1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vậy quyền im lặng được hiểu thế nào nên sử dụng khi nào

1 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 1
Dung lượng 11,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy quyền im lặng được hiểu thế nào? Nên sử dụng khi nào? Quyền im lặng là một quyền hợp pháp được công nhận, một cách rõ ràng hoặc theo quy ước, trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Đây là quyền của nghi phạm, của người bị kháng cáo, trong một vụ án có quyền im lặng, không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hay tự buộc mình có tội. Theo quyền này, một công dân được mặc định là vô tội cho đến khi các cơ quan pháp luật chứng minh được người đó có tội, luật pháp công nhận quyền này căn bản phán xử dựa trên chứng cứ. Quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự. Đây được xem là điều không quá khó hiểu khi mà điều tra viên trong trường hợp dùng các cách thức không công bằng để chứng minh việc phạm tội của người bị điều tra. Tình trạng mớm cung hoặc thêm bớt vào lời khai không phải chưa từng xuất hiện trong các vụ án ở Việt Nam. Do đó việc im lặng tới khi có sự tham gia của luật sư là cách thức bảo vệ đơn giản nhất và có thể áp dụng cho mọi người Ví dụ, trong vụ Hoa hậu Phương Nga, việc các bằng chứng mà cô đưa ra trong quá trình khai báo với cơ quan điều tra bỗng biến thành “chứng cứ” chống lại cô, dẫn đến việc cô tuyên bố sử dụng quyền im lặng vì không còn tin vào VKS. Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản thực thi quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp 2013 như nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13), “Xác định sự thật của vụ án” (Điều 15), “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16), “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26). Tuy nhiên cũng có thể thấy rõ khái niệm về Quyền im lặng không được quy định cụ thể mà chỉ có nội dung chứa những ý chính nhắc về nó, cụ thể là quyền của người bị buộc tội tại các điều 59 đến 62 BLTTHS. Quyền này của người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) được thể hiện như sau: “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Quyền này được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử. Đây chính là tinh thần cốt lõi của “Quyền im lặng” được thể hiện trong BLTTHS 2015.

Trang 1

Vậy quyền im lặng được hiểu thế nào Nên sử dụng khi nào?

Quyền im lặng là một quyền hợp pháp được công nhận, một cách rõ ràng hoặc theo quy ước, trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới Đây là quyền của nghi phạm, của người bị kháng cáo, trong một vụ án có quyền

im lặng, không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hay tự buộc mình có tội Theo quyền này, một công dân được mặc định là vô tội cho đến khi các cơ quan pháp luật chứng minh được người đó có tội, luật pháp công nhận quyền này căn bản phán xử dựa trên chứng cứ

Quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình - nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự Đây được xem là điều không quá khó hiểu khi mà điều tra viên trong trường hợp dùng các cách thức không công bằng để chứng minh việc phạm tội của người bị điều tra Tình trạng mớm cung hoặc thêm bớt vào lời khai không phải chưa từng xuất hiện trong các vụ án ở Việt Nam Do đó việc im lặng tới khi có sự tham gia của luật sư là cách thức bảo vệ đơn giản nhất và có thể áp dụng cho mọi người Ví dụ, trong vụ Hoa hậu Phương Nga, việc các bằng chứng mà cô đưa ra trong quá trình khai báo với cơ quan điều tra bỗng biến thành “chứng cứ” chống lại cô, dẫn đến việc cô tuyên bố sử dụng quyền im lặng vì không còn tin vào VKS

Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản thực thi quyền con

người, quyền công dân của Hiến pháp 2013 như nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13), “Xác định sự thật của

vụ án” (Điều 15), “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16), “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26) Tuy nhiên cũng có thể thấy rõ khái niệm về Quyền im lặng không được quy định cụ thể mà chỉ có nội dung chứa những ý chính nhắc về nó,

cụ thể là quyền của người bị buộc tội tại các điều 59 đến 62 BLTTHS Quyền này của người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) được thể hiện như sau: “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” Quyền này được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử Đây chính là tinh thần cốt lõi của “Quyền im lặng” được thể hiện trong BLTTHS 2015

Ngày đăng: 16/02/2019, 18:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w