CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC KHMERTRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Qua phân tích định lượng Hoàng Văn Việt * Đặt vấn đề Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL là vùng đồng bằ
Trang 1CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC KHMER
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
(Qua phân tích định lượng)
Hoàng Văn Việt (*)
Đặt vấn đề
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đồng bằng lớn nhất nước, có vai trò, tiềm năng phát triển to lớn và nằm ở vị trí địa- chính trị hết sức quan trọng
Nằm nơi tiếp giáp với nhiều khu vực1, ĐBSCL là vùng “mở” hội tụ nhiều thành phần dân tộc, tạo nên bức tranh văn hóa tộc người đa sắc diện, phong phú và thi vị2
Là những lưu dân từ nhiều nơi, họ mang đến vùng đất mới những gam màu văn hóa truyền thống đặc sắc Hợp tụ từ nhiều mảnh đời khác nhau, nhưng cùng chung số phận, họ đã kề vai sát cánh, đoàn kết chặt chẽ bên nhau, chia ngọt sẻ bùi trong quá trình khai hoang mở đất, xác lập chủ quyền và bảo vệ lãnh thổ
Bên cạnh người Việt chiếm đa số (trên 80% dân số toàn vùng, trên 18 triệu người vào năm 2010), giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số ở ĐBSCL, người Khmer
đã để lại những dấu ấn đậm nét và sâu sắc trong lịch sử phát triển của vùng
Người Khmer có 1,3 triệu người (chiếm 7,43 % dân số toàn vùng), sống phân rải ở hầu hết các tỉnh- thành ĐBSCL, nhưng tập trung chủ yếu ở một số tỉnh vùng biên giới3 Hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh có số người Khmer chiếm đông đảo4
Về các cộng đồng dân tộc thiểu số ở ĐBSCL đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, nhất là sau năm 1975 đã xuất hiện đội ngũ Nam Bộ học thu hút đông đảo giới học thuật của nhiều lĩnh vực
(*) PGS.TS., Khoa Lịch sử
1 ĐBSCL nằm ở cực Nam của Tổ quốc, phía Đông- Bắc giáp TP Hồ Chí Minh; Đông và Nam giáp biển Đông; Bắc giáp Campuchia; Tây giáp biển Đông và vịnh Thái Lan.
2 Theo thống kê năm 2009 của Cục Thống kê, ở ĐBSCL có trên 20 tộc người cư trú: người Việt,
Khmer, Chăm, Hoa, Tày, Mường, Nùng, Thái, H’mông, Ê Đê, Chơ-ro…
3 Hoàng Văn Việt (chủ nhiệm đề tài), 2013 “Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và luận cứ
khoa học cho việc xây dựng chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở ĐBSCL” Đề tài NCKH cấp Trọng
điểm ĐHQG TP HCM, nghiệm thu tháng 8/2013, tr 37-38.
4 Tỉnh Sóc Trăng: 397.014 người (chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh; tỉnh Trà Vinh: 317.203 người (chiếm 31,6% dân số trong tỉnh)
Trang 2khác nhau, đề cập Người Khmer, vì nhiều lý do được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn Nội dung đề cập được khỏa kín các lĩnh vực đời sống, cả về không gian lẫn thời gian; cả về nội dung lẫn hình thức Tuy nhiên, một lĩnh vực rất cần được tập trung nghiên cứu- vấn đề quản lý xã hội trong cộng đồng người Khmer (truyền thống và hiện đại) lại chưa có nhiều kết quả, còn rất thiếu những công trình chuyên khảo, hệ thống và sâu sắc!
