HỒ CHÍ MINH MAI THỊ LỆ HUYỀN TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH VÀ KIẾN THỨC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐẾN SỰ CHIA SẺ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁC NHÀ QUẢN TRỊ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
MAI THỊ LỆ HUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
VÀ KIẾN THỨC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐẾN SỰ CHIA SẺ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁC NHÀ
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH-Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
MAI THỊ LỆ HUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
VÀ KIẾN THỨC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐẾN SỰ CHIA SẺ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁC NHÀ
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN PHONG NGUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách
và kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc nhằm nâng cao kết quả công việc của các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam” là kết quả của công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Phong Nguyên
Ngoại trừ các nội dung tham khảo từ các tài liệu khác đã được trích dẫn cụ thể và nêu rõ trong luận văn thì các số liệu và kết quả trong bài luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học trong luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 9 năm 2018
Tác giả
Mai Thị Lệ Huyền
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tóm tắt 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Sự cần thiết của đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 10
1.2 Các nghiên cứu trong nước 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18
2.1 Các khái niệm liên quan đến mô hình nghiên cứu 18
2.1.1 Dự toán ngân sách 18
2.1.2 Các mô hình dự toán ngân sách 19
Trang 52.1.3 Sự tham gia vào dự toán ngân sách 21
2.1.4 Kiến thức quản trị chi phí 22
2.1.5 Chia sẻ thông tin theo chiều dọc 23
2.1.6 Kết quả công việc 23
2.2 Lý thuyết nền tảng 24
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agent theory) 24
2.2.2 Lý thuyết về hiệu suất công việc 25
2.2.3 Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Goal - setting theory) 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thiết kế giả thuyết và mô hình nghiên cứu 32
3.1.1 Sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc 32
3.1.2 Kiến thức quản trị chi phí và sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc 34
3.1.3 Sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kết quả công việc 35
3.2 Mẫu nghiên cứu 38
3.3 Xây dựng thang đo 39
3.3.1 Quá trình xây dựng thang đo 39
3.3.2 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách 40
3.3.3 Thang đo kiến thức quản trị chi phí 40
3.3.4 Thang đo sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc 41
3.3.5 Thang đo kết quả công việc 42
3.4 Quy trình thu thập dữ liệu 43
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Thống kê mô tả 47
4.2 Đo lường thang đo và độ tin cậy 49
Trang 64.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết 56
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 57
4.4.1 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài trong nước 58
4.4.2 So sánh kết quả nghiên cứu với đề tài nước ngoài 59
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 61
5.1 Kết luận về đề tài 61
5.2 Hàm ý lý thuyết 62
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ACCA : Hiệp hội kế toán công chứng Anh
AVE : Phương sai trích bình quân
CR : Giá trị tin cậy tổng hợp
CTSHV : Cấu trúc sở hữu vốn
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
NC & PT: Nghiên cứu và phát triển
PLS : phương pháp bình phương tối thiểu từng phần
QTDN : Quản trị doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách (Nouri & Parker (1998) 40
Bảng 3.2 Thang đo kiến thức quản trị chi phí (Agbejule & Saarikoski (2006) 41
Bảng 3.3 Thang đo sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc (Parker & Kyj (2006) 42
Bảng 3.4 Thang đo kết quả công việc (Hall (2008); Lau & Roopnarain (2014) 42
Bảng 4.1 Thống kê mô tả 47
Bảng 4.2 Thang đo và đánh giá thang đo 50
Bảng 4.3 Ma trận tương quan đánh giá giá trị phân biệt của thang đo 53
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mô hình thông tin từ trên xuống (Nguồn: Huỳnh Lợi (2009) 19
Hình 2.2 Mô hình thông tin phản hồi (Nguồn: Huỳnh Lợi (2009) 20
Hình 2.3 Mô hình thông tin từ dưới lên (Nguồn: Huỳnh Lợi (2009) 20
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 38
Hình 4.4 Kiểm định các giả thuyết trong mô hình theo đường dẫn PLS 55
Trang 10Tóm tắt:
Luận văn này kiểm định tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kiểm định tác động của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc đến kết quả công việc của nhà các nhà quản trị tại các doanh nghiệp tại Việt Nam Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định bằng phần mềm SmartPLS3.0 với 270 mẫu nghiên cứu, được thu thập từ các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở đang làm việc tại các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc; (2) Kiến thức quản trị chi phí
có tác động dương đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc; (3) Sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc có tác động dương đến kết quả công việc Từ kết quả nghiên cứu thu được, luận văn đã đem lại một số hàm ý lý thuyết và hàm ý quản lý cho các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm tăng kết quả công việc cho các nhà quản trị
Key terms:
Budgetary participation;Cost management knowledge;Vertical information sharing; Managerial work performance.
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Kết quả công việc của nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở trong dự toán ngân sách là rất quan trọng Bởi vì các nhà quản lý phải xử lý rất nhiều công việc nhưtổ chức thực hiện và kiểm soát các công việc phù hợp với chính sách của công ty và mục tiêu của ban lãnh đạo, cung cấp các thông tin giá trị cho quản lý cấp cao, đưa ra chiến lược phát triển công ty Nếu họ làm không tốt sẽ gây ra những thiệt hại đáng
kể cho doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, kết quả công việc của các nhà quản trị vẫn còn tương đối thấp cụ thể theo như tác giả Ngọc Thủy (2015) đã chia sẻ bài báo với chủ đề: “Quản trị doanh nghiệp Việt: Tồn tại hay không tồn tại?” trên trang báo Doanh nhân Sài Gòn Online vào năm 2015, bài báo viết rằng: Trong báo cáo đề cập đến tính minh bạch, khả năng thực thi và một số công cụ trong quản trị doanh nghiệp (QTDN) đang được áp dụng tại 25 thị trường, trong đó có Việt Nam, do Công ty Kiểm toán và tư vấn KPMG và Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA) công bố vào cuối tháng 1/2015 vừa qua cho thấy, bộ công cụ QTDN của Việt Nam xếp thứ 22/25, chỉ đứng trên Myanmar, Brunei, Lào và thấp hơn Campuchia (thứ 20) cũng như cách biệt khá xa so với Thái Lan (thứ 11) Do đó, làm sao để nâng cao kết quả công việc của nhà quản trị là một nhu cầu thiết yếu tại Việt Nam
Có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến kết quả công việc của các nhà quản trị trong quá trình dự toán ngân sách Điển hình như một số tác giả cho rằng khi các nhà quản trị tham gia vào lập dự toán ngân sách thông qua nhân tố động lực sẽ làm tăng kết quả công việc của nhà quản trị (Brownell & McInnes, 1986; Halbesleben & Bowler, 2007) Ngoài ra, muốn nâng cao kết quả công việc thì cần tăng cường sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức(Meyer, Paunonen, Gellatly, Goffin, & Jackson, 1989; Riketta, 2002) Kết quả công việc cũng liên quan đên sự thỏa mãn công việc của nhân viên, khi họ thỏa mãn với công việc của mình
Trang 12thì họ sẵn sàng cống hiến hết mình cho công việc từ đó nâng cao kết quả công việc của tổ chức (Iaffaldano & Muchinsky, 1985; Judge, Thoresen, Bono, & Patton, 2001)
Ở Việt Nam cũng có những đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề dự toán ngân sách tại một số công ty cụ thể như Lê Thu Hằng (2016) nghiên cứu về chủ đề xây dựng dự toán ngân sách tại Công ty Cổ Phần Thủy Sản và Xuất Khẩu Côn Đảo;Phạm Thị Phương Anh (2014) nghiên cứu về việc hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ Phần Gốm Việt Thành; Trần Thị Hiền (2016) nghiên cứu về việc hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty Cổ Phần Beton Các tác giả này đều nêu lên tình hình thực tế tại Việt Nam là nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào kế hoạch mà không lập dự toán ngân sách, từ đó nghiên cứu đưa ra những biện pháp giúp khắc phục thực trạng Trong đó hai nghiên cứu khác so với các nghiên cứu trên
là nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Định (2017), khảo sát vai trò của phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc và sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc và nghiên cứu của Đinh Nguyễn Trần Quang (2018), Ảnh hưởng của sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách Hai nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Định (2017)
và Đinh Nguyễn Trần Quang (2018) đã xây dựng mô hình và kiểm định biến tiền tố tác động đến sự tham gia vào dự toán ngân sách của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam, từ đó gia tăng kết quả công việc của họ
Tuy có nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến kết quả công việc của các nhà quản trị như đã trình bày trên nhưng vấn đề chia sẻ thông tin theo chiều dọc tác động đến kết quả công việc của các nhà quản trị vẫn chưa được xem xét trong bối cảnh dự toán ngân sách ở môi trường Việt Nam Tác giả lập luận rằng, cơ chế thông tin và truyền thông là đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải những mục tiêu dự toán ngân sách và những phản hồi về quá trình thực hiện các mục tiêu theo hai chiều, từ các nhà quản trị cấp thấp đến các nhà quản trị cấp cao và ngược lại Đây là khe hổng nghiên cứu thứ nhất của đề tài Do đó, làm thế nào để gia tăng việc
Trang 13chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp để đem lại kết quả công việc cao và liệu kiến thức quản trị chi phí và sự tham gia vào dự toán ngân sách có làm tăng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong điều kiện Việt Nam hay không vẫn đang cần lời giải đáp Đây chính là khe hổng nghiên cứu thứ hai của đề tài
Nghiên cứu này đóng góp vào hệ thống cơ sở lý luận về dự toán ngân sách tại Việt Nam, giải thích vai trò của sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí đến kết quả công việc của các nhà quản trị thông qua cơ chế chia sẻ thông tin theo chiều dọc Nghiên cứu này còn ủng hộ lý thuyết đại diện, lý thuyết thiết lập mục tiêu, lý thuyếthiệu suất công việc và lý thuyết tâm lý trong quá trình giải thích những mối quan hệ giữa các biến ở mô hình nghiên cứu trong bối cảnh vận dụng dự toán ngân sách ở các doanh nghiệp tạiViệt Nam Luận văn sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam hiểu rõ hơn về cơ chế và quy trình chuyển hóa hoạt động tham gia vào dự toán ngân sách thông qua việc chia sẻ thông tinvà tăng cường kiến thức quản trị chi phí thành kết quả công việc vượt trội Từ đó, các doanh nghiệp tại Việt Nam khi vận dụng quy trình dự toán ngân sách có thể đưa ra những chính sách phù hợp để thúc đẩy tính hiệu quả của quy trình này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích cung cấp những bằng chứng thực nghiệm để nâng cao kết quả công việc của nhà quản trị thông qua việc xác định và đo lường tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách, kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp và giải thích mối quan hệ của việc chia
sẻ thông tin theo chiều dọc đến kết quả công việc của các nhà quản trị Các mục tiêu
cụ thể như sau:
RO1: Đo lường mức độ ảnh hưởng của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại môi trường Việt Nam
Trang 14RO2: Đo lường mức độ ảnh hưởng của kiến thức quản trị chi phí đến sự chia
sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại môi trường Việt Nam
RO2: Đo lường mức độ ảnh hưởng của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc đến kết quả công việc của các nhà quản trị tại môi trường Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài gồm ba câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết:
RQ1:Có mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại môi trường Việt Nam không?
RQ2: Có mối quan hệ giữa kiến thức quản trị chi phí và sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại môi trường Việt Nam không?
RQ3: Có mối quan hệ giữa sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kết quả công việc của các nhà quản trị tại môi trường Việt Nam không?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện từ các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở đang làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện năm
2018
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia vào dự toán ngân sách, kiến thức về quản trị chi phí, sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp và kết quả công việc của các nhà quản trị
- Đối tượng khảo sát:
Trang 15Đối tượng khảo sát của đề tài là các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở, những người đã có kinh nghiệm trong tham gia vào lập dự toán ngân sách trong các doanh nghiệp tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đi theo trường phái thực chứng và sử dụng phương pháp định lượng
để xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu Dựa vào hệ thống cơ sở lý luận và
lý thuyết nền phù hợp, đề tài biện luận các giả thuyết và xây dựng mô hình, vận dụng thang đo đã có sẵn từ hệ thống cơ sở lý luận, sau đó thu thập dữ liệu khảo sát, phân tích và kiểm định các giả thuyết trong mô hình
Nghiên cứu này là nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu của luận văn Tác giả kế thừa những thang đo từ các nghiên cứu trước để xây dựng bảng câu hỏi, bảng câu hỏi được dịch sang tiếng Việt
và được thử nghiệm bằng cách gửi cho các đối tượng khảo sát tiềm năng để kiểm tra về ngữ nghĩa, chính tả, sự phiến diện, sự dễ hiểu để từ đó có những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp vớiđiều kiện Việt Nam Danh sách email khảo sát được lấy từ
cơ sở dữ liệu mạng xã hội chuyên nghiệp LinkedIn, dữ liệu cá nhân gắn liền với email cũng được lọc theo giới tính, họ tên theo đúng tên tiếng Việtnhằm cá nhân hóa nội dung email khảo sát để tăng tỷ lệ phản hồi Sau đó, bảng câu hỏi được gửi đến các đối tượng khảo sát tiềm năng thông qua phần mềm quản lý khảo sát SurveyMonkey Sau đó, tác giả đưa vào phân tích dữ liệu thông qua phần mềm SmartPLS3.0 để kiểm định giả thuyết trong mô hình
Mẫu chọn nghiên cứu là các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở tại các doanh nghiệp tại Việt Nam và có kinh nghiệm làm dự toán ngân sách ít nhất hai năm.Thang đo được sử dụng trong đề tài được kế thừa từ các nghiên cứu trước Cụ thể thang đo cho biến sự tham gia vào dự toán ngân sách lấy từ nghiên cứu của Milani (1975); Nouri & Parker (1998); Parker & Kyj (2006) Thang đo cho biến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc được lấy từ nghiên cứu của Parker & Kyj (2006),
Trang 16thang đo cho biến kiến thức quản trị chi phí được lấy từ nghiên cứu của Agbejule & Saarikoski (2006), thang đo cho biến kết quả công việc lấy từ nghiên cứu của Hall (2008); Lau & Roopnarain (2014) Phương pháp thu thập dữ liệu: Tác giả dự kiến thu thập dữ liệu thông qua khảo sát các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở ở các doanh nghiệp tại Việt Nam, họ có tham gia vào xây dựng dự toán ngân sách, có trên
2 năm kinh nghiệm lập dự toán ở công ty Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả
sử dụng phần mềm SmartPLS3.0 với phương pháp bình phương tối thiểu từng phần (PLS) dùng để phân tích dữ liệu và kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này bổ sung cơ sở lý luận về các nhân tố tiền tố và hậu tố của sự tham gia vào dự toán ngân sách đang còn đang khá hạn chế tại Việt Nam, bên cạnh một số ít nghiên cứu ở Việt Nam gần đây như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Định (2017) và Đinh Nguyễn Trần Quang (2018) So với các nghiên cứu về các tiền
tố (nhân tố tác động) đến kết quả công việc của các nhà quản trị như nghiên cứu của Brownell & McInnes (1986); Halbesleben & Bowler (2007); Judge và cộng sự (2001); Meyer và cộng sự (1989); Riketta (2002) thì nghiên cứu này khác các nghiên cứu trước ở việc nghiên cứu tác động của sự chia sẻ thông tin đến kết quả công việc trong bối cảnh dự toán ngân sách, đây là sự khác biệt khi chưa có đề tài nào trước đây nghiên cứu về vấn đề này tại các doanh nghiệp tại Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế mới nổi.Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu ảnh hưởng của
sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Do đó, nghiên cứu này làm giàu thêm về hệ thống cơ sở lý luận về dự toán ngân sách ở Việt Nam còn đang hạn chế hiện nay
Ngoài ra, đề tài còn góp phần giải thích tại sao sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí lại tác động đến sự chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp và cũng giải thích tại sao sự chia sẻ thông tin lại tác động đến kết quả công
Trang 17việc của nhà quản trị Đây là các mối quan hệ mà hiện nay chưa được kiểm định tại một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn
về mối tương tác giữa các biến kể trên trong bối cảnh dự toán ngân sách Việt Nam hướng đến công nghiệp 4.0
Luận văn này có những đóng góp về mặt thực tiễn như sau: Đề tài đưa ra hàm ý cho các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam trong việc nâng cao kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách, tăng cường kiến thức quản trị chi phí cũng như chia sẻ thông tin Ngoài ra, nghiên cứu này góp phần giải thích cho các nhà quản trị tầm quan trọng của kiến thức quản trị chi phí, sự tham gia vào
dự toán ngân sách tác động đến sự chia sẻ thông tin để gia tăng kết quả công việc của nhà quản trị trong doanh nghiệp Bên cạnh đó, đề tài còn giúp cho nhà quản trị hiểu được mối quan hệ giữa các biến với nhau như mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí với sự chia sẻ thông tin và mối quan hệ giữa chia sẻ thông tin với kết quả công việc, để nhà quản trị thấy được tầm quan trọng của biến này đối với biến kia nhằm tìm ra phương án tác động để gia tăng kết quả công việc
7 Cấu trúc của luận văn
Đề tài dự kiến có cấu trúc như sau:
Phần tóm tắt nghiên cứu: Thể hiện vấn đề nghiên cứu, khe hổng nghiên
cứu, kết quả nghiên cứu
Phần mở đầu :Trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu gồm tính cấp thiết và lý
do chọn đề tài; câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu;ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề
tài; tóm tắt đề tài
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trang 18Trình bày các khái niệm liên quan đến mô hình nghiên cứu, lý thuyết nền tảng liên quan đến đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày thiết kế giả thiết và mô hình nghiên cứu; Mẫu chọn nghiên cứu, xây dựng thang đo, quy trình thu thập dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trình bày thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo, kiểm định giá trị phân biệt của thang đo và kiểm định các giả thuyết trong mô hình
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trình bày kết luận, hàm ý lý thuyết, hàm ý thực tiễn, hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Từ lâu, các nhà quản trị của các doanh nghiệp trên toàn thế giới đã bắt đầu có
sự quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng cũng như thực hiện dự toán ngân sách để theo đuổi các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp mình, đây là một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực kế toán quản trị từ đó đến nay (Shields & Shields, 1998a) Các nhà nghiên cứu kế toán đã cố gắng tìm hiểu mối quan hệ giữa sự tham gia ngân sách và kết quả thực hiện công việc của các đối tượng có liên quan Một số nghiên cứu đề xuất rằng sự tham gia của ngân sách có tác động tích cực mạnh mẽ đến kết quả công việc, tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho quan điểm này vẫn khá mơ hồ Trong khi một số nghiên cứu kết luận rằng mối quan hệ này là tích cực, một số nghiên cứu khác lại cho rằng một mối quan hệ tiêu cực hoặc không có tác động gì đáng kể giữa các yếu tố này Điển hình như Nouri & Parker (1998) đã nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa sự tham gia dự toán ngân sách ảnh hưởng đến kết quả công việc thông qua ngân sách đầy đủ (budget adequacy) và tính cam kết thực hiện ngân sách Sau khi phân tích hệ số tương quan,
hệ số t-test, tác giả khẳng định mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách
và kết quả công việc là phức tạp, các giả thiết ban đầu được ủng hộ Bên cạnh những hạn chế của đề tài như chỉ thu thập tại một công ty, tác giả cũng đề xuất rằng tham gia dự toán ngân sách sẽ hỗ trợ ngân sách đầy đủ để cấp dưới có thể hoàn thành tốt phạm vi công việc và vì vậy làm tăng kết quả công việc của nhân viên Sự tham gia ngân sách cũng làm tăng tính cam kết tổ chức điều này cũng sẽ làm tăng kết quả công việc cao hơn
Theo nghiên cứu của tác giả Maiga (2005), sự tham gia vào dự toán ngân sách đã được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu kế toán và được xem như là một phương tiện để cải thiện kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Tác giả Maiga (2005) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất rằng: Sự tham gia vào dự toán ngân
Trang 20sách cũng có chức năng thông tin quan trọng, qua đó các nhân viên, các cấp quản trị
có thể thu thập, trao đổi và phổ biến thông tin liên quan đến công việc mà họ đang thực hiện cũng như truyền đạt các ý kiến cá nhân của họ đến các nhà quản trị cấp cao để tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định trong việc điều hành doanh nghiệp Hơn nữa, hành động tham gia vào quá trình lập ngân sách sẽ giúp thúc đẩy các cấp dưới chấp nhận và cam kết các mục tiêu ngân sách mà các nhà quản trị đặt ra
Một trong những lợi ích quan trọng nhất của việc tham gia vào quá trình dự toán ngân sách là chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi thông tin giữa cấp dưới và cấp trên trong các cuộc thảo luận ngân sách có thể mang lại cho cá nhân và tổ chức nhiều lợi ích đặc biệt quan trọng (Shields & Shields, 1998a) Khi có sự tham gia của các nhân viên trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách, nhà quản trị sẽ có nhiều thông tin hơn để đưa ra quyết định của mình một cách hợp lý Kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm làm việc trực tiếp của những nhân viên sẽ bổ sung thêm cho nhà quản trị có sở để xác định
dự toán ngân sách chính xác hơn, tránh gây ra sự lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp, hoặc lập dự toán ngân sách nằm ngoài khả năng thực hiện của nhân viên khiến cho kế hoạch hành động không đạt được như mong muốn Quá trình lập dự toán ngân sách còn giúp cho các bộ phận, phòng ban, nhân viên trong doanh nghiệp
có thói quen lập kế hoạch và kiểm soát chi phí của mọi hoạt động, khuyến khích tiết kiệm, đề cao tinh thần tập thể, thúc đẩy việc trao đổi thông tin, phối hợp giữa các cấp, bộ phận, phòng ban
Lý thuyết đại diện và lý thuyết tâm lý đều khẳng định rằng sự tham gia vào
dự toán ngân sách ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc Khi một người được tham gia vào quá trình thiết lập và điều chỉnh dự toán ngân sách, kiến thức và kỹ năng của họ sẽ góp phần hoàn thiện dự toán ngân sách một cách hợp lý, họ sẽ có thêm động lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình Theo lý thuyết tâm lý, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia có tác động tích cực đến việc thực hiện thông qua các
cơ chế tạo động lực và nhận thức (Birnberg & Luft, 2007; Shields & Shields, 1998b) Tác giả Shields & Shields (1998a) đã kết luận rằng: do cơ chế động lực
Trang 21thúc đẩy, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau
sẽ làm tăng lòng tin, sự kiểm soát và sự gắn kết của các đối tượng này với tổ chức, đồng thời hạn chế sự chống đối đối với các thay đổi, chấp nhận và cam kết hơn với
dự toán ngân sách được đưa ra, qua đó cải thiện kết quả công việc Ngoài ra, do cơ chế nhận thức, việc thiết lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều đối tượng
là một quá trình trao đổi thông tin cấp trên – cấp dưới, giúp hiểu rõ hơn về tình hình
và các nhiệm vụ phải hoàn thành cũng như mang lại những quyết định tốt hơn, dẫn đến kết quả công việc tốt hơn (Chenhall & Brownell, 1988; Kren, 1992; Parker & Kyj, 2006)
Ngoài ra, xét về cơ chế chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp, Winata & Mia (2005) cho rằng sự chia sẻ thông tin thông qua các thiết bị công nghệ có tác động đến quá trình tham gia dự toán Ông đã tổng hợp các đề tài trước cho thấy rằng việc chia sẻ thông tin có sử dụng công nghệ của các nhà quản trị có thể làm tăng khối lượng, tốc độ, hiệu quả và năng lực xử lý dữ liệu của nhà quản trị Ngoài ra, nó cũng giúp trong việc cải thiện trao đổi thông tin, giao tiếp và thảo luận cá nhân hoặc nhóm giữa các chức năng, vị trí địa lý và múi giờ khác nhau, vì vậy quá trình tham gia dự toán ngân sách sẽ thuận lợi mang lại hiệu quả cao Theo quan điểm của Parker & Kyj (2006) cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong quá trình lập
dự toán ngân sách là sự giao tiếp thông tin giữa cấp trên và cấp dưới Có hai khía cạnh của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc:(1) luồng thông tin từ cấp dưới đến cấp trên (chia sẻ thông tin hướng lên); (2) luồng thông tin từ cấp trên đến cấp dưới (chia
sẻ thông tin hướng xuống) Đồng tình với quan điểm trên, các tác giả khác cũng cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc bao gồm cả hai hướng là truyền thông tin từ cấp dưới lên cấp trên vàtruyền thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới (Chow, Cooper,
& Waller, 1988; Nouri & Parker, 1998) Ngoài ra, sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc còn đề cập đến mức độ những thông tin quan trọng được giao tiếp với đồng nghiệp của mình (Mohr & Spekman, 1994) Trong khi đó, Miranda &Saunders (2003) cho rằng chia sẻ thông tin là sự thảo luận thông tin bằng miệng hoặc bằng văn bản giữa các thành viên trong nhóm (Miranda & Saunders, 2003)
Trang 22Khi xem xét về yếu tố kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp Agbejule & Saarikoski (2006) cho rằng kiến thức quản trị chi phí của nhà quản lý đại diện cho yếu tố năng lực của họ bởi vì kiến thức quản lý chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách Người tham gia lập dự toán có kiến thức quản trị chi phí có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của dự toán ngân sách Mức độ kiến thức quản trị chi phí của người tham gia có thể ảnh hưởng đến các quyết định ngân sách
(Scully, Kirkpatrick, & Locke, 1995)
Theo Hoque (2002) thì quản trị chi phí đòi hỏi một sự hiểu biết sâu hơn về cấu trúc chi phí của công ty, nó kết hợp các yếu tố từ ba lĩnh vực như: Kế toán quản trị, sản xuất và lập kế hoạch chiến lược Quản trị chi phí là các hoạt động quản lý được sử dụng để lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và kiểm soát chi phí Quản trị chi phí không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn kiểm soát và quản lý chi phí Trong khi đó Isik, Arditi, Dikmen & Birgonul (2009) cho rằng quản trị chi phí đề cập đến các hoạt động đảm bảo rằng chi phí dự án tổng thể thấp nhất có thể đạt được, phù hợp với mục tiêu đầu tư của chủ sở hữu.Shields and Young (1994) đã xác định có ba dạng kiến thức quản trị chi phí trong việc xác định về nhận thức chi phí của các nhà quản trị: (1) dựa trên việc xem chi tiết đơn hàng; (2) dựa trên khách hàng; và (3) quan điểm cân bằng.Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị đại diện cho yếu tố năng lực của họ bởi vì kiến thức quản trị chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách (Agbejule & Saarikoski, 2006)
Qua khảo sát lý thuyết cho thấy, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại Việt Nam, cũng như chưa có nghiên cứu nào xem xét mối quan hệ giữa sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kết quả công việc của các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam Đây chính là khe hổng nghiên cứu cần được lấp đầy
Trang 231.2 Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu Việt Nam liên quan đến xây dựng dự toán ngân sách thường
là những đề tài nghiên cứu thực tiễn liên quan đến việc xây dựng hoặc hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách tại một công ty cụ thể như sau: Tác giả Đinh Nguyễn Trần Quang (2018) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và sự hợp lý trong quy trình dư toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách - bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam Bài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc trong môi trường tại Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện theo trường phái thực chứng, sử dụng phương pháp định lượng
để xây dựng và kiểm định mô hình và các giả thuyết có trong mô hình Thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi được gửi đến email của những đáp viên tiềm năng, tác giả đã thu được 337 phản hồi chất lượng và phù hợp với yêu cầu mà tác giả đặt
ra cho nghiên cứu này Kết quả khảo sát và kiểm định với mẫu thu được đã ủng hộ
cả 3 giả thuyết mà tác giả đặt ra, cụ thể: Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách có tác động dương đến sự tham gia vào dự toán ngân sách; Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách có tác động dương đến sự tham gia vào dự toán ngân sách;
Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến kết quả công việc
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Định (2017) đã nghiên cứu tác động của phong cách lãnh đạo, sự không rõ ràng trong công việc đến kết quả công việc thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách tại môi trường Việt Nam Thang đo của biến độc lập
và phụ thuộc trong đề tài nghiên cứu gồm phong cách lãnh đạo có 5 biến quan sát, sự không rõ ràng trong công việc có 6 biến quan sát, tham gia dự toán ngân sách có 6 biến quan sát, kết quả công việc có 9 biến quan sát Tác giả thu thập được 337 phiếu trả lời hoàn chỉnh, sau khi phân tích dữ liệu và chạy mô hình, kết quả là tất cả các giả thiết trong đề tài đều được ủng hộ hoàn toàn Cụ thể là Phong cách lãnh đạo tác động dương đến sự tham gia dự toán ngân sách; Sự không rõ ràng trong công việc tác
Trang 24động âm đến sự tham gia ngân sách; Sự tham gia dự toán ngân sách tác động dương đến kết quả công việc
Tác giả Trần Thị Hiền (2016) đề xuất để lập dự toán ngân sách hiệu quả, công ty áp dụng mô hình thông tin phản hồi, có sự phân công phân nhiệm cụ thể cho từng thành viên, chú trọng đến việc theo dõi và điều chỉnh dự toán ngân sách theo từng quý để giúp cấp trên đưa ra quyết định kịp thời, phù hợp với tình hình của công ty Bên cạnh đó, tác giả Lê Thu Hằng (2016) đã nêu thực trạng và xây dựng
mô hình dự toán ngân sách, quy trình dự toán ngân sách và hệ thống báo cáo dự toán ngân sách tại công ty cổ phần Thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo Tác giả chọn mô hình dự toán ngân sách là mô hình thông tin từ dưới đi lên để phù hợp với điều kiện tại công ty Trong đề tài Lê Thu Hằng (2016) cũng đề xuất 3 giai đoạn trong quy trình lập dự toán ngân sách gồm chuẩn bị dự toán, soạn thảo dự toán và theo dõi dự toán ngân sách Từ những đánh giá thực trạng, tác giả cũng đề xuất những giải pháp nhằm hỗ trợ xây dựng và thực hiện dự toán tại công ty như xây dựng hệ thống chi phí theo mô hình ứng xử , xây dựng hệ thống kỹ thuật phân tích
dự báo thông tin thị trường
Tác giả Phạm Thị Phương Anh (2014) thực hiện đề tài về Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty cổ phần gốm Việt Thành Trong đề tài này, tác giả thực hiện phương pháp nghiên cứu giống tác giả Lê Thu Hằng (2016), tác giả đánh giá tình hình thực tiễn và đề xuất hoàn thiện công tác dự toán ngân sách tại công ty cổ phần gốm Việt Thành Hoàn thiện sẽ bao gồm cả mô hình và quy trình dự toán để dự toán ngân sách được lập một cách có logic và thống nhất tại công ty Tác giả cũng đề xuất một số quy trình dự toán cần cải thiện như dự toán bán hàng, dự toán sản suất,
dự toán chi phí Trong một công trình nghiên cứu khác của nhóm tác giả tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đã giúp nhà quản trị biết được những nhân tố nào tác động đến khe hổng dự toán ngân sách và cũng như mang tới kết quả mới là khi nhà quản trị cảm thấy môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro của doanh nghiệp mình, nhà quản trị sẽ có xu hướng thu thập nhiều thông tin trước khi xây dựng dự toán ngân sách
Trang 25Tuy có nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến kết quả công việc của các nhà quản trị như đã trình bày trên nhưng vấn đề chia sẻ thông tin theo chiều dọc tác động đến kết quả công việc của các nhà quản trị vẫn chưa được xem xét trong bối cảnh dự toán ngân sách ở môi trường kinh tế tại Việt Nam Tác giả lập luận rằng, cơ sự chia sẻ thông tin là đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải những mục tiêu dự toán ngân sách và những phản hồi về quá trình thực hiện các mục tiêu theo hai chiều, từ các nhà quản trị cấp thấp đến các nhà quản trị cấp cao và ngược lại để gia tăng kết quả công việc của nhà quản trị.Đây là khe hổng nghiên cứu thứ nhất của đề tài Bên cạnh đó, liệu kiến thức quản trị chi phí và sự tham gia vào dự toán ngân sách có làm tăng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong điều kiện Việt Nam hay không vẫn chưa có nghiên cứu nào xem xét Đây chính là khe hổng nghiên cứu thứ hai của đề tài.Vấn đề cần nghiên cứu ở đây là “ Tác động của sự tham gia vào
dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin nhằm nâng cao kết quả công việc của các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam” sẽ rất
cần thiết cho việc lấp đầy khe hổng nghiên cứu
Trang 26Kết luận chương 1
Trong chương này, tác giả đã khái quát các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới liên quan đến đề tài nâng cao kết quả công việc của nhà quản trị trong bối cảnh dự toán ngân sách Thông qua đó, tác giả sẽ xác định những khe hổng cho nghiên cứu của mình cũng như làm tiêu chuẩn đánh giá kết quả đạt được của nghiên cứu trong chương 4
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm liên quan đến mô hình nghiên cứu
2.1.1 Dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách là một công cụ phổ biến được dùng để lập kế hoạch, phối hợp, đánh giá và kiểm soát Ngân sách ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi nhiều cá thể, cấu trúc và quy trình vĩ mô trong tổ chức (Horngren, 2004) Dự toán ngân sách có thể được áp dụng theo hướng áp đặt từ trên xuống hoặc có sự tham gia vào dự toán ngân sách của các cấp Dự toán ngân sách được mô tả theo cách tiếp cận từ trên xuống (top- down approach), nghĩa là dựa trên chiến lược hoạt động, nhà quản trị cấp cao sẽ đưa ra kế hoạch ngân sách mỗi năm Sau đó, kế hoạch ngân sách này được chuyển xuống nhà quản trị cấp dưới Cách tiếp cận thứ hai là phương pháp
tiếp cận từ dưới lên (bottom-up approach) để khuyến khích sự tham gia từ cấp dưới
Dự toán ngân sách không chỉ là kế hoạch tài chính gồm việc thiết lập doanh thu, chi phí mà nó còn là công cụ để kiểm soát, phối hợp, đánh giá kết quả công việc và tạo động lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ (Kenis, 1979) Theo Hilton (1991)thì dự toán ngân sách là một công cụ được sử dụng rộng rãi bởi các nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát Nó là một kế hoạch chi tiết và tỉ mỉ nhằm nêu
ra những khoản thu chi của doanh nghiệp trong một giai đoạn nào đó Dự toán là phản ánh kế hoạch trong tương lai, được thể hiện dưới dạng số lượng và giá trị
Ngoài ra, theo tác giả Huỳnh Lợi (2009) thì dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết và toàn diện nguồn lực Nó là cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, nó được biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu
về số lượng và giá trị Dự toán ngân sách cung cấp phương tiện thiết lập mục tiêu thông qua kế hoạch và tương tác với các hoạt động của công ty
Trang 282.1.2 Các mô hình dự toán ngân sách
Mô hình lập dự toán ngân sách là một hệ thống xác định vị trí, mối quan hệ các nhà quản trị và các bộ phận trong việc thực thi dự toán Có ba mô hình dự toán ngân sách bao gồm: Mô hình thông tin từ trên xuống, mô hình phản hồi và mô hình
thông tin từ dưới lên
Mô hình thông tin từ trên xuống:
Hình 2.1 Mô hình thông tin từ trên xuống (Nguồn: Huỳnh Lợi(2009))
Mô hình thông tin từ trên xuống là mô hình mà các chỉ tiêu dự toán ngân sách được chỉ định từ các nhà quản trị cấp cao và được truyền xuống các nhà quản trị cấp trung gian Nhà quản trị cấp trung gian sẽ tiếp nhận và truyền thông tin xuống các nhà quản trị cấp cơ sở Các nhà quản trị cấp cơ sở sẽ trực tiếp xây dựng
kế hoạch tại các bộ phận trong đơn vị Theo mô hình này thì thông tin được truyền đạt một chiều từ cấp trên xuống và không nhận được phản hồi thông tin từ cấp dưới (Huỳnh Lợi, 2009)
Mô hình thông tin phản hồi:
Trang 29Hình 2.2 Mô hình thông tin phản hồi (Nguồn: Huỳnh Lợi (2009))
Theo mô hình này thì các chỉ tiêu dự toán được ước tính từ các nhà quản trị cấp cao nhất của đơn vị mang tính dự thảo Sau đó, dự toán được phân bổ xuống các đơn vị cấp trung gian Trên cơ sở đó, các nhà quản trị cấp trung gian phân bổ cho các nhà quản trị cấp cơ sở Các nhà quản trị cấp cơ sở dựa trên khả năng của mình
để xác định các chỉ tiêu và phản hồi với cấp trên Các nhà quản trị cấp cao tổng hợp kết quả từ các bộ phận trung gian và kết hợp với chiến lược toàn công ty để xét duyệt dự toán cho từng bộ phận trung gian
Mô hình thông tin từ dưới lên:
Hình 2.3 Mô hình thông tin từ dưới lên (Nguồn : Huỳnh Lợi (2009))
Trang 30Theo mô hình này thì các nhà quản trị cấp cơ sở căn cứ vào nhu cầu và năng lực thực tế tại đơn vị để lập các chỉ tiêu dự toán ngân sách, sau đó trình lên các nhà quản trị cấp trung gian Nhà quản trị cấp trung gian sẽ tổng hợp các chỉ tiêu dự toán cấp dưới cộng với kết quả dự toán tại đơn vị mình để trình lên các nhà quản trị cấp cao Dựa trên kết quả tổng hợp các chỉ tiêu của các cấp dưới, kết hợp với chiến lược phát triển của công ty, các nhà quản trị cấp cao sẽ xét duyệt các chỉ tiêu ở cấp cơ sở
và cấp trung gian
2.1.3 Sự tham gia vào dự toán ngân sách
Sự tham gia vào dự toán ngân sách là quá trình mà cá nhân tham gia và có ảnh hưởng đến việc thiết lập ngân sách (Brownell, 1980) Mức độ tham gia cao vào
dự toán là việc thường xuyên có các cuộc thảo luận giữa cấp trên và cấp dưới về các vấn đề ngân sách (Milani, 1975) Sự tham gia vào dự toán ngân sách còn được định nghĩa là một quy trình trong đó kết quả của từng cá nhân được ghi nhận và được đánh giá dựa vào kết quả họ đạt được so với dự toán ban đầu mà họ tham gia vào xây dựng (Brownell, 1980; Chong & Johnson, 2007; Greenberg, Greenberg, & Nouri, 1994)
Các tác giả khác định nghĩa sự tham gia vào dự toán ngân sách là phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của nhà quản lý trong quá trình thiết lập ngân sách
và mức độ ảnh hưởng của họ đối với việc lập các mục tiêu ngân sách (Hassel & Cunningham, 1993; Milani, 1975) Ủng hộ quan điểm này có định nghĩa cho rằng
sự tham gia vào dự toán ngân sách là mức độ mà các nhà quản lý có ảnh hưởng và tham gia vào việc thiết lập ngân sách của các tiểu đơn vị của họ (Ezzamel, 1990; Kenis, 1979) Trong khi đó, một định nghĩa kháccho rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách là số lượng tham gia trong quá trình chuẩn bị và phát triển ngân sách(Tsui, 2001) Ngoài ra, Nouri và Parker (1998) định nghĩa rằng sự tham gia vào
dự toán ngân sách là phục vụ cho chức năng thông tin nhằm giúp nhân viên thu thập, trao đổi, phổ biến và truyền đạt thông tin liên quan đến quá trình ra quyết định
Trang 31cho các bên liên quan khác trong tổ chức Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa sự tham gia vào dự toán ngân sách là quá trình mà cá nhân tham gia và
có ảnh hưởng đến việc thiết lập ngân sách (Brownell, 1980)
2.1.4 Kiến thức quản trị chi phí
Kiến thức quản trị chi phí của nhà quản lý đại diện cho yếu tố năng lực của
họ bởi vì kiến thức quản lý chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách (Agbejule & Saarikoski, 2006) Người tham gia lập dự toán có kiến thức quản trị chi phí có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của dự toán ngân sách Mức độ kiến thức quản trị chi phí của người tham gia có thể ảnh hưởng đến các quyết định ngân sách (Scully,
Kirkpatrick, & Locke, 1995)
Theo Hoque (2002) thì quản trị chi phí đòi hỏi một sự hiểu biết sâu hơn về cấu trúc chi phí của công ty, nó kết hợp các yếu tố từ ba lĩnh vực như: Kế toán quản trị, sản xuất và lập kế hoạch chiến lược Quản trị chi phí là các hoạt động quản lý được sử dụng để lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và kiểm soát chi phí Quản trị chi phí không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn kiểm soát và quản lý chi phí Trong khi đó Isik, Arditi, Dikmen & Birgonul (2009) cho rằng quản trị chi phí đề cập đến các hoạt động đảm bảo rằng chi phí dự án tổng thể thấp nhất có thể đạt được, phù hợp với mục tiêu đầu tư của chủ sở hữu Shields and Young (1994) đã xác định có ba dạng kiến thức quản trị chi phí trong việc xác định về nhận thức chi phí của các nhà quản trị: (1) dựa trên việc xem chi tiết đơn hàng; (2) dựa trên khách hàng; và (3) quan điểm cân bằng.Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị đại diện cho yếu tố năng lực của họ bởi vì kiến thức quản trị chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách (Agbejule & Saarikoski, 2006)
Trang 322.1.5 Chia sẻ thông tin theo chiều dọc
Theo quan điểm của Parker & Kyj (2006) cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong quá trình lập dự toán ngân sách là sự giao tiếp thông tin giữa cấp trên và cấp dưới Có hai khía cạnh của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc: (1) luồng thông tin từ cấp dưới đến cấp trên (chia sẻ thông tin hướng lên); (2) luồng thông tin
từ cấp trên đến cấp dưới (chia sẻ thông tin hướng xuống) Đồng tình với quan điểm trên, các tác giả khác cũng cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc bao gồm cả hai hướng là truyền thông tin từ cấp dưới lên cấp trên vàtruyền thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới (Chow, Cooper, & Waller, 1988; Nouri & Parker, 1998)
Ngoài ra, sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc còn đề cập đến mức độ những thông tin quan trọng được giao tiếp với đồng nghiệp của mình (Mohr & Spekman, 1994) Trong khi đó, Miranda & Saunders (2003) cho rằng chia sẻ thông tin là sự thảo luận thông tin bằng miệng hoặc bằng văn bản giữa các thành viên trong nhóm (Miranda & Saunders, 2003) Trong bài nghiên cứu này, tác giả định nghĩa sự chia
sẻ thông tin theo chiều dọc là việc giao tiếp thông tin giữa cấp trên và cấp dưới trong quá trình lập dự toán ngân sách (Parker & Kyj, 2006)
2.1.6 Kết quả công việc
Mahoney (1963) cho rằng kết quả công việc của nhà quản trị được định nghĩa là khả năng của nhà quản trị trong việc thực hiện các hoạt động quản lý bao gồm lập kế hoạch, điều tra, phối hợp, giám sát, tuyển dụng nhân sự, đàm phán và và năng trình bày Ngoài ra, kết quả công việc của nhà quản trị còn được mô tả như là một quá trình thực hiện chức năng quản trị, quá trình thực hiện các chức năng quản trị này tạo ra sự tương tác giữa cấp trên và cấp dưới về các hoạt động lập kế hoạch, chỉ đạo và kiểm soát hiệu suất làm việc của nhân viên (Sari & Basri, 2015) Kết quả công việc còn được định nghĩa là việc thực hiện công việc có hiệu quả của người lao động hoặc đóng góp hữu ích cho môi trường làm việc xã hội (Abramis, 1994) Trong bài nghiên cứu này tác giả định nghĩa kết quả công việc theo Mahoney
Trang 33(1963) Đó là khả năng của người quản lý trong việc thực hiện các hoạt động quản
lý bao gồm lập kế hoạch, điều tra, phối hợp, giám sát, tuyển dụng nhân sự, đàm phán và và năng trình bày
2.2 Lý thuyết nền tảng
Để đưa ra cơ sở xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, tác giả sử dụng các lý thuyết nền sau:
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agent theory)
Lý thuyết đại diện được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như kế toán, tài chính, kiểm soát và kế toán quản trị Theo Jensen & Meckling (1976), người đặt nền móng cho lý thuyết đại diện đã xác định mối quan hệ đại diện (quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng, trong đó các cổ đông là những người chủ (principals) thuê những người khác quản lý công ty gọi là những người quản lý hay là những người đại diện
(agents) để thực hiện nhiệm vụ quản lý công ty cho các cổ đông Lý thuyết đại diện
cho rằng: Nếu cổ đông và người quản lý đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì có thể nhà quản lý công ty sẽ không hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ Mối quan hệ đại diện cònthể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản trị cấp cao và nhà quản trị cấp cơ sở, giữa nhà quản trị với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của
tổ chức
Theo lý thuyết này thì xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa người chủ và người đại diện công ty Nguồn gốc của mâu thuẫn xuất phát từ sự không hài hòa trong lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý,
giữa chủ nợ và chủ doanh nghiệp Do bất cân xứng thông tin và vai trò công việc
khác nhau mà người đại diện nắm thông tin nhiều hơn người chủ (Jensen & Meckling, 1976) Nhiều nghiên cứu kế toán dựa trên khuôn khổ lý thuyết đại diện như Baiman (1990) cho rằng các người đại diện thường có các thông tin, kiến thức
Trang 34riêng của mình về lĩnh vực mà họ đảm nhận Sự khác biệt giữa mức độ thông tin của người chủ và nhà quản lý gọi là sự bất cân xứng thông tin Sử dụng lý thuyết đại diện, một vài nghiên cứu cho rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách cho phép cấp dưới tiết lộ thông tin, kiến thức riêng của mình với cấp trên, từ đó làm tăng hiệu quả làm việc của cá nhân và tổ chức (Baiman & Evans, 1983; Christensen, 1982; Nouri & Parker, 1998)
Bài nghiên cứu này,tác giả dựa theo lý thuyết đại diện ở khía cạnh là người đại diện thường có các thông tin, kiến thức riêng của mình về lĩnh vực mà họ đảm nhận và những thông tin này người chủ không có được Tác giả cho rằng việc tham gia lập dự toán ngân sách cho phép cấp dưới cung cấp, góp ý về một số thông tin hiểu biết của mình để có thể đem lại lợi ích cho cả hai bên, góp phần kết hợp thông tin này vào dự toán ngân sách giúp các mục tiêu ngân sách thực tế hơn để phân bổ các nguồn lực hiệu quả hơn, qua đó sẽ tăng hiệu quả công việc của cả doanh nghiệp
và cá nhân các nhà quản trị
2.2.2 Lý thuyết về hiệu suất công việc
Dựa theo mô hình được phát triển bởi Blumberg và Pringle (1982) làm cơ sở cho việc thảo luận về mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách, kiến thức quản trị chi phí và kết quả công việc của nhà quản trị Tác giả cho rằng hiệu suất làm việc của cá nhân bị ảnh hưởng bởi năng lực cá nhân, sự sẵn sàng làm việc
và cơ hội làm việc Theo đó, lý thuyết đề xuất mô hình sau đây:
Hiệu suất công việc = f (khả năng* sự sẵn sàng* cơ hội)
Như vậy nếu bất kỳ yếu tố nào trong ba yếu tố trên giảm thì hiệu suất công việc đều bị giảm đáng kể Theo tác giả, năng lực đề cập đến khả năng sinh lý và khả năng nhận thức cho phép cá nhân thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả Nó đại diện cho ảnh hưởng của năng lực, kiến thức, kỹ năng, trí thông minh, tuổi tác, tình
Trang 35trạng sức khỏe, trình độ học vấn, sức chịu đựng, mức năng lượng, kỹ năng vận hành của cá nhân và các khả năng khác
Sự sẵn sàng làm việc đề cập đến các đặc điểm về tâm lý và cảm xúc có ảnh hưởng đến mức độ mà một cá nhân có xu hướng thực hiện nhiệm vụ Thiện ý làm việc đại diện cho những ảnh hưởng đến động lực, sự hài lòng công việc, cá tính, thái độ, tính cách, giá trị, trạng thái công việc, sự lo lắng, đặc điểm công việc, sự tham gia vào công việc Yếu tố thường bị bỏ sót trong mô hình hiệu suất công việc
là yếu tố cơ hội Blumberg & Pringle (1982) cho rằng, mặc dù một cá nhân có thể sẵn sàng và có thể tham gia vào thực hiện nhiệm vụ nhưng sự thành công của công việc hay không lại phụ thuộc vào các yếu tố khách quan Tác nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của cá nhân là yếu tố hệ thống kỹ thuật như là công cụ, thiết bị, tài liệu và vật tư, điều kiện vật chất, hành động của đồng nghiệp, cách cư xử của lãnh đạo, cố vấn, chính sách tổ chức, quy tắc và điều lệ, thông tin và thời gian Các nhà nghiên cứu như Ford (1992); Krug (1990); Waldman & Spangler (1989) từ các nghiên cứu khác nhau về các lĩnh vực như quản lý, tâm lý học và nghiên cứu giáo dục đã phát triển các mô hình hiệu suất công việc và nó rất phù hợp với mô hình ba biến của Blumberg và Pringle (1982) Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả dựa vào lý thuyết hiệu suất công việc ở yếu tố năng lực cụ thể là năng lực đề cập đến khả năng sinh lý và khả năng nhận thức cho phép cá nhân thực hiện nhiệm
vụ một cách hiệu quả Do đó, tác giả xây dựng giả thuyết tập trung vào yếu tố năng lực (kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị) tác động đến kết quả công việc của nhà quản trị Tác giả cho rằng các nhà quản trị có năng lực chuyên môn về kiến thức quản trị chi phí tốt thì sẽ gia tăng được hiệu suất làm việc của mình Tác giả dựa vào yếu tố thứ hai của lý thuyết hiệu suất công việc là yếu tố sự sẵn sàng làm việc Tác giả cho rằng nếu các nhà quản trị sẵn sàng tham gia vào lập dự toan ngân sách, sẽ góp phần đem lại một dự toán phù hợp với từng bộ phận làm việc và dẫn đến kết quả công việc sẽ cao hơn
Trang 362.2.3 Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Goal - setting theory)
Việc thiết lập mục tiêu chính là cách thức để giúp mọi người và cả bản thân cùng tiến lên Nó đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều năm qua trên lĩnh vực quản trị.Lý thuyết thiết lập mục tiêu cho rằng các mục tiêu càng cao và cụ thể sẽ đem lại hiệu quả công việc càng cao và điều này sẽ làm cho người thực hiện dễ dàng đạt được mục tiêu của mình hơn(Locke & Latham, 1994) Ngược lại, đối với các mục tiêu mơ hồ như " hãy làm hết sức mình " thì việc đạt được kết quả công việc cao là không thể Do đó, nếu một người cam kết thực hiện mục tiêu của mình thì họ có khả năng để làm được điều đó và ngược lại Bởi vì những mục tiêu là những điều tốt đẹp, những kết quả mong muốn đạt được trong tương lai nên việc thiết lập mục tiêu
là yếu tố đầu tiên và trên hết của quá trình thực hiện nó Theo lý thuyết thiết lập mục tiêu thì mục tiêu được thiết lập dựa trên các nguyên tắc sau:
Sự rõ ràng: Khi cá nhân có mục tiêu cụ thể, rõ ràng họ sẽ dễ dàng thực hiện mục tiêu hơn so với những mục tiêu mơ hồ Khi nhân viên có một mục tiêu cụ thể thì họ sẽ biết được họ sẽ đạt được những gì khi thực hiện mục tiêu và từ đó họ
sẽ biết họ cần làm những gì cho mục tiêu đó
Sự cam kết: Khi thiết lập mục tiêu các nhà quản trị phải để cho mỗi cá nhân tham gia vào việc thiết lập để họ có thể đánh giá chính xác về năng lực, khả năng của bản thân mình Do đó, họ cảm thấy hứng thú hơn khi thực hiện mục tiêu vì
nó là do họ đặt ra và họ sẽ có sự cam kết cao hơn để thực hiện nó
Sự thách thức: Mục tiêu càng khó thì kết quả đạt được càng cao Do
đó, nếu cá nhân nghĩ rằng họ sẽ đạt được kết quả cao trong tương lai thì họ càng nổ lực nhiều để thực hiện mục tiêu Ngược lại, nếu họ cảm thấy kết quả đạt được không có gì đáng mong đợi thì họ không cần phải nổ lực để có được nó Vì vậy Locke & Latham (1994) cho rằng mục tiêu càng khó và càng cụ thể sẽ làm giảm sự nhàm chán trong công việc
Sự phù hợp của mục tiêu: Mặc dù, mục tiêu đặt ra có thể khó thực hiện và có độ phức tạp nhất định nhưng nếu quá phức tạp và không phù hợp với khả
Trang 37năng của nhân viên thì mục tiêu không thể đạt được Mục tiêu là để tạo động lực làm việc cho nhân viên và đem lại hiệu suất công việc cao hơn Do đó, phải đảm bảo tính phù hợp của mục tiêu để giúp cá nhân có thể hoàn thành được mục tiêu đặt
ra
Tham gia đưa ra mục tiêu: Việc mỗi cá nhân có thể tham gia trong quá trình thiết lập mục tiêu là yếu tố thúc đẩy họ nổ lực thực hiện để đạt được mục tiêu Bởi vì mục tiêu mà họ tạo ra sẽ phù hợp với năng lực và kiến thức của họ và kết quả đạt được chính là mong muốn của họ Do đó, họ sẽ nổ lực để hoàn thành mục tiêu do họ đặt ra
Sự phản hồi: Ngoài việc thiết lập mục tiêu thì tổ chức nên làm thêm các phản hồi cá nhân để điều chỉnh độ khó của mục tiêu nếu cần thiết và giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả vận dụng lý thuyết thiết lập mục tiêu ở khía cạnh tham gia đưa ra mục tiêu Dựa vào lý thuyết, tác giả cho rằng khi các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở tham gia vào quá trình thiết lập dự toán ngân sách thì dự toán đưa ra sẽ hiệu quả hơn vì nó phù hợp với khả năng và các nguồn lực cần thiết hiện có của các nhà quản trị các trung và cấp cơ sở Từ đó, các nhà quản trị sẽ
có cơ hội để hoàn thành tốt những mục tiêu mà dự toán đưa ra và điều này sẽ làm tăng kết quả công việc của họ Bên cạnh đó, tác giả còn dựa vào khía cạnh phản hồi kết quả thực hiện mục tiêu của lý thuyết này để xây dựng mô hình nghiên cứu Tác giả cho rằng, việc phản hồi cho nhân viên biết được họ có đạt được mục tiêu hay không và làm thế nào để đạt được mục tiêu là hết sức cần thiết.Phản hồi cũng là một hình thức động viên để thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân Do đó, vấn đề chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp là rất quan trọng, cấp dưới có thể báo cáo với cấp trên về tình hình thực hiện mục tiêu của mình để cấp trên có thể hỗ trợ, giúp đỡ hoặc cấp trên có thể phản hồi lại cấp dưới về tình hình đạt được mục tiêu hay chưa cũng sẽ giúp cấp dưới nổ lực hoàn thành nhiệm vụ Vì vậy, tác giả cho rằng khi sự
Trang 38trao đổi thông tin giữa cấp trên và cấp dưới càng nhiều thì kết quả công việc của họ càng cao
2.2.4 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory)
Mặc dù có nhiều lý thuyết được sử dụng trong kế toán quản trị để giải thích
và dự đoán hành vi, tâm lý học Nhưng lý thuyết tâm lý học khác biệt với các lý thuyết khác là nó tập trung về cá nhân chứ không tập trung vào tổ chức và xã hội hành vi Nó tập trung vào các hiện tượng chủ quan như tinh thần chứ không phải các hiện tượng khách quan như giá cả thị trường và số lượng hoặc quy mô tổ chức
và công nghệ (Birnberg, Luft, & Shields, 2006) Lý thuyết này cho rằng, hiệu quả quản trị do năng suất lao động quyết định nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn nhu cầu tâm lý, xã hội của con người Lý thuyết tâm lý đã được sử dụng để nghiên cứu về kế toán quản trị trong nhiều năm như nghiên cứu của Argyris (1952); Libby (2017); Định (2018)
Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò động lực và tâm lý xã hội ảnh hưởng đến việc giải thích và dự đoán hoạt động kế toán quản trị
Xã hội thực sự phát triển thì động lực lớn nhất và quan trọng nhất chính là năng lực của con người Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng quyết định tới sự phát triển kinh tế xã hội Khi người lao động điều chỉnh hành vi, thái độ phù hợp với mục tiêu và các giá trị mà tổ chức theo đuổi, sẽ giúp đơn vị hoạt động hiệu quả
và phát triển Để hiểu tác động của các hành vi của cá nhân đối với tổ chức Lý thuyết tâm lý được áp dụng trong nghiên cứu kế toán quản trị để nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi cá nhân và kế toán quản trị trong quá trình lập ngân sách, kiểm soát và ra quyết định (Birnberg và cộng sự, 2006)
Lý thuyết tâm lý luôn chú trọng đến mối quan hệ giữa các cá nhân trong doanh nghiệp (quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau) Mối quan hệ này liên quan đến quá trình hoạch định ngân sách, quá trình kiểm soát, đánh giá và ra quyết định, phải tạo được động lực và hướng đến
Trang 39việc nâng cao hiệu suất các bộ phận Shields và Shields (1998) đã vận dụng lý thuyết tâm lý vào nghiên cứu của mình khi cho rằng việc tham gia vào lập dự toán ngân sách có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả công việc thông qua nhận thức Khi cấp dưới tham gia vào việc thiết lập dự toán ngân sách, họ có xu hướng dễ chấp nhận hơn và cam kết thực hiện các mục tiêu ngân sách hơn Họ sẽ nỗ lực cao hơn để đạt được những mục tiêu dự toán Ngoài ra, khi tham gia lập dự toán ngân sách sẽ làm gia tăng sự tin tưởng, ý thức kiểm soát và sự tự chịu trách nhiệm của cá nhân đối với tổ chức
Đề tài này tác giả vận dụng lý thuyết tâm lý ở khía cạnh là năng suất lao động tạo ra không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn nhu cầu tâm lý, xã hội của con người Thật vậy, khi cá nhân được tham gia vào quá trình lập dự toán ngân sách, họ sẽ có xu hướng dễ chấp nhận hơn và nỗ lực hơn để hoàn thành được mục tiêu ngân sách vì dự toán đó là một phần do họ tạo ra Đồng thời,
cá nhân sẽ cảm thấy được tôn trọng hơn, được tín nhiệm và tin tưởng từ cấp trên và
họ sẽ có ý thức hơn trong việc kiểm soát và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình Do đó, hiệu quả công việc của họ sẽ cao hơn
Trang 40thuyết tâm lý, lý thuyết về hiệu suất công việc và lý thuyết thiết lập mục tiêu