MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông? 3 I. Quy định chung. 3 1. Khái niệm: 3 • Người khuyết tật: 3 • Quyền của Người khuyết tật: 3 2. Đặc điểm của Người khuyết tật: 4 II. Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông. 5 Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện. 9 KẾT LUẬN 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông? 3
I Quy định chung 3
1 Khái niệm: 3
Người khuyết tật: 3
Quyền của Người khuyết tật: 3
2 Đặc điểm của Người khuyết tật: 4
II Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông 5
Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện 9
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Tính đến tháng 6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số, người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58% người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật là người cao tuổi, khoảng 10% người khuyết tật thuộc
hộ nghèo Trong thời gian qua đã có nhiều quan tâm tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận dịch vụ giáo dục Số lượng học sinh, sinh viên là người tàn tật tăng nhanh trên cả 63 tỉnh, thành phố: Năm học 1996-1997 cả nước có 6.000 trẻ khuyết tật học trong 72 cơ sở giáo dục chuyên biệt, 36.000 trẻ khuyết tật học trong 900 trường phổ thông đến năm học 2005-2006 có 230.000 trẻ khuyết tật đi học trong 9.000 trường phổ thông (đạt 25%) Người khuyết tật đi học không chỉ tập trung ở bậc mầm non, tiểu học mà còn ở bậc trung học và một số đang học ở bậc trung cấp, cao đẳng, có nhiều học sinh khuyết tật đã đạt kết quả cao Số người khuyết tật được học nghề ngày càng tăng: giai đoạn 1999 - 2004 có gần 19.000 người; 2005-2008 mỗi năm có khoảng 8.000 người, gấp 2 lần so với giai đoạn trước Thời gian qua nhà nước đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo để đầu tư xây dựng cơ
sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật (bao gồm 2 đối tượng nông dân và người khuyết tật) Để tìm hiểu kĩ hơn về các quy định của pháp luật về quyền lợi cho người khuyết tật, em xin chọn đề số 9 làm bài tập học kỳ
Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông?
Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện?
Trang 3NỘI DUNG Câu 1: Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông?
I Quy định chung.
1 Khái niệm:
Người khuyết tật:
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật NKT 2010 thì: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Trong các pháp lệnh trước đây của nhà nước Việt Nam, “tàn tật” là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng
để thay thế từ tàn tật trong các bộ luật Năm 2010 Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành
có liên quan
Thông thường từ “khuyết tật” được cho là mang sắc thái tình cảm, ý nghĩa tốt hơn là từ tàn tật Người ta cho rằng từ “tàn” trong cụm từ tàn tật gợi đến hình ảnh tiêu cực, tạo cảm giác không còn khả năng gì, không còn tương lai và điều
đó ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn Từ “khuyết” mang nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn có khả năng phục hồi, vẫn còn hy vọng.1
Quyền của Người khuyết tật:
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về các quyền Vì vậy quyền của NKT là mối quan tâm không chỉ riêng một quốc gia nào mà còn là của cả thế giới Tôn trọng và đảm bảo tốt quyền của NKT mang ý nghĩa to lớn
1 http://hanhkhatkito.org/Default.aspx?tabid=57&ctl=ViewNewsDetail&mid=437&NewsPK=6716 , truy cập ngày
20 tháng 11 năm 2018.
Trang 4và nhân đạo Quyền của NKT được cộng đồng quốc tế thừa nhận như là quyền vốn có của NKT, giống như Quyền con người Ở Việt Nam theo Khoản 1 Điều
14 Hiến pháp 2013 quy định cam kết của Nhà nước và xã hội về những đảm bảo cho NKT Ngoài ra Quốc hội còn ban hành Luật NKT trong đó tư tưởng chủ đạo
là quyền của NKT Nhìn chung NKT có quyền được tôn trọng, bất kể trong hoàn cảnh nào, bản chất,… thì tất cả NKT đều phải được hưởng những quyền cơ bản của công dân mà trước hết là quyền được có một cuộc sống đầy đủ và có những chính sách để được hưởng quyền đó
2 Đặc điểm của Người khuyết tật:
Thứ nhất, người khuyết tật là con người nên mang đầy đủ đặc điểm chung
về Kinh tế- Xã hội tâm sinh lý như người bình thường khác, đầy đủ các quyền trên các lĩnh vực đời sống xã hội
Thứ hai, đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:
Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người thân, ),không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó khăn cho gia đình, cộng đồng.Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, văn hóa, thể thao tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn…, gặp rào cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng đồng Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật
Thứ ba, đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết
tật: Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật được quy định chi tiết trong Luật Người khuyết tật Việt Nam và Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật năm 2010… Các dạng khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi dạng lại có những đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lý, về khả năng qua đó tác
Trang 5động đến nhu cầu của bản thân và ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hội nhập cộng đồng
II Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo
dục phổ thông.
1 Quy định về Quyền của người khuyết tật khi tham gia các chương trình giáo dục phổ thông
Theo Điều 10 Luật giáo dục sửa đổi 2009 thì: “Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế
-xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền
và nghĩa vụ học tập của mình”
Nhà nước còn đã dành riêng chương IV (Điều 27 – Điều 31) quy định về giáo dục đối với người khuyết tật2 Ta có thể thấy rõ nhất quyền của NKT trong giáo dục chính là NKT sẽ được ưu tiên nhập học và tuyển sinh; miễn, giảm một
số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục; chính sách về học phí; chính sách về học bổng
và hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập Theo Khoản 2 Điều 27 Luật NKT 2010
thì: “Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một
số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập” Những
quyền tham gia giáo dục của NKT luôn được chú trọng, điều này chính là đang
hiện thực hóa quy định của khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” - tức là NKT cũng có đầy đủ quyền như những
người bình thường khác Quyền trong học tập cũng giống vậy và còn được ưu tiên hơn cả Khi muốn nhập học thì NKT sẽ được nhập học ở độ tuổi cao hơn so
2 Luật Người khuyết tật năm 2010.
Trang 6với quy định chung là 3 tuổi NKT được hưởng chế độ tuyển thẳng vào THPT như đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú và học sinh là người dân tộc rất ít người theo quy định tại Quy chế tuyển sinh THCS và tuyển sinh THPT
do Bộ GD&ĐT ban hành NKT được xét tuyển thẳng vào trung cấp chuyên nghiệp theo Quy chế tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp do Bộ GD&ĐT ban hành Hiệu trưởng các trường trung cấp chuyên nghiệp hoặc các trường có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp căn cứ kết quả học tập ở phổ thông của học sinh (học bạ), tình trạng sức khỏe và yêu cầu của ngành đào tạo để xem xét và quyết định tuyển thẳng vào học
Ngoài ra, người khuyết tật được Nhà nước tạo điều kiện học tập tại khoản 3 điều 27 Luật Người khuyết tật 2010 như sau:
“Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.”
Theo Điều 63 Luật giáo dục 2015 thì Quyền giáo dục của người khuyết tật còn quy định:
“1 Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật nhằm giúp các đối tượng này phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, hòa nhập với cộng đồng.
2 Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật do Nhà nước thành lập;
có chính sách ưu đãi đối với các trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật
do tổ chức, cá nhân thành lập.”
Luật Người khuyết tật 2010 cũng quy định các cơ sở giáo dục có trách nhiệm và bắt buộc phải tạo điều kiện để trẻ khuyết tật có thể theo học hòa nhập Điều 30, Luật Người khuyết tật quy định các cơ sở giáo dục phải :
Trang 7“1 Bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật, không được từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của pháp luật
2 Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật”
Không chỉ có vậy, NKT còn được miễn, giảm một số nội dung môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục và được đánh giá kết quả giáo dục hiện theo nguyên tắc động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của người học; miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập
Đối với NKT thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đi học tại các cơ sở giáo dục được hưởng học bổng mỗi tháng bằng 80% mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ NKT thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục ĐH, trung cấp chuyên nghiệp được cấp học bổng
10 tháng/năm học; NKT thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập được cấp học bổng 9 tháng/năm học Đó là chính sách của Nhà nước thể hiện quyền của NKT khi tham gia vào chương trình giáo dục phổ thông Đầy đủ cấp bậc từ mẫu giáo, tiểu học đến đại học Toàn bộ những quyền của NKT được thể hiện trong Luật, trong Quyết định, Nghị định hay Thông tư, ví dụ như Thông tư 03/2018/TT- BGDĐT ngày 29/01/2018 quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật; hay là Thông tư liên tịch 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 quy định về chính sách giáo dục đồi với người khuyết tật
về những quyền lợi như ưu tiên nhập học, được miễn giảm nội dung môn học, được hưởng học bổng,…
2 Ý nghĩa của giáo dục đối với người khuyết tật
Giáo dục có ý nghĩa với bất kì cá nhân nào, đặc biệt đối với người khuyết tật Quyền giáo dục của người khuyết tật sẽ đảm bảo cho họ có được tri
Trang 8thức, kiến thức, trang bị cho họ những hành trang về tự nhiên, xã hội, giúp họ hòa nhập với cuộc sống, có nhận thức tốt trở thành công dân có ích cho xã hội
Bên cạnh đó, việc giáo dục sẽ trang bị cho người khuyết tật kiến thức cơ bản, để họ có thể phát triển hơn nữa, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm tạo cho họ động lực, niềm tin là mình là người có ích, giúp họ có thể nuôi sống bản thân
Môi trường giáo dục tốt sẽ giúp người khuyết tật có nhiều mối quan hệ như bạn bè, thầy cô, khiến họ cảm thấy được quan tâm, không mặc cảm tự ti, giúp hòa đồng với xã hội
3 Thực trạng và biện pháp.
Hiện nay nhiều tỉnh thành không có các trường chuyên biệt trong khi thực tế nhu cầu học trong các trường chuyên biệt đối với những trường hợp không thể học hòa nhập là rất khó khăn Đội ngũ giáo viên dạy hòa nhập chưa được trang bị các kiến thức cơ bản liên quan đến trẻ khuyết tật trong khi những đặc điểm tâm sinh lý, kiến thức về dạng tật và mức độ khuyết tật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của trẻ Hay công tác tuyên truyền về các chính sách giáo dục cho người khuyết tật còn hạn chế cả về nguồn lực và cách thức thực hiện, dẫn đến người khuyết tật chưa có nhiều thông tin về
cơ sở giáo dục chuyên biệt hoặc bán hòa nhập dẫn đến TKT chưa có cơ hội tiếp cận với các hình thức giáo dục phù hợp Trong điều kiện một số dạng tật phức tạp như tự kỷ và KT trí tuệ diễn biến phức tạp thì việc chuẩn hóa hoặc xây dựng
lộ trình giáo dục phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc hòa nhập cộng đồng
xã hội
Từ thực trạng trên, em có một số kiến nghị như sau:
Đầu tiên là quy hoạch hệ thống các trường chuyên biệt, Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập trên cở sở điều tra đánh giá thực trạng các cơ sở giáo dục và các dạng tật hiện nay Nhiều NKT ở địa phương không có trường chuyên biệt đã phải khó khăn trong việc tìm kiếm cho mình một môi trường giáo dục phù hợp Ngay trên cùng địa bàn cấp tỉnh cũng có nhiều địa chỉ mà việc giáo dục cần có
Trang 9quy định chặt chẽ về điều kiện tổ chức và hoạt động Đâu đó còn có hiện tượng
tự phát trong việc thiết lập cơ sở giáo dục cho từng nhóm trẻ khuyết tật Việc giáo dục cần thiết với việc khôi phục khả năng lao động việc làm và tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác
Tiếp theo là việc thực hiện giáo dục NKT cần có sự phối hợp người cấp, nhiều ngành mà trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngành Lao động, Thương binh và Xã hội và ngành Y tế cần có chương trình tổng thể để thống nhất mục tiêu và định hướng nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục cho NKT
Câu 2: Bình luận về quy trình xác nhận mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện.
I Quy định chung.
1 Mức độ khuyết tật
Mức độ khuyết tật của người khuyết tật được chia làm 3 mức độ:
1, Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến
mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn
2, Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
3, Người khuyết tật nhẹ là NKT không thuộc trường hợp khuyết tật đặc
biệt nặng và khuyết tật nặng
2 Xác nhận khuyết tật
Trang 10Là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các thủ tục pháp luật quy định để xác nhận khuyết tật cho người khuyết tật làm căn cứ họ hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ
II Quy trình xác định mức độ khuyết tật tại Hội đồng XĐMĐKT Bước 1 Hoàn thiện hồ sơ
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số
37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT ngày 28/12/2012 ta thấy Hồ sơ đề nghị xác định mức độ khuyết tật bao gồm:
- Đơn đề nghị xác định, xác định lại mức độ khuyết tật và cấp, đổi, cấp lại giấy xác nhận khuyết tật theo mẫu;
- Bản sao các giấy tờ y tế chứng minh về khuyết tật như bệnh án, giấy tờ khám, điều trị, phẫu thuật hoặc các giấy tờ khác liên quan (nếu có);
- Bản sao kết luận của Hội đồng GĐYK về khả năng tự phục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động đối với trường hợp NKT đã có kết luận của Hội đồng GĐYK trước ngày 01/06/2012
Bước 2 Nộp hồ sơ tới UBND cấp xã
Theo Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số
37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT thì: “Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, xác định lại mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này đến
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú (khi nộp hồ sơ xuất trình sổ
hộ khẩu hoặc chứng minh nhân dân để cán bộ tiếp nhận hồ sơ đối chiếu các thông tin kê khai trong đơn)” Khi nộp hồ sơ, NKT hoặc đại diện NKT phải xuất
trình chứng minh thư hoặc hộ khẩu cho cán bộ tiếp nhận Như vậy là hồ sơ sẽ được tiếp nhận và sẽ được xác định mức độ khuyết tật
Bước 3 Chủ tịch UBND cấp xã triệu tập Hội đồng XĐMĐKT