệ số Spearman phù hợp để đo lường hòa hợp CMKT hơn thước đo độ hội tụ của Garrido
và cộng sự
Nghiên cứu của Ding và cộng sự (2007)
Nghiên cứu của Ding và cộng sự (2007) phân tích các yếu tố quyết định và ảnh hưởng của những khác biệt giữa CMKT quốc tế và CMKT trong nước bằng chỉ số Absence (đo lường sự khác nhau của các quy tắc, phương pháp kế toán không được quy định ở CMKT trong nước nhưng có trong CMKT quốc tế) và Divergence (thể hiện mức độ khác biệt trong các nguyên tắc, phương pháp kế toán được quy định ở CMKT trong nước và quốc tế cho cùng sự kiện kế toán) theo 111 khoản mục về ghi nhận, đo lường và công bố thông tin tại 30 quốc gia năm 2001 Trong đó, chỉ số Absence được xác định thông qua mức độ quan trọng của thị trường vốn và sự tập trung quyền sở hữu, còn chỉ số Divergence liên quan đến mức độ phát triển kinh tế
và tầm quan trọng của chuyên gia kế toán Dữ liệu được sử dụng là các quy định của GAAP 2001 và IAS
Năm yếu tố quyết định được khám phá trong nghiên cứu này là nguồn gốc pháp luật, sự tập trung quyền sở hữu đối với hệ thống quản trị, sự phát triển kinh tế, tầm quan trọng của chuyên gia kế toán và sự quan trọng của thị trường vốn
Kết quả nghiên cứu là chỉ số Absence cao ở các nước có thị trường vốn phát triển kém và sự tập trung quyền sở hữu cao, chỉ số Divergence cùng hướng với sự phát triển kinh tế và tầm quan trọng của chuyên gia kế toán nhưng bị hạn chế bởi sự quan trọng của thị trường vốn Công trình nghiên cứu này không những xây dựng
Trang 20được hai chỉ số đo lường hòa hợp CMKT, mà còn khám phá được năm nhân tố ảnh hưởng đến những khác biệt giữa CMKT trong nước và quốc tế
Nghiên cứu của Yu và Qu (2009)
Ngoài các nghiên cứu tại các nước phương Tây, các nước châu Á như Trung Quốc, Indonesia cũng thực hiện các nghiên cứu về sự hòa hợp giữa các CMKT Điển hình là nghiên cứu của Yu và Qu (2009) đã kế thừa kết quả nghiên cứu của Fontes, Rodrigues và Craig (2005) và phát triển các công cụ đo lường sự hòa hợp chuẩn mực với hệ số Jaccard có điều chỉnh (JACC), chỉ số Absence (ABSE), Divergence (DIV), khoảng cách Average (AD) với mục tiêu là đo lường sự hòa hợp giữa CMKT Trung Quốc (CAS) so với IAS/IFRS Mối quan hệ giữa các hệ số, chỉ
số được thể hiện qua phương trình 1 – JACC = ABSE + DIV, ý nghĩa của phương trình là sự không hòa hợp giữa hai bộ CMKT (1 – JACC) bắt nguồn từ hai nguyên nhân:
(1) Nguyên tắc, phương pháp kế toán không có ở một trong hai bộ CMKT (chỉ số Absence)
(2) Khác biệt về phương pháp kế toán giữa hai bộ chuẩn mực (chỉ số Divergence) Nghiên cứu này cho thấy rằng sự hòa hợp giữa CAS và IAS/IFRS đang dần được cải thiện khi Trung Quốc ban hành CMKT vào năm 2006, góp phần làm tăng mức
độ hòa hợp so với CMKT quốc tế
1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về hòa hợp kế toán Các nghiên cứu có thể kể đến là nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2010), Nguyễn Thị
Nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2012)
Luận án nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2012) sử dụng chỉ số hài hòa về mặt
đo lường (M-DJCS), khai báo thông tin (D-DJCS) và chỉ số hài hòa tổng hợp DJCS) để đo lường mức độ hòa hợp CMKT quốc tế và Việt Nam liên quan đến việc lập và trình bày BCTC Các chỉ số này dao động từ 0% đến 100% với 0% nghĩa là
Trang 21(O-hai bộ chuẩn mực khác nhau hoàn toàn và 100% nghĩa là (O-hai bộ chuẩn mực giống nhau hoàn toàn Kết quả nghiên cứu là mức độ hài hòa tổng hợp bình quân là 68%, mức độ hài hòa bình quân về đo lường là 81.2% và hài hòa bình quân về khai báo thông tin là 57% Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ có 10 CMKT của Việt Nam về lập và trình bày BCTC được nghiên cứu nên chưa đánh giá được đầy đủ
Nghiên cứu của Trần Hồng Vân (2014)
Nghiên cứu của Trần Hồng Vân (2014) lại sử dụng hệ số Jaccard có điều chỉnh, chỉ số Absence, Divergence, khoảng cách Average nhằm tính toán sự hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS về lập và trình bày BCTC hợp nhất và các chỉ số H, C để đo lường hòa hợp thực tế kế toán tại các công ty niêm yết Kết quả là CMKT Việt Nam
về lập và trình bày BCTC hợp nhất so với CMKT quốc tế IAS 2004 có mức độ hòa hợp thấp (chỉ đạt 50%)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2015)
Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) nghiên cứu sự hòa hợp giữa các quy định của Việt Nam đối với việc công bố thông tin công cụ tài chính của ngân hàng trước và sau khi Thông tư 210/2009/TT-BTC được ban hành Nghiên cứu đã sử dụng kiểm định chi bình phương để đánh giá mức độ hòa hợp Kết quả nghiên cứu là thông tư 210/2009/TT-BTC được ban hành đã góp phần làm tăng mức độ hòa hợp giữa các quy định về công bố thông tin công cụ tài chính của ngân hàng và CMKT quốc tế lên 68%
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Như vậy, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện để đo lường, đánh giá về hòa hợp kế toán với nhiều phương pháp khác nhau đã được thực hiện như phương pháp nghiên cứu định tính, chỉ số H, C, I, khoảng cách Mahalanobis, hệ số JACC, chỉ số ABSE, chỉ số DIV, khoảng cách AD Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam liên quan đến CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH trong khi lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm mang những đặc điểm kế toán đặc thù khác với các ngành khác Thị trường bảo hiểm là một thị trường tiềm năng và phát triển với việc kinh doanh bảo hiểm, tái
Trang 22bảo hiểm được thực hiện không chỉ trong nước mà còn với nước ngoài Vì vậy, CMKT Việt Nam về HĐBH cần phải được xây dựng trên nền tảng CMKT quốc tế
để các đối tác, nhà đầu tư nước ngoài có thể đánh giá, phân tích chính xác tình hình hoạt động của DNBH và có những quyết định, định hướng đúng đắn Chính vì vậy mà đề tài nghiên cứu sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH được lựa chọn thực hiện
Trang 23TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nghiên cứu về sự hòa hợp kế toán được thực hiện khá nhiều trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước về mức độ hòa hợp kế toán được trình bày trong chương này và nội dung chi tiết được tóm tắt trong Phụ lục 5 – Tóm tắt các nghiên cứu về hòa hợp kế toán trên
nhóm: nghiên cứu hòa hợp CMKT và nghiên cứu hòa hợp thực tế kế toán Các nghiên cứu đã được đề cập trong chương này là:
Nghiên cứu về hòa hợp thực tế kế toán trên thế giới: Evans và Taylor (1982), Van der Tas (1988), Archer và cộng sự (1995)
Nghiên cứu về hòa hợp CMKT trên thế giới gồm: Nair và Frank (1981), Doupnik và Taylor (1985), Rahman và cộng sự (1996), Fontes, Rodrigues và Craig (2005), Ding và cộng sự (2007), Yu và Qu (2009)
Nghiên cứu về hòa hợp CMKT tại Việt Nam được đề cập đến là nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2012), Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) Hòa hợp thực tế kế toán và hòa hợp CMKT tại Việt Nam có nghiên cứu của Trần Hồng Vân (2014)
Để phục vụ cho mục tiêu của đề tài nghiên cứu này, các nghiên cứu về hòa hợp CMKT được tập trung đề cập theo dòng thời gian nhằm tìm ra phương pháp nghiên cứu phù hợp áp dụng cho đề tài này
Tuy có khá nhiều nghiên cứu về hòa hợp kế toán đã được thực hiện với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH vẫn chưa được nghiên cứu tại Việt Nam, thêm vào đó là sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm và sự đặc thù trong kế toán ngành bảo hiểm mà đề tài nghiên cứu này được chọn lựa để thực hiện
Trang 24CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ngay từ các công trình nghiên cứu đầu tiên về hòa hợp kế toán trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các khái niệm về hòa hợp kế toán để giải thích và làm rõ cho nội dung nghiên cứu Theo đó, khái niệm về hòa hợp kế toán đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu và được chia là 2 nhóm: (1) hòa hợp thực tế kế toán và (2) hòa hợp CMKT với hòa hợp về mặt trình bày BCTC và hòa hợp về mặt
đo lường
2.1 Hòa hợp kế toán
2.1.1 Khái niệm về hòa hợp, hội tụ kế toán
Hòa hợp (harmonization) là sự kết hợp, sự điều chỉnh của hai hoặc nhiều đối tượng (Van der Tas, 1988, p 157)
Hòa hợp (quá trình) là việc loại bỏ sự đa dạng trong thực tế Vì vậy, hòa hợp (trạng thái) được biểu hiện bằng việc các công ty áp dụng một hoặc một vài phương pháp sẵn có Chuẩn mực hóa (standardization) (quá trình) là việc hướng đến sự đồng nhất (trạng thái) Trạng thái đồng nhất bao gồm việc kết hợp của hòa hợp và việc giảm thiểu số lượng phương pháp hiện có (Tay và Parker, 1990)
Hội tụ là hành động tiến đến một điểm, đặc biệt là hướng đến sự hợp nhất hoặc đồng nhất (Qu và Zhang, 2010)
2.1.2 Hòa hợp CMKT và hòa hợp thực tế kế toán
