1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUỐC HỌC HUẾ - TÌNH YÊU - GIAI PHẨM XUÂN 2018

424 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 424
Dung lượng 8,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tinh thần một bài viết của thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ về các vị hiệu trưởng trường Quốc Học Huế từ 1945-1975, chúng tôi có ý định ghi nhận những con người sư phạm đã dày công,

Trang 5

Những trang sách đầy ắp tình cảm học trò nhiều thế hệ cựu học sinh như những ánh mắt hoài niệm nhìn về không gian và thời gian của một ngôi trường

cổ kính ở cố đô

Giai phẩm hàm chứa nhiều bài viết với đề tài lạ so với các đặc san trường lớp

1 Theo tinh thần một bài viết của thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ về các vị hiệu trưởng trường Quốc Học Huế từ 1945-1975, chúng tôi có ý định ghi nhận những con người sư phạm đã dày công, đầy tâm huyết từng bước xây dựng nền móng để ngôi trường Quốc Học thành một trường chuẩn mực học hành trong nền giáo dục Việt Nam

2 Giai phẩm có những bài nghiên cứu về những vấn đề quốc tế được nhiều người quan tâm Có những bài viết phủ định những luận điểm của người Tàu

“nhìn lạm” về các sáng tạo giá trị của người Việt mà nhiều tác giả Việt nói theo

họ Có thể kể ra vài bài viết trong Giai phẩm này về “Bài tới, bài chòi”, “Xăm hường”, “Có phải người Tàu dạy người Việt trồng lúa nước?”, “Kinh Dịch”…

Trang 6

3 Trong thư mời viết bài cho Giai phẩm này, “nội dung giai phẩm gồm các phần như sau:

- Lích sử , nghiên cứu, biên khảo- Hoài niệm và sáng tác dưới hình thức tùy bút , bút ký hoặc truyện ngắn, thơ, nhạc, họa với chủ đề TÌNH YÊU- Tin tức sinh hoạt Chúng tôi đặc biệt mời những người yêu mến trường Quốc Học viết bài và dành ưu tiên bài của những CÂY BÚT TRẺ thế hệ học sinh Quốc Học sau 1975”

Bài của người yêu mến trường và dâu Quốc Học thì có khá nhiều nhưng những cây bút trẻ thế hệ học sinh Quốc Học Huế sau 1975 rất ít Hy vọng các bạn trẻ sẽ góp tiếng nói của mình nhiều hơn trong những diễn đàn thế này về sau

4 Tiêu đề của Giai phẩm là “Quốc Học Huế-Tình Yêu Giai Phẩm Xuân 2018” thể hiện rõ trong phần sáng tác, hoài niệm theo chủ đề tình yêu

Những ngày Xuân đem niềm vui và tiếp sức sống cho mọi người, mọi loài trên thế gian Ban liên lạc cựu học sinh Quốc Học Huế tại TP Hồ Chí Minh mong mỏi một thế giới hòa bình, một nước Việt thịnh đạt và dân Việt mình đồng lòng chống ngoại xâm

Tình thầy nghĩa bạn là truyền thống tốt đẹp của người Việt, của hầu hết mọi trường Việt và cũng là điểm son tươi thắm trong lòng của thầy trò Quốc Học Huế Dù là cựu học sinh trong nước hay ở hải ngoại, trong góc khuất nào

đó của tâm hồn mỗi người, tình nghĩa thân thương đó chẳng vì thời thế và thời gian mà phai lạt

Chúng tôi trân trọng gửi đến quý thầy cô, quý bằng hữu và bạn đọc lời chúc đầu năm mọi người, mọi nhà đều được sức khỏe và mọi điều như ý Đồng thời, thân tình gửi đến quý vị một giai phẩm đáng đọc

Thành phố Hồ Chí Minh, đầu năm 2018.Thay mặt Ban liên lạc cựu học sinh Quốc Học Huế tại TP Hồ Chí Minh,

Trưởng ban Báo chí: Sâm Thương

Trưởng ban liên lạc: Lê Duy Đoàn

Trang 7

CÁC HIỆU TRƯỞNG

TRƯỜNG QUỐC HỌC HUẾ

TỪ 1945-1975

Trang 9

CÁC HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG QUỐC HỌC HUẾ

TRONG GIAI ĐOẠN 1945-1975

Giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn ngắn nhưng thường được xem như

một trong những thời có nhiều biến động dữ dội, đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam Huế, cố đô lại nằm ở vùng giới tuyến Nam Bắc được xem như nơi cô đọng các biến cố và trường Quốc Học chịu ảnh hưởng nặng nề của các sự thay đổi ấy Làm hiệu trưởng trường trong giai đoạn này là cả một vấn đề nhức óc Nay nhân lễ đệ bách chu niên trường Quốc Học, chúng tôi sơ lược về những vị hiệu trưởng đó

HIỆU TRƯỞNG THỨ 1:

Ông Phạm Đình Ái (1945-1947)

Ông Phạm Đính Ái, người Quảng Nam, đỗ cử nhân

Lý Hóa, bắt đầu dạy ở trường Quốc Học Huế từ thập niên 30, nổi tiếng là dạy giỏi, nghiêm chỉnh và có óc

tổ chức Sau cuộc đảo chánh Nhật 9-3-1945, nội các

cũ của vua Bảo Đại, theo đề nghị của Thượng thư

bộ Học Trần Thanh Đạt, cử giáo sư Nguyễn Dương

1

Trang 10

Đôn làm Giám đốc Học chánh Trung Phần và ông Phạm Đình Ái làm hiệu trưởng trường Quốc Học Hai ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc soạn thảo chương trình giáo dục đầu tiên và trong quyết định dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ.

Mặt trận Việt Minh cướp chính quyền ngày 19-8-1945 vẫn giữ ông Ái trong chứ vụ hiệu trưởng Người đương thời tin rằng ông đã tạo ra một không khí giáo dục hào hùng đầy tin tưởng Bộ máy nhà trường đang chạy tốt thì xảy ra việc ký kết Hiệp định ngày 6-3-1946, ông Ái phải cho trường dọn tạm thời vô Đại Nội Công việc vẫn chạy tốt thì xảy ra chiến tranh bắt đầu từ 19-12-1946, ông Ái tập kết ra vùng Nghệ Tĩnh, trường Quốc Học xem như rã đám

Sau năm 1954, ông Phạm Đình Ái đoàn tụ với gia đình, ông tham gia công việc giáo dục, lập pháp Sau năm 1975, ông di cư qua Pháp, sống với gia đình một người con trai (rể của giáo sư Nguyễn Đình Hàm) Cuối năm 1991, ông trở về Việt Nam, theo lời của thân nhân, để có thể an giấc nghìn thu ở quê cha đất tổ Ông mất ngày 14-4-1992 tại TP Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi Trường Quốc Học Huế, học sinh

cũ ở nhiều nơi trên thế giới có làm lễ truy điệu vị thầy cũ

HIỆU TRƯỞNG THỨ 2:

Ông Phạm Văn Nhu (1947-1948)

Khi mặt trận Huế tan vỡ vào đầu năm 1947, dân chúng Huế tản cư ra vùng thôn quê Đời sống vẫn phải tiếp tục Một số tập kết ra Bắc, một số lớn hơn hồi cư, nên các trường công lập cũng phải mở cửa Lúc đó trường Quốc Học bị quân đội Pháp chiếm, trụ sở Việt Anh do phủ Ủy viên Pháp quốc, tương đương tòa Công sứ cũ - chiếm Trường được san sẻ chỗ học với trường tiểu học Thượng Tứ (Paul Bert cũ), trường Lê Lợi (Chaigneau cũ) Thầy thiếu nên trong niên học 1947 - 1948, trường chỉ mở dến lớp Đệ tam (tương đương lớp 10) Hội đồng chấp chánh mời ông Phạm Văn Nhu, một giáo

sư cũ làm hiệu trưởng Ông miễn cưỡng nhận lời, song có lẽ một phần vì bệnh tật, một phần chán nản về sự sa sút của trường trung học xưa nhất Việt Nam nên ông ít đến trường Giáo sư Thân Trọng Hy, giám học xử lý thường vụ Rồi ông Nhu xin từ chức

Trang 11

Lúc trường ổn định, ông Nhu đi dạy trở lại Lúc ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, ông được cử giữ chức chủ tịch Quốc hội Trong danh nghĩa ấy, ông tháp tùng phái đoàn TP Sài Gòn về dự lễ 60 năm ngày thành lập trường Quốc Học tổ chức tại Huế ngày 26-12-1956 Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm không còn, hình như ông lánh vào ẩn dật Nay ông Nhu đã an giấc nghìn thu

ở quê nhà

HIỆU TRƯỞNG THỨ 3:

Ông Nguyễn Hữu Thứ (1948-1950)

Khi trường Quốc Học đang gặp khó khăn thì ông Ưng Quả, cựu giáo sư của trường đang giữ chức Giám đốc Học chánh Trung Phần, gặp ông Nguyễn Hữu Thứ, học trò cũ của trường và đã dạy ở trường

từ niên khóa 1945-1946 Ông Thứ bị quân đội Pháp bắt trong một cuộc hành quân và phóng thích sau một thời gian giam giữ Ông Ưng Quả mời ông Thứ làm hiệu trưởng, ông Thứ từ chối vì lý do cá nhân Ông Ưng Quả kiên trì mời mấy lần nữa, vài người nói thêm như ông Lê Khắc Tường, ông Phạm Bích, Đổng

lý văn phòng của Thủ hiến Phan Văn Giáo Hè năm 1948, sắp khai giảng niên khóa 1948-1949, trường mở thêm lớp đệ nhị chuyên khoa, ông Ưng Quả đích thân gặp ông Thứ và chấp nhận một số đề nghị trong đó có: - Pháp hoàn trả trụ

sở Việt Anh - Các cơ quan thuộc hội đồng chấp chánh Trung phần trả lại các phòng mượn của trường Đồng Khánh và trường này cho trường Quốc Học mượn lầu phía tây - Cho phép các công chức có khả năng dạy nếu trường Quốc Học cần Cấp trên chấp nhận yêu cầu Vì thế từ niên khóa 1948-1949 trường có các lớp đệ nhất (tương đương lớp 12) Tuy nhiên, một vấn đề khác được đặt ra: Giáo sư dạy môn triết lý

May cho trường là linh mục Cao Văn Luận về Huế để đi nhận một giáo xứ ở Nghệ Tĩnh, song linh mục bị kẹt ở Ba Đồn, nam đèo Ngang Linh mục được phép của tòa Thánh cho dạy môn triết ở trường Quốc Học Nhờ vậy mà từ năm 1950, trường Quốc Học có tổ chức thi Tú tài toàn phần, học sinh đỗ với tỷ lệ cao, nhiều người được đi du học, nhờ

Trang 12

linh mục Luận giúp đỡ Cần lưu ý là nhờ linh mục Luận mà Viện Đại Học Huế sớm được thành lập.

