1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết

71 146 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 631,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết đã đề ra các biện pháp nhằm góp phần tạo nên hành lang pháp lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

TÔN QUANG ANH

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

TÔN QUANG ANH

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH

LIÊN KẾT

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số : 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS Võ Trí Hảo

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này

là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn

cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

TÔN QUANG ANH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA CÁC GIAO DỊCH LIÊN KẾT 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thuế 7 1.1.2 Khái niệm về giao dịch liên kết 9

1.1.3 Khái niệm pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên

kết 12

1.2 VAI TRÒ CỦA VIỆC KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA

GIAO DỊCH LIÊN KẾT 13

1.3 KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA KIỂM SOÁT NÉ THUẾ

THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 16 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 22

2.1 KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

TOÀN CẦU HÓA 22

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG

QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 24 2.2.1 Hệ thống pháp luật quy định về giao dịch liên kết 24 2.2.2 Nội dung quy định kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết 29

Trang 5

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 44 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 51

3.1 PHƯƠNG HUỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 51

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NÉ

THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 52

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BỘ NGÀNH CÓ LIÊN QUAN NHẰM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT NÉ THUẾ

THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT 56 KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MU ̣C VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 6

APA Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế BEPS Chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận

Trang 7

Việc hội nhập theo xu hướng của thế giới đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam không thể nào tránh khỏi hoạt động giao dịch liên kết có tính chất nước ngoài, mà điển hình là hành vi “chuyển giá” Để tránh thất thu ngân sách nhà nước thì việc ban hành các quy định của pháp luật nhằm kiểm soát việc thực hiện né thuế thông qua các giao dịch liên kết đã góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triển nước ta trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh những mặt đạt được trong vấn đề kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết đã đem lại hiệu quả đáng kể góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, tránh thất thoát các khoản thu ngân sách Mặt khác, do cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, quy định pháp luật còn nhiều kẻ hỡ dẫn đến việc các doanh nghiệp lợi dụng chính sách của Nhà nước để làm giảm nghĩa vụ thuế Tuy nhiên, bản chất của hoạt động giao dịch liên kết không được xem là hành vi vi phạm pháp luật Do đó, một số doanh nghiệp thường áp dụng các “chiêu trò” làm biến tướng hoạt động giao dịch liên kết để “né thuế” hoặc nghiêm trọng hơn là “trốn thuế” gây thất thu cho ngân sách nhà nước

TỪ KHÓA

“kiểm soát”, “giao dịch liên kết”, “chuyển giá”, “né thuế”, “trốn thuế”

Trang 8

In the trend of global economic integration, Vietnam can not avoid the

“transfer pricing” behavior for foreign associated transactions The promulgation of legal regulations to control the implementation of tax avoiding through associated transactions has greatly contributed to the process of integration and development of our country in the current period

The gains made in controlling tax evasion through associated transactions have resulted in significant contributions to securing revenues for the budget and avoiding the loss of revenues On the other hand, due to the lax management mechanism and legal regulations, enterprises take advantage of the State's policy to reduce the tax liability However, the nature of the associated transaction activity is not considered to be a violation of law As a result, there are a number of businesses that often use "tactics" to disguise their associated transactions for "tax avoiding" or, more seriously, "tax evasion" that results in loss to the state budget

KEY WORD

“control”, “associated transaction”, “transfer pricing”, “tax avoiding”,

“tax evasion”

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết đã đề ra các biện pháp nhằm góp phần tạo nên hành lang pháp lý cơ bản trong công tác quản lý doanh nghiệp Song, không phải lúc nào quá trình áp dụng những quy định về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết cũng đạt hiệu quả cao, mà nhiều lúc còn nảy sinh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức mang tính chất khu vực cũng như toàn cầu như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và gần đây nhất là vào năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mang đến những thuận lợi và khó khăn cho các cơ quan tiến hành hoạt động QLNN về Thuế trong giai đoạn hiện nay, nhằm tăng cường thu NSNN là điều vô cùng quan trọng để Việt Nam có thể phát triển trong quá trình hội nhập Ngoài ra, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và các tập đoàn kinh tế nước ngoài, đặc biệt là thông qua kênh FDI, đã góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, việc thu hút vốn FDI cũng bộc lộ nhiều mặt trái của nó Đây chính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để tăng cường hoạt động về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết tại Việt Nam có thể thực hiện tốt hơn trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách khách quan rằng từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương và pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết cho đến nay, chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước; chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và cộng đồng ngày càng chú ý hơn đến vấn đề QLNN về Thuế Song, trên thực tế, sau nhiều năm thực hiện có hiệu quả công tác QLNN về thuế trên phương diện lý luận và thực tiễn, thì trong những năm trở lại đây tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này còn khá phổ biến, nhất là xuất hiện tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng các giao dịch liên kết để tiến hành né thuế càng trở nên nghiêm trọng Việc xử lý vi phạm

Trang 10

pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa đúng mức, hiệu quả chưa cao và còn bộc lộ nhiều hạn chế Trên cơ sở đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về QLNN về Thuế, chính quyền các cấp cũng đã ban hành các văn bản và triển khai thi hành pháp luật đối với vấn đề này Nhìn chung, đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao trách nhiệm, ý thức của doanh nghiệp nhằm thực hiện nghĩa vụ của mình về Thuế, nhưng công tác xử lý vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững Chính vì vậy cần được tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác ngăn ngừa, xử lý vi phạm ngày càng tốt hơn Xuất phát từ tình hình nói

trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên

kết” làm luận văn thạc sĩ luật học, với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật,

nâng cao hiệu quả kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu

2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Nhận định về yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức công tác quản lý kiểm soát việc

né thuế thông qua các giao dịch liên kết, tình hình thực hiện, phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác quản lý nhà nước về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết

Các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức công tác quản lý nhà nước về hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết, tình hình thực hiện, phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết

Thực trạng hoạt động của các cơ quan QLNN về Thuế để phân tích tình hình hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết trên thực tế

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu:

Trang 11

Thứ nhất, giao dịch liên kết có ảnh hưởng như thế nào đến nguồn thu ngân

sách của quốc gia?

Thứ hai, pháp luật Việt Nam có các quy định về kiểm soát “né thuế” thông

qua giao dịch liên kết hay không? Tại sao pháp luật cần kiểm soát “né thuế” thông qua giao dịch liên kết?

Thứ ba, Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm gì từ các quốc gia trên thế giới

về kiểm soát việc né thuế thông qua giao dịch liên kết và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quy định về kiểm soát việc “né thuế” thông qua giao dịch liên kết?

3 Tình hình nghiên cứu

Đối với hoạt động nghiên cứu kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên kết hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào mà chỉ được đề cập trong các bài tạp chí chuyên ngành như: “Thực trạng chuyển giá và giải pháp chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam”

của tác giả Dương Thị Vân Anh đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số

T4/2018; hay bài “Kiểm soát hoạt động chuyển giá của một số nước và bài học cho

Việt Nam” của Nguyễn Đại Thắng đăng trên Tạp chí Tài chính, kỳ I tháng 9 năm

2017 Ngoài ra còn có các nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Kinh tế năm 2016 của tác giả Dương Văn An với đề tài “Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)” và của tác giả Lê Thanh Hà năm 2017 với đề tài “Kiểm soát hoạt động chuyển giá trong các chi nhánh công ty đa quốc gia tại Việt Nam” Nhìn chung, các Luận án và bài viết trên các tạp chí chỉ đi chuyên sâu vào lĩnh vực Kinh

tế và chỉ đề cập đến hoạt động chuyển giá chứ chưa nghiên cứu sâu vào các quy định của pháp luật đối với các giao dịch liên kết Hoặc nghiên cứu của tác giả

Wittendorff, Jens: Transfer Pricing and the Arm’s Length Principle in International

Tax Law, 2010; cũng chỉ bàn về khía cạnh “chuyển giá” là một phần nhỏ trong các

hoạt động được xem là giao dịch liên kết Với mục đích làm đa dạng thêm nội dung nghiên cứu về các hành vi giao dịch liên kết trong hoạt động thương mại giữa các

doanh nghiệp, người viết chọn đề tài: Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua

giao dịch liên kết làm luận văn thạc sĩ để thể hiện đóng góp của bản thân đối với

vấn đề này

Trang 12

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết ở nước ta, từ đó rút ra những ưu, khuyết điểm của pháp luật và vướng mắc trong quá trình thực thi Qua đó đề xuất những giải pháp góp phần phát triển và hoàn thiện pháp luật, tìm hướng khắc phục những khó khăn trong tổ chức quản lý và quá trình thực thi pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết trong giai đoạn hiện nay

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các doanh nghiệp có giao dịch liên kết trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và quy định của pháp luật về kiểm soát

“né thuế” thông qua giao dịch liên kết

4.3 Phạm vi nghiên cứu

-Về không gian : Nghiên cứu hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua

các giao dịch liên kết ở nước ta và liên hệ thực tiễn với các quốc gia trên thế giới

- Về thời gian : Từ năm 2011 đến năm 2017

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân,… bằng phần mềm Exel để mô tả số liệu các doanh nghiệp

có dấu hiệu né thuế thông qua giao dịch liên kết

- Phương pháp so sánh: So sánh tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết So sánh một số chỉ tiêu của các tỉnh thành khác so với trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Thống kê số liệu từ các báo cáo tổng kết để có những so sánh, đánh giá khách quan, trung thực Phương pháp so sánh: Phân tích số liệu để đưa ra các đánh

Trang 13

giá về tình hình thực tế

- Ngoài ra luận văn sẽ tham khảo các quy định, văn bản của Nhà nước có liên quan và các giáo trình, tài liệu, tạp chí từ các cơ quan, ban ngành, các đề tài nghiên cứu liên quan để phục vụ thêm cho nội dung nghiên cứu

5.2 Khung lý thuyết

Những năm trở lại đây, kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết là vấn đề đang được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đối tượng quan tâm Chọn hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết làm đối tượng nghiên cứu, chúng ta có điều kiện đi sâu phân tích những vấn đề lý luận chung và các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, khẳng định tính tất yếu khách quan của hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết trong quá trình phát triển kinh tế của thế giới và ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

6.1 Giá trị khoa học:

Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước và quốc tế, luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới như sau:

Phân tích, đưa ra các khái niệm tổng quát về pháp luật kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết như: khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết phải ban hành các quy định về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết ở nước

ta hiện nay

Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của việc áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết; đánh giá toàn diện tình hình kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết ở nước ta và các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay Tìm ra các hạn chế của hệ thống pháp luật QLNN về Thuế và các nguyên nhân của các thiếu sót đó Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết trong thời gian tới

Trang 14

6.2 Giá trị ứng dụng:

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm góp phần hệ thống lý thuyết về hiệu quả hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết Về mặt thực tiễn đề tài cung cấp thông tin cần thiết về hiệu quả hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết cho các cơ quan nhà nước nói chung để từ đó đề xuất giải pháp thiết thực và phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết trên thực tế

7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về né thuế thông qua giao dịch liên kết Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về kiểm soát né thuế

thông qua giao dịch liên kết

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật kiểm

soát né thuế thông qua giao dịch liên kết

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ

THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA CÁC GIAO DỊCH LIÊN KẾT

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thuế

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khi bàn đến khái niệm về Thuế nói chung, phần lớn người dân hiểu rằng Thuế là một khoản thu nộp của các chủ thể tiến hành

phải thực hiện đối với nhà nước và có vai trò quan trọng trong hình thành ngân sách quốc gia và công cụ điều tiết hành vi của người nộp thuế của mỗi quốc gia, chủ thể có thẩm quyền quy định về thuế Song cách hiểu trên vẫn có nhiều điểm

chưa đúng và đầy đủ bởi lẽ cách hiểu như trên đánh đồng tất cả các chủ thể nhưng trên thực tế thì không phải chủ thể nào cũng phải nộp thuế vì việc tiến hành nộp thuế phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Xét về mặt ngôn ngữ học thì Thuế được hiểu như sau: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế 1 Khái niệm

trên đã đưa ra một cách nhìn tương đối hoàn thiện về Thuế đến với người đọc

Song, khái niệm trên chưa thể hiện được bản chất, vai trò để qua đó đưa tới cho các chủ thể có thể hiểu, thực hiện sao cho đúng và hiệu quả Quy định của pháp luật

Việt Nam thì xem Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như

giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội Vì vậy, hoạt động thu

thuế ở nước ta hiện nay được xem là một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội Việc ban hành các quy định của pháp luật

1 Từ điển tiếng việt- nxb Đà Nẵng,

Trang 16

về thuế được xem là những cơ sở pháp lý cao nhất, quan trọng nhất khẳng định việc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong quá trình kinh doanh

Từ điển luật học đưa ra khái niệm về Thuế 2 như sau: Là khoản thu của ngân sách nhà nước không hoàn trả và không mang tính đối giá, do cơ quan quyền lực nhà nước quy định Thuế được thu dưới hình thức bằng vật hoặc bằng tiền Thuế là

khoản nhà nước thu đối với tổ chức, cá nhân có các hoạt động sản xuất, kinh doanh,

có thu nhập hoặc tài sản được pháp luật xác định là đối tượng chịu thuế nên quan hệ thu, nộp này không mang tính đối giá Thuế thực hiện theo quy trình được pháp luật quy định Điều này được thể hiện bằng các quy phạm pháp luật được quy định tại các văn bản pháp luật quy định về Thuế nói chung Việc xây dựng và ban hành các quy định về thuế là bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Thuế ở nước ta, phục vụ đắc lực trong quá trình xây dựng và kiến thiết đất nước của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động thu thuế thu nhập doanh nghiệp thì các chủ thể cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam về Thuế nói chung

Đối với đời sống kinh tế xã hội có thể nói rằng: Thuế đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế phát triển Ở Việt Nam, một trong các loại thuế mà các doanh nghiệp phải nộp đó là Thuế Nhìn chung, có thể thấy vai trò của thuế là thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế, tức là đánh vào thu nhập của các chủ thể nói chung Trong QLNN về Thuế có thể thấy mang tính chất là thuế tài sản đã phân biệt rõ đối tượng đánh thuế và là căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ

sở đánh thuế, tránh được sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế Bản chất của thuế là sự thể hiện thuộc tính bên trong vốn

có của nó Đối với Thuế thì các đặc điểm của loại thuế này đã mang những thuộc tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển Thông qua quá trình áp dụng vào thực tế thì bản thân chúng ta nhận thấy thuế có những đặc trưng riêng biệt để

phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác, cụ thể là:

2 Từ điển tiếng việt- nxb Đà Nẵng, 2010, Từ điển luật học

Trang 17

Một là, thuế mang tính chất bắt buộc Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn

có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nước

Hai là, thuế mang tính không đối giá Sự chuyển giao thu nhập thông qua

thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ, hàng hóa công do Nhà nước cung cấp Thuế là khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp

Ba là, thuế được dùng vào chi tiêu công Đặc điểm này cho thấy nguồn thu

từ thuế vào ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công của Nhà nước, không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân

Bốn là, thuế mang tính không hoàn trả Đặc tính này cho thấy nộp thuế cho

Nhà nước không giống như hình thức cho Nhà nước vay tiền nên không thể đòi hỏi Nhà nước phải hoàn trả, bởi vì nguồn thu từ thuế được dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu công mà phần lớn khoản chi này mang tính cấp phát nên nộp thuế cho Nhà nước là san sẻ một phần gánh nặng các khoản chi của Nhà nước

Từ các đặc điểm trên, có thể hiểu “né thuế” hay “tránh thuế” là khái niệm dùng để chỉ các biện pháp của người nộp thuế nhằm khai thác tối đa các cơ chế thuế một cách hợp pháp nhằm giảm thiểu khoản thuế phải nộp bằng các phương tiện trong khuôn khổ pháp luật Như vậy khác với “trốn thuế”3, phương tiện sử dụng để

“né thuế” là phương tiện hợp pháp, được luật pháp cho phép

1.1.2 Khái niệm về giao dịch liên kết

“Giao dịch liên kết” là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng máy móc, thiết bị, hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn

3 “ Trốn thuế” là hành vi cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn trả hoặc được miễn giảm.

Trang 18

lực như hợp lực, hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết4

Giao dịch liên kết thường có các đặc điểm sau:

Các bên có quan hệ liên kết (bên liên kết) là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia

- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;

- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng sổ cổ phần của doanh nghiệp kia;

- Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;

- Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;

- Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;

- Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp chịu sự điều hành, kiểm soát quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia

4 Khoản 3 Điều 4 Nghị định 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ

Trang 19

Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác

- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;

- Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;

- Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, ông nội, bà nội, cháu nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ngoại, cô, chú, bác, cậu, dì ruột và cháu ruột;

- Một hoặc nhiều doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp;

“Giao dịch liên kết” thường được sử dụng để khai thác các khác biệt về thuế suất giữa các quốc gia hay giữa các vùng, miền trong một quốc gia, liên quan hoạt động chuyển giá, giảm lợi nhuận, doanh thu chịu thuế nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, giảm tổng nghĩa vụ thuế của cả Tập đoàn

Vấn đề quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết từ lâu đã

là mối quan tâm của cơ quan quản lý thuế Tổng cục thuế đã thành lập 4 phòng thanh tra giá chuyển nhượng tại 4 Cục thuế lớn: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương từ tháng 10 năm 2015 với chức năng chuyên biệt về thanh tra giá chuyển nhượng Trong năm 2016, có hơn 300 doanh nghiệp là đối tượng của thanh tra giá chuyển nhượng Trong đó, số tiền thuế truy thu và ấn định tiền phạt ước tính hơn 27 triệu Đô la Mỹ, bên cạnh đó giảm lỗ sau thanh tra ước tính 200 triệu USD

Để hoàn thiện khung pháp lý, trong năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 20/2017/NĐ-CP và ngày 24 tháng 02 năm 2017 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết Đây là nỗ lực của cơ quan thuế Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế theo chương trình Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (“BEPS”) Tiếp theo đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 41/2017/TT-BTC ngày 15 tháng 06 năm 2017 (“Thông tư 41”) hướng dẫn thực hiện một số điều khoản của Nghị Định 20 Thông tư 41 có hiệu lực kể từ ngày Nghị định 20 có hiệu

Trang 20

lực thi hành, tức là từ ngày 1 tháng 5 năm 2017, thay thế cho Thông tư BTC (“Thông tư 66”) ngày 22 tháng 04 năm 2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết

66/2010/TT-Nghị định 20 và Thông tư 41 đã giới thiệu nhiều khái niệm giao dịch liên kết

là gì cũng như các quy định mới với một số nội dung chính như sau:

Nguyên tắc “bản chất quyết định hình thức”;

Thay đổi trong quy định về bên liên kết;

Các lưu ý về phân tích so sánh và xác định giá giao dịch liên kết;

Thay đổi về nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết kèm theo Giới thiệu các biểu mẫu đính kèm;

Các trường hợp miễn nghĩa vụ chuẩn bị Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và kê khai;

Chi phí không được trừ cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp; Thời hạn cho việc chuẩn bị, lưu trữ, xuất trình Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết và các tờ khai; và

Quyền hạn của cơ quan thuế trong quản lý giá giao dịch liên kết

Ngoài ra, các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này

là các giao dịch phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế

có quan hệ liên kết theo quy định tại Nghị định này, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước được thực

hiện theo quy định của pháp luật về giá

1.1.3 Khái niệm pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết

Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm pháp luật về kiểm soát

né thuế thông qua giao dịch liên kết, tuy vậy, các quan điểm đều đồng nhất cho rằng, cần có những quy định cụ thể để điều chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về Thuế nhằm hoàn thiện khung hành lang pháp lý về lĩnh vực này

Ở nước ta hiện nay, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước thì việc hoạch định và tổ chức xây dựng các văn bản pháp luật, các nhà quản lý, nhà làm luật đều rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên kết Trong phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên kết với luật chuyên ngành

đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao

Trang 21

Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ nộp thuế mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần vào việc kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên kết Đối với việc né thuế thông qua các giao dịch liên kết thì các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý về mức độ do hậu quả của hành vi đó mang lại

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về vấn đề kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên kết, mà trên thực tế việc quy định pháp luật về thuế nói chung, tùy thuộc vào các quy định của pháp luật về kiểm soát

né thuế thông qua các giao dịch liên kết được quy định cụ thể cho từng hành vi và mức độ gây hậu quả của hành vi đó mang lại được quy định rãi rác trong các văn bản dưới luật Như vậy, Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua các giao dịch liên

kết có thể được định nghĩa như sau: “Pháp luật về kiểm soát né thuế thông qua giao

dịch liên kết có nghĩa là các quy định pháp luật có liên quan nhằm thực hiện hoạt động quản lý về Thuế thông qua các giao dịch liên kết của các doanh nghiệp Từ

đó, đảm bảo được hoạt động QLNN về Thuế nhằm tạo ra sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp giúp đảm bảo được nguồn thu ngân sách chống thất thu thuế”

1.2 VAI TRÒ CỦA VIỆC KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT

Đối với hoạt động xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quản lý ngân sách nhà nước trong thực tế được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội giàu mạnh, phát triển và đáp ứng với quá trình hội nhập của đất nước trong tình hình mới

Vấn đề quản lý nhà nước về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết thông qua sự điều chỉnh của pháp luật sẽ được duy trì ổn định để đảm bảo sự phát triển của xã hội Hoạt động kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết được hình thành từ việc đóng góp, thực hiện nghĩa vụ nói chung cũng như đầu tư với mục đích đã được đề ra Cùng với quá trình phát triển thì việc kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giữ vai trò thiết thực Do đó, cần thiết ban hành một hành lang pháp lý hoàn thiện để thực hiện quản lý vấn đề này một cách hiệu quả hơn Đứng trước những yêu cầu và thách thức đó, để cho đất nước phát triển một cách bền vững, đòi hỏi

Trang 22

phải có những chính sách, quy định phù hợp nhằm đảm bảo cho việc QLNN về Thuế một cách hiệu quả trong thực tiễn nói chung Bên cạnh đó, đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay thì vấn đề quản lý Thuế một cách có hiệu quả giữ vai trò tiên quyết đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Việt Nam trong tình hình mới Bên cạnh những tác động kinh tế vô cùng quan trọng mà Thuế mang lại đối với cộng đồng – xã hội từ đó đã khẳng định vai trò của kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết Cần thiết ban hành những quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Xét về bản chất thì vai trò của Thuế với sự phát triển kinh tế

- xã hội có mối quan hệ tương hỗ, mật thiết với nhau Nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các chủ thể nói chung thì pháp luật luôn có định hướng và dưới sự quản lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được thực hiện một cách cụ thể Việc thực thi pháp luật cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo trên thực tế các quyền của các chủ thể khi áp dụng các quy định về Thuế được đảm bảo Do đó, pháp luật cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc QLNN về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết nói chung

Hiện nay, vấn đề về sử dụng hợp lý Thuế bên cạnh những thành quả đạt được thì còn những tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước và cộng đồng Những hành vi vi phạm trên thực tế đã mang lại nhiều hậu quả trước mắt và lâu dài đối với đất nước ta Do đó, việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển trong hoạt động của Thuế trở thành những yêu cầu cấp thiết Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật trong công tác QLNN về Thuế một cách nghiêm minh

Những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã ban hành các quy định pháp luật nhằm quản lý vấn đề kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết đã đạt hiệu quả lớn, việc kiên quyết xử lý những hành vi vi phạm cũng như hình thành hành lang pháp lý cơ bản về QLNN về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết Việc làm đó đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của luật pháp trong việc bảo

vệ sử dụng các quy định về Thuế của các cơ quan chủ quản Có thể nói, trong tiến trình đổi mới đất nước, pháp luật về quản lý nhà nước về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết đã góp phần quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngăn chặn và đẩy lùi một phần hành vi vi phạm trong lĩnh vực này, góp phần đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, duy trì và tạo được một số

Trang 23

chuyển biến khả quan về mặt xã hội, góp phần không nhỏ trong việc củng cố tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo thế và lực đưa nước ta từng bước hội nhập với thế giới Chúng ta cũng đang từng bước xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp về quản lý nhà nước về kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết cho phù hợp với tình hình và nhiệm

vụ mới Nhiều văn bản pháp luật và dưới luật về vấn đề này đã được các cơ quan có thẩm quyền ban hành và áp dụng có hiệu quả vào thực tiễn

Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với vấn đề kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết chưa đạt hiệu quả cao Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành về xử lý các hành vi vi phạm của các chủ thể còn nhiều bất cập, những kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp luật và quản

lý xã hội bằng pháp luật trong hoạt động quản lý Thuế còn nhiều hạn chế Việc nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật về quản lý Thuế trong giai đoạn hiện nay chưa phát huy vai trò, cơ sở vốn có của nó

Thực tế những năm vừa qua ở nước ta cho thấy, hệ thống pháp luật về quản

lý nhà nước trong công tác kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã hội Việc nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thuế đã tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển đất nước trong tình hình mới Để làm được điều đó, đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp quan trọng Quá trình tổ chức tốt việc đưa pháp luật về vấn đề này thực sự là điều vô cùng quan trọng Nó không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, mà còn tạo ra khả năng nhằm nâng cao ý thức trong quá trình bảo vệ và phát triển đất nước trong giai đoạn đất nước cùng hội nhập và phát triển, đẩy mạnh hơn nữa các chương trình kinh tế – xã hội, hoàn thiện các văn bản pháp luật về quản lý kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết phù hợp với yêu cầu của đất nước và bối cảnh quốc tế Mặt khác, cũng cần phải tăng cường lực lượng, phương tiện, kinh phí cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, xây dựng các cơ quan này thực sự trong sạch, vững mạnh đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại, vai trò của nhà nước trong việc ban hành các quy định pháp luật về

kiểm soát né thuế thông qua giao dịch liên kết nhằm chống thất thoát ngân sách nhà nước, tăng nguồn thu tạo sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau, đảm bảo công bằng xã hội

Trang 24

1.3 KINH NGHIỆM MỘT SỐ QUỐC GIA KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT

Như đã đề cập ở trên, giao dịch liên kết là giao dịch phát sinh giữa các bên

có quan hệ liên kết trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề mang ý nghĩa rộng không chỉ giữa các công ty ở trong nước với công ty ở nước ngoài mà còn giữa các công ty trong nước với nhau Ở phần này, với hiểu biết của mình tác giả chỉ đề cập đến pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có quy định về kiểm soát một trong số các hoạt động có tính chất giao dịch liên kết Đó là hoạt động chống “chuyển giá”5

* Malaysia

Vụ quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá (gồm Phòng chính sách, Phòng thanh tra, Phòng APA, Phòng quản lý tuân thủ) được thành lập tại cơ quan thuế trung ương Malaysia có trách nhiệm quản lý các giao dịch liên kết của các công ty đa quốc gia Phòng quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá được thành lập tại các Cục Thuế lớn có trách nhiệm quản lý các giao dịch liên kết của các doanh nghiệp nội địa Trên cơ sở khuyến nghị của OECD, Malaysia đã ban hành quy định về chống chuyển giá Theo đó, Malaysia đã ban hành hai tờ khai về chuyển giá, một tờ khai dành cho các doanh nghiệp nước ngoài và một tờ khai dành cho các doanh nghiệp trong nước Cơ quan thuế Malaysia sẽ dùng các tờ khai này

để thanh tra thuế và thanh tra chuyển giá đối với các công ty

Ngoài ra, đối với việc xác định các doanh nghiệp có thực hiện chuyển giá hay không, Malaysia sử dụng phương pháp so sánh giá thị trường tự do, phương pháp dựa vào giá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn, phương pháp phân chia lợi nhuận, phương pháp lợi tức thuận từ giao dịch Cùng với đó, Malaysia không có quy định riêng về hình thức phạt mà áp dụng quy định xử phạt về thuế chung trong luật Mức phạt dao động từ 100% - 300% số thuế bị phát hiện gian lận

thực hiện các giao dịch qua lại mà các giao dịch này không theo giá thị trường (giá giao dịch độc lập) dẫn đến làm giảm số thuế mà lẽ ra doanh nghiệp phải nộp nếu các bên giao dịch theo đúng nguyên tắc giao dịch độc lập.

Trang 25

Đồng thời, Malaysia cũng công khai danh tính những doanh nghiệp thực hiện chuyển giá chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.6

* Thái Lan

Thái Lan đã ban hành Luật Chống chuyển giá và đã thực hiện từ hơn 10 năm nay Theo đó, cơ quan thuế của Thái Lan đã thiết lập được một cơ sở dữ liệu khá đầy đủ, có thể dễ dàng đối chiếu được doanh nghiệp nào giao dịch theo hoặc không theo giá thị trường Cơ sở dữ liệu này sẽ tập trung vào các công ty đang là mục tiêu

để tiến hành kiểm tra sổ sách và điều tra, cụ thể là các công ty có các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tục hơn hai năm; tổng số lợi nhuận âm; không nộp thuế trong một giai đoạn dài; có các giao dịch đáng kể của cùng nhóm liên quan và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủ cạnh tranh Ngoài ra, để ngăn chặn, xử lý tình trạng chuyển giá, cơ quan thuế của Thái Lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác Cùng với đó là tài liệu giải thích doanh số của công ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của công ty với các tổ chức kinh doanh liên kết.7

* Singapore

Singapore là quốc gia có nhiều tập đoàn lớn của nước ngoài hoạt động, tuy nhiên, Singapore lại không có luật riêng để quản lý hoạt động chuyển giá Vấn đề liên quan đến hoạt động chuyển giá được quy định trong luật chung về thuế Những quy định về chuyển giá của Singapore được xây dựng dựa trên hướng dẫn của OECD Tuy nhiên, Singapore hầu như không ưu tiên cho phương pháp nào trong số các phương pháp được hướng dẫn của OECD Phương pháp xác định giá chuyển giao nào đưa ra kết quả chính xác, đáng tin cậy nhất sẽ được lựa chọn và áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể

Bên cạnh đó, tương tự như Malaysia, Singapore cũng không quy định mức phạt cụ thể dành riêng cho hành vi chuyển giá Mức phạt chung cho các vi phạm về thuế nằm từ khoảng 100% - 400% khoản thuế phải trả Một điểm đáng lưu ý trong

6 asean-va-bai-hoc-cho-viet-nam-71713.html

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/chong-chuyen-gia-tai-cac-nuoc-7 asean-va-bai-hoc-cho-viet-nam-71713.html

Trang 26

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/chong-chuyen-gia-tai-cac-nuoc-thực tế là khi một vụ điều tra về chuyển giá được tiến hành, án phạt gần như sẽ được áp dụng nếu đơn vị đóng thuế không có hoặc không đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc điều tra chuyển giá Các tài liệu tối thiểu cần có khi kiểm tra về vấn

đề chuyển giá bao gồm: Mô tả về các bên liên quan trong chuyển nhượng (bao gồm giá trị mua bán và các điều khoản ký kết); văn bản phân tích sâu trong đó mô tả những yếu tố chính liên quan đến quá trình mua bán như chức năng, sự phát triển của tài sản, việc sử dụng tài sản và các rủi ro được dự báo; bảng đánh giá của đơn vị đóng thuế về những rủi ro về thuế của đơn vị

Việc ban hành hướng dẫn về chuyển giá của Singapore chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của doanh nghiệp về vấn đề chuyển giá Các thỏa thuận

về giá đơn phương, song phương hay đa phương đều được chấp nhận ở Singapore Tuy nhiên, đối với các thỏa thuận song phương và đa phương thì phải có thỏa thuận thuế kép giữa Singapore và quốc gia liên quan.8

*Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, có số dân đông nhất thế giới và có nền kinh tế đang phát triển mạnh Do đó, nước này chứa đựng nhiều tiềm năng về nguồn lực và thị trường tiêu thụ hàng hóa Trong những năm qua, Trung Quốc là nước thu hút nguồn vốn FDI nhiều nhất thế giới Tuy nhiên, đa phần các doanh nghiệp FDI

kê khai thua lỗ trong khi lại tăng cường mở rộng sản xuất kinh doanh ở nước này Một trong những nguyên nhân doanh nghiệp FDI kê khai lỗ là vấn đề liên quan đến giao dịch liên kết nhằm chuyển giá do nhận định việc Chính phủ Trung Quốc chưa

có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chuyển giá cũng như khung pháp lý chưa bắt kịp với sự phát triển kinh tế Để tăng cường vấn đề liên quan đến giao dịch liên kết nhằm chuyển giá, Trung Quốc đã ban hành Luật Quản lý thuế số 59 “Quy định

về quản lý thuế đối với các giao dịch giữa các bên liên kết” vào tháng 4 năm 1998 Quy định này được xây dựng theo hướng dẫn của OECD và áp dụng cho nhiều sắc

8 http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=MOFUCM 118113&dID=123455&_afrLoop=53720828875466827

Trang 27

thuế khác nhau: thuế GTGT, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu,… Đồng thời, Trung Quốc cũng ban hành Thông tư về chống chuyển giá.9

*Hoa Kỳ

Quy định về thuế suất thuế TNDN tại Hoa Kỳ (35%) cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác nên các công ty đa quốc gia có xu hướng chuyển lợi nhuận ra khỏi nước này để né thuế Hoạt động chuyển giá tại nước này ngày càng trở nên phổ biến, tinh vi và phức tạp Trước tình hình chuyển giá của các công ty đa quốc gia làm giảm thu nhập chịu thuế tại nước này, Chính phủ đã có một số biện pháp chống chuyển giá tương đối nghiêm ngặt bằng cách ban hành các quy định, các đạo luật chống chuyển giá Đạo luật cơ bản và đầy đủ nhất về việc chống chuyển giá tại Hoa

Kỳ là đạo luật IRS Sec 482 Đạo luật này quy định nguyên tắc căn bản giá thị trường là cơ sở điều chỉnh giao dịch chuyển giao giữa các công ty liên kết đồng thời khuyến khích cho việc áp dụng phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở chiết tách lợi nhuận Để tăng cường hiệu quả chống chuyển giá và quy định chặt chẽ hơn, đạo luật IRS Sec 6662 được ban hành năm 1993 với 2 chế tài mới đối với hành vi chuyển giá:

- Phạt vi phạm đối với hành vi chuyển giá trong giao dịch liên kết (Transactional Penalty): đối với giao dịch liên kết có chênh lệch đáng kể so với giá giao dịch thông thường trên thị trường theo quy định IRS Sec 482 làm cho lợi nhuận tại Hoa Kỳ giảm so với thực tế, mức phạt vi phạm là 20% đối với hành vi chuyển giá vượt trên 200% (hay dưới 50%) so với mức mà IRS Sec 482 xác định được

- Phạt bổ sung (Net Adjustment Penalty): phạt bổ sung nếu phần thu nhập chịu thuế sau khi tính lại theo IRS Sec 482 tăng vượt mức xác định trước theo quy định.10

* Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

9 http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=MOFUCM 118113&dID=123455&_afrLoop=53720828875466827

10 http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=MOFUCM 118113&dID=123455&_afrLoop=53722188981810637

Trang 28

Tại Việt Nam, trong những năm qua, giao dịch liên kết nhằm tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế TNDN không chỉ diễn ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn diễn ra giữa các bên liên kết trong nội địa Việt nam, do hiện nay, Việt Nam vẫn đang thực hiện chính sách ưu đãi về thuế TNDN theo ngành nghề kinh doanh và địa bàn đầu tư Lợi dụng chính sách ưu đãi của Chính phủ Việt Nam, các tập đoàn kinh tế trong nước thành lập một số công ty con hoạt động trong những lĩnh vực và địa bàn khác nhau, trong đó có những lĩnh vực, địa bàn được ưu đãi thuế TNDN, từ đó tìm cách chuyển lợi nhuận trước thuế từ doanh nghiệp không được ưu đãi thuế sang doanh nghiệp liên kết được ưu đãi thuế hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ doanh nghiệp có lãi sang doanh nghiệp bị lỗ thông qua giá chuyển giao sản phẩm và cung cấp dịch vụ giữa các bên để giảm thiểu nghĩa vụ thuế tổng hợp của cả tập đoàn Hành vi chuyển giá này của các tập đoàn kinh tế trong nước đã tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau, ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch thu ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và làm giảm tổng số thu ngân sách quốc gia

Trên nền tảng pháp lý hiện hành, trong những năm qua, cơ quan thuế đã có nhiều cố gắng trong việc đấu tranh chống chuyển giá, mà trọng tâm là chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực gia công may mặc, giày da, nước giải khát, Một trong những biện pháp quan trọng trong thực tiễn chống chuyển giá đối với các doanh nghiệp này là tập trung thanh tra thuế các doanh nghiệp liên tục kê khai lỗ kéo dài mà vẫn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh Qua thanh tra thuế bước đầu đã phát hiện những doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá để tiến hành đấu tranh đảm bảo xác định lại giá chuyển giao theo quy định của pháp luật Trong một số trường hợp, cơ quan thuế đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm xác định đúng giá trị giao dịch, điển hình là phối hợp với các cơ quan chức năng như công an, tài chính; phối hợp với cơ quan thuế các nước để nắm bắt thông tin về giao dịch kinh tế của các doanh nghiệp

Để nâng cao hiệu quả hoạt động chống chuyển giá ở Việt Nam trong thời gian tới, cần quan tâm trước tiên đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động chống chuyển giá theo hướng dẫn của OECD công bố, cập nhật hằng năm về hành vi chuyển giá nhằm kiểm soát né thuế của các công ty đa quốc gia tùy theo điều kiện cụ thể của Việt Nam và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong quản lý thuế nói riêng và quản lý nhà nước nói chung Cụ thể là:

Trang 29

Xem xét điều chỉnh mức thuế suất thuế TNDN của Việt Nam không quá chênh lệch với thuế suất của các nước trong khu vực, cũng như giữa các địa phương trong nước, để ngăn chặn động cơ chuyển giá nhờ khai thác chênh lệch mức thuế giữa các địa phương

Tăng cường sử dụng công cụ chống chuyển giá hữu hiệu trên thế giới là quyền thương thảo giá trước (gọi là phương thức APA) được đánh giá là có hiệu quả và đang được hơn 40 quốc gia trên thế giới áp dụng, theo đó, doanh nghiệp nộp thuế và cơ quan thuế thỏa thuận phương pháp xác định giá với giao dịch liên kết trong một khoảng thời gian nhất định

Bên cạnh đó, cần tăng cường quyền ấn định thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động giao dịch liên kết chuyển giá; đồng thời, bổ sung quy phạm pháp luật về điều chỉnh đối với các dự án đang hoạt động kinh doanh có số lỗ vượt vốn chủ sở hữu; quy định lại các chi phí khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế đảm bảo rõ ràng, minh bạch, gắn với diễn biến chi phí thực tế trên thị trường Bên cạnh đó, cần xây dựng văn bản quy định về việc quản lý, định giá đối với trường hợp các dự án đầu

tư góp vốn bằng tài sản, máy móc thiết bị và một số khoản chi phí đặc biệt khác, như chi phí thuê quản lý nước ngoài, chi sử dụng vốn vay của tổ chức nước ngoài

Để công tác đấu tranh chống chuyển giá ngày càng có hiệu quả, cần phải nghiêm túc xem xét, đánh giá đúng tính chất của vấn đề và có lộ trình giải pháp thích hợp, để hạn chế tình trạng thất thu NSNN, giữ cạnh tranh thị trường lành mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút đầu tư, cũng như môi trường đầu tư nói chung, thực hiện tốt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2011-2020

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA

201213 Năm 2014, cả nước có 74.842 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 432,2 nghìn tỷ đồng, giảm 2,7% về số doanh nghiệp và tăng 8,4% về

số vốn đăng ký so với năm trước14 Trong năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014 (Năm

2014, số doanh nghiệp giảm 2,7%; số vốn tăng 8,4% so với năm 2013)15 Như vậy,

có thể thấy tình hình đăng ký doanh nghiệp có xu hướng tăng bất chấp tình hình biến động của tình hình kinh tế thế giới, trong khu vực Điều này thể hiện qua số liệu 07 tháng năm 2016, cả nước có 64.122 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với

11 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011

12 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2012

13 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013

14 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2014

15 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2015

Trang 31

tổng vốn đăng ký là 497 nghìn tỷ đồng, tăng 23,3% về số doanh nghiệp và tăng 54,7%

về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, tăng 25,4% Bên cạnh đó còn có 894,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng

ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn, nâng tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 7 tháng năm 2016 đạt 1391,9 nghìn tỷ đồng16

Để đạt được điều này là do sự quan tâm kịp thời, hiệu quả của Đảng và Nhà nước thông qua sự thay đổi kịp thời, nhanh chóng của một số chính sách thúc đầy phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua nhằm đáp ứng với chuyển biến tình hình trong và ngoài nước Chính vì điều này đã góp phần đảm bảo cho diện mạo của nước ta được khởi sắc, đồng thời cũng góp phần vào sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho nước ta trong những năm qua

Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhằm kết nối sản xuất với các doanh nghiệp trong nước để cả hai khối

có sự phát triển đồng đều, đủ năng lực tham gia vào các chuỗi sản xuất có giá trị của thế giới Tính đến ngày 31/12/2016, cả nước có khoảng 17.493 doanh nghiệp có vốn FDI chi phối Quy mô tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI luôn duy trì ở mức cao, như tốc độ tăng trưởng doanh thu tăng từ 21,2% (năm 2014 – 2015) lên mức 21,7% (năm 2015 – 2016), lợi nhuận trước thuế năm 2016 đạt 311,07 nghìn tỷ đồng, tăng 39,7% so với năm 2015 Theo tổng hợp chung thì năm 2016 hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn FDI ở mức cao như: tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu là 16,3% và tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản là 5,82% Theo số liệu thống kê, mặc dù số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ không cao nhưng doanh nghiệp FDI lại tạo ra lợi nhuận lớn nhất so với các thành phần kinh tế còn lại, cụ thể năm 2016 các doanh nghiệp FDI tạo ra 327,4 nghìn tỷ đồng lợi nhuận, chiếm 45,9% lợi nhuận của toàn bộ doanh nghiệp Với lợi nhuận tạo ra lớn như vậy song các doanh nghiệp này lại có tỷ lệ đóng góp vào NSNN thấp nhất trong các thành phần kinh tế, chỉ 250,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với khu vực tư nhân (434,7 nghìn tỷ đồng) và khu vực nhà nước (277,3 nghìn tỷ

16 Tổng cục thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng năm 2016

Trang 32

đồng)17 Giải thích cho vấn đề này có thể là do chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đối với các doanh nghiệp FDI Do đó, Chính phủ đã có một số ưu đãi lớn về thuế (thuế TNDN, thuế nhập khẩu,…) nhất định đối với một số lĩnh vực Tuy nhiên, không tránh khỏi một số doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi của nhà nước thực hiện các hành vi chuyển giá giữa các doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết nhằm né thuế, trốn thuế Chính vì vậy mà số lượng các doanh ngiệp FDI đóng góp cho nguồn thu NSNN ngày càng giảm Theo số liệu phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 2012 đến năm 2016 cho thấy, số lượng doanh nghiệp FDI báo lỗ hằng năm từ 44% đến 51%, đặc biệt năm

2015 là 51% và năm 2016 là 50% trên số lượng doanh nghiệp có báo cáo tài chính18 Mặc dù các doanh nghiệp này báo lỗ liên tục nhiều năm nhưng tốc độ mở rộng quy mô đầu tư cũng như hoạt động của các doanh nghiệp này ngày càng gia tăng Điều này cho thấy tình trạng lách luật, né thuế của các doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết diễn ra ngày càng tinh vi và phức tạp, điển hình nhất là hành vi

“chuyển giá”

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT NÉ THUẾ THÔNG QUA GIAO DỊCH LIÊN KẾT

2.2.1 Hệ thống pháp luật quy định về giao dịch liên kết

* Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1997:

Từ cuối những năm 1990, vấn đề chống gian lận thuế qua định giá chuyển nhượng đã được đề cập trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Trong thời kỳ áp dụng Luật đầu tư nước ngoài, các thông tư hướng dẫn về thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã quy định 3 phương pháp xác định giá thị trường nhằm tạo cơ sở để cơ quan thuế tiến hành kiểm soát giao dịch liên kết nhằm chống chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nhưng trên thực tế, cơ quan thuế các cấp chưa thể áp dụng hiệu quả các quy định này vì nhiều lý do khác nhau

* Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006:

17 Theo số liệu thống kê của Cục Tài chính doanh nghiệp-Bộ Tài chính

18 Theo số liệu báo cáo tổng kết (2016) của Tổng cục Thuế-Bộ Tài chính

Trang 33

Từ năm 1997, hệ thống chính sách pháp luật quản lý thuế của Việt Nam đã hình thành khung pháp lý đầu tiên cho việc xử lý về thuế đối với các trường hợp liên quan đến giao dịch liên kết và được quy định tại Thông tư số 74/1997/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài Sau Thông tư

số 74/1997/TT-BTC, Bộ Tài chính tiếp tục ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: Thông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16 tháng 7 năm 1999 và Thông

tư số 13/2001/TT-BTC ngày 8 tháng 3 năm 2001, trong đó có quy định việc xử lý

về thuế đối với các trường hợp liên quan đến giao dịch liên kết Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ từ năm 1997 đến năm 2005, mặc dù đã có khung pháp lý điều chỉnh nhưng thực trạng doanh nghiệp lạm dụng giao dịch liên kết để chuyển giá vẫn tiếp tục tồn tại, ngày càng phức tạp và gia tăng Các Thông tư nêu trên đã bộc lộ những mặt tồn tại, hạn chế, khó khăn trong việc giải quyết đối với các trường hợp giao dịch liên kết né thuế như: việc quy định các bên có mối quan hệ liên kết còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng nên việc hiểu và xác định mối quan hệ liên kết của các

cơ quan chức năng có thẩm quyền và người nộp thuế không thống nhất; không quy định các tổ chức, cá nhân có giao dịch kinh doanh với bên liên kết có nghĩa vụ kê khai và điều chỉnh đối với các giao dịch mua, bán sản phẩm không theo giá thị trường Cơ quan thuế có trách nhiệm xác định giá thị trường theo quy định đối với sản phẩm được chuyển giao giữa người nộp thuế với bên liên kết trong quá trình ấn định thuế đối với người nộp thuế có giao dịch chuyển giao sản phẩm với bên liên kết không theo giá thị trường Do vậy không khuyến khích tính tự giác tuân thủ và minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; chỉ quy định 3 phương pháp xác định giá thị trường (Phương pháp so sánh giá thị trường, Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào, Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác định thu nhập chịu thuế) nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết về cách lựa chọn giao dịch độc lập tương đồng để so sánh với giao dịch liên kết và chưa có hướng dẫn chi tiết cách xác định giá trị phù hợp làm căn cứ điều chỉnh giá đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết khi thực hiện tính toán và ấn định thuế

* Giai đoạn từ năm 2006 đến ngày 06/06/2010:

Sau khi Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính

ra đời và có hiệu lực thi hành từ năm 2006, chính sách về quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá giữa doanh nghiệp Việt Nam với các bên có quan hệ liên kết đã có những bước thay đổi quan trọng và đáng kể, tính phù hợp với thông lệ quốc tế cũng

Trang 34

được cải thiện, đã tác động mạnh mẽ đến hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp Việt Nam có mối quan hệ với các bên liên kết, nhất là các doanh nghiệp FDI Thông

tư được xây dựng theo tư duy quản lý thuế mới, đó là doanh nghiệp tự kê khai thông tin giao dịch liên kết với cơ quan quản lý thuế và thực hiện điều chỉnh đối với các giao dịch liên kết không theo giá thị trường khi thực hiện kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ quan quản lý thuế; cung cấp và chứng minh việc xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết khi có yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền; cơ quan thuế tập hợp thông tin, phân tích lựa chọn rủi ro, yêu cầu doanh nghiệp giải trình và chỉ thực hiện thanh tra trong trường hợp cần thiết hoặc khi có biểu hiện không hợp tác từ phía doanh nghiệp Đây là cơ sở pháp

lý để góp phần khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tính tự giác, tuân thủ trong việc xác định giá giao dịch với bên liên kết theo giá thị trường Thông tư số 117/2005/TT-BTC đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế của các Thông tư trước đó của Bộ Tài chính, như sau:

- Quy định chi tiết, đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn về mối quan hệ giữa các bên liên kết: đã quy định về tỷ lệ vốn cổ phần hoặc tổng tài sản nắm giữ của bên liên kết ;

- Hướng dẫn cụ thể và chi tiết việc phân tích, so sánh giao dịch độc lập với giao dịch liên kết và việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên liên kết;

- Quy định nghĩa vụ xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết và kê khai thông tin giao dịch liên kết thuộc về doanh nghiệp, do đó đã nâng cao tính tự giác tuân thủ của doanh nghiệp (các Thông tư trước đó quy định trách nhiệm xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết thuộc

về cơ quan thuế trong trường hợp ấn định giá giao dịch liên kết);

- Mở rộng việc áp dụng các phương pháp xác định giá thị trường hơn các quy định trước đó Quy định 05 phương pháp xác định giá thị trường: phương pháp

so sánh giá giao dịch độc lập, phương pháp giá bán lại, phương pháp giá vốn cộng lãi, phương pháp so sánh lợi nhuận và phương pháp tách lợi nhuận Trong khi các văn bản trước đó không cho phép áp dụng phương pháp so sánh lợi nhuận và phương pháp tách lợi nhuận Do vậy, việc xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch liên kết được thực hiện thuận lợi và dễ dàng hơn

* Giai đoạn từ ngày 06/06/2010 đến ngày 01/05/2017:

Trang 35

Ngày 22/04/2010, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 66/2010/TT-BTC thay thế cho Thông tư số 117/2005/TT-BTC Về cơ bản, các quy định về xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết nêu tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC được dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Thông tư số 66/2010/TT-BTC về cơ bản đã điều chỉnh được các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp liên kết như: việc quy định các bên liên kết rõ ràng, cụ thể hơn các quy định trước đây; nguồn thông tin, dữ liệu được phép sử dụng để phân tích, so sánh về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xác định giá thị trường của doanh nghiệp và của cơ quan thuế, như:

- Quy định về khác biệt trọng yếu trong so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập đã được lượng hoá, không chỉ mang tính định tính như quy định trước đây, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thống nhất giữa cơ quan thuế với doanh nghiệp và giữa nội bộ cơ quan thuế với nhau;

- Hướng dẫn về xác định giá thị trường đã được quy định riêng đối với trường hợp mua và trường hợp bán, đảm bảo thống nhất giữa nguyên tắc chung với việc hướng dẫn cụ thể về xác định giá thị trường;

- Mẫu biểu kê khai thông tin giao dịch liên kết được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện cho việc kê khai của doanh nghiệp

Thông tư 66/2010/TT-BTC ra đời, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản pháp lý về chống chuyển giá được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, cả doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp khác Thêm vào đó, những hạn chế, bất cập của Thông tư 117/2005/TT-BTC đã được khắc phục Về cơ bản, các quy định và các phương pháp xác định giá thị trường của Thông tư 66/2010/TT-BTC đã phù hợp với thông lệ quốc tế Theo Thông tư này, có 5 phương pháp xác định giá thị trường là: Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; Phương pháp giá bán lại; Phương pháp giá vốn cộng lãi; Phương pháp so sánh lợi nhuận; Phương pháp tách lợi nhuận Ở một cấp độ pháp lý cao hơn, Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định cơ quan thuế có quyền ấn định thuế khi người nộp thuế “Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường” Quy định này không hoàn toàn xử lý vấn đề về giao dịch

Ngày đăng: 19/02/2019, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w