Theo Van der Tas (1988), Tay và Parker (1990), Qu và Zhang (2010), hòa hợp kế
toán gồm hòa hợp thực tế kế toán (BCTC) và hòa hợp CMKT Hòa hợp CMKT (de
jure harmonizition) là sự hòa hợp giữa các quy định, còn hòa hợp thực tế kế toán
(de facto harmonization) là sự tương đồng của thông tin tài chính khi các công ty sử
dụng các tiêu chuẩn kế toán giống hay khác nhau
2.1.3 Hòa hợp về trình bày thông tin và hòa hợp về đo lường
Hòa hợp chuẩn mực liên quan đến mức độ trình bày thông tin hoặc phương pháp
kế toán được áp dụng Hòa hợp về trình bày các thông tin trên BCTC được gọi là hòa hợp về sự trình bày, còn hòa hợp về phương pháp kế toán được gọi là hòa hợp
về đo lường (Van der Tas, 1988, p 158)
Trang 25Tổng hợp từ các khái niệm đã trình bày, hòa hợp kế toán được xem là việc giảm thiểu các khác biệt trong thực tế bằng việc áp dụng một hoặc một vài phương pháp sẵn có, tiến tới trạng thái đồng nhất trong việc áp dụng kế toán trên thế giới Hòa hợp CMKT là sự đồng nhất trong việc áp dụng các nguyên tắc, phương pháp kế toán (hòa hợp về mặt đo lường) và trình bày thông tin (hòa hợp về mặt trình bày) theo một chuẩn mực chung Chuẩn mực chung này có thể được áp dụng toàn bộ hoặc một phần tùy theo điều kiện áp dụng của từng thực thể và được gọi là mức độ hòa hợp CMKT Các quy định kế toán của chuẩn mực chung được một thực thể áp dụng càng nhiều thì mức độ hòa hợp CMKT càng cao và ngược lại
2.1.4 Tiến trình phát triển của hòa hợp kế toán
2.1.4.1 Tiến trình hòa hợp kế toán trên thế giới
Hòa hợp kế toán quốc tế được thực hiện từ những năm 1973 khi IASC được thành lập Từ đó đến nay, nhiều quốc gia đã và đang vận dụng CMKT quốc tế trong các hoạt động kế toán của mình Từ năm 2005, hệ thống IAS/IFRS đã được áp dụng một cách phổ biến ở 65 quốc gia ở Châu Âu, Úc, Nam Phi, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Kết quả điều tra đối với 173 quốc gia của công ty kiểm toán Deloitte (2010) cũng đã cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng CMKT
thực hiện năm 2013 đối với 81 nước gồm các quốc gia trong nhóm G-20 và 61 quốc gia khác, kết quả nhận được là 14/20 nước trong nhóm G-20 yêu cầu áp dụng toàn
bộ chuẩn mực BCTC quốc tế cho thị trường vốn, các nước còn lại trong nhóm G-20 (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Saudi Arab) chỉ áp dụng chuẩn mực BCTC có chọn lọc Nhìn chung, có 70/81 quốc gia được khảo sát áp dụng toàn bộ
tế, pháp luật, văn hóa… của từng quốc gia mà CMKT quốc tế được áp dụng một cách khác nhau, có thể kể đến sự hòa hợp kế toán quốc tế tại một số nước như sau:
- Các nước Châu Âu: bắt đầu dùng IAS/IFRS cho các BCTC hợp nhất từ năm
2005 tại các công ty có niêm yết, ngoài ra các công ty khác cũng được khuyến
Trang 26khích áp dụng Khảo sát của IASB năm 2013 cho thấy có 27 nước thuộc EU yêu cầu áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế cho các công ty niêm yết.
ty tư nhân nước ngoài được phép dùng IFRS để lập BCTC Năm 2008, Mỹ quyết định chính thức về việc áp dụng IAS/IFRS Đến tháng 07/2012, Mỹ xem xét lại toàn bộ quá trình hội tụ trước khi ra quyết định cuối cùng về hội tụ CMKT Mỹ và chuẩn mực BCTC quốc tế nên việc hội tụ giữa hai bộ CMKT này
bị hoãn lại và chưa có kế hoạch nào thực hiện tiếp theo Việc trì hoãn này gây ảnh hưởng đến quá trình hội tụ của một số quốc gia khác như Nhật Bản, Singapore…để theo dõi diễn biến tiếp theo
- Úc: Năm 2005, Ủy ban CMKT Úc (AASB) ban hành Australian GAAP
doanh nghiệp khác đều phải áp dụng IFRS, ngoại trừ những công ty rất nhỏ không niêm yết không bắt buộc phải áp dụng Mặc dù Úc áp dụng toàn bộ IAS/IFRS nhưng vẫn điều chỉnh một số nội dung nhất định để phù hợp với đặc điểm riêng của Úc
xu hướng hội tụ với kế toán quốc tế, CMKT mới của Trung Quốc được thiết lập
doanh nghiệp ở Trung Quốc lập BCTC theo CMKT Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở vận dụng có chọn lọc CMKT quốc tế Tuy nhiên theo thực tế, các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn thực hiện chính sách kế toán doanh nghiệp thay
vì áp dụng theo CMKT đã được ban hành Trước sức ép về việc hội tụ kế toán quốc tế từ các tổ chức quốc tế, Trung Quốc đã xây dựng một lộ trình về hội tụ một cách toàn diện và bắt buộc các doanh nghiệp quy mô lớn phải thực hiện theo CMKT từ năm 2012
hợp với đặc điểm riêng của từng nước Bên cạnh đó, cũng có quốc gia như
