1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả hoạt động của tập đoàn dầu khí việt nam đến năm 2035

83 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trước tình hình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra phải đổi mới hơn nữa về m

Trang 1

PHẠM VĂN TIẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN

DẦU KHÍ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2035

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018

Trang 2

PHẠM VĂN TIẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN

DẦU KHÍ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2035

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ ANH TUẤN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện Các kết quả nghiên cứu chưa được công bố bất kỳ ở đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Học viên cao học

Phạm Văn Tiến

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 9

1.1 Khái niệm và thước đo hiệu quả hoạt động của DNNN 9

1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN 13

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN 19

1.3.1 Quản lý nhà nước 19

1.3.2 Quản trị và kiểm tra, giám sát 20

1.3.3 Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM 30

2.1 Khái quát về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 30

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và lĩnh vực hoạt động 30

2.1.3 Hoạt động kinh doanh, đầu tư 32

Trang 5

2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 37

2.3 Đánh giá hiệu quả chính trị, xã hội của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 45

2.3.1 Đóng góp vào ổn định kinh tế vĩ mô 45

2.3.2 Đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia 46

2.3.3 Tham gia bảo đảm an ninh, chủ quyền lãnh hải 47

2.3.4 Là đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế 48

2.3.5 Đóng góp cho hoạt động an sinh, xã hội 48

2.4 Công tác quản trị và đổi mới khoa học công nghệ 50

2.4.1 Công tác quản lý nhà nước đối với PVN 51

2.4.2 Hệ thống quản trị và hệ thống kiểm tra, giám sát PVN 54

2.4.3 Đổi mới khoa học công nghệ 57

2.5 Đánh giá kết quả đạt được và hạn chế 61

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM 63

3.1 Định hướng phát triển của PVN, ngành dầu khí đến năm 2035 63

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 65

3.2.1 Các giải pháp về nâng cao hiệu quả kinh tế 65

3.2.1.1 Giải pháp cải cách công tác quản lý nhà nước 65

3.2.1.2 Giải pháp đối với hệ thống quản trị và hệ thống kiểm tra, giám sát 66

3.2.1.3 Giải pháp đổi mới khoa học, công nghệ cho PVN 68

3.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả về mặt chính trị, xã hội 69

KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

PVN Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả hoạt động 11

Bảng 1.2: Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả chính trị, xã hội 12

Bảng 1.3: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hệ thống quản trị doanh nghiệp 24

Bảng 2.1: Tìm kiếm thăm dò và trữ lượng dầu khí 33

Bảng 2.2: Các sự cố khi khác thác dầu khí 34

Bảng 2.3: Các mỏ dầu khí đầu tư gặp rủi ro trong đầu tư tại nước ngoài 34

Bảng 2.4: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2017 của PVN 38

Bảng 2.5 : Kết quả kinh doanh chi tiết theo từng lĩnh vực hoạt động 41

Bảng 2.6: So sánh qui mô và hiệu quả của PVN và một số tập đoàn dầu khí tiêu biểu quốc tế 43

Bảng 2.7: Kế hoạch sản lượng sản xuất của PVN năm 2017 45

Bảng 2.8: So sánh thu nhập của người lao động từ PVN và các Tập đoàn Dầu khí quốc tế 49

Bảng 2.9: Các nội dung can thiệp vào PVN từ Chính phủ 51

Bảng 2.10: Các cơ quan tham gia quản lý PVN 52

Bảng 2.11: Hệ thống quản trị của PVN 54

Bảng 2.12: Các cơ quan tham gia kiểm tra, giám sát PVN 57

Bảng 2.13: Các bể trầm tích dầu khí ở Việt Nam 59

Bảng 3.1: Các quyết định liên quan đến chiến lược phát triển PVN 63

Biểu đồ 2.1: Tỉ trọng sử dụng dầu khí so với tổng năng lượng sử dụng của thế giới 36

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của PVN: 31

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trước tình hình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra phải đổi mới hơn nữa về mô hình kinh tế, quản lý kinh tế nhà nước, phát triển các yếu tố thị trường, đặc biệt việc đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để DNNN đứng vững, phát triển mạnh đáp ứng nhiệm

vụ của Đảng đề ra là nòng cốt để nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ

mô và mở đường, dẫn dắt, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển Quá trình đổi mới, sắp xếp thực tế đã thực hiện nhiều năm nay thông qua việc cổ phần hóa các DNNN, tuy nhiên bối cảnh hiện tại đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn, sâu rộng hơn, không chỉ là việc thực hiện chuyển đổi về mặt sở hữu mà còn là quá trình cải cách về quản lý nhà nước, quản trị, khoa học công nghệ để đảm bảo nâng cao năng lực cạnh tranh, tích lũy nguồn lực để đạt hiệu quả cao

Theo Nghị quyết 41 của Bộ Chính Trị, trong những năm qua ngành dầu khí đã không ngừng phát triển, trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng Tập đoàn dầu khí Việt Nam là đơn vị chủ lực của ngành dầu khí, đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện chiến lược biển của Việt Nam, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng được đội ngũ lao động có trình độ, chuyên môn cao, năng động sáng tạo Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, đóng góp lớn, trong quá trình hoạt động, vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém như: Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý theo mô hình Tập đoàn kinh tế công nghiệp - thương mại - tài chính đã để xảy ra tình trạng đầu tư, phân tán, dàn trải, hiệu quả thấp, thua lỗ, lãng phí, thất thoát Phát triển mỏ ở các vùng nước sâu, xa bờ còn hạn chế, đầu tư ra nước ngoài hiệu quả chưa cao, quy mô

và tiềm lực tài chính của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chưa đủ mạnh, sự tham gia của các thành phần kinh tế khác ở trong nước vào ngành dầu khí còn hạn chế, sự

Trang 9

phát triển của ngành còn chậm so với mục tiêu đề ra, năng lực điều hành và khả năng kinh doanh còn hạn chế so với một số nước trong khu vực

Đã có nhiều nghiên cứu về cải cách, đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và nghiên cứu về các đơn vị trong ngành dầu khí, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào về nâng cao cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Do vậy, căn cứ vào chủ trương mới của Đảng về đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN; căn cứ về vai trò của Tập đoàn dầu khí với ngành dầu khí, sự đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và những tồn tại, hạn chế, yếu kém;

căn cứ vào khoảng trống của các nghiên cứu trước đây tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2035” làm đề

tài luận văn thạc sĩ vì nó có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn là giải quyết nhu cầu cấp bách hiện nay về đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả của DNNN nói chung và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nói riêng

2 Tổng quan các nghiên cứu

- Trần Vũ Hà Xuyên (2017),: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa tại TP Hồ Chí Minh”

Luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh doanh thương mại, Đại học kinh tế TP.HCM Nghiên cứu này đề cập ở khía cạnh vi mô, quản trị doanh nghiệp, và hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường bằng kết quả kinh doanh cụ thể chỉ số tài chính là mức sinh lợi trên tài sản và mức sinh lợi trên vốn cổ phần, phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp sau cổ phần hóa tại TP.HCM

- Đoàn Ngọc Phúc (2014),: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế,

chuyên ngành Kinh tế chính trị, Đại học kinh tế TP.HCM Nghiên cứu này đề cập hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường bằng kết quả kinh doanh cụ thể chỉ

số tài chính là mức sinh lợi trên tài sản và mức sinh lợi trên vốn cổ phần Nghiên cứu này có phạm vi và đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp nhà nước sau cổ

Trang 10

phần hóa, được thực hiện trước bối cảnh mới là đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới của Đảng và Nhà nước

- Đinh Thị Thủy Tiên (2008),: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” Luận văn thạc sĩ

kinh tế, chuyên ngành Kinh tế tài chính – Ngân hàng, Đại học kinh tế TP.HCM Nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới vấn đề xử lý tài chính, giai đoạn đầu đổi mới, sắp xếp DNNN, tiến hành cổ phần hóa

- GS.TS Nguyễn Quang Thuấn và đ.t.g (2017) : “Cải cách DNNN ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới: Thực trạng và giải pháp” Sách chuyên khảo Nhà xuất bản

chính trị quốc gia sự thật Cuốn sách đề cập đến: Kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có hoàn cảnh, điều kiện giống như Việt Nam, về địa lý cùng khu vực, văn hóa như: Indoneisia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc; về các nền kinh tế chuyển đổi XHCN như: Nga, các nước Đông Âu, Trung Quốc; về nền kinh tế có cùng thể chế, chế độ chính trị như: Trung Quốc Các nước trên đã có những cải cách thể chế quan trọng để cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả như: cải cách luật và khung pháp lý, cải cách môi trường kinh doanh, cải cách quản lý doanh nghiệp nhà nước, cải cách quản trị doanh nghiệp nhà nước

- Ban Kinh tế Trung Ương (2017): “Đổi mới DNNN và phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay” Tài liệu tham khảo Nhà xuất bản chính trị quốc gia

sự thật Tài liệu là nghiên cứu của tập thể tác giả là các chuyên gia kinh tế, nhà quản

lý, nhà nghiên cứu kinh tế… trong đó trình bày về thực trạng tái cơ cấu DNNN, những thách thức trong quá trình cổ phần hóa hiện nay theo số liệu cập nhật đến năm 2016 và những giải pháp nâng cao hiệu quả DNNN hiện nay

- Daron Acemoglu và James A.Robinson (2012): “Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng, và nghèo đói Tại sao các quốc gia thất bại” Nhà xuất bản Trẻ

Nghiên cứu chỉ ra rằng bí quyết để tăng trưởng kinh tế bền vững và mang lại thịnh vượng cho quốc gia, dân chúng là tăng trưởng kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo hay động lực của thịnh vượng là công nghệ và giáo dục Và để có đổi mới sáng tạo trên

Trang 11

diện rộng thì đòi hỏi phải có cải cách về thể chế để tạo môi trường cho hoạt động đó được phát triển

- Ngân hàng thế giới (2014): “Việt Nam 2035, hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” Báo cáo này được thực hiện bởi Ngân hàng thế giới

phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư, với sự tham gia của các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nước và quốc tế, các nhà chính trị có liên quan của Việt Nam và được Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ngân hàng thế giới chấp thuận năm 2014 Nghiên cứu chỉ ra các điểm tồn tại của nền kinh tế Việt Nam và cần các cải cách kinh tế, thể chế để đạt mục tiêu Việt Nam trở nên thịnh vượng, hiện đại và phát triển bền vững dựa trên các tiêu chí và mục tiêu rõ ràng, cụ thể vào năm 2035 Trong đó, báo cáo cũng chỉ ra để phát triển kinh tế bền vững phải áp dụng công nghệ tiên tiến của thế giới và hướng tới nền kinh tế dựa vào sáng tạo đổi mới, để nâng cao hiệu quả hoạt động thì bên cạnh áp dụng và đổi mới công nghệ, các DNNN phải cải cách về quản trị và quản lý nhà nước

- GS Trần Văn Thọ (2015): “Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam” Nhà xuất

bản Tri Thức Nghiên cứu chỉ ra các điểm hạn chế của nền kinh tế Việt Nam, các cơ hội bị đánh mất, lý giải việc nền kinh tế Việt Nam chưa cất cánh và nhìn nhận các nước thành công trong việc phát triển kinh tế, tận dụng được lợi thế là nước đi sau Đặc biệt, tác giả chỉ ra rằng các yếu tố về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa được phát huy trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước, trong khi các nước như Nhật, Hàn Quốc… quá trình này được chính phủ và doanh nghiệp đều nỗ lực và thực hiện rộng rãi, thành công, là nhân tố quan trọng tạo nền tảng cho nền kinh tế cất cánh và phát triển bền vững

- GS.TS Tạ Ngọc Tấn – PGS.TS Lê Quốc Lý và đ.t.g (2012): “Đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Sách tham khảo, nhà xuất bản

Chính trị quốc gia Đây là một nghiên cứu dưới góc nhìn của các nhà khoa học kinh

tế - chính trị uy tín, các chuyên gia kinh tế, các nhà báo, các học giả, các nhà quản

lý DNNN Trong đó đề cập đến việc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 12

nghĩa ở nước ta nên để thị trường tự do đến đâu và nhà nước can thiệp ở mức nào là hợp lý và đứng ở cầu nối, trung tâm đó là kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng

- GS.TS Nguyễn Đông Phong và đ.t.g (2014) : “Triển vọng kinh tế Việt Nam, thể chế và minh bạch” Sách tham khảo Nhà xuất bản Kinh tế TP.HCM năm Tài

liệu đề cập tới các vấn đề, chính sách kinh tế vĩ mô dưới góc độ thể chế, trong đó có phần đề cập đến việc tái cấu trúc tập đoàn và DNNN, phân tích các chính sách về cải cách DNNN và đưa ra một số kiến nghị chính sách

- PGS.TS.Nguyễn Minh Tuấn :“Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNN trong hội nhập kinh tế quốc tế” Sách tham khảo Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

TP.HCM năm 2010.Tài liệu trình bày lý thuyết và thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNNN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đề ra các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ở Việt Nam

- Phạm Trường Phước (2017): “Đánh giá nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của các Công ty tài chính thuộc kiểm soát Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước tại Việt Nam” Luận văn thạc sĩ chính sách công, Đại học kinh tế TP.HCM,

nghiên cứu đã chỉ ra các công ty tài chính đã có vai trò quản lý tài chính, tư vấn tài chính, điều hòa vốn nội bộ, huy động và thu xếp vốn tạo nguồn lực để cho các DNNN hoạt động, phát triển sản xuất kinh doanh, tuy nhiên các Công ty tài chính lại tham gia đầu cơ vào các lĩnh vực ngoài nhiệm vụ chính như đầu tư tài chính, chứng khoán, bất động sản… nhằm thu lợi nhanh chóng dẫn tới thua lỗ, mất vốn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiệm vụ chính, gây ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các DNNN

- Phạm Quốc Khang (2014): “Phân tích hoạt động đầu tư ngoài lĩnh vực kinh doanh nòng cốt của tập đoàn, tổng công ty nhà nước - Nghiên cứu tình huống Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” Luận văn thạc sĩ chính sách công, Đại học kinh tế

Trang 13

TP.HCM Nghiên cứu này về lĩnh vực đầu tư ngoài ngành và trong phạm vi một số đơn vị dầu khí niêm yết trên sàn chứng khoán

- Phạm Quốc Đạt (2011): “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại tổng công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí” Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại

học kinh tế TP.HCM Nghiên cứu trình bày trong phạm vi là một đơn vị của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực khoan thăm dò, khai thác dầu khí Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh gồm: Đối thủ cạnh tranh; Yếu tố kinh tế; Pháp luật; Khoa học công nghệ; Văn hóa xã hội; Tự nhiên; Sản phẩm dịch vụ; Tổ chức quản lý; Tài chính;…Nghiên cứu này đưa ra các giải pháp như: Nâng cao hiệu quả đầu tư; Đẩy mạnh marketing; Quản trị tài chính; Quản trị nguồn nhân lực; Giảm thiểu rủi ro

Việc tổng quan các nghiên cứu ở trên cho thấy chưa có đề tài nghiên cứu nào trùng với đề tài này

Các nghiên cứu ở trên cũng cho thấy đa dạng các lý thuyết và dữ liệu mà luận văn này có thể kế thừa và hệ thống lại đưa ra khung lý thuyết để đánh giá hoạt động của PVN và đưa ra các cải cách để nâng cao hiệu quả hoạt động của PVN Cụ thể, các nghiên cứu trên mang lại và làm rõ các lý thuyết về quản lý nhà nước trong việc xây dựng hệ thống quản trị, kiểm tra giám sát DNNN và sự can thiệp của nhà nước vào các DNNN làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các DNNN, và đưa ra tình hình thực tế và xu hướng cải cách doanh nghiệp nhà nước trong khu vực và trên thế giới cả về thành công và thất bại mà nước ta cần nhìn nhận và học hỏi, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy xu hướng cải cách mạnh mẽ DNNN trước hết là cải cách về sở hữu hay cổ phần hóa, sau đó sẽ cải cách về quản lý nhà nước và cải cách

về quản trị và kiểm tra, giám sát Đối với việc đổi mới khoa học công nghệ các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đó là vấn đề sống còn và nhân tố cần phải cải cách DNNN trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh gay gắt ở thị trường trong và ngoài nước, nâng cao năng suất lao động để nâng cao hiệu quả hoạt động