Do giới hạn bài viết, chúng tôi không có tham vọng (và cũng không đủ khả năng) phác họa một cách thật đầy đủ, chi tiết các họa tiết của bức tranh phong phú,
đa sắc, đa diện về hệ thống quản lý xã hội trong cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL
Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập một phương diện căn bản của vấn đề về chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc người Khmer tham gia hệ thống chính trị hiện nay ở địa phương Nội dung trình bày dưới đây là những kết quả tìm tòi, sưu tập, phân tích, đánh giá từ những số liệu điều tra định lượng xã hội học và thống kê những năm qua mà chúng tôi thực hiện trong hai năm 2011 và 2012 Vì địa bàn cư trú của người Khmer khá rộng nên chúng tôi chỉ tập trung các vùng điểm ở hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng Đối tượng khảo sát là cán bộ người Khmer, cán bộ người Việt và đồng bào dân tộc
1 Sự tham gia của cán bộ đội ngũ Khmer trong hệ thống chính trị địa phương
Dù trải qua nhiều thời kì lịch sử, về cơ bản hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến địa phương ít thay đổi cả về cấu trúc, hình thức và nội dung hoạt động
ĐBSCL gồm có 13 tỉnh, thành phố, 130 đơn vị hành chính cấp huyện hoặc tương đương (12 thành phố, 5 quận, 7 thị xã, 106 huyện), 1606 đơn vị hành chính cấp xã hoặc tương đương (178 thị xã, 118 thị trấn và 1310 xã) Hệ thống chính trị địa phương ở ĐBSCL tổ chức theo 3 cấp, cấu trúc gồm: Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các Tổ chức chính trị- xã hội
Về tổ chức Đảng: Đảng bộ các cấp là một bộ phận của Hệ thống chính trị, là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ Hệ thống chính trị
Tổ chức Đảng gồm có Ban chấp hành, Ban thường vụ, Thường trực, Bí thư, Phó bí thư thường trực kiêm chủ tịch UBND Ngoài ra còn có các ban chuyên trách: Văn phòng, Ban tổ chức, Ủy ban kiểm tra, Ban tuyên giáo…
Trang 3Đơn vị thấp nhất của tổ chức Đảng là các chi bộ, gồm có bí thư, phó bí thư và chi ủy viên
Tổ chức các cơ quan Nhà nước: hệ thống chính quyền địa phương tổ chức theo ba cấp: tỉnh- thành phố, quận- huyện hoặc cấp tương đương và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), gồm có: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra với nhiệm kì 5 năm, đại diện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính ở địa phương, có nhiệm vụ thực hiện các công việc quản lý ở địa phương, do Hội đồng nhân dân bầu ra với nhiệm kì 5 năm
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp cơ sở (phường, xã, thị trấn) là cấp chính quyền gần dân, trực tiếp công việc với dân, vì vậy cấp chính quyền này có
vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị Người cán bộ cấp cơ sở là hình ảnh tương phản khá đầy đủ bức tranh đội ngũ cán bộ nhà nước nói chung
Các tổ chức chính trị- xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Liên Hiệp Công đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thành niên Cộng sản HCM, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh) là các đoàn thể xã hội rộng lớn, gồm có: Ban chấp hành, Ban thường vụ, chủ tịch, các phó chủ tịch, bí thư, phó bí thư (Đoàn thành niên) và các ủy viên Ngoài ra còn có các phòng ban chuyên trách giúp việc
Mục đích hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội là tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đại điện lợi ích của nhân dân; giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị và tham gia công việc quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa xã hội
Ở các vùng đồng bào dân tộc ĐBSCL, các phong trào do Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân phát động đã lôi cuốn hàng chục ngàn đội viên tham gia Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, các chỉ thị của Chính phủ và các cấp chính quyền
Trang 4địa phương5, số lượng cán bộ người Khmer tăng hằng năm và họ tham gia hầu hết vào các cơ quan của hệ thống chính trị các cấp
Tính đến cuối năm 2011, toàn vùng Tây Nam Bộ có khoảng 12.000 đảng viên người Khmer (chiếm 3,05% tổng số đảng viên ở đây: 392.950 người); có 12.131 cán bộ công chức người Khmer, làm việc trong tất cả các cơ quan cấp tỉnh, thành phố, quận- huyện và cấp cơ sở
Thực hiện Nghị quyết số 42, 30/11/2004 của Bộ chính trị, Hướng dẫn số 47, 25/05/2005 của Ban tổ chức Trung ương về “Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”, các tỉnh Tây Nam Bộ đẩy mạnh công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ dân tộc, trong đó cán bộ dân tộc Khmer ở cấp phường- xã (cấp cơ sở) giai đoạn 2010-2012: 943 người trong tổng số 17.167 người (chiếm 5,49%)
Qua phân tích các con số toàn cảnh về số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ở ĐBSCL, có thể đưa ra một số nhận định:
Thứ nhất, cán bộ người Khmer tham gia công tác ở cả 3 cấp (tỉnh- huyện- xã)
trong hệ thống chính trị địa phương, chủ yếu tập trung ở cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị- xã hội Trong các cơ quan nhà nước đại diện và trong các cơ quan hành chính do yêu cầu tiêu chuẩn cao hơn (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác…) nên nguồn cán bộ Khmer chưa có nhiều cơ hội tham gia trong các cơ quan này
Thứ hai, tuổi đời của người cán bộ Khmer còn khá trẻ, chủ yếu từ tuổi 18 đến
35, đặc biệt tập trung ở các cơ quan cấp xã, huyện Họ là những cán bộ nhiệt tình, xông xáo, xốc vác, năng nổ, có trách nhiệm, nhưng lại rất ít kinh nghiệm trong hoạt động và xử lý công việc Điều này phản ánh sự thiếu hụt nguồn đào tạo
Thứ ba, so với tỉ lệ dân cư, số lượng cán bộ Khmer tham gia còn rất khiêm
tốn (khoảng 10% trong khi số lượng dân số của họ chiếm khoảng 30%)
Thứ tư, nhìn chung đời sống của đồng bào Khmer và của cán bộ người
Khmer còn rất nhiều khó khăn Họ dành phần nhiều thời gian cho tìm kiếm công việc làm thêm và bươn chải cuộc sống
5 Chỉ thị 117- CT/TW 20/9/1981 của BCH TƯ Đảng CSVN “Về công tác đối với người Khmer”; Chỉ
thị của BCH số 68/ CT-TW, 18/4/1991 “Về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer:; Chỉ thị số
16/CT/ TW, 14/6/1998 “Về công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc Khmer”…
Trang 5Thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer như trên đã tác động đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ này
2 Chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ở ĐBSCL (qua phân tích định lượng)
Chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer thể hiện trên các lĩnh vực: phẩm chất chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm công tác
Trình độ học vấn
Tính đến cuối năm 2011 ở Tây Nam Bộ có khoảng 12000 đảng viên là người dân tộc Khmer, chiếm 3,05% tổng số đảng viên toàn khu vực (392.950 người); trong đội ngũ CB-CC có 12.131 người làm việc tại các tỉnh thành, huyện và các cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)
Thông báo kết quả năm 2008 ở các tỉnh, thành khu vực Tây Nam Bộ có: 01 tiến sĩ, 19 thạc sĩ, 444 đại học, 283 trình độ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp:
1990 người 6
Theo kết quả khảo sát năm 2011, toàn khu vực ĐBSCL có 24 cán bộ chủ chốt cấp huyện thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý: 17 người tốt nghiệp cấp 3 hệ bổ túc văn hóa (chiếm 70,83%), 07 người tốt nghiệp PTTH (chiếm 29,17%)
Ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) có 6.407 đảng viên, trong đó có 752 người
là cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã, chiếm 2,56%) cán bộ công chức cấp xã toàn vùng (29.321 người) thì có trình độ:
Cao đẳng, đại học: 31 người (4,12%)
Trung cấp: 175 người (23,27%)
Sơ cấp: 91 người (10,10%)
Chưa qua đào tạo: 455 người (57,09%)
Ở tỉnh Trà Vinh:
6 Giải pháp đào tạo cán bộ người dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, 01/12/2008:
http://www.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=12052
Trang 6Cấp tỉnh: có 413 cán bộ Khmer đang công tác trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể, theo trình độ học vấn như sau: Thạc sĩ - 12 người chiếm (2,9%); cao đẳng - 14 người (chiếm 3,3%) và trung cấp - 66 người (chiếm 15,9%)
Cấp Huyện có 593 cán bộ Khmer theo trình độ: Thạc sĩ – 2 người (0,33%); Đại học – 315 người (53,11%); Cao đẳng – 15 người (2,52%); Trung cấp – 67 người (29,17%)
Cấp xã có 1.229 cán bộ Khmer, theo trình độ: Đại học - 338 người (chiếm 27,50%); Cao đẳng – 57 người (4,63%); Trung cấp 399 người (32,46%)
Trong tổng số 2.235 cán bộ Khmer ở tất cả các cấp có 1.114 người được đào tạo tin học và 817 người được đào tạo ngoại ngữ
Ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, cán bộ dân tộ Khmer có trình độ đại học chiếm tỉ lệ là 37,03%; cấp III là 33,35%; cấp II là 22,22%; còn lại dừng ở trình độ cấp I
Qua phiếu khảo sát 71 cán bộ dân tộc Khmer ở 2 tỉnh có đông đồng bào Khmer là Trà Vinh và Sóc Trăng đang công tác ở các cấp, chúng ta thu nhận kết quả:
Cấp II: 7 người
Cao đẳng, Đại học: 38 người
Qua những thông số trên về trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer đang công tác trong các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị các cấp, có thể đưa ra nhận xét:
Trình độ học vấn của đội ngũ này đã được cải thiện rất nhiều trong những năm gần đây Trong hệ thống cấp Tỉnh, Huyện đại đa số cán bộ có trình độ đại học, một số đạt trình độ thạc sĩ Ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) đã xuất hiện cán bộ đạt trình độ đại học Tình trạng mù chữ hay trình độ cấp I gần như đã được xóa bỏ Một
số người được nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển toàn diện của xã hội trong bối cảnh mới, các cấp độ học vấn như thế là chưa đạt yêu cầu Cuộc sống khó khăn, môi trường học tập và ý thức vươn lên còn
Trang 7hạn chế trong nhận thức người cán bộ, đặc biệt nguồn bổ sung còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng là những tác nhân ảnh hưởng đến việc nâng cao thường xuyên trình độ học vấn đối với đội ngũ cán bộ người Khmer Trả lời các câu hỏi dưới đây của cán bộ người Khmer ở Sóc Trăng vả Trà Vinh cho thấy nhận thức của
họ như thế nào về ý nghĩa của trình độ học vấn, chuyên môn:
-“Là người cán bộ tốt, theo đồng chí những phẩm chất nào dưới đây là quan trọng?” trả lời:
9/43 (chiếm 20,9%) cán bộ ở Trà Vinh trả lời “Học vấn là quan trọng” 8/28 (chiếm 28,6%) cán bộ ở Sóc Trăng trả lời “Học vấn là quan trọng”.
Trình độ chính trị
Trình độ chính trị của đội ngũ Cán bộ dân tộc Khmer thể hiện trên 2 phương diện: số lượng đảng viên và trình độ chính trị
Công tác phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer được các cấp ủy Đảng hết sức quan tâm: năm 2001 có 4.542 đảng viên; năm 2005 có 5.617 đảng viên; năm
2007 – 8.133 đảng viên
Năm 2011 có 11.908 đảng viên, tăng 5,6 lần so với 20 năm trước đó (năm 1991) Ở một số vùng có đông người Khmer như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, công tác phát triển đảng được thực hiện khá nhanh Ví dụ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, đội ngũ cán bộ, đảng viên người Khmer được quan tâm, bồi dưỡng, đào tạo và đề bạt bố trí ở các ngành, các cấp: 406/2.389 đảng viên người Khmer, chiếm 16,99% tổng số đảng viên toàn huyện Thực hiện chỉ thị 04-CT/TU ngày 8 tháng 10 năm 2002 của Tỉnh ủy Trà Vinh về tăng cường công tác phát triển Đảng là người Khmer, người Hoa, từ 2009 đến giữa năm 2011 đã phát triển 266 đảng viên Khmer,
02 đảng viên người Hoa, nâng tổng số đảng viên người Khmer toàn tỉnh lên con số 4.277 người
Ở Sóc Trăng, năm 2009 có 3.807 đảng viên người Khmer chiếm 15,23% tổng
số đảng viên của tỉnh
Ở Thành phố Cần Thơ, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2011, toàn thành phố
có 31.983 đảng viên, trong đó có 224 đảng viên Khmer (chiếm tỉ lệ 0,7%, trong khi
Trang 8dân số Khmer chiếm 1,8% dân số chung toàn thành phố) Trong tổng số 71 cán bộ ở Trà Vinh (43 người) và ở Sóc Trăng (28 người), theo điều tra ngẫu nhiên có tổng cộng 51 đảng viên
Mặc dù sự phân bố số lượng đảng viên Khmer khá đồng đều, số lượng phát triển đều đặn, nhưng so với tỉ lệ đồng bào người Khmer thì còn quá ít: chiếm 2,64%
số đảng viên trong vùng (năm 2011 là 392 người) và 4,56% so với số lượng đảng viên 9 tỉnh, thành có đông người Khmer Trong nghị quyết đảng bộ địa phương kết hợp phát triển đảng viên với điều động đảng viên đến các vùng sâu, vùng xa để giải quyết tình trạng “trắng” đảng viên và tổ chức đảng
Hầu hết cán bộ người Khmer đang công tác trong các cơ quan cấp tỉnh đều đã được đào tạo qua các lớp lý luận chính trị cao cấp và trung cấp
Con số này giảm dần ở các cấp thấp hơn Theo số liệu hiện nay có 24 người cán bộ chủ chốt cấp Huyện là người Khmer thuộc diện thành ủy, tỉnh ủy quản lý, có
19 người tốt nghiệp cao cấp chính trị, chiếm 79,17%; 05 người tốt nghiệp trung cấp
lý luận chính trị, chiếm 20,83%
Ở cấp cơ sở (xã, phường, thi trấn):
Cao cấp chính trị: 18 người (chiếm 2,39%)
Trung cấp chính trị: 324 người (chiếm 43,08%)
Sơ cấp chính trị: 148 người ( chiếm 19,68%)
Chưa qua đào tạo: 252 người (chiếm 33,51%)
Ở Trà Vinh trong số 2.235 cán bộ công chức ở 3 cấp (tỉnh-huyện-xã) có đến 1.290 cán bộ trình độ lý luận chính trị cao cấp và trung cấp
Có thể nói, đây là điểm sáng của đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer Nhờ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và cũng nhờ ý thức vươn lên nhằm nâng cao trình độ lý luận, hiểu biết chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc, tạo nền tảng cho bản lĩnh chính trị Trong quá khứ và hiện tại, phẩm chất người đảng viên chân chính có trình độ cao về lý luận chính trị có ý nghĩa rất nhiều cho người cán bộ nói chung, người Khmer nói riêng, trước những thử thách thực tiễn chính trị phức tạp và tư duy lý luận chính trị đổi mới Nói cách khác, bản lĩnh chính trị luôn
Trang 9là một trong những yêu cầu quan trọng của người cán bộ dân tộc Kết quả trả lời của
71 cán bộ người Khmer (28 người ở Sóc Trăng, 43 người ở Trà Vinh) qua câu hỏi:
“Để hoàn thành nhiệm vụ, theo đồng chí khâu nào dưới đây có ý nghĩa quan trọng? (theo ưu tiên thứ tự từ 1 đến 10, trong đó từ 5 đến 10 là rất quan trọng), phản
ánh rõ điều này (chúng tôi liệt kê từ cao đến thấp)”
Phẩm chất, đạo đức: 66,7%
Bản lĩnh chính trị: 55,0%
Tuy nhiên, qua thực tiễn cuộc sống, bản lĩnh chính trị của người cán bộ Khmer được thử thách chưa đáp ứng được yêu cầu nhiêm vụ chính trị Trả lời câu
hỏi: “Ưu điểm nổi bật của người cán bộ dân tộc nơi cơ quan đồng chí công tác?”
của 101 cán bộ người Việt (ở Trà Vinh 66 người, ở Sóc Trăng 35 người), chúng tôi thu được thông số về bản lĩnh chính trị của người cán bộ Khmer: 10,6% (7 người) ở Trà Vinh và 11,1% (4 người) ở Sóc Trăng
Tương tự, chúng tôi nhận được câu trả lởi của 44 người Khmer ở Trà Vinh và
73 người Khmer ở Sóc Trăng về đánh giá ưu điểm bản lĩnh chính trị của người
Khmer: 20,0% “đồng ý”.
Năng lực công tác
Năng lực công tác của người cán bộ Khmer được thể hiện qua trình độ chuyên môn, khả năng thích ứng công việc, kinh nghiệm công tác và phong cách hoạt động
Có thể nói, khác các giai đoạn trước đây, trong công việc, người cán bộ Khmer luôn thể hiện tinh thần sôi nổi, nhiệt tình và có trách nhiệm cao, bây giờ trước đòi hỏi của sự vận động mới của cuộc sống, người cán bộ Khmer cần có thêm
sự sáng tạo, tính năng động và phong cách khéo léo trong vận động Theo đánh giá chung, đội ngũ cán bộ Khmer hiện nay đã thể hiện năng lực cần thiết, đáp ứng một phần công việc Công tác bồi dưỡng, qui hoạch, luân chuyển cán bộ đã giúp phần nào khắc phục những yếu kém của đội ngũ cán bộ này Hầu hết ở 9 tỉnh ĐBSCL có đông đồng bào dân tộc, cấp ủy và chính quyền các cấp đều có kế hoạch qui hoạch
Trang 10đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị của Hệ thống chính trị Ngoài việc bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị, người cán bộ Khmer còn được tham gia các lớp đào tạo chuyên môn gắn liền với công việc của họ
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, đến cuối năm 2011 có 12.131 người cán bộ công chức Khmer làm việc trong các cơ quan cấp tỉnh, thành, cấp huyện và cấp cơ sở: cấp tỉnh – thành có 708 người; cấp huyện có 1.620 người và cấp cơ sở: 8.711 người
Chúng ta có số liệu phân tích trình độ chuyên môn của 24 cán bộ Khmer chủ chốt cấp Huyện: 7 người có bằng trung cấp (chiếm 29,17%); 10 người có bằng đại học (66,67%); 1 có bằng thạc sĩ y khoa (4,17%) Trong số cán bộ này có 11 người được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chiếm tỉ lệ 45,83%; 15 người có chứng chỉ A tin học (chiếm tỉ lệ 62,5%); 1 người có chứng chỉ ngoại ngữ A (chiếm tỉ lệ 4,17%); 05 người có chứng chỉ ngoại ngữ B (chiếm 20,83%); 4 người có bằng cử nhân ngoại ngữ (chiếm 16,67%)
Đối với đội ngũ cán bộ Khmer cấp cơ sở: 31 người có trình độ đại học (4,12%); 175 người có trình độ trung cấp (23,27%); 91 người có trình độ sơ cấp (10,10%) và 455 người chưa qua đào tạo (chiếm 33,51%) Trong đó 762 cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách cấp xã chỉ có 10,5% (khoảng 79 người) được đào tạo trình độ quản lý nhà nước, còn 673 người chưa qua đào tạo Cũng trong số cán
bộ này, 160 người (21,28%) biết thành thạo ngôn ngữ dân tộc, còn 578 người (78,72%) chưa thành thạo
Trong hoạt động, về cơ bản, người cán bộ Khmer phát huy được năng lực của mình Phân tích qua bảng hỏi 71 cán bộ Khmer, 117 đồng bào Khmer và 101 cán bộ người Việt ở 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, chúng ta thu được những kết quả đánh giá về năng lực công tác, tác phong làm việc và hiệu quả hoạt động của người cán
bộ Khmer
Trả lời câu hỏi: “Việc tiếp xúc cơ sở thường xuyên của người cán bộ là cần
thiết?” của người cán bộ tỉnh Sóc Trăng là 78,6% (Rất cần thiết); 95,3% (Rất cần
thiết) của người cán bộ tỉnh Trà Vinh