Trang 27Phillipines…đã chấp nhận áp dụng toàn bộ IAS/IFRS và hầu như không có bất
kỳ điều chỉnh nào
2.1.4.2 Tiến trình hòa hợp kế toán tại Việt Nam
CMKT Việt Nam được ban hành từ những năm 2000 đến năm 2005 và được xây dựng dựa trên cơ sở CMKT quốc tế theo nguyên tắc chọn lọc, phù hợp với đặc điểm kinh tế của Việt Nam và tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao tính minh bạch, có thể so sánh được của BCTC và hướng đến hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã ban hành 26 CMKT (Phụ lục 1), tuy nhiên, các chuẩn mực này vẫn chưa thực sự hòa hợp cũng như chưa cập nhật những thay đổi của CMKT quốc tế Do đó, giữa VAS và IAS/IFRS còn tồn tại những điểm khác biệt, trong đó chủ yếu là sự khác nhau trong vấn đề sử dụng các xét đoán, ước tính đối với khai báo thông tin và
cơ sở đo lường tài sản theo giá trị hợp lý Để tiến tới hội tụ với kế toán quốc tế, Bộ Tài Chính đã triển khai kế hoạch về hoàn thiện khung pháp lý của chuẩn mực BCTC bằng việc xây dựng đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam cũng như sửa đổi, ban hành VAS/chuẩn mực BCTC Việt Nam theo các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 2017 – 2018: Soạn thảo nội dung cho VAS/chuẩn mực BCTC Việt Nam, thảo luận lấy ý kiến đóng góp về các nội dung dự thảo, đồng thời khảo sát
về khả năng áp dụng và các yếu tố tác động đến việc áp dụng vào thực tế Sau
đó, một số đơn vị sẽ được lựa chọn để thí điểm
- Giai đoạn 2018 – 2020: Một số CMKT đơn giản và phù hợp với điều kiện của Việt Nam sẽ được lựa chọn để áp dụng cho tất cả đơn vị có lợi ích công chúng
từ năm 2020 Trong giai đoạn này, văn bản hướng dẫn thực hiện CMKT sẽ được ban hành
- Giai đoạn 2020 – 2023: Một số CMKT khác được công bố và yêu cầu tuân thủ kèm theo các văn bản hướng dẫn có liên quan Các đơn vị không có lợi ích công chúng nhưng đủ điều kiện áp dụng CMKT mới cũng được khuyến khích sử dụng
Trang 28- Giai đoạn 2023 – 2025: CMKT mới được yêu cầu tuân thủ toàn bộ CMKT mới
sẽ được cập nhật, sửa đổi bổ sung hàng năm theo sự điều chỉnh của quốc tế
2.2 CMKT quốc tế về HĐBH
2.2.1 Quá trình phát triển
IFRS 4
IFRS 4 Hợp đồng bảo hiểm áp dụng cho các HĐBH (bao gồm cả hợp đồng tái
bảo hiểm) do một doanh nghiệp phát hành và các hợp đồng tái bảo hiểm mà nó nắm giữ Theo dự án nghiên cứu chuyên sâu của IASB về HĐBH, IFRS 4 đưa ra những miễn trừ tạm thời từ các quy định của một số IFRS khác, bao gồm yêu cầu cân nhắc
IAS 8 Chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và các sai sót khi lựa chọn các
chính sách kế toán cho HĐBH IASB ban hành IFRS 4 do nhận thấy nhu cầu cấp thiết về các nguyên tắc ghi nhận, đo lường và trình bày HĐBH cho các công ty niêm yết tại châu Âu và những nơi khác năm 2005
IFRS 4 (giai đoạn 1) được ban hành vào tháng 03/2004 và được áp dụng từ ngày 01/01/2005, IFRS 4 sẽ được thay thế bởi IFRS 17 (giai đoạn 2) kể từ ngày 01/01/2021
Quá trình phát triển của IFRS 4 (giai đoạn 1):
- Ngày 01/04/2001: việc thực hiện dự án nghiên cứu chuyên sâu về HĐBH được chuyển từ IASC sang IASB
- Tháng 05/2002: dự án nghiên cứu về HĐBH ngắn hạn được tách ra khỏi dự án nghiên cứu chuyên sâu
- Ngày 31/07/2003: bản dự thảo về HĐBH được ban hành
- Ngày 31/03/2004: IFRS 4 Hợp đồng bảo hiểm được ban hành, có hiệu lực kể từ
ngày 01/01/2005
- Ngày 18/08/2005: được sửa đổi bởi Các hợp đồng bảo đảm tài chính (điều chỉnh
theo IAS 39 và IFRS 4), có hiệu lực từ ngày 01/01/2006
- Ngày 12/09/2016: được sửa đổi do việc áp dụng IFRS 4 Hợp đồng bảo hiểm và IFRS 9 Công cụ tài chính Nội dung được điều chỉnh có hiệu lực từ ngày
01/01/2018
Trang 29- Ngày 18/05/2017: IFRS 17 được ban hành và sẽ thay thế IFRS 4
IFRS 17
IFRS 17 quy định các nguyên tắc về ghi nhận, đo lường, trình bày HĐBH Mục tiêu của IFRS 17 là để đảm bảo các doanh nghiệp cung cấp thông tin về HĐBH một cách phù hợp và được phản ánh trung thực Các thông tin này là cơ sở để người dùng BCTC đánh giá được hiệu quả về tài chính và dòng tiền mà HĐBH mang lại IFRS 17 được ban hành vào tháng 05/2017 và có hiệu lực chính thức kể từ ngày 01/01/2021
Quá trình phát triển của IFRS 17 (giai đoạn 2):
- Tháng 09/2001: việc xây dựng IFRS 17 được đưa vào chương trình làm việc của IASB
- Tháng 09/2004: bắt đầu thực hiện dự án bằng việc chỉ định nhóm nghiên cứu xây dựng nội dung
- Ngày 03/05/2007: tài liệu thảo luận Quan điểm sơ bộ về hợp đồng bảo hiểm được
phát hành
- Ngày 30/07/2010: bản dự thảo số ED/2010/8 Hợp đồng bảo hiểm được phát hành
- Quý 04/2010: các hội thảo về HĐBH được tổ chức
- Ngày 20/06/2013: bản dự thảo số ED/2013/7 Hợp đồng bảo hiểm được phát hành
- Ngày 18/05/2017: IFRS 17 Hợp đồng bảo hiểm được ban hành và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2021
2.2.2 Nội dung IFRS 4
Nội dung IFRS 4 được quy định theo 5 mục chính, bao gồm: mục tiêu, phạm vi, ghi nhận và đo lường, trình bày, ngày hiệu lực và chuyển đổi
Mục tiêu
Mục tiêu của IFRS 4 là để cụ thể hóa HĐBH trên BCTC của các công ty bảo hiểm cho đến khi IASB hoàn thiện giai đoạn 2 về CMKT cho HĐBH với những quy định về xử lý kế toán, lý giải và hỗ trợ người dùng hiểu được những khoản mục
phát sinh từ HĐBH trên BCTC
Phạm vi
Trang 30IFRS 4 áp dụng cho tất cả HĐBH (gồm cả các hợp đồng tái bảo hiểm) mà một doanh nghiệp phát hành và các HĐBH mà doanh nghiệp đó nắm giữ (IFRS 4.2) Chuẩn mực này không áp dụng cho các tài sản và nợ khác của DNBH, ví dụ như tài
sản và nợ tài chính được quy định trong IAS 39 Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo
lường (IFRS 4.3)
Năm 2005, IASB đã sửa đổi phạm vi của IAS 39 bao gồm các hợp đồng bảo lãnh tài chính được phát hành Tuy nhiên, nếu một công ty phát hành hợp đồng bảo lãnh tài chính xem đây là HĐBH và đã áp dụng phương pháp kế toán của HĐBH cho các hợp đồng bảo lãnh tài chính thì công ty phát hành có thể lựa chọn áp dụng IAS 39 hoặc IFRS 4 cho các hợp đồng bảo lãnh tài chính (IFRS 4.4d)
Mục này cũng đưa ra khái niệm của HĐBH là loại hợp đồng mà một bên (DNBH) chấp nhận rủi ro bảo hiểm đáng kể từ một bên khác (chủ hợp đồng) bằng việc đồng ý bồi thường cho chủ hợp đồng nếu một sự kiện không chắc chắn trong tương lai (sự kiện được bảo hiểm) xảy ra gây ảnh hưởng bất lợi đến chủ hợp đồng (IFRS 4 Phụ lục A)
Ghi nhận và đo lường
Về các chính sách kế toán, IFRS 4 loại trừ tạm thời theo một số yêu cầu từ các IFRS khác cho đến khi giai đoạn 2 của dự án về HĐBH được hoàn thành, bao gồm
cả yêu cầu về cân nhắc IAS 8 Chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và các
sai sót trong việc lựa chọn phương pháp kế toán cho các HĐBH (IFRS 4.13) Tuy
nhiên, theo đoạn 14 của IFRS 4, chuẩn mực này:
- Cấm các điều khoản về yêu cầu bồi thường có khả năng phát sinh theo trách nhiệm hợp đồng nhưng không tồn tại tại ngày báo cáo, ví dụ như các điều khoản
về thảm họa (như rủi ro về động đất, hạt nhân…) và điều khoản về cân bằng giữa biến động chi phí yêu cầu bồi thường và giá trị yêu cầu bồi thường mong đợi đối với một số loại hình bảo hiểm (như bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm lòng trung thành…)
- Yêu cầu kiểm tra tính đầy đủ của các khoản nợ bảo hiểm đã được ghi nhận và kiểm tra về sự giảm giá trị của các tài sản tái bảo hiểm
Trang 31- Yêu cầu DNBH giữ nguyên các khoản nợ bảo hiểm trong bảng cân đối kế toán cho đến khi chúng được thanh toán hết hay được hủy bỏ, hết hạn và cấm việc bù trừ các khoản nợ bảo hiểm vào các tài sản tái bảo hiểm có liên quan, cũng như không cho phép bù trừ thu nhập hay chi phí từ các hợp đồng tái bảo hiểm vào chi phí hay thu nhập từ các HĐBH có liên quan
Về các thay đổi trong chính sách kế toán, IFRS 4 không cho phép các DNBH thay đổi chính sách kế toán về HĐBH, trừ khi BCTC thể hiện thông tin thích hợp hơn và không làm giảm độ tin cậy, hoặc đáng tin cậy hơn và không làm giảm tính thích hợp (IFRS 4.22) Cụ thể là DNBH không thể trình bày các phương pháp dưới đây mặc dù nó có thể sử dụng chính sách kế toán quy định các phương pháp này:
- Xác định các khoản nợ bảo hiểm theo cơ sở không chiết khấu
- Xác định quyền lợi hợp đồng đối với các chi phí quản trị đầu tư trong tương lai theo một giá trị vượt quá giá trị hợp lý khi so sánh với chi phí dựa trên giá trị thị trường cho các dịch vụ tương tự
- Sử dụng các chính sách kế toán không đồng nhất cho các khoản nợ bảo hiểm của công ty con
Hơn nữa, IFRS 4 cho phép áp dụng một chính sách kế toán liên quan đến việc tính lại các khoản nợ bảo hiểm một cách nhất quán tại mỗi thời kỳ để phản ánh lãi suất thị trường hiện hành (nếu DNBH lựa chọn các ước tính hiện tại và các giả định khác) Nếu không có sự cho phép này, DNBH phải áp dụng thay đổi trong chính sách kế toán một cách nhất quán cho tất cả các khoản nợ tương tự (IFRS 4.24) Liên quan đến tính thận trọng, DNBH không cần thay đổi chính sách kế toán cho các HĐBH để làm giảm sự thận trọng Tuy nhiên, nếu DNBH đã ghi nhận các HĐBH với tính thận trọng vừa đủ thì không cần thiết phải gia tăng mức độ thận trọng (IFRS 4.26)
Đối với tỷ suất đầu tư trong tương lai, có giả định rằng BCTC của DNBH sẽ trở nên ít thích hợp và đáng tin cậy hơn nếu nó áp dụng chính sách kế toán phản ánh tỷ suất đầu tư trong tương lai trong việc tính toán các HĐBH (IFRS 4.27)
Trang 32Ngoài ra, khi DNBH thay đổi chính sách kế toán đối với các khoản nợ bảo hiểm,
nó có thể tái phân loại một số hay tất cả các tài sản tài chính theo giá trị hợp lý vào lời hoặc lỗ (IFRS 4.45)
- Làm rõ khả năng ứng dụng của phương pháp được đặt là “phương pháp kế toán điều chỉnh” (shadow accounting) (IFRS 4.30)
- Cho phép việc trình bày thông tin đối với các HĐBH thu được từ hợp nhất kinh doanh hoặc chuyển giao hợp đồng (IFRS 4.31-33)
- Đưa ra những khía cạnh giới hạn đối với các phần không đảm bảo được bao gồm trong HĐBH hoặc công cụ tài chính (IFRS 4.34-35)
Trình bày
Chuẩn mực này yêu cầu về việc trình bày:
- Các thông tin giúp người dùng hiểu các khoản mục trong BCTC của DNBH phát sinh từ HĐBH (IFRS 4.36-37)
- Các thông tin giúp người dùng đánh giá được bản chất và mức độ rủi ro phát sinh
từ các HĐBH (IFRS 4.38-39)
Ngày hiệu lực và chuyển đổi
Phần này quy định việc áp dụng IFRS 4 từ ngày 01/01/2005, các sửa đổi về hợp đồng bảo lãnh tài chính được áp dụng từ ngày 01/01/2006 và một số điều chỉnh khác về nội dung và thời gian hiệu lực
2.2.3 Nội dung IFRS 17
Phạm vi
Một doanh nghiệp phải áp dụng IFRS 17 Hợp đồng bảo hiểm đối với: (IFRS
17.3)
Trang 33- Các HĐBH, bao gồm cả hợp đồng tái bảo hiểm mà doanh nghiệp đó phát hành;
- Các hợp đồng tái bảo hiểm mà doanh nghiệp đó nắm giữ;
- Các hợp đồng đầu tư có phần không đảm bảo mà doanh nghiệp đó phát hành, miễn là doanh nghiệp này cũng phát hành HĐBH
Một số hợp đồng thỏa định nghĩa của HĐBH nhưng cung cấp dịch vụ với một mức phí cố định Loại hợp đồng này thuộc phạm vi của IFRS 17, trừ khi doanh
nghiệp lựa chọn áp dụng IFRS 15 Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng cũng như
thỏa các điều kiện sau: (IFRS 17.8)
- Doanh nghiệp này không thể hiện phần đánh giá rủi ro liên quan đến từng khách hàng khi định giá hợp đồng cho khách hàng đó;
- Hợp đồng sẽ bồi thường cho khách hàng bằng cách cung cấp dịch vụ thay vì thanh toán bằng tiền mặt cho khách hàng;
- Rủi ro bảo hiểm được chuyển giao từ hợp đồng phát sinh từ việc sử dụng dịch vụ của khách hàng thay vì phát sinh từ những sự kiện không chắc chắn
Các phần tách biệt với HĐBH
Một HĐBH có thể chứa một hay nhiều phần thuộc phạm vi của chuẩn mực khác nếu chúng là các hợp đồng riêng biệt Ví dụ, một HĐBH có thể bao gồm phần đầu
tư hay phần dịch vụ (hoặc cả hai) (IFRS 17.10)
IFRS 17 đưa ra các tiêu chuẩn để xác định khi nào thì thành phần không thuộc bảo hiểm (non-insurance component) tách biệt với HĐBH gốc
Mức độ tổng quát
IFRS 17 yêu cầu các doanh nghiệp xác định danh mục những HĐBH theo các rủi
ro giống nhau và được quản lý cùng nhau Các hợp đồng thuộc một dòng sản phẩm được kỳ vọng là có cùng rủi ro và do đó được xếp vào cùng một danh mục nếu chúng được quản lý chung (IFRS 17.14)
Mỗi danh mục HĐBH được phân chia tối thiểu như sau: (IFRS 17.16)
- Một nhóm các hợp đồng có rủi ro tại thời điểm ghi nhận ban đầu;
- Một nhóm các hợp đồng không có khả năng cao về phát sinh rủi ro tại thời điểm ghi nhận ban đầu;
Trang 34 Ghi nhận
Doanh nghiệp phải ghi nhận một nhóm các HĐBH mà nó phát hành vào: (IFRS 17.25)
- Thời điểm bắt đầu hiệu lực bảo hiểm của nhóm các hợp đồng này;
- Hạn thanh toán khi một chủ hợp đồng trong nhóm này thanh toán lần đầu tiên;
- Khi nhóm này phát sinh rủi ro đối với nhóm gồm các hợp đồng có rủi ro
- Tỷ suất dịch vụ theo hợp đồng (contractual service margin – CSM)
Doanh nghiệp phải gộp tất cả dòng tiền tương lai của mỗi hợp đồng trong nhóm Doanh nghiệp phải ước tính dòng tiền tương lai ở mức độ tổng quát cao hơn và sau
đó phân bổ dòng tiền thực hiện đã tính được cho mỗi nhóm hợp đồng riêng biệt (IFRS 17.33)
Tỷ lệ chiết khấu
Tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho ước tính dòng tiền phải: (IFRS 17.36)
- Giá trị thời gian của tiền, các đặc trưng của dòng tiền và các đặc điểm thanh khoản của HĐBH;
Trang 35- Nhất quán với giá trị thị trường hiện hành có thể quan sát được (nếu có) của các công cụ tài chính với các đặc điểm về dòng tiền nhất quán với đặc điểm dòng tiền của HĐBH; và
- Loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến giá trị thị trường có thể quan sát được này nhưng không tác động đến dòng tiền tương lai của HĐBH
Phương pháp điều chỉnh rủi ro cho rủi ro phi tài chính
Ước tính về giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai được điều chỉnh nhằm phản ánh khoản tiền bồi thường và thời gian của dòng tiền trong tương lai phát sinh từ rủi
ro phi tài chính đối với sự kiện không chắc chắn (IFRS 17.37)
Tỷ suất dịch vụ theo hợp đồng
Tỷ suất dịch vụ theo hợp đồng thể hiện lợi nhuận chưa thực hiện của nhóm các HĐBH mà DNBH sẽ ghi nhận khi cung cấp dịch vụ trong tương lai Tỷ suất này được tính toán vào thời điểm ghi nhận ban đầu của nhóm các HĐBH, trừ khi nhóm hợp đồng này có rủi ro, bằng một khoản mà không phải là thu nhập hay chi phí phát sinh từ: (IFRS 17.38)
- Thời điểm ghi nhận ban đầu của dòng tiền thực hiện;
- Việc ghi nhận lại tại ngày mà bất kỳ tài sản hay khoản nợ nào đã được ghi nhận vào dòng tiền mua bảo hiểm;
- Bất kỳ dòng tiền nào phát sinh từ các hợp đồng trong nhóm này
Các hợp đồng có rủi ro
Một HĐBH có rủi ro tại thời điểm ghi nhận ban đầu nếu tổng dòng tiền thực hiện, bất kỳ dòng tiền đã được ghi nhận trước đây và bất kỳ dòng tiền phát sinh từ hợp đồng này tại ngày đó là dòng tiền ra ròng Doanh nghiệp phải ghi nhận tổn thất vào lợi nhuận hoặc lỗ cho dòng tiền ra ròng, dẫn đến giá trị sổ sách của khoản nợ này bằng với dòng tiền thực hiện và tỷ suất dịch vụ theo hợp đồng là 0 (IFRS 17.47)
Các hợp đồng đầu tư có phần không đảm bảo
Hợp đồng đầu tư có phần không đảm bảo là một công cụ tài chính và nó không
có rủi ro bảo hiểm đáng kể hay chuyển đổi Nó thuộc phạm vi của IFRS 17 chỉ khi
Trang 36DNBH cũng phát hành HĐBH Các quy định của chuẩn mực này được sửa đổi cho những hợp đồng đầu tư này (IFRS 17.71)
Các hợp đồng tái bảo hiểm đang nắm giữ
Các quy định của chuẩn mực này được sửa đổi cho những hợp đồng tái bảo hiểm đang nắm giữ
Đối với việc ước tính giá trị hiện tại của dòng tiền kỳ vọng trong tương lai cho các hợp đồng tái bảo hiểm, DNBH sử dụng các giả định nhất quán với các giả định được dùng cho HĐBH trực tiếp có liên quan Hơn nữa, các ước tính cũng bao gồm rủi ro không thực hiện của công ty tái bảo hiểm (IFRS 17.63)
Việc điều chỉnh rủi ro cho rủi ro phi tài chính được ước tính nhằm thể hiện sự chuyển đổi của rủi ro từ chủ hợp đồng tái bảo hiểm cho công ty tái bảo hiểm (IFRS 17.64)
Trình bày trong báo cáo tình hình tài chính
DNBH phải trình bày trong báo cáo tình hình tài chính một cách riêng biệt giá trị
sổ sách của các nhóm: (IFRS 17.78)
- HĐBH đã phát hành là tài sản;
- HĐBH đã phát hành là các khoản nợ;
- Hợp đồng tái bảo hiểm đang nắm giữ là tài sản;
- Hợp đồng tái bảo hiểm đang nắm giữ là các khoản nợ
Trình bày trong báo cáo hiệu quả tài chính
DNBH phải tách các khoản mục đã được ghi nhận trong báo cáo hiệu quả tài chính thành: (IFRS 17.80)
- Kết quả dịch vụ bảo hiểm, gồm doanh thu bảo hiểm và chi phí dịch vụ bảo hiểm;
- Doanh thu hay chi phí tài chính bảo hiểm
Doanh thu hay chi phí từ hợp đồng tái bảo hiểm đang nắm giữ phải được trình bày tách biệt với chi phí hay doanh thu từ HĐBH đã phát hành (IFRS 17.82)
Kết quả dịch vụ bảo hiểm
DNBH phải trình bày doanh thu phát sinh từ các nhóm HĐBH đã phát hành và chi phí dịch vụ bảo hiểm phát sinh từ một nhóm HĐBH đã phát hành (bao gồm các
Trang 37yêu cầu bảo hiểm phát sinh và các chi phí dịch vụ bảo hiểm phát sinh khác) vào lời hoặc lỗ Doanh thu và chi phí dịch vụ bảo hiểm phải loại trừ các khoản đầu tư DNBH không được đưa phí bảo hiểm vào lời hoặc lỗ, nếu thông tin đó không nhất quán với doanh thu được trình bày (IFRS 17.83-85)
Doanh thu hay chi phí tài chính bảo hiểm
Doanh thu hay chi phí tài chính bảo hiểm gồm sự thay đổi trong giá trị sổ sách của nhóm HĐBH phát sinh từ: (IFRS 17.87)
- Tác động của giá trị thời gian của tiền và những thay đổi trong giá trị thời gian của tiền; và
- Tác động của những thay đổi trong các giả định liên quan đến rủi ro tài chính; nhưng
- Loại trừ những thay đổi của các nhóm HĐBH với HĐBH tham gia trực tiếp mà điều chỉnh tỷ suất dịch vụ theo hợp đồng