Ông Nguyễn Hữu Thứ, người Thừa Thiên Sau khi tái lập xong các lớp

tú tài, ông trở về ngành tư pháp cho đến năm 1975 Ông qua Canada theo diện ODP vào cuối năm 1991 Ông định cư ở Missisauga, theo địa chỉ 5124 Rothesay Court, Missisauga, Ontario L5M3Y3

HIỆU TRƯỞNG THỨ 4:

Ông Huỳnh Hòa (1950-1954)

Ông Huỳnh Hòa sinh ngày 13-5-1914 tại làng Xuân Đài, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Ông dạy Pháp văn ở trường Quốc Học Lúc ông nhậm chức vào đầu năm học 1950-1951, trường có nhiều điều kiện thuận tiện hơn: có chỗ học ổn định cho học sinh, giáo sư tạm đủ, tình hình chính trị lắng dịu hơn một chút Năm 1954, ông được bổ nhiệm vào

TP Sài Gòn, giữ chức vụ ở Bộ Giáo dục hay Nha Trung Tiểu Học Lúc rảnh, ông dạy Pháp văn ở trường Hồ Ngọc Cẩn cho đến năm 1969 Ông qua đời ngày 22-5- Tân Dậu (1981) tại TP Hồ Chí Minh, thọ 67 tuổi

HIỆU TRƯỞNG THÚ 5:

Ông Nguyễn Văn Hai (1954-1956)

Ông Nguyễn Văn Hai là một giáo sư toán nổi tiếng Ông nhậm chức lúc có Hiệp định Genève, 20-7-

1954 Sau đó, quân đội Pháp hoàn trả cơ sở trường Quốc Học cho Việt Nam Công việc đầu tiên là tiếp thu trường Quân đội Pháp không phá phách trường, trạng thái còn tốt nên ông chỉ cần đem bàn ghế bên lầu phía tây trường Đồng Khánh về là được Các tầng lầu của trường, trước 1945 làm ký túc xá, chưa chia phòng, dùng sau.Công việc thứ hai là tiếp nhận giáo sư và học sinh từ Bắc vào Công việc nặng nhọc, nhưng không khí trường sôi động, vui vẻ hẳn lên vì có thầy mới trò mới

Trang 13

Từ niên khóa 1954-1955, trường Quốc Học chỉ có các lớp trung học đệ nhị cấp, các lớp đệ nhất cấp vẫn ở trụ sở Việt Anh, lúc đầu được xem như Khải Định-Quốc Học chi nhánh Về sau tách thành trường riêng.

Năm 1956, ông Nguyễn Văn Hai được cử giữ chức Giám đốc Nha Học Chánh Trung Phần Lúc Viện Đại Học Huế được thành lập năm 1957, ông Hai được bổ nhiệm làm giáo sư rồi Khoa trưởng trường Đại học Khoa học Huế Sau năm 1975, ông di cư qua Hoa Kỳ, hiện định cư ở Louisville, tiểu ban Kentucky

HIỆU TRƯỞNG THỨ 6:

Ông Nguyễn Đình Hàm (1956-1958)

Ông Nguyễn Đình Hàm, nguyên là một công chức hành chánh, từ năm 1945 ông dạy toán ở trường Năm 1956, ông được cử làm hiệu trưởng lúc tình hình ở Huế được xem như có an ninh nhất Trường được trang bị đầy đủ và giáo sư dồi dào Lúc đó chỉ

có học sinh trung học đệ nhị cấp nên tổ chức gì cũng

HIỆU TRƯỞNG THỨ 7:

Ông Đinh Qui (1958-1963)

Ông Đinh Qui sinh năm 1918, quê quán ở Đồng Hới, Quảng Bình Ông là cựu học sinh, cựu giáo sư trường Quốc Học Ông có soạn sách giáo khoa môn toán, hợp tác cùng các ông Lê Nguyên Diệm Búi Tấn

Thời 1954, lúc trường Quốc Học có cơ sở Việt Anh dành cho các lớp trung học đệ nhất cấp, ông Đinh Qui phụ trách nơi này Dần dần, trường Việt Anh tách ra thành trường Nguyễn Tri Phương

Trang 14

Năm 1958, ông Đinh Qui được cử làm hiệu trưởng trường Quốc Học và ở chức vụ này 5 niên khóa cho đến năm 1963.

Ông vào TP Sài Gòn tùng sự ở Nha Trung Tiểu Học, sau 1975, ông cùng gia đình qua Úc và qua đời ở đó năm 1982, thọ 64 tuổi

HIỆU TRƯỞNG THỨ 8:

Ông Dương Thiệu Tống (1963-1964)

Ông Dương Thiệu Tống, gốc miền Bắc, có họ gần với nhạc sĩ tài hoa Dương Thiệu Tước

Giáo sư Dương Thiệu Tống đỗ Ph.D tại Đại học Colombia, thành phố New York, Hoa Kỳ Ông sinh năm 1925, có nét hao hao giống nhạc sĩ Văn Cao Ông hát hay, giọng kim Lúc hát bài “Thiên thai” bằng tiếng Anh rất hay, ông được nhiều người tán thưởng

Giáo sư Tống chỉ làm hiệu trưởng trường Quốc Học một niên khóa rồi xin đổi vào dạy ở Viện Đại học Sài Gòn Sau năm 1975, ông còn dạy ở đấy một thời gian Địa chỉ nhà ông: 528/15/7 Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh

HIỆU TRƯỞNG THỨ 9:

Ông Nguyễn Ký (1964-1971)

Ông Nguyễn Ký sinh năm 1937, người Thừa Thiên

là cựu học sinh, cựu giáo sư của trường Quốc Học Ông được cử làm hiệu trưởng năm 1964, giữ chức

vụ này lâu nhất, đến 7 niên khóa

Ông Nguyễn Ký xin mở dần thêm các lớp đệ nhất cấp Ông xin thuyên chuyển vào Sài Gòn năm 1971 Sau 1975, ông di cư qua Canada Địa chỉ hiện nay: 5782 Christophe Colomb, Montreal, PQ H28 2GI, Canada

Trang 15

HIỆU TRƯỞNG THỨ 10:

Ông Nguyễn Văn Lâu (1971-1973)

Ông Nguyễn Văn Lâu cùng tuổi với ông Nguyễn Ký, cũng là cựu học sinh, cựu giáo sư của trường Quốc Học Ông làm hiệu trưởng hai niên khóa, ông Lâu xin thuyên chuyển vào Sài Gòn Sau 1975, ông di cư qua Hoa Kỳ Địa chỉ hiện nay: 3090 Seafield Court, San Jose, CA 95148, USA

HIỆU TRƯỞNG THỨ 11:

Ông Phan Khắc Tuân (1973-1975)

Ông Phan Khắc Tuân sinh năm 1937, người Quảng Trị, cựu học sinh, cựu giáo sư của trường Ông làm hiệu trưởng trường Quốc Học cho đến 1975

Giai đoạn 1945-1975 đã lui vào dĩ vãng nhưng

đó là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử của trường Quốc Học, trường Đồng Khánh

Chúng tôi thuật lại sơ lược giai đoạn lịch sử ấy

để hậu thế không những đừng đánh giá sai thế hệ đó mà còn biết ơn những người đã cố gắng giữ truyền thống tốt đẹp cho trường Quốc Học trong mọi tình hình khó khăn

Nguyễn Hữu Thứ

Trang 16

NGƯỜI HIỆU TRƯỞNG VIỆT NAM ĐẦU TIÊN

CỦA TRƯỜNG KHẢI ĐỊNH:

Giáo sư Phạm Đình Ái

Bài viết của Nhà giáo Ưu tú Thân Trọng Ninh

GS Phạm Đình Ái sinh ngày 05 - 5 - 1908 (Mậu - Thân) tại một làng

thuộc huyện miền núi Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Trong giấy khai sinh, GS khai trội hơn 2 tuổi (1906) để được nhận vào học sớm ở trường huyện Họ Phạm quê gốc ở Phủ Điện Bàn, là một họ lớn, suốt bao đời vẫn gìn giữ nề nếp Nho phong Người anh cả của GS, cụ Phạm Đình Long, đỗ Phó Bảng khoa Kỷ Mùi (1919)

2

Phạm Đình Ái

(1907 - 1993)Quê quán: Làng Trung Phước nay

là xã Quế Trung, huyện Quế Sơn

Dạy Quốc Học Huế Sau 9/3/1945

Hiệu trưởng trường Quốc Học

Huế kiêm Giám đốc Nha học

chánh Trung Việt 1993 mất tại

TP Hồ Chí Minh, thọ 86 tuổi

Trang 17

Lúc còn nhỏ Thầy theo học chữ quốc ngữ với một gia sư trong làng Khi lên

11 tuổi, Thầy theo người anh ra Huế học cấp 2 tại Trường Pellerin (một trường

tư thục của Thiên Chúa giáo ở gần Ga) trọ tại “Cư xá Học sinh Quảng Nam” phía Bắc Sông Hương, đường Huỳnh Thúc Kháng Do học giỏi, Thầy được vượt lớp, nên khi thi đỗ Thành chung (Diplôme) Thầy mới có 16 tuổi ta (1923) Lúc bấy giờ ở Trường Quốc Học Huế chưa có ban Tú tài và cũng vì chưa muốn

ra đời sớm nên Thầy xin gia đình cho ra Hà Nội học tiếp Ở Hà Nội chỉ có cée Albert Sarraut là trường trung học đệ nhị cấp duy nhất dành riêng cho con

Ly-em của các quan chức Pháp và các nhà quyền quí Học sinh đã đỗ bằng Thành chung muốn vào học trường này phải qua một kỳ thi tuyển rất khó Nhưng khi được đỗ vào Lycée, do kỳ thị của chế độ thuộc địa, học sinh Việt Nam chỉ được theo một chương trình riêng gọi là chương trình “Tú tài bản xứ” (bachot local), chứ không được học chương trình “Tú tài Tây” (bac métro) Bằng Tú tài Tây do Chính phủ Pháp ở Paris cấp, còn bằng Tú tài bản xứ thì do Phủ Toàn quyền Đông Pháp ở Hà Nội cấp

Đến đầu năm sau, 1924, người Pháp buộc lòng phải mở ban Tú tài bản xứ ở một trường riêng tại Hà Nội gọi là Lycéedu Protectorat (Trường Bảo hộ), còn gọi là “Trường Bưởi”, tọa lạc bên bờ Hồ Tây thuộc Làng Bưởi, chuyên làm “giấy dó” Học sinh đang theo chương trình Tú tài bản xứ

ở LycéeAlbertSarraut được chuyển

về học tiếp các năm cuối ở đó

Sau 3 năm học ở ban Tú tài tại Hà Nội, Thầy thi đỗ bằng Tú tài bản xứ, hạng giỏi Thầy còn đăng ký thi thêm bằng Tú tài Tây ở Sarraut và cũng đỗ vào loại giỏi, lúc này Thầy mới 19 tuổi Một vận may đã đến với Thầy Hội “An Nam Như Tây Du Học”, một hội của Chính phủ Nam Triều do Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài sáng lập, có chủ trương cấp học bổng cho học sinh Việt giỏi

đi học Đại học ở Pháp Lần đầu chọn được 2 người Cùng đi với Thầy sang Pháp có ông Phạm Bá Viên, người Huế Ông này học Đại học Y khoa Paris, còn Thầy thì vào École Normale Supérieure (Trường Đại học Sư phạm Paris)học hai ngành Lý và Hóa Sau bốn năm dùi mài kinh sử, Thầy đỗ Cử nhân khoa học (Licencié - ès- Sciences) năm 1931 vào loại giỏi

Trang 18

Tốt nghiệp đại học xong, Thầy lên tàu thủy về nước và được bổ nhiệm vào dạy tại Trường nữ học Đồng Khánh Huế, ban trung học đệ nhất cấp Năm học

1936 - 1937, khi Trường Khải Định mở các lớp Tú tài đệ nhị cấp, Thầy được chuyển sang dạy hai môn Lý Hóa ở đó cùng với các thầy Nguyễn Thúc Hào (Cử nhân Toán học), Nguyễn Dương Đôn (Cử nhân Toán học) và Nguyễn Huy Bảo (Cử nhân Triết học) Các thầy này đều được đào tạo ở Pháp, hưởng lương bổng theo ngạch Tây, rất cao so với lương các bạn đồng nghiệp khác trong cùng trường Thầy dạy rất hay, những giờ học Lý Hóa trên giảng đường (amphithéâtre) đều được minh họa bằng thí nghiệm rất dễ hiểu Những buổi thực hành do thầy Trịnh Xuân Dương hướng dẫn đều có Thầy đến để theo dõi học sinh làm

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, ba ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông Trần Thanh Đạt, Thượng thư Bộ Học của Chính Phủ Nam Triều đã cử Thầy làm hiệu trưởng Trường Khải Định, thay thế ông hiệu trưởng người Pháp Délépine Chỉ sau có 7 ngày, việc giảng dạy và học tập trong trường được tiếp tục Nhưng giờ đây, tất cả các môn học đều dạy và học bằng tiếng mẹ đẻ Đối với các thầy, việc biên soạn bài dạy từ sách giáo khoa Pháp sang tiếng Việt đều phải dựa vào quyển “Danh từ khoa học” do GS Hoàng Xuân Hãn biên soạn Ngoài ra còn có một số quyển “Danh từ khoa học” dành cho môn Vạn Vật của GS Đào Văn Tiến, “Danh từ Thực vật” của Dược sĩ Vũ Văn Chuyên,

“Danh từ Toán học” của GS Nguyễn Thúc Hào Lúc đầu học sinh tiếp thu có phần khó khăn, nhưng ít lâu sau thì quen dần và thích thú Các kỳ thi cuối cấp được tổ chức nghiêm túc

Ít lâu sau, Thầy còn được cử làm Giám đốc Nha Học chánh Trung Bộ thay

GS Ưng Quả qua đời Cuối năm 1946, khi chiến tranh toàn quốc bùng nổ, các công sở của Ủy ban Kháng chiến Trung Bộ sơ tán ra các tỉnh phía Bắc Thầy kiêm luôn chức Giám đốc Nha học chánh Liên khu 4 (LK4), đóng trụ sở tại Chu Lễ, thuộc huyện Hương Khê ở miền Tây tỉnh Hà Tĩnh Thầy tổ chức

sơ tán các trường từ Quảng Bình trở ra, bổ sung thêm giáo viên Khải Định Ngành giáo dục không bị xáo trộn mấy

Tại Chu lễ, Ủy ban Kháng chiến LK4 xây dựng một hệ thống “Cơ xưởng quốc phòng” rất qui mô, tập trung các nhà khoa học, trí thức, công nhân sơ tán và các loại máy móc chở từ các nhà máy của thành phố Huế, Vinh, Hà Tĩnh Hai đô thị sau bị “tiêu thổ kháng chiến” Cơ sở này có nhiệm vụ sản

Trang 19

xuất vũ khí phục vụ chiến trường Kỹ sư Trịnh Hữu Trinh, nguyên giám đốc nhà máy Điện Huế, phụ trách một phòng gọi là “phòng 2” chuyên sản xuất

vỏ các loại lựu đạn, mìn, súng bazôka Còn Giám đốc Nha Giáo dục Phạm Đình Ái lại được giao thêm trách nhiệm thành lập một phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu sản xuất thuốc nổ (poudre noire) để nạp vào các vũ khí nói trên.“Phòng thí nghiệm số 1” ra đời từ đó, năm 1947, quy tụ một số giáo viên trẻ của Trường Khải Định, đa số là học sinh cũ của Thầy, về đây làm việc như các anh Hoàng Trọng Cơ, Tôn Thất Uẩn, Cung Quang Chương, Thân Trọng Ninh Nguyên liệu là salpêtre (KNO3), lưu huỳnh (S), than gỗ Hai loại hóa chất đầu phải chở từ kho đạn trong Thành nội ra Thuốc đen của “Phòng 1” rất nhạy nổ, thích hợp với các loại vũ khí của Phòng 2 Năm 1948, “Phòng 1” đã nghiên cứu thực nghiệm sản xuất được acide sulfurique (H2SO4) bằng

“phương pháp phòng chì” (méthode des chambres de Plomb) (kim loại Chì phải đào lấy từ các ống nước ở Thành phố Vinh Đây là một thành công khoa học lớn, giải quyết được sự bế tắc do thiếu hóa chất cơ bản là acide nói trên

Độ Baumé của acide là 56, chuẩn quốc tế Tin vui được Đài Tiếng nói Việt Nam loan báo ra thế giới Bộ Quốc Phòng biểu dương công trạng của Thầy trong toàn quân

Khi tin vui đến Hồ Chủ tịch, Bác tự tay đánh máy một thư khen ngợi về thành tích nói trên và giao cho Ô Hồ Tùng Mậu đưa vào Ủy ban Kháng chiến (UBKC) LK4 trao cho Thầy Ngoài ra Chính phủ Trung ương còn ủy nhiệm cho UBKC LK4 tổ chức lễ tuyên dương công trạng cán bộ của Phòng 1 và trao tặng “Huân chương kháng chiến” cho Thầy ngày 12 tháng 6 năm 1948 tại Chu

Lễ Cũng trong khoảng thời gian đó, tại quê nhà ở huyện Quế Sơn (Quảng Nam), lãnh dạo UBKC LK5 đã tổ chức đến thăm hỏi thân mẫu của Thầy đang

ốm nặng Người ta đã đọc cho Cụ nghe bản tuyên dương công trạng đối với người con thương yêu mà đã lâu Cụ không gặp Cụ qua đời ít lâu sau đó! Thầy đành tổ chức một lễ nhỏ cho gia đình chịu tang Mẹ ở nơi làm việc, một nơi rừng núi xa xôi của tỉnh Hà Tĩnh, cách xa quê nhà gần năm trăm cây số! Lãnh đạo Cơ xưởng, huyện Hương Khê, học sinh cũ, công nhân, bạn bè sơ tán đều

có đến an ủi chia buồn cùng gia đình

Năm 1950, nhờ các chiến thắng lớn về quân sự, biên giới phía Bắc được khai thông, nước ta nhận được nhiều viện trợ tổng hợp từ các nước bạn bên ngoài Việc sản xuất vũ khí tại LK4 không còn cấp bách nữa Mặt khác, tình

Trang 20

hình chiến sự tại phía Bắc miền Trung có nhiều biến động khó lường cho nên

hệ thống các cơ xưởng thu hẹp và sơ tán lên an toàn khu, gần biên giới Việt -Lào Một bộ phận chuyển sang sản xuất phục vụ kinh tế “Phòng 1” giờ đây sản xuất mực in để in “giấy bạc Cụ Hồ” Thầy cũng rời bỏ công tác nghiên cứu phục vụ Quốc phòng, đưa gia quyến và Nha giáo dục LK4 (tên mới của Nha Học chánh) về đồng bằng ở huyện Đức Thọ, nơi có Trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng do GS Hoàng Ngọc Cang làm hiệu trưởng để chuyên lo việc điều hành ngành Giáo dục Các trường học các cấp trong bốn tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa được kiện toàn Thầy cho mở một số trường cấp 2 ở chiến khu hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên (“Trường Trung học Kháng chiến Nguyễn Chí Diểu” ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.) Một trường cấp

2 dành riêng cho các em học sinh từ Thừa Thiên, Quảng Trị ra học được mở tại Gia Phổ, phía Nam Chu Lễ Các anh Hoàng Mộng Kham, Nguyễn Đình Giá, Lê Quang Long dạy ở đó Một lớp “Toán học đại cương” (Mathématiques générales) hệ Dự bị Đại học ra đời tại Nam Đàn ở Nghệ An do GS Nguyễn Thúc Hào phụ trách

Năm 1952, do tình hình chính trị nội bộ địa phương Liên khu, Thầy thôi giữ chức Giám đốc Nha Giáo dục một cách đột ngột! Đây là một điều gây bất mãn cho cán bộ ngành Giáo dục, cho phụ huynh học sinh, cho nhân dân Tự nhiên Thầy cảm thấy mình không còn được tin cậy nữa (!), không còn biết làm

gì để phục vụ kháng chiến tại địa phương, nơi đây Thầy đã cống hiến biết bao công sức và trí tuệ, lại bị cư xử bất công Đối với gia đình riêng, trách nhiệm của Thầy quá nặng Thầy Cô (Bà Bạch Yến, quê ở Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, Thừa Thiên) có 7 con còn non dại, do đó sau bao ngày trăn trở, Thầy quyết định tìm đường về miền Nam để trở lại nghề nghiệp dạy học như xưa và cho con cái học hành thuận lợi

Trên đường về, Thầy ghé lại Huế, được bạn bè và học sinh cũ đón niềm nở Sau một thời gian nghỉ ngơi và ổn định cuộc sống gia đình, năm

tiếp-1956 Thầy được Bộ Giáo dục “Chính phủ Sài Gòn” mời ra làm Tổng thanh tra ngành Giáo dục trung học Năm 1964, Thầy nhận thêm chức cố vấn Văn hóa Giáo dục

Từ 1965 đến 1970, Thầy rời Huế vào Sài Gòn, thôi làm công chức và được mời dạy học tại một số Trường cấp 3 tư thục (trường “Pasteur”, trường “Đại Đức”) Trong thời gian này Thầy viết nhiều sách giáo khoa về hai môn Lý và Hóa cho học sinh các lớp chuyên khoa trung học (tương đương với các lớp cấp 3) được sử dụng chính thức trong các nhà trường công lập

Trang 21

Năm 1970, bạn bè khuyên Thầy “tham gia chính trường” Thầy ra ứng cử Thượng nghị viện của chế độ Sài Gòn, đứng trong “Nhóm Phật giáo đối lập” Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đã liệt Thầy trong danh sách những “người nguy hiểm cho chế độ”, cần theo dõi đặc biệt vì an ninh quốc gia! Năm 1975, trước khi Sài Gòn được giải phóng, Tổng thống Dương Văn Minh có mời Thầy

ra tham gia nội các, nhưng Thầy cương quyết từ chối

Vào tháng 5 năm 1975, khi cả nước ăn mừng ngày đất nước hoàn toàn thống nhất Thầy nhận lệnh đi “học tập cải tạo” tại trại Thủ Đức Trong 4 tháng trời ở trại Thầy rất được cán bộ trại kính nể và thông cảm sâu sắc

Năm 1976, sau khi trở về với gia đình, Thầy được Sở Công nghiệp thành phố Sài Gòn cho phép xây dựng tại nhà một cơ sở nhỏ sản xuất thủ công đường và cồn, là hai mặt hàng thiết yếu đang trong tình trạng khan hiếm Từ

“đường thùng” mua ở các lò đường tại các tỉnh lân cận, Thầy đã chế biến ra đường trắng kết tinh Còn cồn sản xuất ra thì đạt trên 90 độ, được các Cơ sở

y tế và các Bệnh viện lớn tiêu thụ với số lượng lớn (để sát trùng) Thầy thực hiện mọi nghĩa vụ về thuế má cho địa phương và uy tín của cơ sở sản xuất gia đình này ngày càng lan rộng Những bạn bè, học sinh cũ ở khắp nơi trong cả nước đều vui mừng trước cố gắng phi thường của người thầy cũ đầy nghị lực

và trình độ Tôi có dịp ghé qua số nhà 42 đường Xô viết Nghệ Tĩnh và được chứng kiến cảnh Thầy ngồi theo dõi sản xuất các mẻ đường kính và cồn 90

độ tại một căn phòng nhỏ sau nhà Tôi liên tưởng đến thời kỳ ở Chu Lễ, Thầy ngồi “canh acide sulfurique” cùng với anh Hoàng Trọng Cơ và tôi mà ứa nước mắt! Không ngờ, đến tháng 3 năm 1978, do vận dụng sai chính sách cải tạo công thương nghiệp, Ủy ban quân quản phường 1, quận 1 TP Sài Gòn đã buộc tội Thầy “có đầu óc tư bản chủ nghĩa, có ý đồ phá hoại nền kinh tế nước nhà”

và ra lệnh gia đình Thầy phải rời khỏi Thành phố đi lao động sản xuất tại Tây Nguyên Trong tình hình thấy gia đình luôn bị o ép, lâm vào tình cảnh khốn khổ, các con của Thầy - đều là các nhà khoa học nổi tiếng, giáo sư đại học - lần lượt tìm cách đi ra nước ngoài làm việc và định cư

Thấy tình hình sức khỏe của cha mẹ ngày càng giảm sút các con của Thầy

ở Pháp đã đề nghị Thầy sang “đoàn tụ gia đình” Nhưng cũng phải đợi đến 6 năm trời, vào đầu 1984 Thầy mới nhận được hộ chiếu để xuất cảnh Tháng 9 năm ấy Thầy Cô đặt chân lên đất nước Pháp, nơi mà Thầy đã sống và học tập cách đây trên nửa thế kỷ Sống ở Grenoble gần người con trai cả (GS Phạm Đình Liên), Thầy dành thời gian để viết thêm hồi ký thứ 2 dưới dạng “thư

Trang 22

gửi cho cựu học sinh Quốc Học”, trong đó Thầy giãi bày tâm sự về cuộc đời

đã qua, một quá khứ vinh quang xen kẽ đắng cay và thê thảm sự Tuy ở xa

Tổ quốc nhưng Thầy vẫn giữ mối liên lạc thường xuyên với một số học sinh

cũ trong nước như các Giáo sư Lê Quang Long, Thái Văn Trừng, Trần Đình Gián, Nguyễn Văn Trương, Hoàng Thiếu Sơn và tôi Thầy thường xuyên gửi tiền tiết kiệm được về cho “Ban Liên lạc học sinh cũ” để làm quỹ học bổng cấp cho các em học sinh nghèo học giỏi và làm phần thưởng cuối năm cho học sinh trường Quốc Học

Năm 1991, Thầy có ý định về nước để thăm lại quê hương đổi thay, dự lễ kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường Quốc Học Huế, mà Thầy là hiệu trưởng người Việt Nam đầu tiên Sau đó sẽ ở lại luôn trong nước cho đến cuối đời.Nhưng nguyện vọng về Huế không thành! Sau một lần bị ngã, Thầy lâm bệnh và đã qua đời tại một bệnh viện lớn ở TP Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 4 năm 1992, thọ 84 tuổi Được tin buồn này, từ Thủ đô Hà Nội, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi vòng hoa vào kính viếng Các tướng lĩnh quân đội, nguyên là học sinh cũ Phan Hàm, Đoàn Huyên, Mai Xuân Tần, Cao Văn Khánh, nhiều giáo sư, tiến sĩ, trí thức ở trong và ngoài nước đã gửi điện chia buồn đến tang quyến Đông đảo bạn bè, học sinh cũ hai trường Đồng Khánh và Khải Định có mặt tại TP HCM, đã đến kính viếng Thầy tại nhà tang lễ trong bệnh viện Thầy được mai táng tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức) trong nước mắt của người thân, bạn bè, đồng nghiệp

và học trò cũ của Thầy

Ngày 24 tháng 4 tại Huế, Ban liên lạc học sinh cũ Quốc Học, cùng với Ban Giám hiệu, thầy trò trường Quốc Học đã làm lễ truy điệu và chịu tang, cầu nguyện hương linh siêu thoát, tưởng nhớ thầy Hiệu trưởng đầu tiên, người thầy vô cùng kính mến Trước đó 4 hôm, tại Hà Nội, đông đảo học sinh cũ cũng đã họp mặt để làm lễ tưởng niệm người thầy cũ quá cố GS Hoàng Thiếu Sơn thay mặt Ban liên lạc đã đọc một bài điếu văn vô cùng xúc động làm mọi người có mặt không sao cầm được nước mắt! GS Nguyễn Lân cũng có bài ai điếu vô cùng cảm động…

Đến nay đã 24 năm trời trôi qua mà hình ảnh của GS Phạm Đình Ái không phai mờ trong ký ức của tôi, một người học sinh được GS tin cậy, nhiều năm được gần gũi GS trong nghiên cứu khoa học, đã từng chứng kiến những lúc vui buồn riêng tư của gia đình GS đã ký thác cho tôi những tâm tư, tình cảm

Trang 23

gửi gắm trong hai tập sáng tác tự tay mình đánh máy và viết tay rất có giá trị:

đó là tập “Hồi ký Quốc Học” và “Tập thư” viết dở dang (mới có 4/5 thư) Nhiều

sự kiện lịch sử đến nay ít người được biết đã được GS kể lại, phân tích, đánh giá sâu sắc và khách quan trong 2 tập “bản thảo” ấy

GS Phạm Đình Ái mất đi nhưng công lao đóng góp của Giáo sư để lại cho đất nước Việt Nam không nhỏ Trong sự nghiệp giáo dục, sau khi chế

độ thực dân Pháp sụp đổ GS là người đầu tiên đã đề xuất việc giảng dạy và học tập tất cả các môn học bằng tiếng Việt Sau Cách Mạng tháng Tám, GS

là người đã kêu gọi thanh niên học sinh khi chưa có điều kiện gia nhập Giải phóng quân hãy ra sức học tập thật giỏi để sau này xây dựng nước nhà Mặt khác, trong điều kiện vô cùng khó khăn của đất nước mới được giải phóng, trong tình hình thế giới diễn biến phức tạp đe dọa nền độc lập còn non trẻ,

GS đã tổ chức lại ngành Giáo dục quốc dân không phải chỉ ở Huế mà ở cả các tỉnh miền Trung Không ai nghĩ rằng trong kháng chiến gian khổ, toàn bộ Liên Khu 4 đều có trường học đàng hoàng Ngoài việc mở trường cấp 2, cấp 3

ở các tỉnh phía Bắc Liên khu 4, GS còn cho mở các trường cấp 2 ở vùng tự do tại các tỉnh bị tạm chiếm Ngoài ra GS còn nghĩ đến việc tổ chức ngành đại học trong kháng chiến, mà bước đầu là mở lớp Toán học đại cương tại Nghệ

An Về nghề sư phạm của GS, học sinh ai cũng phục lối giảng bài rất mạch lạc và dễ hiểu của GS Các sách giáo khoa do GS viết rất hay và dễ hiểu Trong lối sống và phương pháp làm việc của chúng tôi ngày nay đều có in đậm dấu

ấn của GS Phạm Đình Ái

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học GS luôn hướng dẫn mọi người phải phát huy tính sáng tạo, óc tìm tòi, đức tính kiên trì và nghiêm túc Cũng nhờ thế mà GS đã thành công trong lĩnh vực phục vụ quốc phòng, trong đó điều chế được acide sulfurique, một huyền thoại có một không hai trong khoa học lúc bấy giờ Kỹ năng ứng dụng lý thuyết vào thực tế trong tinh chế đường kính

và sản xuất cồn 90 độ tại Sài Gòn năm 1975 cũng là một điều kỳ diệu Tiếc rằng năm 1976 bị buộc phải đóng cửa, lại một sự sai lầm, trong lúc cơ sở này có thể trở thành một thí điểm sản xuất lớn sau này

GS Phạm Đình Ái còn là nhà Nho học, một nhà Hán học, am hiểu rất sâu

về Nho giáo, Khổng giáo, về các tư tưởng triết lý Á, Âu trong lĩnh vực xã hội học Ở GS tập trung biết bao đức tính của con người Á Đông, chấp nhận lối sống “phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”

Trang 24

Giờ đây, khi nhìn lại con người, tư cách, cuộc đời và sự nghiệp của GS Phạm Đình Ái, người thầy kính mến của những học sinh cũ chúng tôi, mà nay

đã ra người thiên cổ, chúng tôi vẫn rất tự hào về Người Chúng tôi luôn thấy

ở GS là một con người đầy tâm huyết, một nhà cải cách giáo dục có tầm nhìn chiến lược, một nhà khoa học sáng tạo uyên thâm, một nhà trí thức yêu nước nồng nàn GS đã có nhiều đóng góp lớn cho đất nước Thế nhưng bên cạnh những đoạn đường vinh quang, GS cũng đã gặp biết bao “thê thảm sự” trong cuộc đời, ngay cả lúc “nhắm mắt xuôi tay” Những điều đó càng làm nhân cách của Người thêm đáng kính phục Đã đến lúc phải nhìn lại con người của GS cho xứng đáng với tầm cỡ cao đẹp của Người Không nên bỏ quên người Thầy yêu quí của chúng tôi

Thầy ơi! Chúng con, những học sinh cũ của Thầy, đang còn lại trên dời này, xin cúi đầu và bái lạy, cầu nguyện Thầy Cô yên nghỉ ngàn thu ở Niết Bàn

Nhà giáo Ưu tú

Thân Trọng Ninh

sinh năm 1922 hiện sống ở Huế.

Học trường Trung học Khải Định

(Quốc học) 1937-1941.

Trang 25

HOẠT ĐỘNG GIÚP ÍCH - LẠC QUAN

-Châm ngôn sống của thầy Nguyễn Hữu Thứ

Hiệu trưởng Quốc Học 1948 - 1950

3

Trong giai đoạn lịch sử từ 1945 - 1975, thầy Nguyễn Hữu Thứ có nhiều

duyên nợ gắn bó với trường Quốc Học và đã để lại cho thầy trò trường Quốc Học nhiều kỷ niệm và ấn tượng khó quên

Thầy Nguyễn Hữu Thứ sinh năm Mậu Ngọ (1918) tại làng Phò Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Thân phụ là Cụ ông Nguyễn Hữu Tuân, một nhà nho và Thân mẫu là Cụ bà Công Tôn nữ Thị Tỵ thuộc phòng Hòa Quốc Công Miên Quân (Hoàng tử thứ 40 của vua Minh Mạng)

Trang 26

Thuở nhỏ, Thầy được song thân cho vào Huế học tiểu học, năm 1935 thi đậu vào nội trú trường Collège Quốc Học và đỗ Thành Chung năm 1939 Thầy học tiếp lên ban Tú tài trường Lycée Khải Định (Quốc Học đổi thành Khải Định từ năm 1936) và đỗ Tú tài toàn phần ban Toán năm 1942 Thầy tiếp tục

ra Hà Nội học trường Luật thuộc Viện Đại học Đông Dương và đỗ Cử nhân Luật năm 1945

Thầy bước vào đời giữa lúc nước nhà đang dồn dập nhiều biến cố lịch sử:

- Ngày 09.03.1945 Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương

- Ngày 17.04.1945 Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời

- Ngày 30.08.1945 Vua Bảo Đại thoái vị

- Ngày 02.09.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập

- Ngày 06.03.1946 Hiệp định sơ bộ Pháp Việt, Pháp trở lại Đông Dương

- Ngày 19.12.1946 Pháp trở lại xâm lược Việt Nam

Niên khóa 1945-1946 của trường Khải Định là niên khóa bản lề giữa thời

kỳ Pháp thuộc và thời kỳ độc lập tự chủ, thầy Phạm Đình Ái làm Hiệu trưởng, trường giảng dạy chương trình Việt ngữ Hoàng Xuân Hãn (Giáo sư Hoàng Xuân Hãn là Bộ trưởng Giáo dục của chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại trong 4 tháng) Thầy Nguyễn Hữu Thứ đang công tác bên cơ quan tư pháp cũng tình nguyện qua dạy mỗi tuần 15, 16 giờ Sử Địa, Công dân giáo dục không hưởng lương

Ngày 19.12.1946 Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, một phần thầy trò trường Khải Định theo thầy Phạm Đình Ái tản cư ra Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An; quân Pháp kiểm soát hoàn toàn thành phố Huế

Năm 1947, sau khi dân chúng Huế lần lượt hồi cư, trường Khải Định mở lại các lớp Đệ nhất cấp và một số lớp Đệ tam, thầy Phạm Văn Nhu làm Hiệu trưởng Trụ sở chính của trường bị quân Pháp đồn trú nên học sinh phải học nhờ ở trường tiểu học Paul Bert (nay là trường tiểu học Thượng Tứ) và trường Chaigneau (nay là trường tiểu học Lê Lợi)

Niên khóa 1947-1948 trường Khải Định lâm vào hoàn cảnh khó khăn vì thiếu thầy, thiếu lớp học; tâm lý học sinh hoang mang, không ổn định; thầy Phạm Văn Nhu cáo bệnh xin thôi làm Hiệu trưởng

Qua niên khóa 1948-1949, thầy Ưng Quả Giám đốc Nha học chánh Trung Việt là thầy cũ của thầy Nguyễn Hữu Thứ thuyết phục Thầy đứng ra làm Hiệu trưởng để vực dậy trường Khải Định

Với lòng nhiệt huyết của một thanh niên mới vào đời ở tuổi 30, với trách nhiệm của một trí thức trước thời cuộc, với tình nghĩa của một cựu học sinh

Trang 27

đối với trường cũ, Thầy nhận lời và vạch ra kế hoạch hành động Trước tiên Thầy cùng với Thầy Ưng Quả vận động chính quyền Pháp trả lại cơ sở Việt Anh đang dùng làm trụ sở Tòa ủy viên Pháp (Commissariat de la France) để làm chỗ học cho các lớp Đệ nhị cấp, rồi đề nghị cô Hiệu trưởng trường Đồng Khánh Hồ Thị Thanh nhường một nửa trường phía tây để làm chỗ học cho các lớp Đệ nhất cấp.

Sau đó Thầy vào Nam ra Bắc tiếp xúc với giáo giới để mời thêm giáo sư cho trường như Bác sĩ thú y Nguyễn Khắc Du dạy Vạn vật; Linh mục Cao Văn Luận dạy môn Triết học; đồng thời xin chính quyền cho phép các công chức được dạy thêm giờ ở trường Khải Định

Sau khi ổn định chương trình chính khóa, Thầy mở thêm các hoạt động ngoại khóa như tổ chức Nhóm Thứ Năm để học sinh tham gia nghiên cứu, diễn thuyết và viết đặc san, mở lớp học Anh văn theo sách Anglais sans peine với bộ đĩa Assimil, phát động phong trào thể thao học đường, vận động quỹ học bổng, quỹ bảo trợ học sinh nghèo và quỹ phần thưởng để khích lệ được nhiều học sinh học giỏi cuối năm

Tuy không xuất thân từ một trường Sư phạm nhưng Thầy đã thổi một luồng gió mới phảng phất tinh thần “nhân bản, dân tộc và khai phóng” vào môi trường giáo dục lúc bấy giờ như một nhà sư phạm “vốn sẵn tính trời”.Tuy nhiên, tình hình chính trị phức tạp bên ngoài ảnh hưởng rất nhiều đến công việc giảng dạy và học tập của nhà trường Phong trào học sinh kháng chiến tuy đã rút ra khỏi thành phố nhưng vẫn bí mật hoạt động trong nội thành Một số học sinh Khải Định và Đồng Khánh thường rải truyền đơn, cho nổ lựu đạn giữa sân trường Cơ quan an ninh vào trường bắt bớ,

Thầy Nguyễn Hữu Thứ

Hí họa của Công Tôn Nữ Tư Tề,Lớp đệ Nhị Sinh ngữ

(1948-1949)Đặc san Nhóm Thứ Năm

- Hè 1949

Trang 28

giam cầm các học sinh bị tình nghi Là Hiệu trưởng, Thầy phải đứng ra can thiệp, phải đối đầu với chính quyền đến nỗi bị Giám đốc an ninh và Thủ hiến Trung phần đe dọa.

Cuối năm học 1949-1950, sau khi tổ chức thành công kỳ thi Tú tài toàn phần Việt Nam đầu tiên tại Huế, Thầy xin thôi chức Hiệu trưởng và trở về làm Thẩm phán để có được quyền “đặc miễn” của ngành Tư pháp trước Hành pháp

và công quyền

Anh Bùi Hữu Lân, một cựu học sinh xuất sắc của trường Khải Định, đã từng thi đỗ vào hai trường danh tiếng bên Pháp: Ecole Polytechnique và Ponts

et Chaussées, trong một lá thư thăm Thầy ngày 06.04.2005 có viết:

“Nhớ lại những năm 1948 - 1950 ở trường Khải Định mà Thầy làm Hiệu trưởng, em đã gây cho Thầy rất nhiều vấn đề, nay nghĩ lại mà thương Thầy quá Thời kỳ 1945 - 1975 đã đặt cho người trí thức Việt Nam những vấn đề lương tâm Em đã thấy như vậy ở giai đoạn cuối của thời kỳ này khi mình phải quản lý một cơ quan nhà nước Càng thấy thì lại càng mến phục Thầy vì trong bối cảnh chính trị lúc ấy trường học khó xử hơn một công sở nhiều lắm và Thầy đã giữ được cái khí tiết của một kẻ sĩ Việt Nam”.

Sau hai niên khóa làm Hiệu trưởng ở tuổi thanh xuân, thầy Nguyễn Hữu Thứ đã để lại cho trường Khải Định những thành quả hết sức tốt đẹp và chỉ mang theo một mối lương duyên: một cô nữ sinh Đồng Khánh qua học trường Khải Định, sau kỳ thi Tú tài toàn phần Việt Nam năm ấy đã trở thành cô tú Thân Thị Giáng Châu rồi thành người bạn đời, “người tình trăm năm” của Thầy từ năm 1951

Thầy Cô có bốn người con: Nguyễn Hữu Châu Thụy, Nguyễn Hữu Châu Thi (trước 1975 hai em được Thầy Cô cho đi du học bên Đức), Nguyễn Hữu Châu Thiều và cô gái út Nguyễn Hữu Châu Thúy

Từ khi trở về ngành Tư pháp, Thầy công tác ở các Tòa án tỉnh từ Quảng Bình đến Đà Nẵng, Nha Trang Song song với công vụ thẩm phám, ở đâu Thầy cũng tham gia giảng dạy ở các trường trung học công lập, tư thục, hưởng ứng các hoạt động thanh niên, thể thao, và hỗ trợ các tổ chức xã hội, thiện nguyện Còn cô Thân Thị Giáng Châu từ đầu gắn bó với trường nữ trung học Đồng Khánh và làm Hiệu trưởng trường này niên khóa 1965-1966, rồi “theo chàng” trên bước đường công vụ, Cô tiếp tục giảng dạy ở các trường nữ trung học Đà Nẵng, Nha Trang

Trang 29

Năm 1975, khi đang là thành viên Thượng Hội đồng Thẩm phán Việt Nam, Thầy được bổ nhiệm làm Quyền chánh nhất Tòa Thượng thẩm Huế, rồi tháng 8.1975 Thầy phải đi học tập cải tạo ở Ba Lạch và Bình Điền tỉnh Thừa Thiên; đến tháng 5.1981 được trở về với gia đình.

Năm 1991, Thầy Cô và em Châu Thúy sang định cư ở Canada theo diện đoàn tụ với gia đình em Nguyễn Hữu Châu Thi rồi từ đó xuất hiện ở Thầy chứng bệnh Parkinson Nền y học tiên tiến của Bắc Mỹ không thể chữa khỏi mà chỉ làm chậm sự tiến triển của căn bệnh này Đến những năm 2000, bệnh tình của Thầy dần trở nặng Tháng 6.2004, em Nguyễn Hữu Châu Thiều đang là bác sĩ Khoa Nhi ở Bệnh viện Phan Rang sang Canada đem Thầy Cô về chăm sóc; không được bao lâu, đến ngày 29.08.2005 Thầy nhắm mắt lìa đời bên “người tình trăm năm” để lại 87 năm trụ thế lắm lúc gian truân nhưng thật nhiều hạnh phúc.Những năm cuối đời nơi đất khách, Thầy thường bày tỏ ước muốn được trở về nhắm mắt trên quê hương để người thân, bằng hữu, học trò có một đêm ngồi quanh linh cữu trò chuyện với Thầy, cùng hát cho Thầy nghe những bài ca Thầy ưa thích Chúng tôi và một số anh chị em cựu học sinh Quốc Học, Đồng Khánh đã có thuận duyên làm được điều này trong đêm canh thức ngày 31.08.2005 bên linh cữu của Thầy ở Phan Rang và trong buổi

lễ cầu siêu tại chùa Hải Đức, Huế ngày 11.09.2005 Chúng tôi hát những bài

Ma cabane au Canada, Khúc hát thanh xuân của Johann Strauss… nghẹn ngào trong nước mắt

Trong một lá thư chia buồn ngày 05.09.2005 với cô Giáng Châu, anh Trần Trúc - một học trò cũ và cũng là đồng nghiệp vong niên của Thầy trong ngành

Tư pháp - có đoạn “… điều mà con đã huân tập ở Thầy là lập trường của những

người có lương tâm đã từng mài đũng quần trên ghế trường Luật, vì trường Luật

là nơi chỉ con đường nào có thể đem lại phồn vinh cho đất nước và hạnh phúc cho dân tộc và người học Luật có lương tâm là người biết gạt bỏ lợi ích riêng tư

để thực hiện lý tưởng của mình”.

Trong bài Điếu văn của anh Hà Thúc Hoan, cựu học sinh Quốc học và cựu Giáo

sư Đồng Khánh, tại chùa Hải Quang Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06.09.2005

có đoạn: “… cùng với người bạn đời là cô cựu Hiệu trưởng Đồng Khánh Thân Thị

Giáng Châu, thầy cựu Hiệu trưởng Khải Định Nguyễn Hữu Thứ đã trở thành hình mẫu của giáo giới Huế Vào giữa thế kỷ XX, với bằng cử nhân Luật thuộc loại quý hiếm ở Huế, Thầy có thừa điều kiện để sống giàu sang, thế nhưng trước sau người dân thành phố Huế chỉ thấy Thầy Nguyễn Hữu Thứ đã sống một cuộc đời thanh bạch của một nhà trí thức đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng sống…”.

Trang 30

Tôi thiết nghĩ viết về cuộc đời của Thầy Nguyễn Hữu Thứ mà không đề cập đến những cuốn sổ lưu niệm của Thầy sẽ là một điều thiếu sót lớn lao Thầy đã góp nhặt kỷ niệm với những người đã đi qua đời Thầy, đóng thành 5 cuốn tập gáy da chữ vàng, mỗi tập dày bằng một cuốn từ điển ngàn trang Thầy giữ gìn như châu báu qua bao nhiêu biến cố chiến tranh, thiên tai, bão lụt Thầy đem qua Canada rồi lại đem về quê hương trước khi nhắm mắt Tôi được Thầy Cô cho đọc lần đầu năm 1985 và thêm một lần vào năm 2004 Tôi đọc thấy từ niên khóa 1938-1939, Thầy đã lập sổ lưu niệm ghi lại những lưu bút của các Thầy, các bạn, các đồng nghiệp, đồng sự và của những người thuộc mọi giai tầng xã hội mà Thầy đã gặp gỡ, tiếp xúc Tôi rất ngỡ ngàng và thích thú khi đọc những dòng chữ của nữ ca sĩ Dalena người Canada hát tiếng Việt rất hay và rất chuẩn

mà chúng ta đã được nghe trong các băng nhạc Thúy Nga Paris by Night trong thập kỷ 90 Tôi cũng rất ấn tượng với những dòng lưu bút của Thầy Ưng Quả

viết cho Thầy vào những năm 40 ở trường Khải Định: “Và, khi tôi nghĩ rằng

những người đã công trình thâu góp những hình ảnh của mình trong một tập kỷ niệm như quyển này là những người đã băn khoăn về hạnh phúc thì về điều đó tôi không lo ngại gì cho anh cả Tôi tin rằng với chí nguyện đúng đắn, với tài hoa tốt đẹp, với đức hạnh thanh cao mà tôi đã nhận thấy nơi anh, sau này anh sẽ nhận những phần thưởng quý báu về tinh thần và anh sẽ hoàn toàn xứng đáng với hạnh phúc”.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mạn phép chép lại bài lưu bút tôi viết cho Thầy Nguyễn Hữu Thứ năm 1985 như một lời tri ân tưởng nhớ đến một người Thầy đã dạy dỗ, dìu dắt thế hệ học trò chúng tôi không phải chỉ bằng trí tuệ, bằng trái tim mà còn bằng con người và bằng cả cuộc đời của Thầy nữa

Thưa Thầy

Niên khóa 1949-1950, con vào lớp đệ thất trường Khải Định, Thầy làm Hiệu trưởng Thỉnh thoảng con có đến nhà Thầy vì Kha và Châu Phan là hai bạn thân cùng lớp Trong ký ức thời niên thiếu con chỉ còn hình ảnh một thầy Hiệu trưởng oai nghiêm với chiếc cằm vuông, đôi kính cận thị và mái tóc hớt ngắn thể thao chải brillantine thẳng đứng Cuối năm học ấy Thầy có đề tặng thêm vào phần thưởng của con một tập nhạc kịch “Con thỏ ngọc” của Lưu Hữu Phước nhưng nay đã mất rồi.

Niên khóa 1955-1956 con lên lớp đệ Nhất trường Quốc Học, Thầy dạy con Pháp Văn Cuối năm Thầy có viết cho con ít dòng lưu niệm Đời con chỉ có một cuốn lưu bút nhưng đã tan tác trong bom đạn Mậu Thân Con chỉ còn nhớ một tập vở rất dày, bìa da màu đỏ, bên ngoài con dán tấm hình chụp mấy cành

Trang 31

phượng thắm đong đưa giữa nền mây trắng trời xanh Những gì các Thầy, các bạn ghi lại trong đó, kể cả lời người thương, con không nhớ gì hết trừ những dòng chữ này:

Tuân,

Tôi thường lấy câu này: “Hoạt động, Giúp ích, Lạc quan” làm phương châm cho đời tôi và thấy có nhiều kết quả đáng chú ý - Tuân hãy thí nghiệm thử xem.Thứ

Thưa Thầy, con nhớ rành mạch từng chữ từng câu vì 30 năm qua con đã lấy lời dạy của Thầy làm điều tâm niệm 30 năm qua, khi xa xôi lúc gần gũi, được Thầy

Cô nâng đỡ yêu thương, lúc nào con cũng “thí nghiệm” lời Thầy và trải qua bao thay đổi, phế hưng, con thấy quả thực đời con có nhiều hạnh phúc và đầy ý nghĩa Hôm nay trong một buổi chiều cuối năm Ất Sửu, sắp sửa bước vào tuổi 50 con lại viết cho Thầy ít dòng lưu niệm với lòng hoài cảm tri ân, với niềm rung động của tuổi học trò mà giờ đây đã quá nửa đời người con lại gặp từ khi con hạ bút hai chữ Thưa Thầy.

Học trò của Thầy.

Phan Khắc Tuân

Huế, Mùa thu 2017

Phan Khắc Tuân,

Hiệu trưởng Quốc Học 1973 - 1975

Tài liệu tham khảo:

1 Một thời Quốc Học

của Nguyễn Hữu Thứ (2002)

2 Lưu hương Tưởng niệm Thầy Nguyễn

Hữu Thứ của Đoàn Khoách và Nguyễn Thị

Thanh Tâm (2007)

Trang 32

Kính gởi Anh Lê Duy Đoàn,  

Trưởng Ban Liên lạc Cựu Học sinh KĐ-QH Huế ở TP Hồ Chí Minh,

Trước hết xin có vài hàng tự giới thiệu: 

Tôi, Trần Văn Hồng, cựu học sinh KĐ-QH niên khóa 1948-1956, cựu Giáo

sư QH từ 1965 - 1975, bút hiệu Trần Đông Giang, hiện ở 64 Hàn Thuyên, Huế Vừa rồi tôi được Anh Phan Khắc Tuân cho xem bản thảo về Thầy Nguyễn Hữu Thứ. 

Trước đây, khi Thầy còn sanh tiền, tôi được hân hạnh hầu chuyện với Thầy một đôi lần Thầy cho tôi được làm “bạn vong niên”, vì tôi là Thầy và là Huynh Trưởng Hướng đạo của Châu Thiều, con Thầy Đặc biệt tôi còn là “bạn học tập” tại trường Bình Điền với Thầy nữa!

Đáp lại ân tình ấy, tôi có làm bài thơ tặng Thầy lúc Thầy Cô từ Canada trở

về Việt Nam, nhan đề “Đôi nẻo tấc lòng”.

Tôi chép kèm theo đây Nếu được, ban biên tập đồng ý, xin cho đăng vào tập san Tết Mậu Tuất - 2018, như dự kiến của Quý hội.

      Trân trọng cám ơn       Kính Chào

Trần Văn Hồng.

Trang 33

Đôi nẻo tấc lòng

Kính Tặng Thầy Nguyễn Hữu Thứ

…Thế sự hôi tâm đầu hướng bạchSuy nhan tá tửu vựng sinh hồngLâm huy nghĩ học minh dương phượngViễn hại chung vy tỵ dặc hồng

Nguyễn Trãi 

 

“Viễn hại chung vy tỵ dặc hồng”

Ngang trời lướt cánh biệt phương Đông

Tìm nơi thiện phước, tồn tâm chí

Bỏ chốn lao lung, dưỡng tấc lòng

Võ xác trăng khuya, người lữ thứThâu canh bấc lụi, khách cô phòng

Ra đi há dễ quên nguồn cộiTrở lại khôn lường, nước đục trong

Trang 34

Trong giấc mơ tôi

1997 Đây là lần đầu tiên tôi đi Mỹ thăm anh Hai tôi sau 22 năm xa cách

kể từ 75 Thời Việt Nam mở cửa, một số Việt kiều bắt đầu về thăm quê nhà và người thân

4

Anh Nguyễn Văn Thạch

- Nguyễn Tuyết Lộc - Nguyễn Văn Hai

Trang 35

Anh chị Hai đón tôi ở phi trường Kentucky, không có màn ôm nhau khóc

hu hu, không mừng mừng tủi tủi, một phần tính anh Hai tôi nghiêm khắc, phần khác hai anh em cách nhau hơn 20 tuổi, nhưng nhìn cách anh chuẩn

bị đón em út chu đáo cũng biết là anh thương em lắm Anh Hai cho biết anh Thạch cũng đang trên đường từ Paris bay qua New York rồi từ New York về thành phố nầy, chiều mai anh Thạch sẽ đến, ba anh em sẽ được ở chung một nhà như hồi tôi còn nhỏ Thích quá Cuộc hội ngộ nầy chỉ có trong giấc mơ Đây rồi xe dừng trước số nhà 2408 - Calm Lane - Louisville, địa chỉ mà tôi thường thấy trên những bức thư anh Hai tôi viết gửi về cho tôi với nét chữ thân thương Anh chị dẫn tôi đi một vòng quanh nhà rồi bảo tôi lên phòng nghỉ ngơi

Phòng anh chị ở basement, ba phòng ngủ tầng trên thì hai phòng dành cho tôi và anh Thạch Anh Hai đã tự tay thay drap giường sạch sẽ tươm tất Chuyến bay thật xa, mệt, tôi chỉ trông chui vào phòng để ngủ một giấc thẳng cẳng cho sướng cái đời,

Đêm Louisville thật yên tĩnh

Hôm sau anh Thạch vừa ra khỏi máy bay là đã có anh chị Hai và tôi đứng đón Chị Hai cầm máy ảnh chụp lia lịa, tác nghiệp như nhà báo Chị chụp nhiều kiểu để bảo đảm ba anh em Nguyễn Văn Hai nhà tôi có ảnh đẹp lưu niệm Trên xe hai anh bỏ rơi tôi và chị Hà Lãnh, hỏi chuyện nhau không ngớt Anh Thạch cũng phải 25 năm mới gặp lại anh Hai Anh Thạch tốt nghiệp tiến

sĩ vật lý tại đại học Grenoble, là khoa trưởng khoa học đại học Cần Thơ từ

1970 Năm 1972 đi tu nghiệp ở Pháp đến 1975 không về được phải làm giấy tờ bảo lãnh vợ con, 10 năm sau chị Ngọc Bích và ba cháu qua Pháp định cư.Ngày đi chơi, đêm về quây quần bên nhau, khi thì chị Hà Lãnh nấu chè đậu xanh, khi thì chè hột sen hay đậu ngự, thức cả đêm nghe hai anh kể chuyện, rồi khóc cười với nhau Nhưng chuyện đáng nghe nhất vẫn là chuyện về cuộc đời của anh Hai tôi vì anh là người hoạt động xã hội nhiều, đời sống của anh liên quan đến những biến cố lịch sử qua nhiều thập kỷ

Khi Ba tôi chuyển công tác từ Huế ra Lệ Thuỷ - Quảng Bình anh Hai khoảng 5, 6 tuổi, thường theo Mẹ đến chùa lễ Phật, chơi đùa múa hát với chú điệu Thích Trí Quang, lớn hơn anh Hai hai tuổi, tức Hoà thượng Thích Trí Quang bây giờ… Hoá ra đúng như người ta vẫn nói “trái đất tròn”, ai ngờ hai người “bạn” thân một thời thơ dại - Hoà thượng Thích Trí Quang và giáo sư Nguyễn Văn Hai, anh tôi - còn duyên kỳ ngộ về sau ở đất Huế đô lúc mỗi người

đã có vị trí, danh vọng riêng trong xã hội Ở cương vị và tư thế mới, phức tạp

Trang 36

và tế nhị liệu họ có chỗ đương đầu hay tương tác gì không, tiếc là phần ở địa vị

em út mà tuổi tác cách nhau cả hai thập kỷ, tôi chưa hề dám hỏi Giá như anh tôi có để lại hồi ký, có nhận xét, bình luận thêm về những nhân vật đương thời hẵn nhiều thú vị bất ngờ

Ông nội chúng tôi là thầu khoán xây dựng nên giàu có Sau khi đổ bằng Tiểu Học Yếu Lược ba mẹ tôi cho anh Hai vào Huế ở với ông nội tại Gia Hội, tiếp tục học lên lớp nhì nhất niên, nhì nhị niên và lớp nhất ở Quốc Học Anh Hoà, em kế anh Hai học ở Đồng Hới, anh Thạch còn nhỏ cũng ở với Ba Mẹ tại đây

Vì anh Hai là cháu đích tôn nên ông nội rất cưng chìu Sáng anh đi bộ

từ Ô Hồ đến Quốc Học, chiều từ Quốc Học về Ô Hồ, ăn trưa trong trường, ngày nghỉ thì rong chơi với bè bạn Khi ông nội mất anh buồn quá không tập trung học hành, nên chỉ thi đậu bằng Tiểu học mà lại rớt vào năm thứ nhất Cao Đẳng Tiểu Học Ba Mẹ tôi phải đưa anh về Lệ Thuỷ, nhờ bạn là thầy Trần Tiếu Dư kèm cho anh học lại lớp nhất, nhờ vậy cuối năm anh thi đổ vào Quốc Học với thứ hạng rất cao, được cấp học bổng toàn phần vào nội trú Từ đó anh hăng say học tập, không lêu lổng bạn bè nữa Anh đọc đủ loại sách báo từ tiểu thuyết, thơ, kịch, cho đến khảo luận, lịch sử bằng tiếng Pháp và tiếng Việt Vào những năm 1945, chương trình áp dụng cho ban Cao Đẳng Tiểu Học

và Tú Tài Bản Xứ, tiếng Việt xem như một ngoại ngữ, tiếng Pháp là tiếng mẹ

đẻ, không được học tiếng Anh mà học thêm tiếng Hán

Trong giai đoạn đó, đất nước trải qua nhiều biến cố dồn dập Pháp thua trận, Nhật đảo chánh ở Đông Dương tháng 3 năm 1945 Từ 1944 dân chúng đã thiếu

ăn vì chiến tranh, đến 1945 trở thành nạn đói Người ta gọi đó là “nạn huỷ diệt khủng khiếp” hay “nạn đói năm Ất Dậu” Xác người chết vì đói nằm ngổn ngang

từ Quảng Trị đến khắp các tỉnh miền Bắc, nhất là ở Thái Bình.Tháng 4 45 cụ Trần Trọng Kim làm Thủ tướng lập nội các Việt Nam đầu tiên tìm cách cứu đói cho dân nhưng không được vì tất cả quyền hành, phương tiện đều nằm trong tay bọn Nhật Rồi Việt Minh cướp chính quyền, Pháp đổ bộ trở lại và cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu Trường đóng cửa vì không ai quản lý Học sinh phải

di tản khắp nơi, số phận của trường thật long đong, trước ngày toàn quốc kháng chiến trường phải di dời ra Liên Khu Tư tức Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa Hầu hết giáo sư được phân bố dạy các tỉnh thành đó, số khác đến Chu Lễ xây dựng phòng thí nghiệm, chuyên phục vụ ngành quốc phòng

Khi tiếng súng đạn Việt Minh - Pháp vang vọng trở lại vào năm 1946, thì trường học dù không bị đạn bom tàn phá nhưng cả hai trường lớn nhất Trung

Trang 37

Kỳ là Khải Định và Đồng Khánh đều bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh Trong lúc quân đội viễn chinh Pháp trấn đóng tại trường Khải Định thì Hội Đồng Chấp Chánh Trung Kỳ đóng bản doanh tại trường Đồng Khánh; sau sân chơi của trường Đồng Khánh, lại có các đội Bảo Vệ Quân tập tành huấn luyện Góc nào cũng có chòi canh, đặt súng tiểu liên, có lính Pháp tuần tiễu Công viên trước trường ngay bến đò Thừa Phủ biến thành nơi giải lao cho binh lính Sau lưng tòa tỉnh, Pháp cho xây lao Thừa Phủ nơi giam giữ tù nhân

Trường tạm đóng cửa cho đến ngày thầy Phạm Đình Ái được cử làm Hiệu Trưởng, thầy trò vội vàng mang khăn gói trở lại ký túc xá tiếp tục dạy và học

Đó là năm trường được dạy bằng tiếng Việt với một vị Hiệu trưởng người Việt Chẳng bao lâu Việt Minh thành lập Đội Giải Phóng Quân Anh Hai và anh Hoà đều gia nhập

Năm 1946 Anh Hoà vừa từ Huế về Lệ Thuỷ để báo cho Ba Mẹ tôi biết anh

sẽ theo đoàn quân Nam tiến, cũng là lúc anh Hai vừa từ Lệ Thuỷ vào Huế trễ, phải theo bạn bè tham gia chiến đấu ở mặt trận Lào

Khi chia tay anh Hoà ôm Mẹ mếu máo khóc, bồng tôi ngồi trên chân anh, tay ôm anh Thạch, giọng nghẹn lại: “Anh thương các em lắm Ở nhà nghe lời

Một tuần sau ngày đưa đám Trần Văn Ơn, ông Đô trưởng Sài Gòn đồng ý cho “Tổng Hội Sinh Viên Không Xin Phép” được tổ chức làm lễ mở cửa mả tại trường Tôn Thọ Tường nhưng với điều kiện không được giăng biểu ngữ, treo

cờ xí, không rải truyền đơn Hay tin ấy, sinh viên các trường Đại học, học sinh trung học và quần chúng đến dự rất đông đảo chật cả sân trường Nhưng đến giờ phút anh Hai - chủ tịch Hội Sinh Viên Không Xin Phép - sắp đọc lời kêu gọi thì bỗng nhiên truyền đơn, cờ Việt Minh do chính Uỷ Ban Kháng Chiến

Trang 38

Đô Thành tung ra bay khắp sân trường làm bọn cảnh sát Tây, Ta ập đến dùng dùi cui đàn áp rất dã man Những người trong tổ chức đó phải đốt chợ Bến Thành để đám người trong trường có thể chạy thoát thân Trong khi ấy, một đám người khác cầm cờ Việt Minh diễu hành trên đường phố Catinat và đốt

xe jeep trước toà Đô Sảnh

Tiếp tục học lại ở Sài Gòn là điều không thể được, anh Hai chỉ còn cách ra

Hà Nội, học cử nhân Giáo Khoa Khoa Học, rồi tốt nghiệp về dạy ở Quốc Học Huế Bấy giờ có lệnh tổng động viên toàn quốc, nhưng vì thiếu giáo viên nên anh Hai được đặc cách tiếp tục giảng dạy

Trong trường thầy và trò có nhiều khuynh hướng khác nhau, người thì theo chủ nghĩa Mác Lê, người lại ca tụng chủ nghĩa Quốc gia, lại có người chẳng nghĩ đến chuyện chính trị chỉ nghĩ đến việc dạy và học thôi Tinh thần của thầy trò trường Quốc Học là như vậy Tình thầy trò rất khắng khít, tôn trọng và tin cậy nhau Cho đến năm 1955, ông Huỳnh Đình Hoà giữ chức Đổng Lý Văn Phòng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, thầy Phạm Đình Ái là Giám Đốc Học Chánh Trung Phần (Thầy cũng di tản ra giảng dạy Khu Tư về) chỉ định anh Hai làm Hiệu Trưởng Quốc Học

Đối với anh Hai, chuyện đáng nhớ nhất, có ý nghĩa to lớn nhất trong thời gian làm Hiệu trưởng Quốc Học là thầy và trò của trường đã có kiến nghị tập thể, đề đạt nguyện vọng với chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập một trường Đại Học cho cả miền Trung

Số là ông Ngô Đình Diệm sau khi lên nhậm chức Tống Thống miền Nam, ông muốn ra Huế trong sự tiếp đón nồng hậu của dân chúng và thầy trò xứ Thần kinh Cha Cao Văn Luận - người góp công đưa ông Ngô Đình Diệm về nước - bấy giờ dạy môn triết tại trường Quốc Học Cha đề nghị với anh Hai

tổ chức thầy trò trường đón tiếp trang trọng Anh Hai bàn với hội đồng giáo

sư, các trưởng lớp, trưởng ban của trường nhân dịp nầy đề nghị Tổng thống

mở một trường Đại Học ở miền Trung cho con em nghèo, hiếu học, không

đủ khả năng vào học tại Sài Gòn Ý nầy lại hợp với ý nghĩ của tổng thống, nên ông đồng ý ngay mặc dù có ý kiến cho rằng ngày đó có sự chống đối dữ dội của một số vị khoa bảng ở Sài Gòn Chỉ xét về chuyện nầy thì thầy trò trường Quốc Học đáng được ghi công, vì khi thời gian càng lùi lại, không ai phủ nhận được sự ra đời và hoạt động của Viện Đại học Huế đã có đóng góp to lớn cho

sự nghiệp giáo dục Việt Nam, cụ thể là nhiều thế hệ nhân tài góp phần xây dựng đất nước Quả là một đề nghị có tầm nhìn thế kỷ!

Nhiều người biết anh Hai là giám đốc Nha Học Chánh Cao Nguyên Trung

Trang 39

Nguyên Trung Phần, khoa trưởng Khoa học, sau này là Viện phó Viện Đại học Huế, với tính cách nhiệt huyết mà nghiêm khắc, nóng nảy, dễ mất lòng người, nhưng ít ai biết anh Hai tôi là người rất tình cảm

Anh có thói quen sau giờ làm việc, bước xuống xe hơi, xách cặp vào nhà, tắm rửa xong ra phòng khách hoặc hành lang ngồi, vừa nghe nhạc cổ điển vừa đọc sách, luôn có cây viết chì trên tay Hai chị em tôi và các cháu Minh

Hà, Minh Phương, Việt Sơn, Việt Châu thấy vậy, đang chơi cũng bỏ hết chạy tới bàn lấy sách đọc, không học cũng phải ngồi vào bàn làm gì thì làm, không được ồn ào, im lặng cho đến giờ cơm 7 giờ tối những chiếc ghế quanh bàn không được trống chỗ Cuối tháng học bạ đem về cho anh kiểm tra Anh luôn nhắc nhở: Đừng bao giờ để ai ngồi trên đầu mình mà …ị!

Anh Hai thương yêu gia đình, lo cho em út, muốn các em ai cũng học giỏi nên người, nhưng cũng là mẫu anh Cả truyền thống rất nghiêm khắc, gần như độc đoán Đối với gia đình và cả đại gia đình chúng tôi anh Hai có vị trí đặc biệt Do chị đầu Vy Diệu đi tu đã mất nên anh Hai giữ nhiệm vụ con cả Có địa

vị xã hội và trình độ học vấn cao, anh Hai tôi vẫn là một người con chí hiếu, mẫu mực Anh rất kính nể tầm hiểu biết và phân tích xã hội nhạy bén của Mẹ, coi trọng những lời răn thẳng thắn của bà Đối với Mẹ, Nguyễn Văn Hai với những thành công, thành đạt về mặt xã hội vẫn là “thằng Hai” thông minh, trực tánh thương yêu của mình Với con cái anh nghiêm khắc như với học trò của anh, luôn muốn ghép các cháu vào khuôn khổ, kỷ luật vì sự nghiệp học tập và thành đạt xã hội Nói anh là mẫu người cha gia trưởng không quá đáng Nhưng tôi tin rằng các cháu của tôi biết rõ mọi thành công, vị trí đạt được hôm nay của mình đều dựa vào vai trò bệ phóng của người cha, nói đúng cách nói của văn hoá Á Đông là đấng nghiêm phụ của mình với ý nghĩa nghiêm khắc

Điều lạ là khi gặp chuyện khó xử, anh có thói quen đóng cửa phòng khóc

Trang 40

một mình Tôi nhớ chuyện anh Thạch lúc còn học ở Pháp gửi về cho ba mẹ tấm hình anh chụp trên bãi biển Nice, hai tay ôm hai cô gái nước ngoài - chuyện bình thường ở các nước phương Tây Mẹ bảo anh Hai gọi ngay anh Thạch về nước không học hành gì nữa

Anh Hai nói với tôi:

“Em văn hay chữ tốt, viết cho chú Thạch một lá thư giống như hồi chuông cảnh báo chú”

Nói xong anh vào phòng riêng đóng cửa, khóc

Hoặc có lần anh Thạch xin phép anh Hai và Ba Mẹ tôi được rửa tội theo công giáo Điều đáng ngạc nhiên là Mẹ tu tại gia và thường đi hoằng pháp ở các chùa, vậy mà chính Mẹ là người đầu tiên đồng ý Mẹ nghĩ tôn giáo nào cũng dạy con người hướng thiện, cũng có cái hay riêng Nhưng anh Hai khi nghe anh Thạch rửa tội thì không nhìn mặt, không nói chuyện với anh Thạch nữa, đóng cửa phòng… khóc Anh Thạch sợ anh Hai giận nên nhờ Mẹ giải thích cho anh Hai hiểu: Sau một thời gian anh Hai nghe Mẹ phân tích nói đi nói lại mãi có hơi xiêu lòng, anh Thạch mới dám gặp anh Hai

Bản thân tôi dù thuộc tuýp phi tôn giáo (ma giáo chăng?) nhưng vẫn có thiên hướng thích Phật pháp như Mẹ Tuy nhiên, cách ứng xử văn minh của

Mẹ gây ấn tượng sâu sắc với tôi Không ai không biết có sự xung khắc giữa tín

đồ Phật giáo và tín đồ Công giáo ở Huế thời đó cũng như thái độ còn “giữ kẽ” giữa họ với nhau cho đến tận hôm nay Phải nói đó là một sự thật không vui tí nào Càng nghĩ tôi càng tâm phục Mẹ với tư cách xử lý bằng trái tim người mẹ, vừa với tư cách một trí thức có tư tưởng bao dung tôn giáo rất sớm, đi trước thành kiến khá phổ biến ở địa phương

Cá tính có phần nóng nảy của anh Hai tôi vẫn còn theo anh đến đất Mỹ Anh kể sở dĩ đến tuổi nầy anh còn được mời dạy vì bộ môn của anh khó, ít người dạy, sinh viên lại rất thích giờ của anh nhưng không vì thế mà để chúng muốn làm chi thì làm Anh từng đuổi con của ông viện trưởng vì nó vào học

mà miệng nhai kẹo cao su, ngồi gác chân lên bàn Không được Phải dạy cho chúng biết lễ độ với người đang đứng trên bục cao hơn chúng Giữa cái bục ông thầy đứng và cái bàn chúng ngồi học có một khoảng cách, đó là khoảng cách Thầy và Trò Sau chuyện nầy, ông viện trưởng cám ơn anh rối rít vì sinh viên đó là con ông Ông còn nói, chưa có giáo sư nào như anh Hai vừa dạy học vừa dạy tư cách làm người giữa một đất nước nổi tiếng tự do như nước Mỹ.Không nói gì xa xôi, gần đây, vào chiều 2.7 2015 tại Hội trường tòa soạn Báo Giác Ngộ (85 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, Sài Gòn) đã diễn ra buổi giới

Ngày đăng: 19/02/2019, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w