Trang 14

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

- Phân tích, đánh giá tình hình và thực trạng về hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thời gian vừa qua

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2035

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: luận văn nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của Tập

đoàn Dầu khí Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đề tài được nghiên cứu ở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Thời gian nghiên cứu của luận văn: các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn

từ năm 2010 đến 2017 và định hướng đến năm 2035

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chính ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học; Phương pháp duy vật biện chứng; Phương pháp thống kê, mô

tả, so sánh, phân tích…

Nguồn số liệu: là nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị TW, Báo cáo, Văn bản của Chính phủ, Bộ ngành liên quan có liên qua đến đề tài nghiên cứu, Báo cáo của Ban đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Tổng cục thống kê, nghiên cứu của các chuyên gia, số liệu từ các đề tài khoa học được công bố các báo cáo của tập đoàn dầu khí và các đơn vị thành viên

6 Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa các lý thuyết, luận văn đưa ra khung lý thuyết để đánh giá về hiệu quả hoạt động từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của một đơn vị chủ lực của một ngành công nghiệp đầy đủ dầu khí, là một

Trang 15

ngành mũi nhọn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia

Luận văn cho thấy rằng, bên cạnh những đóng góp hết sức to lớn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thì vẫn còn những rào cản rất lớn từ phía môi trường hoạt động và làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Từ đó đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải cải cách để nâng cao hiệu quả của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Và đối với các DNNN khác, tùy theo đặc thù hoạt động, ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô hay cơ chế chính sách mà ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, do đó các yêu cầu cải cách cũng cấp bách và các giải pháp cải cách để nâng cao hiệu quả của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thì cũng

có thể áp dụng cho việc cải cách ở các DNNN khác

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, bao gồm 3 chương có kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động của Tập đoàn dầu khí Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn dầu khí Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm và thước đo hiệu quả hoạt động của DNNN

Theo Luật doanh nghiệp 2014 thì Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Luật doanh nghiệp 2005 thì quy định DNNN

là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ

Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII có nêu “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp nhà nước là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư”

Như vậy khái niệm DNNN có sự thay đổi theo từng thời kỳ và tùy vào tình hình kinh tế - xã hội mà xác định mức độ can thiệp của nhà nước vào DNNN đến đâu để nhà nước điều tiết nền kinh tế cũng như cải cách DNNN

Hiệu quả hoạt động của DNNN không chỉ xác định đơn thuần về hiệu quả hoạt động kinh doanh mà còn xác định về hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nêu “ Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả

về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích.”

Đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh, một số nghiên cứu cho rằng:

Trang 17

Theo C.Mác “Giá trị thặng dư, hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó”

Theo tác giả Đoàn Ngọc Phúc (2014) : “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ ra ít nhất

để đạt được kết quả đó”

Theo tác giả Trần Vũ Hà Xuyên (2017): “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các nguồn lực sẵn có nhằm tối đa hóa kết quả hoạt động kinh doanh và tối ưu hóa chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”

Luận văn đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh như sau:

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh năng lực của doanh nghiệp trong việc đạt được thu nhập (đầu ra) cao và tiết kiệm được chi phí (đầu vào) nhiều trong kỳ

Như vậy thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả đạt được về mặt doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, tổng tài sản

Hiệu quả hoạt động kinh tế của DNNN ngoài kết quả về hiệu quả hoạt động kinh doanh đơn thuần còn xét đến các đóng góp về mặt kinh tế cho nền kinh tế quốc dân như đóng góp cho ngân sách nhà nước, đóng góp cho GDP

Đối với hiệu quả về mặt chính trị, xã hội là việc sử dụng các nguồn lực từ hoạt động kinh doanh, các nguồn lực sẵn có liên quan, nguồn lực từ phía nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ mà nhà nước giao để phát triển kinh tế - xã hội như trong Nghị quyết TW có nêu: “Cùng với cơ chế, chính sách của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đối phó với những biến động thị trường; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển

hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội”

Trang 18

Như vậy, Hiệu quả của DNNN phải được xem xét, đánh giá và đo lường trên

cơ sở 3 yếu tố là: Kinh tế, Chính trị, Xã hội

Yếu tố Kinh tế thì được đo lường bằng các kết quả kinh doanh mang lại và việc bảo toàn phát triển vốn nhà nước như: doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tổng tài sản; Đóng góp cho sự phát triển kinh tế nhà nước như đóng góp cho ngân sách quốc gia; Đóng góp cho sự phát triển nền kinh tế như đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Bảng 1.1: Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các văn bản của các bộ, ngành)

Yếu tố Chính trị thì được đo lường bằng việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, then chốt cho nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng, nhận

và thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ mà nhà nước giao để điều tiết vĩ mô nền kinh

tế, phát triển kinh tế vùng, đầu tư các dự án trọng điểm quốc gia, tham gia khai thác dầu thô để bảo vệ chủ quyền, lãnh hải mà các thành phần kinh tế khác không thể thực hiện được, mở đường, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển

Yếu tố Xã hội được đo lường bằng các đóng góp của DNNN cho xã hội như

an sinh xã hội, phát triển cộng đồng, nâng cao đời sống cho người lao động, tạo công ăn, việc làm cho người lao động

Trang 19

Hiệu quả chính trị, xã hội được đánh giá thông qua các tiêu chí:

Bảng 1.2: Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả chính trị, xã hội

1 Ổn định kinh tế vĩ mô Góp phần ổn định giá cả hàng hóa;

Góp phần ổn định tỷ giá;

Góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển kinh tế ;

Góp phần vào tăng trưởng GDP

2 An ninh năng lượng, an ninh

lương thực quốc gia

Đảm bảo và tự chủ cung nguồn dầu, khí, các sản phẩm hóa dầu để phục vụ nhu cầu nội địa và an ninh, quốc phòng;

Cung cấp nguồn vốn để trang bị thiết bị quân sự, an ninh;

Đảm bảo cung cấp nguồn điện để bù đắp lượng điện thiếu hụt, cung cấp nguồn dầu, khí cho dân sinh, cho sản xuất công nghiệp và góp phấn củng cố

an ninh, quốc phòng;

Cung cấp các sản phẩm hóa dầu phục

vụ ngành nông nghiệp để gia tăng sản lượng nông nghiệp bằng chất lượng sản phẩm và giá thành hạ, đảm bảo nguồn cung lương thực góp phần đảm bảo an ninh lương thực

3 An ninh, chủ quyền lãnh hải Phối hợp với các bộ, ngành liên quan

và lực lượng an ninh, quốc phòng để tìm kiếm và thăm dò khai thác dầu khí

ở biển đông, khẳng định chủ quyền

Trang 20

biển đảo, tham gia hỗ trợ cán bộ, chiến

sĩ công tác trên biển về vật chất, tinh thần và phương tiện vũ trang

4 Thúc đẩy phát triển kinh tế và

hội nhập kinh tế quốc tế

Đầu tư các dự án tại các địa bàn khó khăn mà tư nhân không đủ nguồn lực hoặc không muốn tham gia theo chủ trương của Đảng và nhà nước để hình thành các khu công nghiệp hiện đại góp phần phát triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng

Tham gia vào đầu tư tại nước ngoài để khai thác dầu khí tại nước ngoài bổ sung cho nguồn cung nội địa và hợp tác với các tập đoàn dầu khí nước ngoài để tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong nước

5 Hoạt động an sinh, xã hội Tạo công ăn việc làm cho người lao

động, mang lại thu nhập và phúc lợi cho người lao động, các hoạt động an sinh như tài trợ cho các công trình công cộng, các quỹ hỗ trợ cộng đồng…

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các văn bản của các bộ, ngành)

1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

Sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại phát triển của nhân loại nói chung và của doanh nghiệp nói riêng Do sự cạnh tranh quyết liệt buộc doanh nghiệp phải tái sản xuất mở rộng, muốn tái sản xuất mở rộng cần phải tăng thêm số tư bản ứng trước để mua thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Để tái sản

Trang 21

xuất, buộc doanh nghiệp phải có lợi nhuận, lợi nhuận làm ra dùng để tiêu dùng và dùng để tăng tư bản ứng trước hay để tích lũy tư bản

Để nâng cao tỷ suất lợi nhuận thì Mác cho rằng cần phải rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông hàng hóa, nhân tố này đòi hỏi phải có môi trường thuận lợi để phục vụ sản xuất và lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, môi trường đó phải đến từ quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp; Tiết kiệm tư bản bất biển bằng cách sử dụng tài sản cố định với hiệu quả cao nhất, giảm tiêu hao vật tư năng lượng và tận dụng phế liệu, phế phẩm, phế thải, sử dụng vật liệu mới tăng giá trị sản phẩm trong sản xuất, để thực hiện được việc đó không gì khác phải đổi mới khoa học công nghệ

Như vậy, trong lý luận của Mác cho thấy để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận và tăng tỷ suất lợi nhuận thì yêu cầu phải cải thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, không ai khác chính nhà nước sẽ làm tốt vai trò này và tăng năng suất các yếu tố tổng hợp đầu vào không gì khác bằng cách đổi mới khoa học công nghệ

Vấn đề cải cách, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong hơn

20 năm qua luôn được Đảng quan tâm và nêu ra tại các kỳ đại hội Đảng Cải cách, đổi mới không phải chỉ là thu hẹp, xóa bỏ hay phê phán mà là phải nhìn nhận và đánh giá đúng những chức năng, nhiệm vụ, vai trò của DNNN và tình hình kinh tế hiện tại của đất nước để thay đổi mô hình hay phương thức hoạt động cho DNNN

có hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là vừa phải thích nghi và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, vừa phải truyền tải hay thực hiện các nhiệm vụ, các chính sách của Đảng và Nhà nước trong các hoạt động kinh tế và xã hội hay thực hiện các vai trò về chính trị và xã hội

Các quan điểm của Đảng về cải cách, đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN qua các thời kỳ như sau:

- Tại Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991), nêu rõ: “Khẩn trương sắp xếp lại

và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo

Trang 22

trong nền kinh tế” Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), khái niệm kinh tế quốc doanh không được sử dụng nữa mà thay vào đó

là khu vực doanh nghiệp nhà nước Vai trò chủ đạo của khu vực doanh nghiệp Nhà nước “thể hiện ở chỗ mở đường và hỗ trợ cho các thành phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ có sức mạnh vật chất của Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

- Từ Đại hội Đảng lần VIII (năm 1996) trở đi, khái niệm kinh tế Nhà nước đã được sử dụng phổ biến và hoàn toàn thay thế cho khái niệm kinh tế quốc doanh Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được nêu cụ thể: “tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”

- Tại Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) lại nêu: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và một số cơ sở công nghiệp quan trọng Doanh nghiệp Nhà nước giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương

về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật”

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX đã đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001-2010; trong đó đề ra các quan điểm chỉ đạo: “Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Doanh nghiệp nhà nước (gồm doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn và doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được làm công cụ vật chất quan trọng

để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp

Trang 23

phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế,…” Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã xác định chủ trương về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước: “Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm…”

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, đồng thời chính thức nêu bật vai trò của hình thức kinh tế

đa sở hữu với chủ trương “khuyến khích phát triển mạnh hình thức kinh tế đa sở hữu mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và phát triển các doanh nghiệp cổ phần mới, để hình thức kinh tế này trở thành phổ biến và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế nước ta”

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, Đại hội cũng đã xác định chủ trương tiếp tục yêu cầu đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh; trong

đó nhấn mạnh giải pháp cổ phần hoá, thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh

tế và tổng công ty nhà nước mạnh, đa sở hữu, đa ngành, đa lĩnh vực; yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định chủ trương “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mành Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển

Trang 24

Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân…”

Hội nghị TW6, khóa XI, xác định tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Hội nghị TW3 và TW9 khóa IX, và định hướng cải cách DNNN theo hướng tái cơ cấu lại ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của DNNN; đổi mới mô hình quản trị DNNN; cải cách cơ chế quản lý DNNN; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong DNNN

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (năm 2016): “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ, tổng thể nền kinh tế và các ngành, các lĩnh vực gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng: cơ cấu lại đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, từng bước cơ cấu lại ngân sách nhà nước; cơ cấu lại và giải quyết có kết quả vấn đề nợ xấu, bảo đảm an toàn

nợ công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước ”

Đặc biệt, Theo Nghị quyết Số 12-NQ/TW ngày 03/06/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã đi sâu và sát về nhận định tình hình hoạt động của DNNN, xác định nguyên nhân hạn chế, xác định mục tiêu phát triển DNNN và đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao hiệu quả của DNNN

Như vậy, theo tinh thần và định hướng chỉ đạo các kỳ Đại hội nêu trên thì sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN luôn là vấn đề được Đảng quan tâm và xác định vai trò quan trọng trong mỗi kỳ đại hội Đảng, cũng như có một chuyên đề nghiên cứu thảo luận riêng tại mỗi kỳ Hội nghị TW để tìm ra mô hình và môi trường để DNNN hoạt động có hiệu quả Quan điểm của Đảng về cải cách, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN được tóm tắt như sau:

- Đại hội VII, phát triển kinh tế quốc doanh có hiệu quả, nắm giữ những lĩnh vực then chốt, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thay đổi tên gọi kinh tế quốc doanh thành doanh nhiệp nhà nước, vai trò chủ đạo thể hiện ở chỗ mở đường

Trang 25

và hỗ trợ cho các thành phần khác phát triển, là một công cụ để nhà nước điều tiết

vĩ mô nền kinh tế

- Đại hội VIII, xuất hiện thuật ngữ kinh tế nhà nước, vai trò chủ đạo ngoài kế thừa Đại hội VII, còn bổ sung thêm vai trò giải quyết các vấn đề xã hội và tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới

- Đại hội IX, kế thừa các đại hội trước và tách bạch khái niệm kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo giữ vững định hướng XHCN Doanh nghiệp nhà nước làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo Xác định chủ trương về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa

- Đại hội X, kế thừa các kỳ đại hội trước, tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh; trong đó nhấn mạnh giải pháp cổ phần hoá, thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, đa

sở hữu, đa ngành, đa lĩnh vực; yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

- Đại hội XI, tiếp tục kế thừa các kỳ đại hội trước, Hội nghị TW6 khóa XI: Doanh nghiệp nhà nước phải tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả để có

cơ cấu hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng,sớm chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành và hoàn thành việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước, áp dụng quản trị tiên tiến, nâng cao tính tự chủ, tăng cường kiểm tra, giám sát, nêu cao vai trò và trách nhiệm nhiều của đại diện sở hữu, hình thành tổ chức đại diện sở hữu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

- Đại hội XII, tiếp tục kế thừa các kỳ đại hội trước, Hội nghị TW5 khóa XII: tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, Hội nghị này

kế thừa các chủ trương của Hội nghị TW6 khóa XI và cụ thể hóa, phát triển theo tình hình mới, xây dựng tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu mang tầm khu vực và

Trang 26

thế giới Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc

cơ chế, chính sách sát với thực tiễn hoạt động của các DNNN và cũng để dễ dàng giám sát hoạt động của DNNN

+ Với việc tái cơ cấu: Tái cơ cấu không chỉ là cơ cấu lại vốn sở hữu mà quan trọng hơn là cơ cấu lại việc quản trị DNNN Cơ cấu lại vốn không những tạo nguồn lực tài chính để doanh nghiệp phát triển kinh doanh mà còn có cơ hội cải thiện quản trị doanh nghiệp bởi các cổ đông tư nhân, đặc biệt là các cổ đông nước ngoài mang lại các phương thức quản trị tiên tiến trên thế giới, do đó làm tăng hiệu quả hoạt động của DNNN Mặt khác, cơ cấu quản trị làm cho các DNNN nhà nước đã thích nghi với cơ chế thị trường sẽ phát triển theo chiều sâu và tăng cường khả năng cạnh trong nước và quốc tế do vậy sẽ làm tăng hiệu quả, cơ cấu quản trị cũng giúp cho các DNNN yếu kém có thể mạnh hơn hay hiệu quả tốt hơn do vậy việc cơ cấu vốn cũng dễ dàng hơn vì lúc đó việc bán cổ phần sẽ thu hút các nhà đầu tư bên ngoài, từ

đó lại tạo đà để DNNN phát triển hơn nữa

Trang 27

+ Sự can thiệp của chính phủ vào DNNN: sự can thiệp nhiều từ phía chính phủ

sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của DNNN, bởi nó sẽ có những quyết định mang tính hành chính hơn là kinh doanh, không phải của những nhà chuyên môn, không bám sát hoạt động của DNNN, độ trễ của các quyết định sẽ bị kéo dài trong khi cơ hội kinh doanh thì không chờ đợi, các quyết định về đầu tư cũng sẽ kém hiệu quả, nhân sự sẽ khó lựa chọn được người tài…mặt khác cũng sẽ gây hiện tượng hối lộ, tham nhũng, thất thoát lãng phí, quan liêu và doanh nghiệp mất tự chủ trong hoạt động và nếu quá nhiều lại như là trở là thời bao cấp tức chỉ thực hiện theo mệnh lệnh của cấp trên, do đó động lực kinh doanh bị triệt tiêu do không có tính chủ động, hiệu quả trực tiếp kém do các quyết định kinh doanh, đầu tư, nhân sự… không đúng, và khi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp yếu kém thì không một ai chịu trách nhiệm cụ thể Chính vì thế phải tách chức năng kinh doanh và chức năng hành chính Chức năng kinh doanh thông qua một siêu công ty mẹ hoặc cơ quan quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước, cơ quan này sẽ thực hiện các quyền và nghĩa

vụ như một nhà đầu tư theo pháp luật và giám sát, đánh giá thông qua hội đồng quản trị Chức năng hành chính sẽ được thực hiện thông qua một cơ quan của chính phủ để ban hành chính sách riêng cho DNNN và giám sát hiệu quả hoạt động của DNNN, xây dựng hệ thống quản trị tiên tiến chung cho các DNNN áp dụng và truyền đạt, phổ biến nó Khi chính phủ yêu cầu DNNN thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội thì khi tính toán hiệu quả của DNNN phải tách bạch hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội và thực hiện nhiệm vụ kinh doanh thông thường và các chi phí, nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chính trị và xã hội cần phải tính toán đầy đủ và được ghi nhận nguồn thu tương ứng từ chính phủ, có như thế mới so sánh và đánh giá DNNN khách quan so với các doanh nghiệp khác

1.3.2 Quản trị và kiểm tra, giám sát

Một trong những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động của DNNN mà các nghiên cứu cũng như lý luận của Đảng nhấn mạnh và đề cập rất nhiều là nhân tố quản trị, đó cũng là nhu cầu cấp bách mà các DNNN của Việt Nam cần phải thay đổi, áp dụng phương thức quản trị mới trong quá trình cải

Trang 28

cách Ở các nước sau khi cải cách sở hữu nhà nước tại DNNN thì mục tiêu hướng tới để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là cải cách quản trị Để thực hiện việc cải cách quản trị hiệu quả thì ngoài việc xây dựng hệ thống quản trị tiên tiến theo chuẩn mực quốc tế thì một cách gián tiếp là cơ cấu lại vốn nhằm thu hút vốn tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài, sự tham gia các tổ chức quốc tế vào việc công khai, minh bạch hóa thông tin và gây áp lực cải tiến hệ thống quản trị

Chính phủ phải xây dựng và thực hiện, áp dụng cấu trúc quản trị hiện đại theo chuẩn quốc tế cho các DNNN áp dụng để thực hiện việc quản lý và giám sát gồm:

Cơ quan chuyên môn quản lý và giám sát DNNN và hệ thống các quy chế về báo cáo, giám sát, tài chính kế toán, nhân sự, thông tin… quy định mối quan hệ quản lý

và cổ động, các kiểm toán viên được tham gia vào ban kiểm soát của các công ty lớn với vai trò độc lập, tự do hóa mua cổ phần Cải cách về chuẩn mực kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế Nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn quản lý và giám sát DNNN là: Xây dựng chính sách phát triển DNNN liên quan đến giám sát, cải thiện hiệu quả, tư nhân hóa và tái cấu trúc; Điều phối, quản lý, phân tích, đánh giá DNNN; Báo cáo Chính phủ và đề xuất cải thiện hoạt động của DNNN

Luật quản lý vốn nhà nước cần đề cập việc thực hiện quản trị công ty, tư nhân hóa, quy định rõ chức năng của ban giám đốc và hội đồng thành viên, quy định rõ quyền và trách nhiệm của giám đốc và thành viên hội đồng quản trị, kiểm soát viên

và quy định rõ quyền lợi khi đạt kết quả kinh doanh tốt và trách nhiệm và nghĩa vụ khi kinh doanh kém hiệu quả hay làm thất thoát tài sản, tham ô, lãnh phí Cơ quan quản lý và giám sát vốn nhà nước cụ thể hóa việc thực hiện quản trị công ty tốt, xây dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh và báo cáo, thiết lập các tổ chức hoạt động liên quan…

Cơ quan quản lý và giám sát vốn nhà nước đưa ra các quy định cho việc thực hiện quản trị công ty như: tiêu chuẩn của ứng viên hội đồng kiểm toán, hội đồng thành viên và giám đốc và thiết lập hội đồng đánh giá các ứng viên; các ứng viên cũng cần độc lập về mặt chính trị hay tách người quản lý doanh nghiệp nhà nước khỏi chế độ viên chức, công chức; tiêu chuẩn hóa việc đánh giá quản trị công ty, và

Trang 29

việc quản trị DNNN được rà soát hàng năm dựa trên những chỉ số hoạt động chủ chốt, ngoài ra cơ quan quản lý và giám sát vốn nhà nước cần thực hiện chương trình

xã hội hóa giáo dục quản trị công ty

Để gia tăng hiệu quả hoạt động và tránh sự can thiệp hành chính thì phải gia tăng tính độc lập, tự chủ hoạt động của hội động quản trị, hình thành hai lớp quản

lý, giám sát và điều hành sản xuất kinh doanh riêng biệt đó là hội đồng quản trị và ban giám đốc và giám đốc không được kiêm thành viên hội đồng quản trị Trong hội đồng quản trị có tối thiểu 30% thành viên hội đồng quản trị độc lập (không phải

là người đại diện vốn) và hướng tới cũng chọn giám đốc độc lập (thuê ngoài trong nước hoặc ngoài nước) có năng lực tốt để phát triển kinh doanh cho DNNN hoặc lựa chọn giám đốc từ nguồn có nhiều kinh nghiệm và có năng lực thực sự, ràng buộc nghĩa vụ pháp lý của giám đốc đối với cổ đông và tăng cường chức năng của kiểm soát viên độc lập; giám đốc được hội đồng quản trị thuê, quản lý, giám sát theo cơ chế thị trường Gia tăng sở hữu nước ngoài, hay tổ chức tư nhân có uy tín, thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình cải cách quản trị doanh nghiệp; tăng quyền của cổ đông thiểu số thông qua những nhà hoạt động quyền cổ đông, tăng quyền của thành viên hội đồng quản trị độc lập, cho phép các tổ chức quốc tế tham gia thúc đẩy tính minh bạch và dân chủ kinh tế

Ngân hàng thế giới (2014) cho rằng, hội đồng quản trị đóng vai trò trung tâm trong việc quản trị DNNN, chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước và hiệu quả hoạt động của DNNN, một hội đồng quản trị có hiệu lực phải có các thành viên có trình độ cao, có khả năng thực hiện được các mục tiêu, đánh giá độc lập để định hướng phát triển chiến lược và giám sát quản lý, có hành động vì lợi ích doanh nghiệp và không xung đột lợi ích, có kinh nghiệm và chuyên môn liên quan, để được như thế phụ thuộc vào chính phủ phải có các quy định rõ ràng, chất lượng và chặt chẽ về lựa chọn và bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị Hội đồng quản trị phải được trao quyền thực sự cho việc bổ nhiệm và bãi nhiệm giám đốc theo những tiêu chí rõ ràng và quản lý, giám sát giám đốc đảm bảo

Trang 30

rằng các giám đốc có trách nhiệm giải trình trước hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm hoàn toàn về hoạt động của doanh nghiệp trước hội đồng quản trị

Mô hình tổ chức, quản lý hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tập đoàn, các tổng công ty có mô hình tổ chức, quản lý tương tự nhau theo mô hình công ty mẹ - con, trong đó công ty mẹ can thiệp nhiều mệnh lệch hành chính vào công ty con trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác nhân sự, tài chính, tiền lương… sinh ra nhiều phòng, ban, nhiều công ty con, cháu, thậm chí

có những ngành nghề tương tự nhau gây ra việc quản lý, cạnh tranh chồng chéo trong nội bộ ngành và thiếu tính tự chủ, quyết định có lợi cho doanh nghiệp, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp Việc xây dựng mô hình tổ chức, quản lý hợp lý phải dựa trên tiêu chí tối ưu hóa cơ cấu hoạt động và tối đa hóa hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh nên chỉ cần tập trung các nguồn lực con người, cơ sở vật chất, tổ chức thực sự cần thiết và có năng lực, các mô hình,

tổ chức chưa hợp lý cần phải được rút gọn và tái cơ cấu lại Xác định qui mô hợp lý

từ đó có cơ cấu hiệu quả làm cho việc phối hợp kinh doanh và cạnh tranh và chuyên môn hóa sẽ tốt hơn DNNN không còn là nơi bám trụ an toàn cho các nhà quản lý

và nhân viên yếu kém, mà phải nỗ lực làm việc hiệu quả để tồn tại, thu nhập và đãi ngộ cho nhà quản lý và nhân viên được xác định theo thị trường và hiệu quả làm việc, cho người lao động được sở hữu cổ phần, thực hiện chế độ đãi ngộ cổ phần để gắn lợi ích người lao động với công ty và kích thích động lực làm việc cho người lao động Cải cách DNNN cũng được dựa trên kinh nghiệm hữu ích từ mô hình quản lý mới của các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, các tập đoàn đa quốc gia, đó là

mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó các công ty con hoạt động trong các lĩnh vực chuyên biệt nhằm cung cấp đầu vào ổn định cho kế hoạt phát triển của tập đoàn Giải thể, phá sản đối với các đơn vị yếu kém, hoạt động không hiệu quả gây ảnh hưởng tới hiệu quả chung, lãng phí nguồn lực, giảm sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Trang 31

Như vậy, hệ thống quản trị được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như sau:

Bảng 1.3: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hệ thống quản trị doanh nghiệp

1 Hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động, hệ thống báo cáo

2 Công bố thông tin

3 Quyền và nghĩa vụ hội đồng thành viên và ban giám đốc, ban kiểm soát

4 Tiêu chuẩn của thành viên hội đồng thành viên, ban giám đốc, ban kiểm

soát

5 Sự độc lập của Hội đồng quản trị

6 Giám đốc điều hành

7 Sở hữu nước ngoài

8 Kiểm soát viên/ thành viên hội đồng thành viên/ quản trị độc lập

9 Thu nhập của hội đồng thành viên, ban giám đốc và ban kiểm soát

10 Quyền cổ đông thiểu số

11 Mô hình tổ chức

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu khoa học)

Kiểm tra, giám sát có tác động theo nhiều hướng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu quá nhiều hoạt động kiểm tra, quy trách nhiệm sẽ ảnh hưởng tới hoạt động chung của doanh nghiệp, và ảnh hưởng đến tâm lý của nhà lãnh đạo không dám làm, không dám quyết dù thấy có lợi cho doanh nghiệp Mặt khác, kiểm tra, giám sát lại đảm bảo cho việc giám sát đối với người đại diện và người điều hành tuân thủ các quy định của nhà nước, không dám làm sai Vậy làm sao để kiểm tra, giám sát hợp lý để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả mà vẫn giám sát được Đó

là phải hạn chế quá nhiều cuộc kiểm tra, chỉ một đầu mối của cơ quan chức năng, tăng cường chức năng kiểm soát nội bộ có ý nghĩa rất thiết thực, xây dựng thông tin đầy đủ cho hoạt động kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm các kiến nghị kiểm tra được thẩm định đúng thì sẽ ngăn chặn sai phạm mà vẫn hoạt động hiệu quả

Trang 32

Việc giám sát tốt sẽ ngăn ngừa các rủi ro, nguy cơ và các sai phạm tại DNNN, chính vì thế sẽ gia tăng hiệu quả hoạt động của DNNN Giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN cũng cần phải tập trung để tránh gây cản trở hoạt động của DNNN

và hạn chế tham nhũng, hối lộ để che đậy các gian lận, sai sót tại DNNN Giám sát, đánh giá cần phải có Hội đồng kiểm toán/ giám sát gồm các chuyên gia, nhà quản lý… để việc đánh giá hiệu quả, góp phần phản ánh chính xác hiệu quả hoạt động của DNNN để đưa ra các chính sách phù hợp và ngăn ngừa các sai phạm, thất thoát lãng phí tài sản của DNNN, tránh các nguy cơ, rủi ro trong kinh doanh của DNNN Các công ty đại chúng phải thành lập hội đồng kiểm toán, ủy viên độc lập tham gia và làm chủ tịch, các thành viên khác từ bên ngoài độc lập, nhiệm vụ của hội đồng kiểm toán là: cải thiện báo cáo tài chính, giám sát quản trị tốt và kiểm soát công ty, việc kiểm toán nội bộ cải thiện hiệu quả của các ban lãnh đạo, quan điểm là kiểm toán nội bộ hơn kiểm toán ngoài

1.3.3 Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Daron Acemoglu và James A.Robinson (2012) cho rằng trên thị trường những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả sẽ bị thay thế bởi các doanh nghiệp có hiệu quả, và hai động cơ của sự thịnh vượng là: công nghệ và giáo dục Phát triển kinh tế bền vững phải gắn với cải tiến công nghệ để tăng năng suất cho các yếu tố đầu vào như vốn, đất đai, nhà xưởng, lao động…Những công nghệ tiên tiến sẽ không được cải tiến và vận hành tốt nếu như thiếu đi giáo dục, kỹ năng, tài năng và bí quyết của người lao động có được ở nhà trường, ở nhà và trong công việc Để tăng trưởng kinh tế các thể chế kinh tế phải có khả năng khai thác tiềm năng của các thị trường, khuyến khích phát minh đổi mới công nghệ, đầu tư vào nhân lực, huy động nhân tài

và kỹ năng đông đảo của người lao động Tăng trưởng kinh tế mà không có đổi mới sáng tạo trên diện rộng sẽ không duy trì được bền vững và sẽ đi đến một kết thúc đột ngột

Trần Văn Thọ (2015) cho rằng kinh tế Việt Nam phát triển không cao nhưng kém hiệu suất, chủ yếu dựa trên đầu vào còn năng suất của các nhân tố tổng hợp (TFP) là yếu tố dựa vào cải tiến công nghệ và quản lý thì rất thấp, những lĩnh vực

Trang 33

cần thiết cho nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa như giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa được chú trọng thực sự

và đầu tư thỏa đáng Việt Nam là nước đi sau có thể tận dụng công nghệ, tri thức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý từ nước đi trước và do đó có thể rút ngắn quá trình phát triển Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc là những nước đi sau nhưng tận dụng thành công lợi ích của nước đi sau để phát triển kinh tế, nhờ đó rút ngắn phát triển và có tốc độ phát triển kinh tế hơn 10% kéo dài hàng chục năm Nghiên cứu chỉ ra kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc trong phát triển kinh tế

Ở Nhật Bản, chính phủ tạo sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp, yểm trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như tín dụng, thủ tục hành chính đơn giản, không tham nhũng; Ngoại tệ được kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm tối đa để nhập thiết bị, nguyên liệu và công nghệ cần thiết cho đầu tư Doanh nghiệp nhiệt tình cải cách công nghệ, có sản phẩm cạnh tranh mạnh trên thế giới Do cải cách công nghệ, quản

lý hành chính, quản trị doanh nghiệp có hiệu quả nền kinh tế phát triển rất có hiệu suất trong đó vốn góp phần cho tăng trưởng là 25% và công nghệ, quản lý góp phần 65%; Ngoài ra còn nhiều chính sách thúc đẩy phát triển về giáo dục, khoa học công nghệ, thị trường, xuất khẩu…cả chính phủ và doanh nghiệp đều chung sức và quyết tâm, hăng hái trong việc thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế Ở Hàn Quốc, mục tiêu phát triển kinh tế là theo kịp các nước tiên tiến, mục tiêu này được đồng thuận của

cả xã hội, đặc biệt là ý chí của lãnh đạo, thu hút những người tài trong hoạch định kinh tế và huy động các nguồn lực để thực hiện, các doanh nghiệp có chiến lược theo kịp khả năng công nghệ hàng đầu của Nhật; Hàn Quốc xây dựng được cơ chế rất hiệu quả về quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp, để đuổi kịp các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tính cực đầu tư, tính lũy tư bản, vay nợ nước ngoài, bảo hộ các doanh nghiệp non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có nguồn nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ Chính phủ hỗ trợ cho các doanh nghiệp về vốn vay ưu đãi trên cơ sở năng lực cạnh tranh và khả năng xuất khẩu và để tránh tham nhũng và sử dụng sai nguồn vốn, làm thất bại mục tiêu chính sách thì phải có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh và kỷ luật cao, các chính sách hỗ trợ phải theo kịp tình hình

Trang 34

của thị trường; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hàn Quốc dựa trên khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và đổi mới sáng tạo, trong khi chính phủ nỗ lực trong việc phát triển giáo dục và đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ thì doanh nghiệp nỗ lực học hỏi nước ngoài Chi tiêu cho ngân sách cho giáo dục có lúc lên tới 21% trong những năm 80, Hàn Quốc có nhiều sinh viên đi du học nước ngoài và cũng có nhiều người đi du học trở về nước do nhà nước có cơ chế tốt trong việc thu hút và đãi ngộ thỏa đáng cho người tài.Chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai (R&D) cao điểm lên tới 3,4% GDP năm 2007 Các chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế được nhất quán và kiên trì trong quá trình thực hiện, nhưng các cơ chế được thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, khi kinh tế và thị trường phát triển thì nhà nước rút dần vai trò hỗ trợ và can thiệp và thay vào đó tập trung vào giáo dục, nghiên cứu khoa học để tạo nền tảng cho nền kinh tế chuyển dịch theo hướng cao hơn, sâu hơn

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2014) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn quá độ từ nền kinh tế dựa vào yếu tố sản xuất (tăng qui mô lao động không có kỹ năng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên) sang nền kinh tế dựa vào hiệu quả (tăng năng suất lao động cao hơn được tạo ra nhờ chủ yếu vào học hỏi, hấp thụ, ứng dụng công nghệ sẵn có và nâng cấp nguồn nhân lực nhờ giáo dục và đào tạo), và muốn có thể sang giai đoạn mà nền kinh tế dựa vào đổi mới sáng tạo ( tăng năng suất, tăng trưởng kinh tế nhờ chủ yếu vào đổi mới sáng tạo và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, các quá trình sản xuất tinh xảo hơn và lực lượng lao động chất lượng cao) thì các doanh nghiệp phải có khả năng sáng tạo ra công nghệ và đầu

tư cho nghiên cứu và triển khai của Chính phủ và Doanh nghiệp phải đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế

DNNN là lực lượng nòng cốt trong thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, do

đó cũng phải tuân theo sự vận động của nền kinh tế qua các giai đoạn phát triển hay việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN nhờ nhân tố khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để tăng năng suất lao động là xu hướng khách quan và nhu cầu cấp

Trang 35

bách mà DNNN phải thực hiện để tồn tại và phát triển và phù hợp với vai trò của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam, chính vì thế Đảng đã nhận định nhân tố về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với việc nâng cao hiệu quả của DNNN là:

“Tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực của doanh nghiệp nhà nước về đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại, sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, coi đây là yếu tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước” Để thực hiện nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN nhờ vào nhân tố khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi nỗ lực rất cao từ chính phủ đến các DNNN như:

+ Tạo sự năng động cho DNNN: Phát triển số lượng lớn các công ty năng động và mang tính đổi mới sáng tạo để tạo ra cầu cho đổi mới sáng tạo DNNN phải

có áp lực cạnh tranh và động lực để nâng cao hiệu quả, muốn thế phải có cải cách

về quản lý nhà nước và cải cách về quản trị thì DNNN mới năng động và có nhu cầu đổi mới sáng tạo để tăng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động

+ Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của DNNN: điều cốt yếu nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam là tiếp thu các công nghệ tiên tiến từ nước ngoài hoặc từ các công ty đa quốc gia, để thực hiện điều này thì nghiên cứu do Chính phủ tài trợ để phát triển năng lực năng lực cho các doanh nghiệp từ tiếp thu đến sáng tạo công nghệ là có hiệu quả Phát triển năng lực của các doanh nghiệp về tiếp thu, ứng dụng và học hỏi công nghệ và tiến tới là năng lực sáng tạo

ra công nghệ Singapore là một ví dụ điển hình thành công trong việc thực hiện chiến dịch tăng năng suất cho các doanh nghiệp, chính phủ làm việc chặt chẽ với các công ty đa quốc gia để cải cách môi trường kinh doanh, chính phủ ký hợp đồng với Trung tâm năng suất của Nhật Bản để hình thành một tổ chức có hệ thống rộng lớn các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, chính phủ cũng mời và trả lương các chuyên gia của các công ty đa quốc gia làm việc cho các doanh nghiệp trong nước, chính phủ mở các trung tâm đào tạo kỹ năng cho các ngành và tài trợ cho dự án này, nhưng giao cho các công ty đa quốc gia đào tạo Quỹ Phát triển kỹ năng chia sẻ các

Trang 36

chi phí đầu tư nâng cấp các kỹ năng cho lực lượng lao động Ở Việt Nam có thể dùng Quỹ sắp xếp, đổi mới hay Quỹ khoa học công nghệ để thực hiện các dự án tương tự để tăng kỹ năng, cải thiện quản lý, quản trị và tăng năng suất cho các DNNN

+ Môi trường thuận lợi cho tích lũy tri thức và vốn vật chất: Đổi mới sáng tạo

sẽ không có ý nghĩa và sẽ xuất hiện những khó khăn hay rào cản nếu nó được thực hiện trong môi trường kinh doanh không thuận lợi, quản lý rủi ro kém, tài trợ không đầy đủ và việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kém

+ Tăng đầu tư, tập trung nguồn lực cho các nhà nghiên cứu giỏi nhất và có hiệu suất cao nhất của quốc gia: Chính phủ phải có chiến lược và đầu tư và chi tiêu nhiều hơn cho nghiên cứu và triển khai để dần phát triển nền kinh tế dựa vào đổi mới sáng tạo, việc chi tiêu và phân bổ kinh phí phải dựa vào kết quả thực hiện, các trung tâm nghiên cứu chất lượng cao và thưởng nhiều cho những người làm tốt nhất

để kích thích việc tăng chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn các viện nghiên cứu với các vấn đề cần giải quyết của kinh tế và xã hội với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xóa bỏ các rào cản, thủ tục hành chính, quan liêu trong nghiên cứu khoa học, gắn việc đánh giá kết quả khoa học và qui trình nghiên cứu, đào tạo với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, tiếp cận tri thức tiên tiến nhất thông qua các mối liên kết quốc tế thông qua du học và liên kết đào tạo, nghiên cứu để nâng cao tri thức và quản lý khoa học tiên tiến theo chuẩn quốc tế

Đầu tư vào khoa học công nghệ và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo là vũ khí sắc bén, bền vững trong cạnh tranh và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, nhân tố này không những được thực hiện bởi bản thân doanh nghiệp mà còn từ phía nhà nước Về phía doanh doanh nghiệp, ngoài đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, phương tiện quản lý hiện đại thì cần phải xây dựng qui trình, qui chế áp dụng sáng chế, sáng kiến, cải tiến của người lao động, mua, bán, khen thưởng sản phẩm khoa học, công nghệ của người lao động cũng như hợp tác ở bên ngoài Phía nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp bằng nguồn lợi nhuận để lại để chi cho đầu tư phát triển, các chính sách ưu đãi và nghiên cứu khoa học áp dụng

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ

VIỆT NAM

2.1 Khái quát về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Năm 1961 Thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa

Ngày 03/09/1975 Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam được thành lập Ngày 09/09/1977. Thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là Petrovietnam, trực thuộc Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam

Ngày 19/06/1981. Thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro dựa trên cơ

sở sự hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô cũ và Liên Bang Nga ngày nay để tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu và khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 06/07/1980 Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam được thành lập Ngày 29/8/2006 Thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

Ngày 18/06/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 924/QĐ-TTg

chuyển đổi Công ty mẹ -Tập đoàn dầu khí Việt Nam thành Công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ từ 01/07/2010

“Nguồn www.pvn.vn”

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và lĩnh vực hoạt động

Theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2018) thì: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là nhóm công ty hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con, không có tư cách pháp nhân, được gắn bó chặt chẽ

và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, bao gồm Công ty mẹ và các công ty thành viên

Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, được thành lập theo quyết định số 199/2006/QĐ-TTg ngày 29/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ

Như vậy, PVN là DNNN và cũng như nhiều quốc gia khác, dầu khí là lĩnh vực quan trọng và cốt lõi trong nền kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia nên nhà nước tham gia đầu tư và quản lý thông qua việc thành lập DNNN trong lĩnh vực này

Trang 38

Các lĩnh vực hoạt động của PVN gồm:

Tìm kiếm, thăm dò và khai thác, đây là hoạt động cốt lõi được tiến hành cả ở

trong và ngoài nước, PVN đầu tư và hợp tác với các tập đoàn dầu khí nước ngoài

để tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong nước, đồng thời cũng đầu tư để tìm kiếm, thăm

dò dầu khí ở nước ngoài

Chế biến dầu khí, đây là hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao, cung cấp nhiều

sản phẩm cho nền kinh tế đất nước như: xăng dầu, phân bón, hóa chất, nhựa, xơ sợi…

Công nghiệp khí Công nghiệp khí gồm toàn bộ dây chuyền thu gom, xuất

nhập khẩu, vận chuyển, tàng trữ, chế biến, kinh doanh, dịch vụ khí và các sản phẩm khí, đã và đang cung cấp khí cho ngành công nghiệp và tiêu thụ dân sinh

Công nghiệp điện Đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất điện gồm: Điện khí,

điện than, thủy điện để đáp ứng nhu cầu thiếu điện quốc gia, hiện PVN là nhà sản xuất điện thứ 2 của Việt Nam

Dịch vụ dầu khí. Dịch vụ dầu khí tham gia vào tất cả các khâu của nền công

nghiệp dầu khí từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí

“Nguồn www.pvn.vn ”

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của PVN:

(Nguồn: Do tác giả tổng hợp)

Ban kiểm soát nội bộ

Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ

Hội đồng thành viên thành viên

Ban kiểm soát Tập đoàn

Các Ban chuyên môn/Bộ máy giúp việc: 12 Ban/ Văn phòng

Các đơn vị thành viên: Sở hữu trên 100%; Sở hữu trên 50%; Sở hữu dưới 50% vốn điều lệ; Đơn vị

nghiên cứu khoa học, đào tạo; Ban Quản lý dự án/Chi nhánh trực thuộc; Văn phòng đại diện

Ban Tổng Giám đốc

Văn phòng HĐTV

Trang 39

Hội đồng thành viên gồm: Chủ tịch hội đồng thành viên; các thành viên hội đồng thành viên; các bộ phận giúp việc gồm văn phòng hội đồng thành viên và ban kiểm soát nội bộ

Ban Tổng Giám đốc gồm: Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc

Ban Kiểm soát gồm: Trưởng Ban Kiểm soát và các thành viên Ban kiểm soát Các Ban/ Văn phòng chuyên môn gồm: Ban Tìm kiếm – Thăm dò dầu khí; Ban Khai thác dầu khí; Ban Quản lý hợp đồng dầu khí; Ban Khí và Chế biến dầu khí; Ban Điện; Ban Tài chính – Kế toán; Ban Kinh tế - Đầu tư; Ban Thương mại Dịch vụ; Ban Quản trị nguồn nhân lực; Ban Pháp chế - Thanh tra; Ban Công nghệ -

An toàn & Môi trường; Văn phòng Tập đoàn

Các công ty thành viên gồm: 02 công ty/ tổng công ty sở hữu 100% vốn; 14 công ty/tổng công ty sở hữu trên 50% vốn điều lệ; 12 công ty/tổng công ty sở hữu dưới 50% vốn điều lệ; 04 đơn vị đào tạo sở hữu 100% vốn gồm Viện nghiên cứu, trường đại học và cao đẳng, trung tâm xử lý sự cố tràn dầu; 14 đơn vị sở hữu 100% vốn gồm các Ban quản lý dự án và công ty điều hành khai thác dầu khí; 02 văn phòng đại diện trong và ngoài nước

2.1.3 Hoạt động kinh doanh, đầu tư

Theo Nguyễn Trọng Tín (2014), Bể trầm tích là vùng bề mặt Trái Đất rộng lớn, bị sụt lún gần như liên tục trong hàng chục triệu năm và luôn được lắng đọng đất đá, cát và chất hữu cơ… do sông ngòi và các dòng chảy của biển hoặc đại dương mang đến từ các khu vực có địa hình cao hơn Đất đá chứa vật chất hữu cơ được chôn vùi trong bể trầm tích đến một độ sâu nhất định sẽ chịu tác động của nhiệt độ, áp suất từ đó vật chất hữu cơ sẽ chuyển hoá thành dầu và khí Sau khi dầu khí được sinh ra, dưới tác động của thủy động lực trong lòng đất và lực trọng trường, chúng sẽ dịch chuyển hay đến những lớp đất đá có lỗ hổng và nằm ở đó.Thông thường các lớp hoặc tầng đá có cấu trúc dạng mái vòm là thuận lợi nhất

để tích trữ dầu khí và còn được gọi là vỉa hay tích tụ dầu khí Thể tích hoặc khối lượng dầu khí tồn tại trong một hay nhiều vỉa dầu khí được các nhà địa chất tính toán chính là trữ lượng của tích tụ dầu khí đó Nếu tích tụ dầu khí có trữ lượng đủ

Trang 40

lớn, tức là có giá trị thương mại khi tiến hành khai thác được coi là mỏ dầu khí Như vậy, trong một bể trầm tích có thể tồn tại các mỏ và tích tụ dầu khí Bể trầm tích đó được gọi là bể trầm tích dầu khí

Dầu khí là nguồn tài nguyên hóa thạch nằm sâu trong lòng đất, đá, dưới đáy biển, trên các đầm lầy và các vùng sa mạc, phân bổ trữ lượng không đồng đều trên

vỏ trái đất, trong từng khu vực, quốc gia và thậm chí ngay cả trong các lô, mỏ dầu khí nên để tìm kiếm, thăm dò, khai thác phải có các phương pháp, kỹ thuật, thiết bị chuyên dụng và công nghệ cao để có thể hoạt động trong các điều kiện khó khăn và khắc nghiệt Và do trong thành phần cấu tạo của dầu thô có thể tách và chế biến ra nhiều sản phẩm hữu dụng nên cũng đòi hỏi phải có công nghệ cao và áp dụng các nghiên cứu khoa học tiên tiến để lọc, tách, chế biến ra các sản phẩm từ dầu thô như: xăng, dầu, nhựa đường, hạt nhựa, khí…

Mặc dù khoa học ngày càng tiên tiến, nhưng do đặc điểm phân bố của dầu khí nên việc tìm kiếm, thăm dò vẫn đầy rủi ro, tỷ lệ thành công trung bình của thế giới khi tìm thấy dầu chỉ khoảng 30%, cứ 3 giếng khoan thăm dò thì chỉ có 1 giếng phát hiện có tích tụ dầu khí, với chi phí thăm dò hàng chục, hàng trăm triệu USD có thể không được bù đắp nếu không phát hiện ra dầu khí đủ khai thác thương mại

Bảng 2.1: Tìm kiếm thăm dò và trữ lượng dầu khí

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết hoạt động của PVN năm 2017)

Ngày đăng: 19/02/2019, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w