Doanh nghiệp được lựa chọn chính sách kế toán giữa việc gộp tất cả doanh thu/chi phí tài chính bảo hiểm trong một thời kỳ vào lời hoặc lỗ, hay phân tách thành một khoản vào lời/lỗ và một khoản vào thu nhập tổng quát khác (IFRS 17.88-90)
Trình bày
DNBH phải trình bày các thông tin định tính và định lượng về: (IFRS 17.93)
- Các khoản được ghi nhận trong BCTC phát sinh từ HĐBH;
- Các phán đoán quan trọng và những thay đổi trong các phán đoán đó khi áp dụng IFRS 17;
Trang 38được sửa đổi, bổ sung lần nào để cập nhật kịp thời những điều chỉnh của IFRS 4/IFRS 17
2.3.2 Nội dung VAS 19
VAS 19 được trình bày theo hai mục chính là quy định chung và nội dung chuẩn mực Trong đó, phần “Quy định chung” bao gồm mục đích, phạm vi của chuẩn mực
các phương pháp kế toán đối với HĐBH và trình bày số liệu trên BCTC của DNBH Phần “Nội dung chuẩn mực” thể hiện những quy định chi tiết đối với HĐBH, bao gồm các quy định về:
- Công cụ phái sinh
- Công khai khoản tiền đặt cọc
- Đánh giá và ghi nhận
- Trình bày BCTC
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương này đề cập đến các khái niệm về hòa hợp và hội tụ kế toán, hòa hợp thực
tế kế toán và hòa hợp CMKT, hòa hợp về đo lường và hòa hợp về trình bày thông tin Bên cạnh đó, lịch sử phát triển của hòa hợp kế toán quốc tế và Việt Nam cũng được trình bày một cách tổng quan Theo đó, việc vận dụng CMKT quốc tế đang được thực hiện ở nhiều quốc gia như các nước Châu Âu, Mỹ, Úc, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam)…Tuy nhiên, việc áp dụng này được thực hiện trên cơ sở chọn lọc để xây dựng hệ thống CMKT phù hợp với từng đặc điểm của mỗi quốc gia
Các yếu tố tác động đến việc ban hành và vận dụng CMKT quốc tế cũng được nhắc đến trong chương này bao gồm: hội nhập kinh tế, pháp luật, văn hóa, hỗ trợ của nhà quản trị và trình độ chuyên môn Chính vì sự ảnh hưởng của các yếu tố này
mà IAS/IFRS được áp dụng tại từng quốc gia một cách có chọn lọc để phù hợp với các đặc trưng về nền kinh tế và mô hình quản lý, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Ngoài ra, tiến trình phát triển và nội dung tóm lược của CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH (bao gồm IFRS 4, IFRS 17 và VAS 19) cũng được trình bày trong chương này nhằm mang đến một cái nhìn cơ bản về nội dung của các bộ chuẩn mực này trước khi tiến hành nghiên cứu ở các chương sau
Trang 40CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu mức độ hòa hợp CMKT, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng như: kiểm định ANOVA của Friedman (Nair và Frank, 1981); phương pháp nghiên cứu định tính bằng việc xem xét BCTC (Evans và Taylor, 1982); chỉ số H,
C, I (Van der Tas, 1988); phương pháp phân tích đa khác biệt và khoảng cách Mahalonobis (Rahman và cộng sự, 1996); hệ số JACC có điều chỉnh, chỉ số ABSE, chỉ số DIV, khoảng cách AD (Yu và Qu, 2009)…Đề tài này vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính và hệ số JACC có điều chỉnh, chỉ số ABSE, chỉ số DIV và khoảng cách AD theo nghiên cứu của Yu và Qu, 2009 để đo lường mức độ hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH (IFRS 4 và VAS 19)
IFRS 4 được xem là nền tảng để xây dựng VAS 19 nên có sự tương đồng về các quy định kế toán Trong khi đó, IFRS 17 được thiết lập và ban hành để thay thế IFRS 4 nên các nội dung giữa hai CMKT này đã có những khác biệt rõ rệt nên nội dung giữa IFRS 17 và VAS 19 cũng sẽ có những khác nhau đáng kể, nếu đo lường mức độ hòa hợp giữa hai CMKT này sẽ rất khập khiễng Vì vậy, VAS 19 và IFRS 4
là hai bộ CMKT được tập trung nghiên cứu để xem xét các nội dung giống nhau và khác nhau để từ đó đối chiếu với IFRS 17 và đưa ra những nhận định, giải pháp điều chỉnh, ban hành nội dung thích hợp
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng để tính toán sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế và CMKT Việt Nam về HĐBH
Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được dùng để so sánh các nguyên tắc, phương pháp kế toán của hai CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH Theo đó, nội dung của hai bộ chuẩn mực được phân tích chi tiết nhằm nhận diện các thông tin đặc trưng trong các văn bản nghiên cứu và được phân làm hai nhóm hòa hợp: hòa hợp về mặt trình bày BCTC và hòa hợp về mặt đo lường theo mô hình tại hình 3.1: