1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC “LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TIỂU VÙNG DUYÊN HẢI PHÍA ĐÔNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

23 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 454,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được sự cần thiết của việc liên kết phát triển, lãnh đạo của 04 tỉnhTiểu vùng DHPĐ đã có những bước đi vừa khẩn trương vừa thận trọng trong quátrình xây dựng chiến lược liên

Trang 1

(DỰ THẢO TỈNH BẾN TRE GỬI CÁC TỈNH GÓP Ý)

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC

“LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TIỂU VÙNG

DUYÊN HẢI PHÍA ĐÔNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

Tháng 07 năm 2018

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG 1.1 Giới thiệu về Tiểu vùng Duyên hải phía Đông (DHPĐ)

Tiểu vùng DHPĐ gồm 04 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh,nằm ở vùng duyên hải cửa sông của hệ thống sông Cửu Long đổ ra biển Đông và

là vùng có đặc trưng về sinh thái ven biển cửa sông Tổng diện tích của Tiểu vùngkhoảng 8.788,9 km2, chiếm 21,5% tổng diện tích của cả ĐBSCL1

Nhận thức được sự cần thiết của việc liên kết phát triển, lãnh đạo của 04 tỉnhTiểu vùng DHPĐ đã có những bước đi vừa khẩn trương vừa thận trọng trong quátrình xây dựng chiến lược liên kết Tiểu vùng này Từ ngày 25/4/2017, lãnh đạo 04tỉnh đã tổ chức họp để xác định lộ trình thực hiện, đến ngày 20/10/2017, Hội thảo

“Liên kết bền vững Tiểu vùng DHPĐ vùng ĐBSCL” được tổ chức tại Bến Trenhằm xác định các định hướng về nội dung liên kết và ngày 27/3/2018, biên bảnghi nhớ triển khai đề án liên kết Tiểu vùng DHPĐ đã được ký kết tại Vĩnh Longdưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ

1.2 Giới thiệu về bản tầm nhìn chiến lược

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và biếnđổi khí hậu rõ nét hơn, bên cạnh những cơ hội mới được mở ra cũng có không ítkhó khăn, thách thức cần có sự liên kết, hợp tác để giải quyết mang tính chất tổngthể, liên vùng Nhận thấy những điểm tương đồng về thế mạnh, tiềm năng cũngnhư cơ hội để cùng nhau phát triển, tỉnh Bến Tre cùng với các tỉnh Tiền Giang -Vĩnh Long - Trà Vinh thống nhất trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủtrương xây dựng Đề án Liên kết phát triển bền vững tiểu vùng Duyên hải phíaĐông đồng bằng sông Cửu Long Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ,các tỉnh đã phối hợp tổ chức Hội thảo liên kết để thảo luận, thống nhất các nhiệm

vụ, công việc và định hướng, tầm nhìn mang tính chiến lược trong liên kết vùng,làm cơ sở để xây dựng Đề án Sau Hội thảo, 04 tỉnh đã ký kết biên bản ghi nhớ vềnhững nguyên tắc, nội dung, định hướng các lĩnh vực liên kết, để hình thành cơsở ban đầu triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động hợp tác liên kết

Trên cơ sở đó, các tỉnh trong Tiểu vùng phối hợp với các chuyên gia tiếnhành xây dựng Tầm nhìn chiến lược để làm nền tảng, định hướng phát triển liênkết giữa các tỉnh DHPĐ ĐBSCL, từ đó đề xuất những nội dung trọng tâm nhằmphục vụ thiết thực cho việc xây dựng Đề án chi tiết liên kết Tiểu vùng

- Quyết định số 2220/QĐ-TTg ngày 17/11/2016 của Thủ tướng Chính phủban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 593/QĐ-TTg

Trang 3

- Thông báo số 332/TB-VPCP ngày 14/10/2016 của Văn phòng Chính phủ vềkết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại Hội nghị tái cơ cấu ngành nôngnghiệp gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thủy lợi, xây dựng nông thônmới, liên kết hợp tác phát triển sản xuất nông sản chủ lực theo chuỗi giá trị vùngđồng bằng sông Cửu Long và kế hoạch liên kết hợp tác phát triển bền vững Tiểuvùng Đồng Tháp Mười.

- Thông báo số 180/TB-VPCP ngày 04/4/2017 của Văn phòng Chính phủ vềKết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Giải pháp pháttriển bền vững ngành lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long” và “Quyết định số1291/QĐ-BNN-KH ngày 10/4/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

về ban hành Kế hoạch hành động liên kết phát triển nông nghiệp, nông thôn vùngĐồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016-2020”

1.4 Tiềm năng và thách thức

1.4.1 Thực trạng và tiềm năng

1.4.1.1 Tài nguyên thiên nhiên

Điểm nổi bật của Tiểu vùng DHPĐ là tài nguyên nước dồi dào, kể cả nướcmặt và nước ngầm, với điện tích mặt nước chiếm 22,3% tổng diện tích tự nhiêncủa Tiểu vùng Ngoài ra, với tổng chiều dài bờ biển là 162 km(2) đã tạo ra hệ sinhthái mặn, lợ, ngọt đa dạng và phong phú, là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp đadạng Đồng thời, bờ biển dài sẽ thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển như nuôitrồng và đánh bắt thủy hải sản, phát triển cảng biển và các khu công nghiệp

Về mặt địa hình, Tiểu vùng DHPĐ có địa hình tương đối bằng phẳng và có

xu thế thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng ra biển Tiểu vùng nàynằm trong vùng hạ lưu ĐBSCL, bề mặt địa hình và đất đai được tạo nên bởi sựlắng đọng phù sa hệ thống sông Cửu Long trong quá trình hình thành và bồi tụ nênchâu thổ thời kỳ hiện đại

Về tài nguyên đất đai cũng đa dạng, đất phù sa chiếm tỷ trọng khoảng 26,4%tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng, trong đó Tiền Giang là địa phương có tỷtrọng đất lớn nhất và thấp nhất là Bến Tre Nguồn tài nguyên đất đai đa dạng kếthợp với tài nguyên nước dồi dào tạo ra lợi thế lớn cho hoạt động sản xuất nôngnghiệp của Tiểu vùng với các sản phẩm phong phú và giá trị kinh tế cao

Bên cạnh đó, diện tích đất nhiễm mặn của Tiểu vùng này khá lớn, tập trungtại Bến Tre (24,1%), Tiền Giang (14,6%) và Trà Vinh (25,7%) có tiềm năng lớn vềnuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và canh tác các loại cây trồng đặc sản như dừa, cacao…Đất phèn cũng có diện tích khá lớn, chiếm khoảng 17,8% diện tích toànvùng, tập trung nhiều tại Vĩnh Long (29,7%) và Tiền Giang (19,4%) và Trà Vinh(18%) Tuy nhiên phần lớn diện tích đất phèn là phèn nhẹ nên phù hợp cho canhtác lúa và một số loại cây có khả năng thích ứng như khóm, khoai mỡ… và gầnđây một số diện tích đã chuyển đổi sang trồng thanh long có hiệu quả cao

1.4.1.2 Kinh tế - Xã hội

Tình hình kinh tế Tiểu vùng DHPĐ đang có sự phát triển khá tốt, tổng GRDPcủa các địa phương trong Tiểu vùng chiếm 26,8% tổng GRDP toàn vùng ĐBSCL.Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của các địa phương không đồng đều; năm 2016,

2 Tiền Giang 32 km; Bến Tre 65 km và Trà Vinh 65 km

Trang 4

Tiền Giang là địa phương có tổng GRDP lớn nhất, tiếp theo đó là Vĩnh Long, BếnTre và Trà Vinh; tốc độ tăng trưởng GRDP của các địa phương cũng có sự khácbiệt lớn, trong đó Trà Vinh có tốc độ tăng trưởng GRDP cao nhất ĐBSCL vớikhoảng 10,3%, tiếp theo là Tiền Giang (8,5%), Bến Tre (5,3%) và Vĩnh Long(5,21%) Ngoài ra, cơ cấu kinh tế cũng thể hiện khác biệt giữa các địa phương.

Hình 1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu GRDP năm 2016 (Nguồn: Ban chỉ đạo Tây

Nam Bộ).

Một hạn chế là số dự án và vốn đầu tư FDI vào Tiểu vùng còn rất hạn chế.Xem xét về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thông qua chỉ số PCI cho thấy các tỉnhtrong Tiểu vùng đang có sự phục hồi và tăng trưởng về năng lực cạnh tranh từ

2014 đến nay Năm 2017, Bến Tre và Vĩnh Long là địa phương có chỉ số PCI tốtnhất đạt 66,69 và 66,07 điểm (đứng thứ 5 và 6 trên toàn quốc) và nằm ở nhóm Tốttrên toàn quốc Trà Vinh (37) và Tiền Giang (40) nằm ở nhóm Trung bình

Bảng 1 Số dự án và vốn đầu tư nước ngoài

Trang 5

tranh bình đẳng Trà Vinh đang có sự cải thiện đáng kể về tiếp cận đất đai, chi phíthời gian và chi phí không chính thức, tuy nhiên cần cải thiện hơn nữa về các chỉsố về hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động Tiền Giang cần cải thiện về các chỉsố về thể chế pháp lý, tính năng động và chi phí không chính thức

Hình 2 Các chỉ số thành phần trong đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

(PCI, 2017).

1.4.1.3 Nông nghiệp

Trồng trọt: Tổng diện tích canh tác lúa của Tiểu vùng là 684 ngàn ha và sản

lượng lúa cả năm là 3,5 triệu tấn Sản xuất lúa gạo của Tiểu vùng này tập trungchủ yếu tại Tiền Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh So với toàn vùng ĐBSCL thì diệntích và sản lượng lúa của Tiểu vùng này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ với khoảng 15%,tuy nhiên đây là khu vực có tiềm năng phát triển các loại lúa đặc sản, chất lượngcao, hoặc phát triển các hệ thống canh tác lúa thích ứng với biến đổi khí hậu nhưlúa-tôm, lúa-màu…

Diện tích cây ăn quả (CAQ) của Tiểu vùng là 157 ngàn ha, chiếm trên 50%diện tích CAQ vùng ĐBSCL Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre là khu vực sản xuất

và kinh doanh trái cây lớn nhất toàn vùng Hiện đã có nhiều chỉ dẫn địa lý trái câygắn với Tiểu vùng này được công nhận như: Xoài Cát Hòa Lộc, Vú Sữa Lo RènVĩnh Kim, Sầu Riêng Ngũ Hiệp, Sơri Gò Công, Nhãn Long Hồ, Dứa Tân Lập,Bưởi Da Xanh Bến Tre… Bên cạnh đó, ngành cây giống, buôn bán và chế biếntrái cây cũng khá phát triển ở Tiểu vùng này Những yếu tố này tạo thành lợi thếlớn giúp Tiểu vùng trở thành thủ phủ trái cây của ĐBSCL

Bên cạnh CAQ, thì dừa là một loại cây đặc sản của Tiểu vùng này, phần lớndiện tích và sản lượng được sản xuất tại đây và tập trung nhiều tại tỉnh Bến Tre,trong đó Dừa Xiêm Xanh đã được công bố chỉ dẫn địa lý Các sản phẩm chế biến

từ dừa ngày càng đa dạng về sản phẩm và chức năng Hiện nay, hầu hết các sảnphẩm từ cây dừa đã được tận dụng chế biến để tạo giá trị gia tăng

Trang 6

Bảng 2 Diện tích và sản lượng một số loại sản phẩm cây trồng chủ lực của Tiểu vùng

Bến Tre Tiền Giang Vĩnh Long Trà Vinh DHPĐ ĐBSCL Lúa

Diện tích

(ngàn ha) 58 216 176 234 684 4,295 Sản lượng (ngàn tấn) 161 1,268 941 1,117 3,487 24,227

CAQ

Diện tích (ngàn ha) 28 71 42 17 157 307 Sản lượng (ngàn tấn) 302 1,406 412 250 2.370 4.000,0

Dừa

Diện tích (ngàn ha) 68,5 15,0 8,0 19,3 110,8 113,3 Sản lượng (trái) 573.139 106.185 112.248 223.318 1.014.890 1.081.297

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, (2017)

Chăn nuôi: Lĩnh vực chăn nuôi của Tiểu vùng cũng khá phát triển, đóng vai

trò quan trọng cho ngành chăn nuôi ĐBSCL, chiếm 50% sản lượng heo, 45% sảnlượng gia cầm và 64% sản lượng bò Bên cạnh đó, chăn nuôi dê, ong cũng đang có

xu hướng phát triển nhanh và dẫn trở thành ngành chăn nuôi quan trọng của vùng,góp phấn đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và tăng thu nhập cho người dân

Bảng 3 Số lượng vật nuôi năm 2016

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, (2017)

Thủy sản: Mặc dù, Tiểu vùng có diện tích mặt nước khá lớn với hệ thống

sông ngòi chằng chịt và bờ biển kéo dài, tuy nhiên khai thác và nuôi trồng thủysản chiếm tỷ trọng khá thấp Hiện nay, diện tích nuôi trồng thủy sản của Tiểu vùng

Trang 7

chỉ khoảng 94 ngàn ha, chiếm 12% của toàn vùng Năm 2016, sản lượng thủy sảnkhai thác đạt khoảng 347 ngàn tấn (27% sản lượng ĐBSCL) và sản lượng nuôitrồng đạt 613 ngàn tấn (15% sản lượng ĐBSCL); qua đó, cho thấy ngành thủy sản,đặc biệt là nuôi trồng thủy sản chưa khai thác hết tiềm năng, trong khi thủy sảnhiện được xem là ngành hàng chủ lực quốc gia.

Bảng 4 Thực trạng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản năm 2016

Bến Tre Tiền Giang Long Vĩnh Trà Vinh DHPĐ ĐBSCL

Sản lượng nuôi

trồng (tấn) 251,599 150,624 107,715 103,398.0 613,336 2,536,427Diện tích nuôi

trồng (ngàn ha) 45.2 15.8 2.4 30.4 93.8 772Sản lượng khai

thác (tấn) 118,595 95,193 64,465 68,838 347,091 1,286,069Tổng công suất

khai thác 869.7 252 46.3 1,168 3,542

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, (2017)

1.4.1.4 Công nghiệp - xây dựng (khu vực II)

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng khu vực II của Tiểu vùng là khá ấn tượng, đặcbiệt là tỉnh Trà Vinh (45,56%) Tiền Giang và Vĩnh Long có tốc độ tăng là 16,9%

và 12,64%, cao hơn mức trung bình của ĐBSCL So sánh chỉ số phát triển côngnghiệp với mức trung bình của cả nước, chỉ có Bến Tre là thấp hơn mức trung bình0,5 điểm; điều đó chứng tỏ khu vực này đang phát triển tốt Trong đó, ngành côngnghiệp chính của Tiểu vùng là chế biến nông sản, thực phẩm, thủy sản và dừa; bêncạnh đó, ngành công nghiệp dệt may - da giày và nhóm ngành cơ khí, điện tử, sảnxuất kim loại có mức tăng trưởng tốt; các nhóm ngành còn lại, bao gồm khai thác

và chế biến khoáng sản, sản xuất VLXD, chế biến gỗ, giấy

Hình 3 Tốc độ tăng trưởng khu vực II (Nguồn BCĐ Tây Nam bộ)

Trang 8

Điểm nổi bật của ngành công nghiệp là việc đi vào hoạt động của Nhà máynhiệt điện 1 thuộc Trung tâm điện lực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, với sản lượngđiện sản xuất năm 2015 là 1.224 triệu Kwh, tạo điều kiện cho các ngành côngnghiệp khác tăng trưởng nhanh trong tỉnh và lan tỏa ra các địa phương lân cận.

Bảng 5 Chỉ số giá trị sản xuất công nghiệp

ra nhiều các sản phẩm du lịch như: du lịch sinh thái sông nước miệt vườn; du lịchsinh thái vùng ngập mặn; trải nghiệm vườn dừa, du lịch lịch sự, văn hóa, tâm linh,làng nghề… Những năm qua cơ sở hạ tầng và sản phẩm du lịch được quan tâmđầu tư xây dựng, nâng cấp, ngày càng hoàn thiện và đồng bộ đã thu hút đượcnhiều du khách, doanh thu từ hoạt động du lịch không ngừng tăng hàng năm, gópphần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm và tiêu thụ đặc sản của địa phương.Tuy ngành du lịch có bước phát triển khá nhanh nhưng cũng còn nhiều hạnchế, tồn tại như: Số lượng du khách tăng khá nhưng lượng khách lưu trú khôngnhiều và thời gian lưu lại tỉnh rất ngắn, chủ yếu do chưa có nhiều điểm vui chơigiải trí Sản phẩm du lịch vẫn chưa tạo được nét đặc thù riêng, tính kết nối vớicác điểm du lịch trong và ngoài tỉnh còn hạn chế, tự phát và chưa chuyên nghiệp,các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh du lịch có quy mô nhỏ, chất lượng nguồnnhân lực du lịch chưa đáp ứng yêu cầu Một số tuyến đường giao thông tiếp cậnđiểm đến du lịch ở huyện, xã vẫn chưa được đầu tư, nâng cấp; hệ thống điện, nướcsạch ở các vùng nông thôn, vùng sâu chưa đáp ứng tốt nhu cầu dân sinh và pháttriển du lịch Ngoài ra, sự phát triển du lịch cũng chưa đồng đều giữa các địaphương, khách du lịch chủ yếu đến Tiền Giang và Bến Tre do thuận tiện về giaothông; các địa phương trong Tiểu vùng chưa tạo được các sản phẩm kết nối hìnhthành cụm du lịch duyên hải phía ĐBSCL

Bảng 6 Doanh thu từ hoạt động du lịch, 2010-2015

ĐVT: 1.000 tỷ đồng.

Trang 9

tỷ lệ lao động qua đào tạo so với trung bình cả nước thì vẫn còn khoảng cách đáng

kể, làm hạn chế ến năng suất lao động của Tiểu vùng và cần được cải thiện

Bảng 7 Đặc điểm nguồn nhân lực năm 2016

3 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với tổng dân số phân theo địa phương

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714

4 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo địa phương.

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714

Trang 10

động trong lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp và làm công

ăn lương Mặc dù đã có sự gia tăng thu nhập đáng kể, tuy nhiên có sự chênh lệch

về thu nhập bình quân giữa các địa phương trong Tiểu vùng Cư dân tại TiềnGiang có mức thu nhập bình quân cao nhất, cao hơn mức trung bình của ĐBSCL

và cả nước; trong khi đó, các địa phương khác có mức thu nhập thấp hơn mứctrung bình Tỷ lệ hộ nghèo ở các địa phương tương ứng là Vĩnh Long (4,8%), TiềnGiang (5,9%), Bến Tre (10,01%), Trà Vinh (11,3%) so với 8,5% của ĐBSCL.Điều kiện cơ sở vật chất của người dân dần được cải thiện, trên 95% số hộtiếp cận với điện lưới; số nhà kiên cố có tỷ lệ thấp nhưng tỷ lệ nhà bán kiên cố khácao; tỷ lệ hộ ở nhà đơn sơ cao hơn bình quân cả nước, nhưng thấp hơn so với mứctrung bình ĐBSCL Riêng đối với tỉnh Trà Vinh, tỷ lệ nhà đơn sơ còn khá cao với12,4% và là địa phương có tỷ lệ người nghèo cao nhất trong Tiểu vùng

Bảng 8 Tình trạng nhà ở các địa phương trong tiêu vùng, vùng ĐBSCL, và cả nước

Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Nhà thiếu kiên cố Nhà đơn sơ

Tóm lại, Tiểu vùng DHPĐ là vùng hạ lưu của lưu vực ĐBSCL, có điều kiện

tự nhiên đa dạng và phong phú; có tiềm năng, thế mạnh để phát triển nông nghiệpvới các sản phẩm chất lượng và giá trị cao Tuy nhiên, Tiểu vùng có một số hạnchế nội tại như: chưa khai thác tối đa về lợi thế sông nước và kinh tế biển; ngànhcông nghiệp chế biến mặc dù có sự phát triển nhưng chưa có sự đột phá; thu hútđầu tư còn rất hạn chế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài; đời sống người dân được cảithiện nhưng còn chậm; nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; tính năngđộng, thiết chế pháp lý cần phải cải thiện mạnh nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của các địa phương trong Tiểu vùng

1.4.2 Thách Thức

1.4.2.1 Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang diễn ra và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt ở toànTiểu vùng, với những biểu hiện như:

- Các hiện tượng thời tiế, khí hậu cực đoan đang diễn ra thường xuyên hơn, cụthể: Hiện tượng El Nino năm 2015-2016 diễn ra trên toàn lưu vực Mê Kông làmlượng mưa trong lưu vực thấp kỷ lục, mực nước đỉnh lũ sông Mê Kông năm 2016 ở

Trang 11

ĐBSCL thấp nhất từ năm 1926 đến nay, dẫn đến tình trạng hạn và xâm nhập mặngay gắt vùng ven biển ĐBSCL gây thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt.

- Mưa trái mùa vào mùa khô, nhất là hiện tượng La Nina (yếu) diễn ra vào vụĐông - Xuân 2016-2017 gây thiệt hại nhiều cho cho hoa màu và lúa

- Nắng nóng kéo dài và nhiệt độ tăng cao vào mùa khô ảnh hưởng đến sứckhỏe con người, cây trồng, vật nuôi, năng suất hoa màu và hệ sinh thái tự nhiên

- Về nước biển dâng, theo kịch bản cập nhật năm 2016 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường, đến năm 2100 mực nước biển ĐBSCL có thể tăng 55cm so với giaiđoạn 1986-2005 Thực tế nước biển dâng hiện nay là khoảng 3mm/năm, vì vậytrước mắt cần phải chuẩn bị các điều kiện để thích ứng được với điều kiện biến đổicủa tự nhiên (ngoại trừ những năm cực đoan) bằng cách chuyển đổi hệ thống canhtác thích ứng với nước mặn và nước lợ

1.4.2.2 Tác động của hệ thống các đập thủy điện trong lưu vực Mê Kông

Hiện nay Trung Quốc đã xây dựng xong 07 đập trên dòng chính sông MêKông ở phía thượng nguồn Số liệu của Ủy hội sông Mê Kông cho biết so sánhgiữa năm 1992 và 2014, tổng tải lượng phù sa mịn của sông Mê Kông đã giảm gần50% từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm Dự báo sau khi có thêm 11 đậpthủy điện ở phía Hạ lưu vực (9 ở Lào và 2 ở Campuchia) tổng lượng phù sa sẽgiảm 50% một lần nữa, xuống còn hơn 42 triệu tấn/năm

Nhận định về ảnh hưởng của thủy điện Mê Kông đối với nguồn nước ngọt từsông Mê Kông về ĐBSCL cho rằng, trong những năm bình thường, các đập thủyđiện sẽ không ảnh hưởng lớn đến lượng nước về ĐBSCL Tuy nhiên, trong nhữngnăm khô hạn nghiêm trọng, các đập thủy điện này sẽ gia tăng giữ nước nhất là cácđập ở Hạ lưu vực sông có khả năng lưu nước từ 1,5 ngày đến 18 ngày làm nước về

bị chậm đáng kể, gia tăng khô hạn và xâm nhập mặn ven biển ĐBSCL, đặc biệttrầm trọng ở vùng Duyên hải phía Đông

Các đập thủy điện Mê Kông cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sản lượng thủy sản

tự nhiên ở ĐBSCL, dự báo sau khi 11 đập hoàn thành sẽ làm biến mất 100% cátrắng do các đập ngăn cản các loài cá bơi ngược dòng về thượng nguồn để sinhsản Sự tổn thất nguồn thủy sản này sẽ ảnh hưởng lớn đến vấn đề dinh dưỡng củangười dân và các loài động vật thuộc hệ sinh thái đất ngập nước của vùng DHPĐ

1.4.2.3 Thách thức về môi trường

Nguồn nước mặt trong vùng DHPĐ nói riêng và ĐBSCL nói chung đang bị ônhiễm từ hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp và canh tác nông nghiệp thâm canhsử dụng thâm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; bên cạnh đó, nhiều sôngngòi bị tích tụ ô nhiễm do các công trình ngăn mặn làm suy yếu dòng chảy, từ đónguồn tài nguyên thủy sản tự nhiên ở Tiểu vùng DHPĐ cũng bị suy giảm đáng kế,ảnh hưởng đến dinh dưỡng và thu nhập của người dân Sự suy giảm nguồn tàinguyên thủy sản có nhiều nguyên nhân, trong đó có đánh bắt quá mức, môi trườngnước có thể bị ô nhiễm, giảm không gian sống đối với loài thủy sản

Tình trạng sạt lở bờ biển, bờ sông trong Tiểu vùng DHPĐ đang diễn ranghiêm trọng tại nhiều khu vực và có khuynh hướng gia tăng trong những năm

Ngày đăng: 18/02/2019, 06:48

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w