Nhiều năm qua, đánh giá tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến ASEAN đã trở thành chủ đề nghiên cứu được sự quan tâm đặc biệt của giới học thuật, và là mục tiêu quan trọng c
Trang 1HUỲNH THÁI HUY
SỰ TRỖI DẬY CỦA TRUNG QUỐC TRONG NỀN KINH
TẾ TOÀN CẦU VÀ HỆ QUẢ ĐẾN CÁC QUỐC GIA
ASEAN-6
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2HUỲNH THÁI HUY
SỰ TRỖI DẬY CỦA TRUNG QUỐC TRONG NỀN KINH
TẾ TOÀN CẦU VÀ HỆ QUẢ ĐẾN CÁC QUỐC GIA
ASEAN-6
Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với chủ đề “Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu và hệ quả đến các quốc gia ASEAN-6” là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Huỳnh Thái Huy
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT 4
2.1 Sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh: Vai trò của liên kết thương mại 4
2.1.1 Các lý thuyết liên quan 4
2.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 5
2.2 Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu 9
2.2.1 Vị thế hiện nay của Trung Quốc 9
2.2.2 Tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến nền kinh tế toàn cầu 13
2.3 Tổng kết 19
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Phương pháp vectơ tự hồi quy toàn cầu GVAR 21
3.1.1 Phương pháp GVAR 21
3.1.2 Lý do áp dụng phương pháp GVAR 22
3.2 Lý thuyết mô hình GVAR 24
3.2.1 Mô hình VARX* giản đơn 24
3.2.2 Ví dụ biến nội địa và nước ngoài 25
3.2.3 Xây dựng ma trận tỷ trọng thương mại 26
Trang 5PHẦN 4: KẾT QUẢ 35
4.1 Cơ sở dữ liệu và chi tiết các biến trong mô hình 35
4.2 Kết quả ma trận tỷ trọng thương mại 38
4.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 38
4.4 Lựa chọn độ trễ cho mô hình VARX* 42
4.5 Kiểm định tương quan chuỗi phần dư 43
4.6 Quan hệ đồng liên kết, Persistence Profiles (PPs) 47
4.7 Kiểm định ngoại sinh yếu 50
4.8 Kiểm định điểm gãy cấu trúc 51
4.9 Truyền dẫn cú sốc trong thời kỳ trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu 53
PHẦN 5: KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 71
Trang 6Thuật ngữ (tên đầy đủ) Giải thích
OLS (Ordinary Least Squares) Phương pháp bình phương nhỏ nhất FEM (Fixed effects model) Mô hình tác động cố định
REM (Random effects model) Mô hình tác động ngẫu nhiên
GMM (Generalized method of moments) Phương pháp moment bậc cao
VAR (Vector Autoregression) Mô hình vectơ tự hồi quy
SVAR (Structure VAR) Mô hình cấu trúc VAR
VECM (Vector Error-correction Model) Mô hình vectơ sai số hiệu chỉnh
FAVAR (Factor-Augmented VAR) Mô hình VAR tăng cường nhân tố GVAR (Global VAR) Mô hình VAR toàn cầu
ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á WTO (The World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
ACFTA (ASEAN–China Free Trade Area) Khu vực thương mại tự do ASEAN–
Trung Quốc
IMF (International Monetary Fund) Quỹ Tiền tệ Quốc tế
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
PPP (Purchasing Power Parity) Ngang giá sức mua
GDP–PPP GDP được tính theo ngang giá sức mua
FDI (Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 7Bảng 2.1 Một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây về quan hệ giữa liên kết thương
mại và đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh 6
Bảng 2.2 Đóng góp thương mại cho các quốc gia ASEAN-6 trong năm 2016 và 2000 13
Bảng 2.3 Một số nghiên cứu gần đây về hiệu ứng lan tỏa của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến các đối tác thương mại 15
Bảng 3.1 Ma trận tương quan GDP giữa một số quốc gia giai đoạn 2000Q3– 2017Q1 22
Bảng 3.2 Kim ngạch thương mại song phương giữa các quốc gia năm 2009 (đơn vị: USD) 27
Bảng 3.3 Tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia 27
Bảng 3.4 Kim ngạch thương mại song phương năm 2009 (đơn vị: USD) 28
Bảng 3.5 Tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia và khu vực 28
Bảng 4.1 Các quốc gia và khu vực 35
Bảng 4.2 Nguồn dữ liệu 36
Bảng 4.3 Thiết lập các biến số trong mô hình VARX* 37
Bảng 4.4 Ma trận tỷ trọng thương mại 39
Bảng 4.5 Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu 43
Bảng 4.6 Kết quả tiêu chuẩn thông tin lựa chọn độ trễ tối ưu 44
Bảng 4.7 Thống kê F cho kiểm định tương quan chuỗi từ ước lượng mô hình VECMX* 46
Bảng 4.8 Kết quả lựa chọn số quan hệ đồng liên kết 47
Bảng 4.9 Kết quả thống kê Trace và giá trị tới hạn 48
Bảng 4.10 Thống kê F cho kiểm định ngoại sinh yếu của các biến nước ngoài và giá dầu 51
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định ổn định cấu trúc 52
Trang 8Hình 2.1 Tăng trưởng kinh tế thực và đóng góp GDP toàn cầu của Trung Quốc giai
đoạn 1980–2017 (đơn vị: %) 9
Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Trung Quốc giai đoạn 1994–2016 (đơn vị: Tỷ USD) 10
Hình 2.3 Đóng góp của Trung Quốc trong tổng thương mại ASEAN-6 giai đoạn 2000–2016 12
Hình 4.1 PPs cho các vectơ đồng liên kết 50
Hình 4.2 GIRFs của cú sốc sụt giảm một phần trăm GDP Trung Quốc 54
Hình 4.3 GIRFs của cú sốc sụt giảm một sai số chuẩn GDP Trung Quốc 55
Hình 4.4 GIRFs của cú sốc sụt giảm một phần trăm GDP Mỹ 56
Hình 4.5 GIRFs của cú sốc sụt giảm một sai số chuẩn GDP Mỹ 57
Trang 9Toàn cầu hóa cùng sự trỗi dậy của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới Các thay đổi trong liên kết thương mại giữa Trung Quốc, Mỹ cùng các quốc gia ASEAN-6 ảnh hưởng cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh quốc tế đến ASEAN-6 Để đánh giá tác động, tác giả sử dụng mô hình GVAR với ba thiết lập tỷ trọng thương mại nhằm nắm bắt các thay đổi trong liên kết thương mại thế giới Các kết quả chỉ ra rằng tác động dài hạn của cú sốc GDP Trung Quốc lên GDP ASEAN-6 (ngoại trừ Thái Lan) năm 2016 mạnh hơn so với cú sốc năm 2000 Đồng thời, tác động của cú sốc GDP Mỹ năm 2008 lên GDP ASEAN-6 (ngoại trừ Indonesia) thấp hơn so với năm 2000 Các phát hiện giúp giải thích vì sao các quốc gia khu vực ASEAN hồi phục nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
Từ khóa: Mô hình kinh tế vĩ mô; Toàn cầu; GVAR; Liên kết thương mại; Chu kỳ
kinh doanh quốc tế
Trang 10PHẦN 1: GIỚI THIỆU
Những thập niên đã qua chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ của Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực, đưa quốc gia này trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế thế giới Với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2001, cùng sáng kiến thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN–Trung Quốc (ACFTA), ký kết vào tháng 11/2002 đã đánh dấu những bước tiến quan trọng của Trung Quốc trên con đường hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới cũng như nâng cao vai trò cùng sức ảnh hưởng của mình trong khu vực ASEAN Xu thế toàn cầu hóa cùng quá trình gắn kết của các nền kinh tế trên thế giới tạo ra nhiều động lực kinh tế, thúc đẩy các mối liên kết thương mại giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới Minh chứng rõ nét là sự bùng nổ thương mại của Trung Quốc trong gần ba thập kỷ qua, khi đóng góp thương mại thế giới của Trung Quốc từ mức 2,3% trong năm 1993 tăng lên 12,3% vào năm 2015 (WTO, 2017)
Bên cạnh đó, quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc và ASEAN cũng không ngừng phát triển Từ mức đóng góp thương mại chỉ 4,6% trong năm 2001, Trung Quốc nhanh chóng vươn lên trở thành đối tác thương mại lớn nhất, với kim ngạch thương mại song phương đạt 368 tỷ USD vào năm 2016, tương đương 16,5% tổng giá trị thương mại hàng hóa khu vực (ASEAN, 2017a) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc sang ASEAN đạt 9,7 tỷ USD vào năm 2016, đưa Trung Quốc trở thành nguồn cung FDI lớn thứ tư (ASEAN, 2017b)
Sự mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN trong nhiều năm qua có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi bên (Aslam, 2012) Có thể thấy, tiến trình toàn cầu hóa cùng sự trỗi dậy của Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới nói chung và ASEAN nói riêng Hệ quả là cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh quốc tế đến ASEAN có thể đã thay đổi (Cesa-Bianchi & cộng sự, 2012; Waal & Eyden, 2016)
Trang 11Sự tăng cường liên kết thương mại với Trung Quốc thời gian qua làm các đối tác thương mại, đặc biệt là các quốc gia khu vực ASEAN nhạy cảm hơn với các cú sốc GDP xuất phát từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này (Inoue & cộng sự, 2015; Rafiq, 2016) Nhiều năm qua, đánh giá tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến ASEAN đã trở thành chủ đề nghiên cứu được sự quan tâm đặc biệt của giới học thuật, và là mục tiêu quan trọng của các nhà hoạch định chính sách, nhất là khi: (1) nhiều loại thuế quan được cắt giảm hoặc xóa bỏ trong khuôn khổ chung Khu vực mậu dịch tự do ASEAN–Trung Quốc (ACFTA), thúc đẩy mối liên kết thương mại giữa hai bên phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới (Park & cộng sự, 2009; Paladini & Cheng, 2015); (2) nền kinh tế Trung Quốc đang trong quá trình tái cân bằng1
, dự báo những biến động lớn trong tăng trưởng GDP thực của quốc gia này và hiệu ứng lan tỏa đến các đối tác thương mại chính (Zhang, 2016; Cashin & cộng sự, 2016)
Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả, chưa một nghiên cứu thực nghiệm nào tìm hiểu sự gia tăng vai trò của Trung Quốc tại Việt Nam trong bối cảnh cấu trúc thương mại thế giới thay đổi theo thời gian Do đó, nhằm lấp vào khoảng trống nghiên cứu trước đây, tác giả tiến hành xem xét các thay đổi cơ cấu thương mại giữa Trung Quốc và phần còn lại thế giới ảnh hưởng thế nào đến truyền dẫn chu kỳ kinh doanh quốc tế tới Việt Nam cùng các quốc gia trong khối ASEAN Cụ thể, tác giả tiến hành phân tích thực nghiệm tác động của các cú sốc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc và Mỹ truyền dẫn đến 6 nền kinh tế ASEAN (tức ASEAN-
6, bao gồm: Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) Việc tập trung vào cú sốc GDP của Mỹ xuất phát từ hai nguyên nhân Thứ nhất, từ lâu Mỹ vẫn là đối tác thương mại quan trọng của ASEAN và là nguồn gốc chính của các cú sốc ngoại sinh truyền dẫn đến khu vực (Sato & cộng sự, 2011, Dungey & Vehbi, 2015) Thứ hai, trái ngược với Trung Quốc, đóng góp thương mại của Mỹ với ASEAN trên đà suy giảm kể từ sau cuộc khoảng hoảng tài chính toàn
1
Tăng tỷ trọng tiêu dùng, giảm tỷ trọng đầu tư trong GDP
Trang 12cầu: Từ 15,7% trong năm 2001 xuống còn 9,2% trong năm 2015 (ASEAN, 2017a)
Do đó, việc xem xét tác động của các cú sốc GDP xuất phát từ Trung Quốc và Mỹ - một nước có đóng góp thương mại với ASEAN tăng và một nước có vai trò suy giảm trong giai đoạn nghiên cứu tạo bức tranh tương phản cùng góc nhìn toàn diện
về cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh quốc tế đến Việt Nam lẫn khu vực ASEAN trong thời kỳ trỗi dậy của Trung Quốc và các nền kinh tế đang phát triển khác Để thực hiện phân tích thực nghiệm, tác giả sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy toàn cầu (Global VAR) đề xuất bởi Pesaran và cộng sự (2004) và phát triển sau này bởi Dées
và cộng sự (2007), kết hợp dữ liệu của 20 quốc gia trong giai đoạn quý III/2000–quý I/2017, liên kết tỷ trọng thương mại tại các mốc thời gian 2000, 2008 và 2016, qua đó nắm bắt các thay đổi trong cấu trúc thương mại toàn cầu từ sự trỗi dậy của Trung Quốc
Sau phần giới thiệu, các phần còn lại của nghiên cứu bao gồm: Phần 2 trình bày vai trò của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu, đồng thời sơ lược một số nghiên cứu trước đây về tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến các đối tác thương mại quan trọng Phần 3 trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu; Phần 4 trình bày các kết quả phân tích; và cuối cùng, Phần 5 đưa ra các kết luận cùng hàm ý chính sách
Trang 13PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT
2.1 Sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh: Vai trò của liên kết thương mại
Mặc dù, vấn đề đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh đã được nhắc tới từ lâu trong các nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm, tuy nhiên, các yếu tố quyết định của nó vẫn chưa được phân tích làm rõ Hiện nay, giới nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được câu trả lời dứt khoát về hướng (direction) và dấu (sign) của các kênh tiềm năng, thông qua đó các liên kết thương mại (trade link) và tài chính (financial link) có thể tác động đến sự đồng bộ hóa Mặt khác, trong khi các nghiên cứu thực nghiệm phát hiện các quốc gia có liên kết thương mại và tài chính sâu rộng thường có xu hướng tương quan chu kỳ kinh doanh cao (Frankel & Rose, 1998; Clark & van Wincoop, 2001; Imbs, 2004 & 2006); các mô hình lý thuyết lại không đưa ra được các kết quả thỏa đáng, phù hợp với các phát hiện thực nghiệm Trong phần này, tác giả tiến hành xem xét vai trò của liên kết thương mại trong sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh quốc tế cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn
2.1.1 Các lý thuyết liên quan
Các mô hình lý thuyết hiện nay tìm hiểu vấn đề đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh chủ yếu dựa trên mô hình chu kỳ kinh doanh quốc tế thực thông thường (standard international real business cycle model) Trong mô hình kinh tế mở hai quốc gia với thị trường tài chính hoàn toàn, Backus và cộng sự (1992) phát hiện khi thị trường tài sản liên kết hoàn toàn, cường độ thương mại cao có liên quan đến mối tương quan chu kỳ kinh doanh thấp Mở rộng mô hình trên, Kose và Yi (2001) thấy rằng mối quan hệ giữa liên kết thương mại và đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh tùy thuộc vào loại hình thương mại (thương mại nội ngành hay liên ngành) cùng bản chất của cú sốc (cú sốc cầu hoặc cung) Khi thương mại nội ngành (intra-industry trade) chi phối trao đổi song phương giữa hai quốc gia, bất kỳ cú sốc nào cũng góp phần làm tăng mức độ tương quan chu kỳ kinh doanh (Calderon & cộng sự, 2007; Kose & Yi, 2001; Frankel & Rose, 1998) Tuy nhiên, Krugman (1991), Kenen
Trang 14(1969), Baxter và Kouparitsas (2005) lại chỉ ra, sự liên kết thương mại chặt chẽ thực
sự làm giảm sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh giữa hai quốc gia Trên thực tế, theo các tác giả, thương mại liên ngành (inter-industry trade) luôn chiếm phần lớn trong trao đổi song phương, nhất là giữa các quốc gia đang phát triển Do đó, bất kỳ cú sốc đặc thù ngành (industry-specific shock) tại một quốc gia sẽ không ảnh hưởng đến nền kinh tế khác Các mô hình lý thuyết khác cũng cho thấy thương mại song phương chặt chẽ có khuynh hướng liên quan đến sự tương quan chu kỳ kinh doanh cao (Canova & Dellas, 1993)
Trong khi các mô hình lý thuyết ủng hộ, ở một mức độ nào đó, mối quan hệ cùng chiều giữa liên kết thương mại và đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh, tác động của hội nhập tài chính lên sự tương quan sản lượng vẫn chưa rõ ràng Một mặt, khả năng vay và cho vay quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao các nguồn lực giữa các nền kinh tế và có thể làm giảm tương quan sản lượng Backus và cộng
sự (1992) cho thấy, trong mô hình thị trường hoàn hảo, cú sốc công nghệ tích cực trong nền kinh tế thu hút các nguồn vốn từ phần còn lại của thế giới, dẫn đến kết quả biến động sản lượng tương quan nghịch Mặt khác, Baxter và Crucini (1995) lại cho thấy, trong mô hình mà các cá nhân không thể tiếp cận hoàn toàn đến các công
cụ chia sẻ rủi ro quốc tế có thể dẫn đến các dự đoán ngược lại
Một lời giải thích khác cho việc đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh là sự tương đồng trong cấu trúc sản xuất Về mặt lý thuyết, các mẫu hình sản xuất tương đồng tác động sự đồng bộ hóa cùng chiều, vì hai nền kinh tế sản xuất cùng một loại hàng hóa sẽ phải chịu những cú sốc tương tự Do đó, các quốc gia có các mẫu hình sản xuất tương đồng có xu hướng đồng bộ chu kỳ kinh tế
2.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Sự gia tăng toàn cầu hóa thời gian qua đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong việc tìm hiểu tác động của liên kết thương mại lên đồng biến động chu kỳ kinh doanh (business cycle co-movement) giữa các quốc gia và khu vực (Rosmy & Simons, 2014; Kandil, 2011; Lee, 2010; Kose & cộng sự, 2003) Đa phần các
Trang 15nghiên cứu thực nghiệm đều kết luận rằng thương mại song phương chặt chẽ giữa hai quốc gia dẫn đến việc đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh cao hơn (Marcus, 2011; Dées & Zorell, 2012; Antonakakis & Tondl, 2014; Gong & Soyoung, 2013; Olivero
& Madak, 2013; Di Giovanni & Levchenko, 2010; Kandil, 2011; Obradović & Mihajlović, 2013; Duval & cộng sự, 2014; Kinfack & Bonga-Bonga, 2015; Çakir & Kabundi, 2013; Dai, 2014)
Các tác giả trên phần lớn sử dụng các phân tích hồi quy để kiểm tra mối quan
hệ giữa liên kết thương mại và đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh Ví dụ, thông qua
mô hình VAR tăng cường chéo (cross-section augmented VAR) trong khu vực Euro, Marcus (2011) nhận thấy rằng mặc dù, các quốc gia có liên kết thương mại mạnh có khuynh hướng tương đồng chu kỳ kinh doanh trong dài hạn, kênh thương mại không giúp giải thích sự đồng bộ hóa trong ngắn hạn Bên cạnh đó, Dées và Zorell (2012) sử dụng hệ phương trình do Imbs (2004, 2006) đề xuất cho các quốc gia phát triển và kết luận rằng GDP của các nền kinh tế có thương mại song phương chặt chẽ sẽ tiến sát nhau hơn Sử dụng phương trình đồng thời cho các quốc gia châu Âu, Antonakakis và Tondl (2014) nhận thấy thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đáng kể lên đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh Chi tiết các kết quả nghiên cứu được trình bày tại Bảng 2.1
1970–
1999
Mô hình I-O
Liên kết thương mại cao thúc đẩy
sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh của quốc gia lẫn ngành công nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy thương mại nội ngành chiếm 18% tổng tác động lên đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh, trong khi liên kết dọc (vertical linkage) chiếm 32%
Trang 16Marcus
(2011)
Các quốc gia châu Âu
quý I/1970–
I/2010
CA VAR, nhân quả Granger
Trong dài hạn, liên kết thương mại càng chặt chẽ, chu kỳ kinh doanh giữa các quốc gia càng tương đồng nhau Tuy nhiên, trong ngắn hạn, kênh thương mại không giúp giải thích các biến động chu kỳ kinh doanh
Kandil
(2011)
Các quốc gia
Mỹ Latin
1970–
1986 và 1987–
2007
Tương quan Pearson
Chu kỳ kinh doanh giữa các quốc gia trong khu vực thay đổi theo thời gian Tác động của liên kết thương mại lên sự đồng bộ hóa là chưa rõ ràng Chu kỳ kinh doanh
có thể phản ứng phân kỳ, hội tụ hoặc thay đổi đáng kể trước dòng chảy thương mại
Dées và
Zorell
(2012)
56 quốc gia
1993–
2007
Hệ thống
4 phương trình đồng thời, OLS
Hội nhập thương mại thúc đẩy sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh Tuy nhiên, vẫn chưa tìm thấy quan hệ trực tiếp giữa liên kết tài chính song phương với tương quan sản lượng
Çakir và
Kabundi
(2013)
32 quốc gia
quý I/1995–
IV/2009
GVAR
Các quốc gia trong khối BRIC (Brazil, Trung Quốc, Nga và Ấn Độ), thông qua thương mại, đóng vai trò quan trọng trong đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh của Nam Phi tại nhiều mức độ khác nhau
Gong và
Soyoung
(2013)
Các quốc gia châu Á
1990–
2009
Hệ thống
3 phương trình đồng thời, OLS
Các liên kết bên ngoài tác động tích cực và đáng kể lên sự đồng
bộ hóa chu kỳ kinh doanh khu vực Sau khi kiểm soát liên kết bên ngoài, hội nhập thương mại nội bộ tác động tích cực lên sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh khu vực, nhưng hội nhập tài chính nội bộ lại tác động tiêu cực
Olivero và
Madak
(2013)
Các quốc gia châu Âu
quý I/1994–
IV/2009
OLS, 2SLS
Khi đề cập đến liên kết tài chính vào phương trình hồi quy, liên kết thương mại không đóng vai trò đáng kể nào trong truyền dẫn chu
kỳ kinh doanh quốc tế giữa châu
Âu và Mỹ
Trang 17Obradović và
Mihajlović
(2013)
15 quốc gia châu
Âu
quý I/1995–
IV/2010
Tương quan Pearson;
tương quan Spearman
Nghiên cứu phát hiện sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh thấp giữa Serbia và các quốc gia láng giềng Khối lượng thương mại nước ngoài không ảnh hưởng đến sự đồng bộ chu kỳ kinh doanh
Dai
(2014)
Các quốc gia châu Á
1981–
2012
FEM, REM
Liên kết thương mại, liên kết tài chính và tương đồng chính sách là các nhân tố quan trọng quyết định mức độ đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh giữa các quốc gia châu Á với Trung Quốc, Nhật Bản và
1995–
2012
Hệ thống
7 phương trình đồng thời, OLS
Thương mại và FDI tác động tích cực rõ rệt lên đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh Chuyên môn hóa tăng cao không làm giảm chu kỳ kinh doanh Sự suy giảm chênh lệch thu nhập góp phần đồng bộ hóa kinh doanh, do sự liên kết thương mại và FDI chặt chẽ
Duval và
cộng sự
(2014)
63 quốc gia
1995–
2012
OLS, phân rã phương sai
Nghiên cứu tìm thấy tác động tích cực đáng kể của cường độ thương mại lên sự đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh Tác động này lớn hơn trong giai đoạn khủng hoảng, hàm
ý vai trò quan trọng của liên kết thương mại trong truyền dẫn khủng hoảng
Kinfack và
Bonga-Bonga
(2015)
63 quốc gia
quý I/1980–
IV/1996
GVAR
Kể từ những năm 90, liên kết thương mại giữa Trung Quốc và châu Phi chặt chẽ hơn, dẫn đến sự tương đồng chu kỳ kinh doanh Trong khi đó, sự đồng bộ giữa châu Phi và châu Âu cũng như
Mỹ đã thấp hơn do sự suy giảm trong quan hệ thương mại song phương Tuy nhiên, Mỹ vẫn là nguồn gốc lan tỏa cú sốc đến các nền kinh tế châu Phi
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 18Tóm lại, từ các lý thuyết và kết quả thực nghiệm nêu trên, có thể thấy, liên kết thương mại là nhân tố xác định quan trọng của đồng bộ hóa (đồng biến động) chu
kỳ kinh doanh tại các quốc gia và khu vực Nắm rõ mối quan hệ giữa hội nhập thương mại và chu kỳ kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt trong việc xây dựng và vận hành các chính sách quốc tế Thứ nhất, đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh cao hàm ý
sự truyền dẫn các cú sốc quốc tế sẽ nhanh và mạnh hơn Thứ hai, nếu chu kỳ kinh doanh ở một quốc gia chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các nhân tố bên ngoài, chính sách trong nước nhằm ổn định nền kinh tế có thể sẽ không hiệu quả (García-Herrero
& Ruiz, 2008)
2.2 Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu
2.2.1 Vị thế hiện nay của Trung Quốc
Nguồn: IMF World Economic Outlook (October 2017)
Hình 2.1 Tăng trưởng kinh tế thực và đóng góp GDP toàn cầu của Trung Quốc giai
đoạn 1980–2017 (đơn vị: %)
Sau quá trình cải cách và mở cửa nền kinh tế bắt nguồn từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, Trung Quốc nhanh chóng đạt được những thành tựu ngoạn mục về phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và thu hút FDI Chỉ sau hơn 30 năm, Trung Quốc vươn mình trở thành cường quốc kinh tế, đứng thứ ba về tiếp nhận FDI sau Mỹ và
Trang 19Anh2, dẫn đầu thế giới về thương mại hàng hóa3, GDP danh nghĩa xếp thứ hai sau khi vượt qua Đức năm 2007 và Nhật Bản năm 2010 (Oehler-Sincai, 2010) Một trong những yếu tố quyết định thành công của Trung Quốc ngày nay chính là quá trình hội nhập vào hệ thống kinh tế thế giới, cho phép tiếp cận thị trường toàn cầu
và tận dụng các nguồn lực bên ngoài (vốn và công nghệ) Việc gia nhập Tổ chức WTO mở toang cánh cửa hợp tác thương mại với các quốc gia và khu vực trên thế giới, tạo thời cơ bứt phá, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Nguồn: China Statistical Yearbook (2017)
Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Trung Quốc giai đoạn 1994–2016
(đơn vị: Tỷ USD)
Kể từ giai đoạn phát triển đầy biến động trong hai thập niên trước đó, với mức tăng trưởng trung bình đạt 9,8%, nền kinh tế Trung Quốc bước vào thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ với đỉnh cao 5 năm liền đạt mức tăng trưởng GDP thực hai chữ số trước khi cán mốc 14,2% vào năm 2007, điều mà các quốc gia năng động như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore trong quá khứ cũng không thể đạt được (Wong, 2010) Kể từ năm 2008, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu; tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng vẫn
Trang 20giữ ổn định 9–10%, góp phần tích cực cho sự phục hồi kinh tế toàn cầu (Akkemik, 2015) Đóng góp của Trung Quốc trong GDP thế giới tăng từ 2,3% vào năm 1980 lên 18,3% trong năm 2017; năm 2016, Trung Quốc chính thức vượt qua Mỹ để trở thành quốc gia có GDP quy đổi theo ngang giá sức mua (PPP) lớn nhất thế giới4 Thương mại hàng hóa của Trung Quốc tăng trưởng ấn tượng trong ba thập kỷ qua,
từ mức kim ngạch 236 tỷ USD năm 1994 tăng lên 3.685 tỷ USD (kim ngạch xuất khẩu đạt 1.587 tỷ USD) vào năm 2016 (tham khảo Hình 2.2) Chỉ sau ba năm gia nhập WTO, Trung Quốc nhanh chóng bắt kịp Nhật Bản, trở thành quốc gia xuất khẩu hàng đầu châu Á và thế giới sau khi vượt qua Mỹ năm 2007 và Đức năm
20095 Bên cạnh thương mại truyền thống, Trung Quốc cũng đóng vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, gia công các mặt hàng và tái xuất khẩu sang khu vực khác
MALAYSIA
0102030
THAILAND
0102030
Trang 21Ghi chú: Khu vực ASEAN-6 được xây dựng dựa theo trọng
số GDP-PPP trung bình giai đoạn 2013–2015 (tương tự cách xây dựng khu vực Euro)
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu thống kê về thương
mại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2018)
Hình 2.3 Đóng góp của Trung Quốc trong tổng thương mại ASEAN-6 giai đoạn
2000–2016
Thương mại hàng hoá song phương giữa khu vực EU và Trung Quốc tăng trung bình 14,4% mỗi năm từ giữa 2001 đến 2011; năm 2016, Trung Quốc là nguồn nhập khẩu lớn nhất (chiếm 20,1%) và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai (chiếm 9,7%) của khu vực EU6 Bên cạnh đó, kim ngạch thương mại hàng hóa Mỹ–Trung Quốc tăng từ 2 tỷ USD năm 1979 lên tới 633 tỷ USD vào năm 2017, đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại hàng hoá lớn nhất của Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn thứ ba
và là nguồn nhập khẩu lớn nhất của quốc gia này (Morrison, 2018)
Năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ khu vực châu Á–Thái Bình Dương của Mỹ và khu vực châu Âu Tuy nhiên, gói kích thích tài khóa khổng lồ tương đương 600 tỷ USD (20% GDP) của Trung Quốc ban hành vào tháng 11 năm 2008 đã thúc đẩy nhu cầu trong nước Nắm bắt cơ hội, xuất khẩu từ các nước châu Á–Thái Bình Dương sang Trung Quốc
đã tăng gấp đôi, đưa Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất của các nền kinh tế châu Á–Thái Bình Dương, vượt qua Nhật Bản năm 2005 và Mỹ năm 2007 (Inoue
và cộng sự, 2015) Cùng với đó, Trung Quốc cũng trở thành điểm đến xuất khẩu quan trọng của một số nước trong khu vực Mỹ La-tinh Năm 2015, xuất khẩu sang Trung Quốc của Chile, Peru và Brazil tương ứng 8%, 5% và 2,5% GDP của mỗi quốc gia
6
Dựa theo DG Trade Statistical Guide June 2017.
Trang 22Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu thống kê về thương mại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF Direction of Trade Statistics)
Riêng tại khu vực ASEAN-6, trong khi vai trò của Trung Quốc trong thương mại khu vực đã tăng ít nhất 3 lần, từ mức 6,1% năm 2000 lên 21,4% năm 2016 (Hình 2.3) thì đóng góp thương mại của Mỹ lại giảm gần phân nửa so với thời điểm năm 2000 (Bảng 2.2) Quan hệ thương mại đã và đang trở thành động lực chính cho mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc cùng các quốc gia và khu vực trên thế giới
2.2.2 Tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến nền kinh tế toàn cầu
Vai trò của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi trong vài thập
kỷ gần đây; tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc góp phần tích cực trong việc giữ cho nền kinh tế thế giới năng động, trở thành động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu và khu vực (Yunling, 2010) Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, đa phần tập trung vào các khía cạnh khác nhau của hiệu ứng truyền dẫn: i) những đổ vỡ thị trường bất động
Trang 23sản Trung Quốc kéo theo nhiều hệ lụy cho tăng trưởng toàn cầu, các đối tác thương mại G20 cũng như thị trường hàng hóa (Ahuja & Myrvoda, 2012); ii) suy giảm đầu
tư của Trung Quốc tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới, đặc biệt các nền kinh tế kém đa dạng đối tác thương mại; tác động này lớn gấp năm lần so với năm 2002 (Ahuja & Nabar, 2012); iii) các cú sốc tăng trưởng ở Trung Quốc lan truyền mạnh
mẽ đến các quốc gia châu Á, xuất phát từ sự phụ thuộc vào nhu cầu cuối cùng của Trung Quốc (Duval & cộng sự, 2014); iv) chất lượng tín dụng của các doanh nghiệp
và bảng cân đối kế toán của các ngân hàng xấu đi ảnh hưởng tiêu cực đến phần còn lại thế giới (Chen & cộng sự, 2010); v) sự suy thoái kinh tế Trung Quốc ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia xuất khẩu hàng hóa như Indonesia và các quốc gia phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu như Nhật Bản, Malaysia, Singapore và Thái Lan (Inoue & cộng sự, 2015);…
Sự tăng trưởng của Trung Quốc trước năm 2000 có thể được giải thích bằng quá trình cải cách nền kinh tế từ năm 1978; trong khi đó, tăng trưởng bứt phá thời gian qua lại xuất phát chủ yếu từ xuất khẩu (Yao, 2011) Trung Quốc hưởng lợi từ xuất khẩu nhiều hơn bất kỳ nền kinh tế chuyển đổi nào khác (Tingvall & Ljungwall, 2012) Tuy nhiên, hiện nay, mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Trung Quốc không còn phát huy được hiệu quả và sự tăng trưởng GDP thực đang chậm lại Nền kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn tái cân bằng, tăng tỷ trọng tiêu dùng trong khi giảm tỷ trọng đầu tư trong GDP (Zhang, 2016) Quá trình chuyển đổi này có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới các đối tác thương mại trong thời gian tới, đặc biệt các quốc gia có mối quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, bao gồm cả khu vực ASEAN-5 (Dizioli & cộng sự, 2016) Nghiên cứu gần đây của Cashin và cộng sự (2016) tìm hiểu hệ quả từ sự hạ nhiệt của nền kinh tế Trung Quốc lên các quốc gia khác nhau Kết quả chỉ ra, theo sau 1% suy giảm của tăng trưởng GDP thực Trung Quốc, tăng trưởng toàn cầu sụt giảm 0,23% trong ngắn hạn, giá dầu giảm 2,8% trong dài hạn Các quốc gia xuất khẩu hàng hóa ít đa dạng đối tác thương mại cùng với khu vực ASEAN-4 (Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore) chịu tác động của các cú sốc GDP Trung Quốc lớn nhất, tương tự kết
Trang 24quả của Inoue và cộng sự (2015) Nghiên cứu của Sznajderska (2017) phát hiện cú sốc GDP Trung Quốc tác động lên các nền kinh tế mới nổi mạnh hơn so với các nền kinh tế tiên tiến; bên cạnh đó, tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm 0,22% trong ngắn hạn sau sự suy giảm 1% trong GDP Trung Quốc
Liên quan đến sự thay đổi trong cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh, nghiên cứu mang tầm ảnh hưởng của Cesa-Bianchi và cộng sự (2012) tìm hiểu hệ quả từ sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới lên năm quốc gia khu vực Mỹ La-tinh gồm Peru, Mexico, Chile, Brazil và Argentina Sự thay đổi trong cấu trúc thương mại của Trung Quốc với thế giới tác động sâu sắc lên cơ chế truyền dẫn chu
kỳ kinh doanh đến khu vực theo nhiều hướng khác nhau Tác động dài hạn của cú sốc GDP Trung Quốc lên khu vực Mỹ La-tinh đã tăng gấp ba lần khi so sánh với cú sốc tương tự vào giữa thập niên 90; trong khi đó, tác động của cú sốc GDP Mỹ đã giảm hơn phân nửa Nghiên cứu của Waal và Eyden (2016) cũng tìm thấy bằng chứng về sự thay đổi truyền dẫn các cú sốc GDP Trung Quốc và Mỹ lên nền kinh tế Nam Phi Tác động dài hạn lên GDP Nam Phi của cú sốc GDP Trung Quốc trong năm 2009 đã tăng 300% so với năm 1995, trong khi tác động của cú sốc GDP Mỹ năm 2009 chỉ bằng một phần tư so với năm 2005 Các kết quả nghiên cứu trả lời câu hỏi vì sao cuộc khủng hoảng toàn cầu tác động không đáng kể đến Nam Phi và khu vực Mỹ La-tinh so với các quốc gia phát triển khác Bảng 2.3 trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về hiệu ứng lan tỏa của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc đến các đối tác thương mại, bao gồm cả khu vực ASEAN
09/2011
GMM, FAVAR
Mỗi 1% giảm tốc trong tăng trưởng đầu tư tại Trung Quốc dẫn đến sự sụt giảm 0,1% tăng trưởng toàn cầu Các nền kinh
Trang 25tế trong chuỗi cung ứng khu vực, các quốc gia xuất khẩu hàng hóa ít đa dạng chịu tác động lớn nhất
09/2011
FAVAR
1% sụt giảm trong đầu tư bất động sản thực Trung Quốc tác động lan tỏa tiêu cực đến các đối tác thương mại nhóm các nền kinh tế lớn (G20), sản lượng toàn cầu giảm xấp xỉ 0,06% Giá kim loại thế giới giảm từ 0,8% đến 2,2% sau một năm
Cashin và
cộng sự
(2012)
50 quốc gia
quý II/1979–
II/2011
GVAR
Các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi nhạy cảm với sự phát tiển của Trung Quốc hơn là các cú sốc bắt nguồn từ châu
Âu và Mỹ, do sự phát triển liên kết thương mại với Trung Quốc
Feldkircher
và Korhonen
(2012)
52 quốc gia
quý I/1995–
IV/2011
GVAR
Theo sau cú sốc 1% gia tăng GDP thực Trung Quốc, sản lượng của các nền kinh tế lớn nhất tăng trong khoảng 0,1–0,5% Sản lượng của khu vực Trung Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) tăng 0,2%; trong khi khu vực Đông Nam Âu giảm 0,1%
quý II/1979–
IV/2009
GVAR
TV-Tác động dài hạn của cú sốc GDP Trung Quốc lên khu vực
Mỹ La-tinh đã tăng gấp ba lần khi so sánh với cú sốc tương tự vào giữa thập niên 90 Trong khi đó, tác động của cú sốc GDP Mỹ đã giảm hơn phân nửa
Trang 26Winkelried
(2013)
II/2011 giảm trong thập kỷ qua,
nhường chỗ cho cú sốc từ Trung Quốc Sự trỗi dậy của Trung Quốc ảnh hưởng lớn đến các quốc gia thứ ba, ngay
cả khi đó là các đối tác thương mại nhỏ
Duval và
cộng sự
(2014)
34 quốc gia chia làm 4 khu vực
quý I/2000–
IV/2012
Hồi quy
dữ liệu bảng
Cứ 1% sụt giảm trong tăng trưởng Trung Quốc có thể làm giảm tăng trưởng GDP của các nền kinh tế châu Á đi 0,3% sau một năm
IMF
(2014a)
16 thị trường mới nổi
quý I/1998–
II/2013
Bayesian SVAR
Cứ 1% gia tăng trong tăng trưởng Trung Quốc dẫn đến tăng trưởng của các nền kinh
tế mới nổi tăng 0,1% Độ co giãn tác động cao hơn ở một
số quốc gia châu Á và xuất khẩu hàng hóa như Nga Biến động tăng trưởng Trung Quốc cũng tác động đến nền kinh tế toàn cầu
IMF
(2014b)
33 thị trường mới nổi
quý II/1979–
IV/2009
GVAR
Cứ 1% sụt giảm trong tăng trưởng Trung Quốc có thể làm giảm tăng trưởng của các nền kinh tế tiên tiến đi 0,15% sau cuối một năm, mức ý nghĩa cao nhất cho Nhật Bản và khu vực châu Âu Hiệu ứng lan tỏa đến các nền kinh tế mới nổi nhỏ nhất, khoảng 0,06%
Inoue và
cộng sự
(2015)
26 thị trường tiên tiến
và mới nổi
quý I/1979–
I/2014
GVAR
Sự sụt giảm trong GDP thực của Trung Quốc tác động đáng
kể đến các quốc gia láng giềng, đặc biệt là các quốc gia xuất khẩu hàng hóa (như Indonesia) và phụ thuộc xuất khẩu như Thái Lan, Malaysia
và Singapore Giá hàng hóa (kim loại, giá dầu thô và sản
Trang 27phẩm nông nghiệp) cũng chịu tác động
World Bank
(2015)
Khu vực
Mỹ Latinh và Caribe (LAC)
quý II/1992–
II/2014
SVAR
Tăng trưởng Trung Quốc giảm 1% có thể làm giảm tăng trưởng ở khu vực LAC đến 0,6% sau khi kết thúc hai năm; tác động đáng kể nhất tại Peru
và Argentina (1%) Tác động lên Brazil khoảng 0,8%
Dizioli và
cộng sự
(2016)
33 quốc gia
quý I/1981–
I/2013
GVAR
Sự tái cân bằng của nền kinh tế Trung Quốc tác động tiêu cực đến các đối tác thương mại Các quốc gia có liên kết thương mại chặt chẽ (Malaysia, Singapore và Thái Lan) và xuất khẩu hàng hóa ròng (Indonesia và Malaysia) chịu tác động lớn nhất, từ 0,2 đến 0,5% sau một cú sốc suy giảm tăng trưởng 1% của Trung Quốc
Waal và
Eyden
(2016)
33 quốc gia
quý II/1979–
IV/2009
GVAR
Tác động dài hạn lên GDP Nam Phi của cú sốc GDP Trung Quốc trong năm 2009
đã tăng 300% so với năm
1995 Trong khi tác động của
cú sốc GDP Mỹ năm 2009 chỉ bằng một phần tư so với năm
quý I/1981–
I/2013
GVAR
Cú sốc 1% suy giảm tăng trưởng GDP thực Trung Quốc làm giảm 0,23% tăng trưởng toàn cầu trong ngắn hạn; giá dầu giảm 2,8% trong dài hạn Các quốc gia xuất khẩu hàng hóa ít đa dạng cùng với khu vực ASEAN-4 (Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore) chịu tác động của các cú sốc GDP Trung Quốc
Trang 28lớn nhất
Rafiq
(2016)
Các quốc gia ASEAN
tháng 01/2003–
06/2015
Mô hình nhân tố cấu trúc kinh tế mở
Cú sốc 1% suy giảm tăng trưởng Trung Quốc dẫn đến tăng trưởng sụt giảm 0,3% cho các quốc gia Thái Lan, Indonesia và Malaysia, 0,2% cho các quốc gia Lào, Campuchia và Việt Nam
Sznajderska
(2017)
60 quốc gia
quý I/1995–
III/2016
GVAR
Cú sốc GDP Trung Quốc tác động lên các nền kinh tế mới nổi mạnh hơn so với các nền kinh tế tiên tiến Tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm 0,22% trong ngắn hạn sau sự suy giảm 1% trong GDP Trung Quốc
Dinda
(2017)
20 quốc gia
2000–
2012
FEM, REM, VAR
Sự giảm tốc trong tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc tác động lên các quốc gia trong khối BRICS mạnh hơn so với các quốc gia phát triển Tác động của cú sốc tăng trưởng GDP Trung Quốc lên các quốc gia ASEAN khá mạnh do mạng lưới sản xuất chặt chẽ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.3 Tổng kết
Điểm lại các nghiên cứu và dữ liệu trước đây có thể rút ra được hai kết luận quan trọng sau:
Thứ nhất, sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu thời gian qua
dẫn đến kết quả là thay đổi trong cấu trúc thương mại thế giới cũng như khu vực ASEAN-6; mối liên kết thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN-6 đã tăng xấp xỉ 3 lần kể từ thời điểm năm 2000, trong khi đóng góp của Mỹ lại giảm gần phân nửa
Sự thắt chặt liên kết thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN-6 có thể làm chu kỳ kinh doanh tại khu vực đồng bộ hóa cao hơn, và do đó, các nền kinh tế tại khu vực
Trang 29này nhạy cảm với các cú sốc GDP Trung Quốc hơn so với Mỹ (Waal & Eyden, 2016)
Thứ hai, ASEAN là khu vực láng giềng và phụ thuộc vào nhu cầu cuối cùng
của Trung Quốc nên bất kỳ sự xáo trộn hay thay đổi nào mang hướng tiêu cực trong thành phần tăng trưởng GDP thực của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này cũng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên các nền kinh tế ASEAN-6 (Rafiq, 2016; Cashin & cộng sự, 2016; Dizioli & cộng sự, 2016)
Khác với các nghiên cứu trước đây khi tìm hiểu độ lớn tác động của các cú sốc xuất phát từ Trung Quốc lên khu vực ASEAN, trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phân tích theo một khía cạnh khác của hiệu ứng truyền dẫn: Xem xét sự thay đổi mức độ tác động của các cú sốc GDP từ Trung Quốc và Mỹ đến các quốc gia ASEAN-6 trong bối cảnh các mối quan hệ thương mại thay đổi theo thời gian Các kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung, củng cố các hiểu biết về hệ quả từ sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu; hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam và khu vực ASEAN trong việc đánh giá các thay đổi cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh quốc tế đến khu vực, từ đó đưa ra các dự báo và chính sách vĩ
mô phù hợp
Trang 30PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp vectơ tự hồi quy toàn cầu GVAR
3.1.1 Phương pháp GVAR
Phương pháp GVAR (vectơ tự hồi quy toàn cầu) là một phương pháp không còn lạ lẫm, một cách tiếp cận mô hình kinh tế vĩ mô toàn cầu hoàn toàn khác biệt, kết hợp dữ liệu thời gian, dữ liệu bảng, cùng các kỹ thuật phân tích nhân tố nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp của kinh tế học lẫn tài chính, trải dài từ phân tích chính sách cho đến quản trị rủi ro So với các cách tiếp cận khác, phương pháp GVAR mang lại nhiều ưu điểm sau:
i) cung cấp góc nhìn bao quát các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau tại nhiều mức độ khác nhau (quốc gia lẫn quốc tế) một cách rõ ràng;
ii) đề cập các mối quan hệ dài hạn nhất quán với các lý thuyết kinh tế cùng các mối quan hệ ngắn giữa các biến dữ liệu;
iii) cung cấp giải pháp mạch lạc, chặt chẽ nhằm giải quyết vấn đề “bùng nổ tổ hợp” (curse of dimensionality) trong các mô hình toàn cầu
Phương pháp GVAR được sử dụng để phân tích rủi ro tín dụng trong nghiên cứu của Pesaran và cộng sự (2006) và Pesaran và cộng sự (2007a) Phiên bản mở rộng của mô hình được phát triển trong nghiên cứu của Dées và cộng sự (2007) (sau này, gọi tắt là DdPS), trong đó áp đặt khu vực Euro thành một nền kinh tế riêng, và được Pesaran và cộng sự (2007b) sử dụng để đánh giá tác động của Anh gia nhập Euro Pesaran và cộng sự (2009a, 2009b) đánh giá khả năng dự báo của mô hình GVAR Ngày nay, các nhà nghiên cứu kinh tế, lẫn các chuyên gia phân tích chính sách không ngừng nghiên cứu, phát triển, bổ sung các khiếm khuyết của mô hình,
để phát triển mô hình ngày một hoàn hảo và hữu dụng hơn, điển hình như Dées và cộng sự (2013), Chudik và Pesaran (2013)
Trang 313.1.2 Lý do áp dụng phương pháp GVAR
Các nền kinh tế riêng lẻ trên thế giới được liên kết với nhau thông qua nhiều kênh khác nhau theo các cách thức phức tạp, gồm việc chia sẻ các nguồn tài nguyên khan hiếm (như dầu và các mặt hàng khác), phát triển chính trị và công nghệ, trao đổi tài sản tài chính cũng như hàng hóa và dịch vụ, lưu chuyển vốn và nhân lực giữa các quốc gia Ngay cả khi đề cập đến các hiệu ứng trên, chúng ta vẫn có thể vô tình
bỏ sót các mối tương tác và hiệu ứng lan tỏa không quan sát được, do sử dụng các kênh tương tác thông thường (Chudik & Pesaran, 2016) Sự thiếu sót trên có thể gây nên những sai lầm trong việc phân tích định lượng tác động của các cú sốc từ bên ngoài lẫn bên trong nền kinh tế, làm giảm chức năng dự báo cũng như hiệu quả của các chính sách vĩ mô trong tương lai Bởi vậy, cân nhắc các kênh tương tác tiềm ẩn trên là một thách thức lớn đối với mô hình kinh tế toàn cầu cũng như thực hiện các
mô phỏng chính sách và phân tích kịch bản
Bảng 3.1
Ma trận tương quan GDP giữa một số quốc gia giai đoạn 2000Q3–2017Q1
Trung Quốc Nhật Bản Hàn Quốc Mỹ Thái Lan Việt Nam
Ghi chú: *** tương ứng mức ý nghĩa 1%
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Hơn nữa, thời gian qua, quá trình toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng, hàm ý mức độ hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau ngày một gắn kết giữa các nền kinh
tế trên thế giới (Chen & cộng sự, 2012) Với bối cảnh trên, các biến số vĩ mô không chỉ phụ thuộc vào một vài nền kinh tế lớn trên thế giới; mà thông qua nhiều cơ chế, kênh truyền dẫn khác nhau, các biến số tại các quốc gia khác nhau sẽ tương tác với nhau đồng thời Minh chứng là sự tương quan cao, ví dụ, giữa sản lượng của một số
Trang 32quốc gia trong Bảng 3.1, trong hai thập niên qua Có thể thầy, sản lượng Việt Nam với các quốc gia khác không hề độc lập nhau hoàn toàn Bởi vậy, giả sử, nghiên cứu biến động của GDP Việt Nam trước cú sốc GDP Mỹ bằng mô hình SVAR, phạm vi các biến số bao gồm Việt Nam và Mỹ Khi hồi quy mô hình, chúng ta vô tình bỏ sót tác động của các cú sốc từ các quốc gia khác đến Việt Nam ngay tại thời điểm xét tới
Do đó, chúng ta cần phải sử dụng các mô hình toàn cầu, có khả năng dung nạp cùng lúc dữ liệu của nhiều quốc gia Chắc chắn đến đây, nhiều người sẽ đặt ra cho mình câu hỏi: VAR/SVAR hay các mô hình tự hồi quy khác vừa dễ hiểu vừa dễ hồi quy, sao chúng ta không bỏ số liệu của tất cả các nền kinh tế trên thế giới vào khuôn khổ mô hình rồi ước lượng, không phải sẽ nắm bắt được tác động toàn cầu hay sao? Làm vậy vừa đơn giản, vừa nhanh, sao phải dùng những mô hình phức tạp làm gì?
Đó là một câu hỏi thú vị, và để trả lời câu hỏi này, chúng ta cùng xét một ví dụ, khi hồi quy mô hình VAR
(
),
Xét ví dụ cho vectơ (3 × 1), cho quốc gia thứ i:
(
+ ̅̅̅̅̅̅
phương trình cấu trúc VAR (SVAR) tại bậc 1 được viết dưới dạng:
chúng ta chuyển về dạng thu gọn của SVAR, tức là mô hình VAR bằng cách nhân hai vế cho (khả nghịch và đã biết trước), và đặt , , ta được:
Chúng ta có thể hồi quy được mô hình thu gọn trên, tuy nhiên, cần lưu ý trong trường hợp này, chúng ta cần phải ước lượng 8100 hệ số (90 hệ số mỗi phương
Trang 33trình) trong khi chu kỳ thời gian, giả sử từ quý I/2000 đến quý I/2017 (69 quan sát) Điều này là không thể và kết quả chạy ra chắc chắn không đáng tin cậy chút nào Chúng ta gọi hiện tượng khi ước lượng hệ số trong mô hình mà số quan sát quá ít là hiện tượng tham số quá mức (over-parametrized), hay còn được biết đến với tên gọi
“bùng nổ tổ hợp” (curse of dimensionality) Mô hình GVAR có thể giải quyết được vấn đề trên (Chudik & Pesaran, 2016)
Trong phần tiếp theo, tác giả trình bày một cách tỉ mỉ từng bước thiết lập mô hình GVAR: cách kết hợp các phương trình hồi quy của mỗi quốc gia thành một hệ thống mô hình toàn cầu, cũng như cách chuyển về dạng thu gọn để ước lượng
3.2 Lý thuyết mô hình GVAR
3.2.1 Mô hình VARX* giản đơn
Giả sử, chúng ta có N + 1 quốc gia, lấy quốc gia thứ i = 0, là Mỹ, làm mốc; ta đặt N quốc gia còn lại theo thứ tự i = 1, 2, 3,…, N Bỏ qua các bước chọn độ trễ, hệ
số chặn cũng như biến xu thế thời gian, chúng ta xét mô hình cấu trúc VARX*(1,1):
(1) hoặc trong trường hợp chứa biến ngoại sinh toàn cầu:
(2) trong đó:
: vectơ × 1 các biến nội địa;
: vectơ × 1 các biến nước ngoài;
: vectơ chiều bao gồm các biến ngoại sinh toàn cầu quan sát được, chẳng hạn giá dầu, giá hàng hóa;
: sai số tương quan yếu, tức là ̅ ∑ → khi N → và → ký hiệu hội tụ xác suất, nói một cách khác, là các cú sốc độc lập nhau, có trung bình bằng 0 và ma trận hiệp phương sai ∑
Trang 34Ở đây, với là tỷ trọng đóng góp thương mại của quốc gia j ( ̅̅̅̅̅) với
quốc gia i, biến nước ngoài được xác định như sau:
∑
∑
Tóm lại, với N + 1 phương trình (2) kết hợp các biến nước ngoài, xác định trong công thức (3) cùng các biến ngoại sinh toàn cầu tạo nên một hệ thống mô hình toàn cầu liên kết hoàn chỉnh Có nhiều điều mới mẻ trong mô hình GVAR, đầu tiên, mô hình GVAR thể hiện các mối tương tác toàn cầu thông qua ba kênh riêng biệt song tương quan nhau, bao gồm:
(i) tương tác toàn cầu cùng lúc từ sự phụ thuộc giữa biến nội địa, với các biến nước ngoài, cùng các biến trễ của chúng;
(ii) tương tác toàn cầu từ sự phụ thuộc giữa các biến số với các hiệu ứng toàn cầu chung quan sát được , j = 0, 1, 2,…;
(iii) kênh truyền dẫn từ sự phụ thuộc giữa các cú sốc ( ) ∑
với i j
Bỏ qua các mối liên kết quốc tế trong mô hình có thể làm chệch ước lượng của các hệ số Thứ hai, mô hình GVAR cung cấp một phương pháp thực nghiệm nhằm kết hợp chặt chẽ các quan hệ cấu trúc dài hạn trong nền kinh tế mở nhỏ (Garratt & cộng sự, 2003) Cuối cùng, mô hình GVAR đề cập mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến số trong và ngoài nước cùng lúc (Pesaran & cộng sự, 2004)
3.2.2 Ví dụ biến nội địa và nước ngoài
Tiếp theo, tác giả trình bày cách xây dựng biến nước ngoài dựa trên biến nội địa và tỷ trọng thương mại thông qua ví dụ sau Xét vectơ 3 × 1 chứa các biến nước ngoài gồm: sản lượng ( ), tỷ giá hối đoái ( ) và lãi suất ( ) Các biến lần lượt được xác định như sau:
( )
Trang 35( ) ( ⁄ ) với , và lần lượt là tổng sản phẩm quốc nội thực, tỷ giá danh nghĩa
đa phương và lãi suất ngắn hạn Ma trận biến nội địa và ma trận biến nước ngoài tương ứng là:
(
+ (
)
các biến nước ngoài được xây dựng dựa trên tỷ trọng thương mại cùng các biến nội địa dựa trên công thức sau:
3.2.3 Xây dựng ma trận tỷ trọng thương mại
3.2.3.1 Tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia (không bao gồm vùng miền)
Trong phương pháp GVAR, muốn xây dựng vectơ biến nước ngoài cũng như xây dựng ma trận “liên kết” để hợp nhất mô hình GVAR, chúng ta cần sử dụng
tỷ trọng Tùy mục đích nghiên cứu, tỷ trọng có thể được tính toán từ nhiều yếu tố, tạo nên nhiều dạng tỷ trọng khác nhau, như tỷ trọng thương mại, tỷ trọng tài chính hoặc tỷ trọng vốn Tuy nhiên, mục đích nghiên cứu lần này nhằm xác định sự thay đổi cơ chế truyền dẫn chu kỳ kinh doanh do thay đổi cấu trúc thương mại gây
ra, do đó, tác giả sử dụng kim ngạch thương mại giữa các quốc gia để xây dựng tỷ trọng Cụ thể là tỷ lệ đóng góp thương mại (xuất khẩu và nhập khẩu) của quốc
gia j với quốc gia i
Nhằm xây dựng tỷ trọng thương mại, tác giả phải thu thập dữ liệu kim ngạch thương mại của 20 quốc gia (gồm cả Việt Nam) để tính toán Do đó, để đơn giản về mặt trình bày, tác giả sẽ lấy một ví dụ, trong đó trình bày cách tính tỷ trọng cho bảy quốc gia mẫu, bao gồm Mỹ (USA), Anh (UK), Pháp (FRANCE), Đức (GERM), Ý
Trang 36(ITALY), Hà Lan (NETH) và Việt Nam (VN) Bảng 3.2 trình bày kim ngạch thương mại song phương giữa các quốc gia
Bảng 3.2
Kim ngạch thương mại song phương giữa các quốc gia năm 2009 (đơn vị: USD)
USA 0 47014 30858 57970 19764 24468 8073 188147
UK 44394 0 28819 49381 15844 30921 960 170319 FRANCE 26939 30759 0 92911 42189 29626 858 223282 GERM 57248 58755 94798 0 61340 96856 2088 371084 ITALY 18518 17269 42055 60379 0 16764 823 155809 NETH 27013 33505 32812 101394 17088 0 886 212698
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Các quốc gia xét tới được đặt trong cột đầu tiên, các cột tiếp theo tương ứng là các đối tác thương mại Trong ví dụ này, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam (VN) với sáu đối tác là 12265 Tiếp theo, để tính được tỷ trọng đóng góp của đối tác thương mại chẳng hạn như Mỹ (USA), chúng ta lấy kim ngạch thương mại của Việt Nam với Mỹ chia cho tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam (7183 ÷ 12265 = 0,586)
Bảng 3.3
Tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia
FRANCE 0,121 0,138 0 0,416 0,189 0,133 0,004 1 GERM 0,154 0,158 0,255 0 0,165 0,261 0,006 1 ITALY 0,119 0,111 0,270 0,388 0 0,108 0,005 1 NETH 0,127 0,158 0,154 0,477 0,080 0 0,004 1
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Trang 373.2.3.2 Tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia (bao gồm vùng miền)
Trong nghiên cứu này, tác giả kết hợp bảy quốc gia thành khu vực Euro (tham khảo Bảng 4.1); vì vậy, tác giả trình bày thêm cách tính tỷ trọng trong trường hợp
có vùng miền Quay lại ví dụ trên, tác giả gọi khu vực Euro bao gồm năm quốc gia: Anh (UK), Pháp (FRANCE), Đức (GERM), Ý (ITALY) và Hà Lan (NETH) Do
đó, từ bảy quốc gia ban đầu, chúng ta thu được một khu vực Euro cùng hai quốc gia
Mỹ (USA) và Việt Nam (VN)
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Với ví dụ này, để tính được kim ngạch thương mại trong khu vực Euro, chúng
ta cộng tất cả kim ngạch thương mại của năm quốc gia trong khu vực, tức là cộng các hàng và cột trong khung được kẻ đứt đoạn và thu được kết quả 953465 Tương
tự, để tính được thương mại của Mỹ với khu vực Euro, chúng ta cộng tất cả các kim ngạch thương mại của Mỹ với năm quốc gia, cụ thể chính là ô màu xanh dương nằm ngang (47014 + 30858 + 57970 + 19764 + 24468 = 180074)
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Tiếp theo, để tính được ma trận tỷ trọng và đảm bảo được nguyên tắc , khi tính tỷ trọng trong khu vực Euro, chúng ta phải áp đặt bằng 0, và để tính được tỷ trọng đóng góp của Mỹ (USA) vào khu vực Euro, chúng ta lấy 174112 ÷ (1133192
Trang 38– 953465) = 0,969 Hoàn toàn tương tự, chúng ta cũng tính được tỷ trọng cho các trường hợp còn lại và kết quả được trình bày trong Bảng 3.5
3.2.4 Giải quyết mô hình GVAR
3.2.4.1 Ước lượng mô hình VARX*
Để đơn giản về mặt thuật toán, tác giả trình bày mô hình VARX*( ) với
= 2 và = 1, bỏ qua việc trình bày các biến toàn cầu Khi đó, mô hình VARX*(2,1) được viết như sau:
(4) trong đó:
và lần lượt là vectơ chứa các biến nội địa và nước ngoài;
Tiếp theo, tác giả xác định vectơ ( ) 1, chứa các biến nội địa và nước ngoài như sau:
(
Kết hợp đồng nhất thức (5) và phương trình (4) thu được:
(6) trong đó:
( ) ( ) ( )
Trang 39Đề cập đến các mối quan hệ đồng liên kết, tiếp theo, tác giả chuyển đổi mô hình VARX*(2,1) thành dạng VECMX* như sau:
( ) (7) Viết gọn phương trình (7) thành:
(8) trong đó:
( ) ( ) ( )
Hạng ma trận ( ) ký hiệu số quan hệ đồng liên kết của quốc gia i Giả sử
hạng ma trận nhỏ hơn , ma trận có thể xác định như sau: Khi
đó, ký hiệu cho ma trận điều chỉnh ( ) ; ký hiệu ma trận đồng liên kết với chiều tương tự Để đưa xu hướng vào không gian đồng liên kết, tác giả tách
hệ số thành , khi đó phương trình (8) trở thành:
( ) (9) trong đó, Vì mô hình VECM có thể được biến đổi trở lại thành dạng VAR, nghiên cứu tiếp tục với việc trình bày phương trình (6) ở bước thứ hai
Trang 40(12) trong đó:
(
,
(
,
Với là ma trận khả nghịch đã biết trước, nhân hai vế phương trình (12) với , ta thu được phương trình sau:
trong đó:
Đẳng thức (13) trình bày mô hình GVAR cuối cùng sử dụng cho nghiên cứu này
(
)
(
)
(
)
Biến nước ngoài được tính như sau: