* Các công trình trong nước Có một số công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về NEP đã ítnhiều đề cập tới vị trí, vai trò của nông dân cũng như chỉ ra giải pháp phát huy vai trò đó
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÔ MẠNH CƯỜNG
QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI VÀ
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và
Trang 2đã tạo cơ sở thực hiện kế hoạch nổi tiếng - điện khí hoá toàn nước Nga.Trong các tác phẩm của mình, kể từ sau Cách mạng tháng Mười và đặc biệt
là giai đoạn thực hiện NEP, V.I.Lênin đã giành hàng nghìn trang để bàn vềvấn đề nông nghiệp, nông dân Đó thực sự là một di sản quý báu cho cácthế hệ cách mạng đời sau tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để kế thừa và pháttriển
Giữa NEP và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam cónhiều điểm tương đồng, trong đó, đặc biệt là vấn đề đổi mới cơ chế quản lýkinh tế nhằm giải phóng sức lao động cho một bộ phận lớn lực lượng sảnxuất của xã hội là giai cấp nông dân
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trong quá trình phát triển.Trong lịch sử cũng như hiện tại, nông dân luôn giữ vai trò là lực lượngđông đảo nhất, góp phần quan trọng nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc
Trang 3Ngay từ khi ra đời, Đảng ta cũng đã sớm nhận thức được vị trí, vaitrò quan trọng của giai cấp nông dân Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng,giai cấp nông dân thực sự đã phát huy tốt vai trò là lực lượng cách mạngquan trọng, cùng với giai cấp công nhân và nhân dân lao động hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đềnông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm
sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Vận dụn g sáng tạochủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện nước ta, nhiều chủ trương, đường lốiđúng đắn của Đảng ra đời, góp phần giải phóng sức lao động của các tầnglớp nhân dân nói chung, giai cấp nông dân nói riêng, tạo đà tăng trưởngkinh tế và ổn định chính trị - xã hội Bước đột phá cho sự nghiệp đổi mớinói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng là đường lối đổi mới của Đạihội VI, và tiếp theo là “Nghị quyết 10” trong nông nghiệp Các chỉ thị, nghịquyết của các đại hội và hội nghị Trung ương Đảng khoá VII, VIII, IX, X,
XI sau này cũng luôn tập trung giải quyết những vấn đề then chốt trongnông nghiệp
Dưới tác động của những chính sách đó, nông nghiệp, nông dân vànông thôn Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, góp phần quan trọng đưa nước tathoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền
đề đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Dù cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch nhưng giai cấp nông dânnước ta hiện vẫn chiếm gần 73% dân số và 56% lực lượng lao động cảnước Trong bối cảnh hiện nay, ít quốc gia có lực lượng lao động trong lĩnhvực nông nghiệp đông đảo như vậy Theo kinh nghiệm của các quốc giaphát triển trên thế giới đã từng trải qua giai đoạn CNH, nếu giải quyết tốt
Trang 4vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì kinh tế nông nghiệp và xã hộinông thôn sẽ đóng góp to lớn cho tiến trình CNH Ngược lại, nông nghiệp,nông thôn có thể trở thành gánh nặng của quá trình cất cánh, tăng trưởngkinh tế, thậm chí trở thành khủng hoảng chính trị, thảm họa môi trường,phá vỡ sự bền vững của quá trình phát triển [85; 18] Việc tìm cách pháthuy vai trò của nông dân cũng chính là tìm ra biện pháp để thúc đẩy sựphát triển kinh tế nông nghiệp, thực hiện CNH, giải quyết vấn đề xã hội,hướng tới sự phát triển bền vững mà các quốc gia hiện nay đều rất quantâm.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về NEP nhưng chủ yếu tiếp cậndưới góc độ kinh tế Trong khi đó, vấn đề được Lênin đề cập nhiều trongNEP là vấn đề vai trò nông dân trong phát triển kinh tế chưa được nghiêncứu một cách đầy đủ, nhất là trên phương diện lý luận Do đó, việc nghiêncứu một cách có hệ thống quan điểm của V.I.Lênin về phát huy vai trònông dân trong NEP và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam tronggiai đoạn đổi mới sẽ giúp chúng ta có cơ sở lý luận phát huy tốt hơn nữavai trò của giai cấp nông dân nước ta hiện nay, góp phần đưa sự nghiệpCNH, HĐH của chúng ta tiến nhanh và bền vững hơn nữa Đây là việc làm
có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Đó là toàn bộ những lý do để tác giả lựa chọn vấn đề “ Quan điểm
của Lênin về phát huy vai trò của nông dân trong Chính sách kinh tế mới
và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới đến nay ” làm
đề tài luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 5Nghiên cứu quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về vai trò của nông dân,các biện pháp phát huy vai trò đó trong NEP và quá trình Đảng Cộng sảnViệt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo những quan điểm này vào việc pháthuy vai trò nông dân nước ta kể từ đổi mới đến nay Từ đó, đề ra một sốphương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò giaicấp nông dân nước ta trong giai đoạn tới.
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về nông dân, vai tròcủa nông dân; một số biện pháp và nguyên tắc nhằm phát huy vai trò đótrong NEP
- Làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng những quanđiểm của V.I.Lênin về phát huy vai trò nông dân vào việc phát huy vai trònông dân nước ta kể từ đổi mới đến nay
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốtvai trò nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quan điểm củaV.I.Lênin
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những quan điểm của V.I.Lênin về nông dân, về vai trò, biện pháp,nguyên tắc phát huy vai trò của nông dân trong NEP và hệ thống quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự vận dụng sáng tạo và đúng đắnnhững quan điểm mang tính phương pháp luận của V.I.Lênin về phát huyvai trò nông dân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bao gồm những quan điểm của V.I.Lênin về nông dân, về vai trò,biện pháp, nguyên tắc phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn thực
Trang 6hiện NEP và những chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện sự vận dụngnhững quan điểm đó vào việc phát huy vai trò nông dân nước ta trong thời
kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cụ thể đó là:
- Quan điểm triết học của DVBC và DVLS về mối quan hệ biệnchứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về nguồn lực conngười
- Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sáchcủa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn
- Thành tựu, kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội như sử học, xãhội học, kinh tế học, thống kê học trên lĩnh vực nông nghiệp, nông dân,nông thôn cả trong nước và trên thế giới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xãhội như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, so sánh và đối chiếu, hệthống hóa và khái quát hóa… Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp liênngành như: sử học, thống kê…
Trang 75 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Nghiên cứu làm rõ những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về vaitrò của nông dân, một số biện pháp và nguyên tắc nhằm phát huy vai trò đótrong NEP
- Luận án bước đầu phân tích và làm rõ quá trình Đảng Cộng sảnViệt Nam vận dụng những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về phát huy vaitrò nông dân trong NEP vào việc phát huy vai trò nông dân nước ta kể từđổi mới đến nay
- Trên cơ sở vận dụng quan điểm của V.I.Lênin và nghiên cứu kinhnghiệm trong nước cũng như ngoài nước, luận án đề ra một số phươnghướng, giải pháp nhằm phát huy tốt vai trò nông dân nước ta trong giaiđoạn cách mạng hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần vào việc nghiên cứu quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong cáchmạng XHCN nói chung và trong NEP nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đếngiai cấp nông dân và hoạch định đường lối, chính sách đối với giai cấpnông dân nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụlục, luận án gồm 4 chương 12 tiết
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những công trình nghiên cứu vai trò nông dân và vấn đề phát huy vai trò nông dân trong Chính sách kinh tế mới
Nông dân có vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ tiến trình cáchmạng XHCN nói chung và trong giai đoạn thực hiện NEP nói riêng Chotới nay, có một số công trình nghiên cứu về vai trò của nông dân và vấn đềphát huy vai trò nông dân trong NEP
* Các công trình ngoài nước
Công trình “Chính sách kinh tế mới qua lăng kính của thời đại hiện
nay” (1990) của tác giả Epghênhi Ambaraxumốp đã trình bày tính tất yếu
ra đời của NEP và quan điểm về một số vấn đề trong chính sách kinh tế ởLiên Xô Công trình bước đầu đã phân tích về vai trò của giai cấp nông dântrong giai đoạn thực hiện NEP Tác giả đã chỉ ra, so với giai đoạn trước khitiến hành NEP, V.I.Lênin đã nhận thức và khẳng định vai trò ngày càng
quan trọng của nông dân Tác giả nhấn mạnh: “Để tiến hành Chính sách
kinh tế mới và phát triển nó, V.I.Lênin coi trọng tính độc lập của thành phần nông dân trong xã hội Xôviết và trong nhà nước hơn lúc trước rất nhiều” [1; 40] Công trình còn có nhận định quan trọng, có giá trị trong
việc nghiên cứu giải pháp phát huy vai trò nông dân, đó là “ việc kìm hãm
hoặc phá bỏ nông dân cá thể, hoặc phản đối việc kinh doanh của họ, sẽ dẫn tới những cuộc khủng hoảng lương thực và sau đó là cuộc tổng khủng hoảng kinh tế - chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa” [1; 41] Công trình
cũng đã bước đầu cũng phân tích về một số vấn đề quan trọng trong NEP
có tác động to lớn tới người nông dân như vấn đề thuế lương thực, vấn đề
Trang 9HTX và thực tiễn việc thực hiện vấn đề này trong giai đoạn sau NE P ởLiên Xô.
Công trình “Chủ nghĩa Lênin và vấn đề cải tạo nông nghiệp ” (1967)
của S.Xanacoep, I.Đuđinxki, X.Tơrapedơmicốp đã cho thấy sự quan tâmcủa V.I.Lênin tới người nông dân kể từ sau cách mạng tháng Mười Côngtrình đã chỉ ra nông dân có vai trò rất quan trọng đối với việc hoàn thiện
hoạt động của bộ máy nhà nước Việc tăng cường mối quan hệ của bộ máy
Nhà nước đối với quần chúng lao động (trong hoàn cảnh nước Nga lúc này
đa số là nông dân) có ý nghĩa vô cùng to lớn , là “phương tiện quan trọng
để hoàn thiện sự hoạt động của các bộ máy Nhà nước Xôviết Về vấn đề
phát huy vai trò nông dân, công trình đã phân tích và đưa ra nhiều giải
pháp quan trọng nhằm phát huy vai trò này Tác giả đã khẳng định “hợp tác
hóa là con đường đi tới nền sản xuất quy mô đơn giản nhất, dễ nhất và người nông dân dễ tiếp thu nhất” [113; 18] Kế hoạch hợp tác hóa của
V.I.Lênin là sự phát triển sáng tạo cương lĩnh của Đảng, học thuyết về vấn
đề ruộng đất Theo V.I.Lênin, mục đích cải tạo nông thôn là nhằm dần dầnđưa hàng chục triệu nông dân lên con đường sản xuất tập thể lớn XHCN
Công cụ quan trọng nhất để đạt tới mục đích đó đã được công nhận là hợp tác xã Ngoài ra, công trình còn phân tích và làm rõ sự cần thiết phải thay
đổi chính sách kinh tế, coi cần thiết phải có thuế nông nghiệp như là một
biện pháp tạm thời, qua đó tới sự lưu thông hàng hóa mở rộng giữa công nghiệp và nông nghiệp Công trình cũng đã nhận định: “Quá độ đi tới đường lối kinh tế mới thể hiện sự khuyến khích kinh tế với nông dân ” [113;
99] Tác giả còn nhấn mạnh vai trò của công nghiệp đối với sự phát triểnnông nghiệp Đó là: “Trong thời kỳ đầu của đường lối kinh tế mới hoàntoàn không có cơ sở công nghiệp để đảm bảo nhu cầu về kỹ thuật nông
Trang 10nghiệp của nền kinh tế tập thể Để thực hiện kế hoạch hợp tác hóa cần thiết
phải công nghiệp hóa đất nước, trang bị cho nông nghiệp cơ sở kỹ thuật hiện đại” [113; 100].
Một số công trình nghiên cứu khác như “Vấn đề nông dân ở các xứ
thuộc địa và bán thuộc địa” (1953) (Trích tác phẩm kinh điển của
V.I.Lênin, J.Stalin, Mao Trạch Đông), “Nông dân và vấn đề nông dân”
(1958) của Nhà xuất bản Sự thật, đã chọn lọc, trích dẫn tác phẩm kinh điển
và luận bàn về những nội dung xung quanh vấn đề về nông dân ở các xứthuộc địa và bán thuộc địa: vấn đề lập trường giai cấp, liên minh côngnông, dân tộc, dân chủ dân sinh, vấn đề liên quan đến quân đội cách mạng
Các công trình trên đã cho thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm tớivấn đề nông dân và khẳng định nông dân giữ vai trò quan trọng trong giaiđoạn thực hiện NEP Ở các nước có nền kinh tế còn lạc hậu, giai cấp nôngdân chiếm số đông thì việc phát huy vai trò nông dân có ý nghĩa rất quantrọng Các công trình cũng bước đầu đưa ra một số giải pháp quan trọngnhằm phát huy vai trò nông dân trong tiến trình cách mạng XHCN như việccho phép nông dân được tự do kinh doanh, buôn bán sản phẩm sau khi đãthực hiện nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, vấn đề hợp tác hóa, vấn đề sởhữu ruộng đất, vấn đề phát huy dân chủ trong bộ máy nhà nước… Quanghiên cứu, tác giả luận án đã kế thừa và chỉ ra tính hệ thống của các giảipháp mà V.I.Lênin đã đưa ra nhằm phát huy vai trò nông dân trong NEP
* Các công trình trong nước
Có một số công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về NEP đã ítnhiều đề cập tới vị trí, vai trò của nông dân cũng như chỉ ra giải pháp phát
huy vai trò đó trong NEP như: “Chính sách kinh tế mới của Lênin và công
cuộc đổi mới của chúng ta” (1990) của tác giả Đào Xuân Sâm, Luận án
Trang 11Tiến sĩ triết học của Nguyễn Ngọc Thành “Tính biện chứng trong Chính
sách kinh tế mới của V.I.Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” (1995), “Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt Nam” (2000) của Lê Thanh Sinh Nội dung chính
mà các công trình trên đề cập tới là phân tích bối cảnh ra đời, nội dung, vàgiá trị của NEP Theo đó, nội dung cơ bản của NEP là chuyển từ chế độtrưng thu lương thực sang chế độ thuế lương thực, cho phép nông dân tự dobuôn bán, trao đổi hàng hóa trên cơ sở đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuếvới nhà nước Đồng thời, gắn kết và đưa các hộ tiểu nông lên sản xuất tậpthể dưới các hình thức KTHT, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp với nôngnghiệp… Về vấn đề phát huy vai trò nông dân, các công trình đều nhận
định những nội dung trên của NEP đã tác động trực tiếp tới nông dân Nga,
giải phóng mạnh mẽ sức lao động của lực lượng này và đưa nước Nga thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc Qua đó, có thể thấy NEP ra đời
hướng tới đối tượng là nông dân và giúp phát huy vai trò nông dân
Tác giả Đào Xuân Sâm trong “Chính sách kinh tế mới của Lênin và
công cuộc đổi mới của chúng ta” (1990) đã khẳng định NEP giải quyết vấn
đề lớn là con đường đưa những người tiểu sản xuất hàng hóa, trong đóquan trọng nhất là tiểu nông đi lên sản xuất lớn XHCN… “Sự quan tâmthiết thân của cá nhân có tác dụng nâng cao sản xuất… Thương nghiệp bánbuôn có thể liên kết, về mặt kinh tế, hàng triệu tiểu nông lại với nhau, bằngcách lấy lợi ích mà khuyến khích họ, bằng cách làm cho họ có quan hệ gắn
bó với nhau, dẫn dắt họ lên giai đoạn cao hơn, tức là: các hình thức hợ p tác
xã và liên hợp chính ngay trong sản xuất” [81; 19] Như vậy, ở đây, vấn đềphát huy vai trò nông dân thể hiện ở chỗ tác giả đã chỉ ra một số biện pháp
và mối quan hệ giữa các biện pháp nhằm phát huy sức sản xuất của những
Trang 12người nông dân tiểu nông Tác giả cũng khẳng định “Những vấn đề củađường lối chính sách và cơ chế quản lý kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta đã
và đang đề cập đều đặt trên cơ sở vận dụng học thuyết Mác – Lênin về thời
kỳ quá độ, mà Chính sách kinh tế mới là một bộ phận rất quan trọng ” [81;
5]
“Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt
Nam” (2000) của Lê Thanh Sinh lại chỉ ra: thuế lương thực là cơ sở kinh tế
để phát triển nền kinh tế tiểu nông và khuyến khích người nông dân pháttriển sản xuất, tăng sản phẩm trao đổi Từ sự phân tích những nội dung cơ
bản của NEP, tác giả công trình đã nhận định: “Có thể nói, khi ban hành và
thực hiện NEP, V.I.Lênin đã nhìn thấy ở nó khả năng đem lại những đòn bẩy kinh tế cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế ở nước Nga t iểu nông trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ” [82; 63].
Luận án Tiến sĩ triết học “Tính biện chứng trong Chính sách kinh tế
mới của V.I.Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” (1995) của Nguyễn Ngọc Thành lại phân tích và chỉ ra “NEP là
biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu và bước đi (các giải pháptình huống, tình thế và chiến lược)” [89; 11] Các bước đi đó là: Thực hiệntốt chính sách thu thuế lương thực; Khôi phục phát triển hàng hóa trongnông nghiệp; Khôi phục và tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp; Củng cố
và mở rộng thương nghiệp XHCN; Củng cố nền tài chính Xôviết và ổn
định tiền tệ Đồng thời, công trình cũng phân tích làm rõ “ NEP là biểu hiện
mối quan hệ biện chứng giữa kích thích vật chất và tinh thầ n” Công trình
cũng đi tới một số kết luận quan trọng, trong đó khẳng định một nhóm giảipháp quan trọng nhằm khôi phục và phát triển nền kinh tế nước Nga trong
hoàn cảnh bấy giờ là phải “Bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân, trở lại với
Trang 13quan hệ hàng hóa, tiền tệ, với thương nghiệp tự do buôn bán, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế, quan tâm tới lợi ích cá nhân, thừa nhận lợi ích
cá nhân” [89; 24].
Tác giả Lâm Quang Huyên trong “Kinh tế hộ và kinh tế hợp tác
trong nông nghiệp Việt Nam” (2004) (Nxb Trẻ) cũng đã nghiên cứu những
quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về kinh tế nông hộ và kinh tế hợptác trong nông nghiệp Tác giả có trình bày tư tưởng của V.I.Lênin về kinh
tế hộ và HTX, từ đó đi đến khẳng định: “Chính sách Kinh tế mới và những
tư tưởng của V.I.Lênin về hợp tác hóa kinh tế nông dân đã chỉ ra biệnchứng của quá trình phát triển: phục hồi, củng cố và phát triển kinh tế tiểunông, đồng thời thu hút quần chúng tiểu nông vào công cuộc xây dựng
CNXH thông qua con đường Hợp tác hóa tự nguyện vì lợi ích của người
nông dân, thông qua lợi ích của họ để gắn bó với lợi ích xã hội chứ khôngphải con đường tập thể hóa phi kinh tế” [31; 47] Tác giả cũng nhận định:
“Sự hình thành các hình thức hợp tác do nhu cầu của hộ nông dân gắn liền
với sự phát triển sản xuất và các quan hệ thị trường [31; 47].
Bên cạnh đó, luận văn Thạc sỹ “Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò
của nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy vai trò của nông dân ở nước ta hiện nay” của tác giả luận án cũng đã nghiên cứu
quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của nông dân trong cách mạng XHCN.Tuy nhiên, luận văn mới chủ yếu nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin vềvai trò, đặc điểm của nông dân ở mức sơ lược chứ chưa có sự phân tích sâusắc mang tính hệ thống và mới bước đầu chỉ ra một số bi ện pháp cũng như
nguyên tắc phát huy vai trò nông dân trong toàn bộ tiến trình cách mạng
XHCN.
Trang 14Tóm lại, các công trình nghiên cứu về NEP kể trên đã giúp tác giảluận án nhận thức được NEP hướng tới đối tượng là nông dân cũng nhưmột số nội dung của NEP có ý nghĩa thiết thực đối với việc phát huy vai trògiai cấp nông dân Nga đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về khía cạnh vaitrò nông dân trong NEP cũng như chỉ ra hệ thống những biện pháp, nguyêntắc để phát huy vai trò đó Trong luận án của mình, tác giả đã cố gắngnghiên cứu khía cạnh này
1.2 Những công trình nghiên cứu quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề nông dân và vấn đề phát huy vai trò nông dân trong sự nghiệp đổi mới
1.2.1 Tập hợp quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Có thể kể đến một số công trình như: “Một số văn kiện của Đảng về
phát triển nông nghiệp” (1993) của Đảng Cộng sản Việt Nam, “Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp – nông dân – nông thôn thời kỳ 1997 – 2007” (2008) của Ban chỉ đạo Đề án nông nghiệp
– nông dân – nông thôn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia và “Văn kiện
Đảng về phát triển nông nghiệp” (2009) của Nguyễn Duy Hùng chủ biên.
Các công trình trên đã tập hợp những văn kiện của Đảng về chủ trương,định hướng chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân của Đảng ta trongsuốt quá trình lịch sử từ năm 1955 cho tới năm 2008; giới thiệu những quanđiểm đổi mới của Đảng trong quá trình phát triển nông nghiệp và giới thiệumột số bài nói quan trọng về định hướng phát triển nông nghiệp, nông dân,nông thôn của các đồng chí Tổng Bí thư qua các thời kì Các công trình
giúp tác giả luận án nhận thấy trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn coi
Trang 15trọng vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Tuy nhiên, các công
trình này mới chỉ tập hợp văn kiện Đảng theo tiến trình thời gian và đề cậptới cả ba vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn chứ chưa đề cập tớiriêng lĩnh vực nông dân, chưa phân tích tác động của đường lối đó tới việcphát huy vai trò nông dân Kế thừa thành quả của các công trình, tác giảluận án đã chọn lọc, phân loại các văn kiện đó trên một số lĩnh vực màmình quan tâm nghiên cứu như đường lối về phát triển nền nông nghiệpsản xuất hàng hóa; về gắn kết công nghiệp với nông nghiệp, về phát triểnkinh tế hộ nông dân và kinh tế hợp tác, về dân chủ hóa Đường lối đó đã
thể hiện sự vận dụng sáng tạo những quan điểm của V.I.Lênin về phát huy vai trò nông dân.
Đường lối của Đảng đã được thể chế hóa thành hệ thống các chính
sách, luật pháp đa dạng, phong phú Đến nay, có nhiều công trình nghiên
cứu, tập hợp và phân tích hệ thống chính sách của Nhà nước về Tam nông
như “Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau nghị quyết 10
của Bộ Chính trị” (2000) của Lê Đình Thắng (Chủ biên), “Một số chủ trương chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn” (2001) của Nhà xuất bản Nông nghiệp; “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX và một số định hướng đến năm 2010” (2002) của Trần Ngọc Bút, “Chính sách nhà nước đối với nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế” (2008) của Nguyễn Cúc Các công trình trên đã nghiên cứu và hệ thống
hóa nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân nước ta từ năm
1945 và đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới Trong số các chính sách đó, cónhững chính sách quan trọng tác động trực tiếp tới việc phát huy vai trònông dân như chính sách đất đai, chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ
Trang 16tầng, chính sách giáo dục, chính sách lao động, việc là m, chính sách tíndụng; chính sách thị trường, giá cả, lưu thông hàng hóa …
Ngoài ra, gần đây có công trình “Chính sách hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam hiện nay” (2011) của Đoàn Xuân Thủy (chủ biên) Công
trình này đã nghiên cứu tập hợp hệ thống chính sách Nhà nước về nôngnghiệp, về thực trạng chính sách hỗ trợ nông nghiệp ở Việt Nam th ời gian
từ năm 2000 trở lại đây, trong đó, phân tích, đánh giá sự tác động của hệthống các chính sách này tới hoạt động sản xuất của nông dân
Các công trình trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọngphát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Các công trình cũng đã tậphợp và phân loại hệ thống chính sách này theo những tiêu chí khác nhau.Qua đó, tác giả đã có một cái nhìn hệ thống về các chính sách của Nhànước trên lĩnh vực Tam nông nói chung và nông dân nói riêng
1.2.2 Nghiên cứu đường lối của Đảng về vấn đề phát huy vai trò nông dân trong sự nghiệp đổi mới
Quan điểm của V.I.Lênin về nông dân và các biện pháp phát huy vaitrò nông dân là một hệ thống hoàn chỉnh phù hợp với hoàn cảnh lịch sửnước Nga giai đoạn đó Nghiên cứu hệ thống đường lối của Đảng, chínhsách của Nhà nước trên lĩnh vực Tam nông trong thời kỳ đổi mới, có thểthấy rằng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự vậndụng và phát triển sáng tạo các biện pháp phát huy vai trò nông dân củaV.I.Lênin trên nhiều khía cạnh khác nhau, là cơ sở lý luận khoa học chonhững thành tựu mà chúng ta đã đạt được Có rất nhiều công trình khácnhau đã nghiên cứu về sự vận dụng này:
* Về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp và phát huy vai trò tự chủ của người nông dân
Trang 17Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn nhận thức rõ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp là giải
pháp quan trọng hàng đầu để phát triển nông nghiệp và phát huy vai trò tự chủ của nông dân Nhiều công trình nghiên cứu đã đã nghiên cứu quá trình
cũng như nội dung của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Trong “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỉ
XX và một số định hướng đến năm 2010” (2002), tác giả Trần Ngọc Bút đã
nhận định quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp nước tađược bắt đầu từ Chỉ thị 100 – CT/TW Chỉ thị 100 đã thực hiện cơ chế mới
là khoán sản phẩm cho người lao động, “Chính sách này đã tạo ra động lựcmới khuyến khích lợi ích vật chất đối với người nhận khoán” [10; 81].Công trình phân tích đường lối đổi mới toàn diện của Đại hội VI (12 –1986) đã tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho nông nghiệp và kinh tếnông thôn phát triển Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của Nghị quyết 10.Công trình khẳng định Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã dẫn đến thay đổisâu sắc trong nông nghiệp Kể từ sau Nghị quyết 10, việc xác định rõ vaitrò kinh tế hộ và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều th ành phần, có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đã thúc đẩy phát triển lực lượn gcủa giai cấp nông dân
Trong “Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ” (2007),
tác giả Trương Thị Tiến đã trình bày nghiên cứu về “Đảng lãnh đạo đổimới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn theo định
hướng xã hội chủ nghĩa” Theo tác giả, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp vừa là khâu đột phá, vừa là lĩnh vực đổi mới thành công nhất trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp là khâu đột phá nhưng được tiến hành đồng bộ với đổi mới trong
Trang 18các ngành kinh tế khác Công trình đã nghiên cứu và trình bày quá trìnhhoàn thiện chủ trương, đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nôngnghiệp và xây dựng nông thôn theo định hướng XHCN của Đảng Cộng sảnViệt Nam qua các giai đoạn 1981 – 1995 và 1996 – 2006 Giai đoạn 1981đến 1993 được tác giả nhận xét là “Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp mới chỉ tập trung ở nội dung: giải phóng kinh t ế hộ khỏi sựtrói buộc của cơ chế cũ” [8; 249] Cuối cùng, trong luận án đã kết luận:
“Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình đổi mới kinh tế nói
chung, nông nghiệp, nông thôn nói riêng là rất to lớn ”.
Luận án Tiến sĩ “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996 – 2006)” (2011) của Đặng
Kim Oanh đã khẳng định Đại hội Đảng VI (12 – 1986) nêu lên những nộidung quan trọng trong chính sách phát triển nông nghiệp như thực hiệnchính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp; đổi mới chính sáchđất đai; phát triển kinh tế hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản cho xuấtkhẩu, từng bước cải thiện đời sống nông dân và xây dựng nông thôn mới.Công trình đã tập hợp và phân tích khá sâu sắc các nghị quyết của Đảngliên quan tới vấn đề đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn giai đoạn từ 1986 đến2006
Bên cạnh đó, tác giả Lê Quốc Sử trong “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI của thời đại kinh tế tri thức” (2001) đã nghiên cứu đường lối, chủ trương và chính sách đối với
nông nghiệp của Đảng từ năm 1975 đến năm 2001 và giới thiệu khá toàn
Trang 19diện về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH trên cả phương diện lý luận và thực tiễn trong nước.
Tác phẩm “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong q uá
trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại ” (2010) của Nguyễn Danh
Sơn đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của nông nghiệp, nôngdân, nông thôn Việt Nam trong những năm đổi mới Công trình đã phântích và làm rõ những đột phá lý luận của Đảng trong việc chuyển từ cơ chế
quản lý nông nghiệp cũ sang cơ chế mới Công trình đã nhận định: “Cơ chế
thị trường và thể chế thị trường là phương tiên hiệu quả nhất để phá vỡ kết cấu hiện vật của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống ” [87; 30] Để phát
triển bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn, theo tác giả, cần thiếtphải phát triển KTTT định hướng XHCN, giải quyết vấn đề đất đai, pháttriển giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ và phát huy dân chủ…
Từ nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển đườn g lối của Đảng vềTam nông qua các kỳ Đại hội trong thời kỳ đổi mới, công trình đã đưa ramột số kết luận quan trọng Nhận thức của Đảng đã có sự đổi mới Môitrường cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn được xác địnhchuyển từ cơ chế “khoán” sang cơ chế kinh doanh và hội nhập với thị
trường chung, trong đó “phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [87; 177].
Công trình “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” (1996) của Nguyễn Văn Bích,
Chu Tiến Giang lại nghiên cứu về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và sựtác động tác động của nó tới nông nghiệp và hoạt động sản xuất của nô ngdân Tác phẩm đề cập tới vai trò của chính phủ và chính sách kinh tế đối
Trang 20với nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, nghiên cứu hệ thống chính sáchphát triển nông nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới và ảnh hưởng của chínhsách kinh tế đối với một số lĩnh vực cơ b ản.
Các công trình kể trên đã phân tích quá trình đổi mới tư duy của
Đảng về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và tác động của đường lối đó tới việc phát huy vai trò nông dân và phát triển kinh tế nông nghiệp Có thể
khẳng định, quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chếquản lý kinh tế nông nghiệp nói riêng đã diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ đổimới, góp phần phát huy vai trò của giai cấp nông dân Qua nghiên cứu, tácgiả luận án đã nhận thấy, những quan điểm của V.I.Lênin về phát huy vaitrò nông dân trong NEP đã được Đảng ta nghiên cứu và vận dụng một cáchsáng tạo trong bối cảnh của Việt Nam
* Về đường lối gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp
Xuất phát từ thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội đất nước và do tầmquan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông thôn nên ngay từ khi đổi mới,Đảng ta đã chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp
Sự gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp thể hiện rõ nét thông quađường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới ởnước ta Có thể kể tên nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này
Có thể kể tới “Triết lý phát triển quan hệ công nghiệp - nông nghiệp,
thành thị - nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” (2001) của tác giả Lê Cao Đoàn, “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam – con đường và bước đi” (2006) của
Nguyễn Kế Tuấn chủ biên, “Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (tập I, II) (1998), Hội Khoa
học kinh tế Việt Nam, “Sách chuyên khảo công nghiệp hoá nông thôn thời
Trang 21kỳ cải cách và mở cửa” Bùi Văn Hưng (2006)… Các công trình đã phân
tích đường lối của Đảng và chỉ ra mối quan hệ tất yếu giữa công nghiệp vànông nghiệp, thành thị và nông thôn trong quá trình CNH, HĐH nói chung,
ở Việt Nam nói riêng
Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Vũ Thị Thoa về “Phát triển công nghiệp
nông thôn ở đồng bằng sông Hồng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” (1998) đã làm rõ chủ trương của Đảng về phát
triển công nghiệp nông thôn, vai trò và mối quan hệ của công nghiệp nôngthôn với sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình CNH, HĐH nông nghiệpnông thôn
Tác phẩm “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam” (2002) của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương đã
khái quát quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn từ Đại hội VI đến Đại hội IX, từ đó khẳng
định “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là chủ trương
lớn của Đảng ta, đồng thời là một trong những nhiệm vụ quan trong hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ” [5; 3].
Trong “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỉ
XX và một số định hướng đến năm 2010” (2002) của Trần Ngọc Bút, tác
giả đã tập hợp và phân tích một số Nghị quyết về phát triển công nghiệp vàngành nghề nông thôn như Nghị quyết 10/NQ – TW ngày 5-4-1998 của BộChính trị, Nghị quyết 05/NQ – HNTW ngày 10-6-1993 và một số chínhsách của Nhà nước trên lĩnh vực này giai đoạn sau đổi mới
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
trong thời kỳ đổi mới” (2007) của Lê Quang Phi đã phân tích sự lãnh đạo
của Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
Trang 22nông thôn trong những năm 1996 – 2006 và một số kinh nghiệm Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài ra, còn phải kể tới công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam – Con đường và bước đi” (2006) của
Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên), được hình thành trên cơ sở k ết quả đề tài khoa
học “Con đường, bước đi và các giải pháp chiến lược để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ” mã số KX 02 – 07
thuộc Chương trình khoa học cấp Nhà nước “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam – Con đường và bước đi” mã số
KX – 02 Thông qua những lý giải có tính chất tổng quát về con đường,bước đi và các giải pháp thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp vànông thôn ở nước ta, cuốn sách đã làm rõ hơn khái niệm, mục tiêu, nộidung, bước đi và các giải pháp thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn; xác định những nội dung cụ thể của CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn; xác định con đường ngắn nhất, cách đi nhanh nhất để đạtmục tiêu; xác định các chặng đường và các giải pháp c ần thực hiện
Chuyên đề “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra ” (2004) của Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh gồm nhiều bài viết của các tác giả.Đây là một chuyên đề sâu về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nội dungđược đề cập từ năm 1986 đến năm 2001, nêu rõ một số vấn đề chung vềCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, thực trạng và một số vấn đềđặt ra Công trình cũng đã hệ thống hóa quan điểm của Đảng về CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn
Có thể nhận thấy kể từ khi đổi mới, Đảng ta đã nhận thức rõ tính tấtyếu của việc gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp Các văn kiện của
Trang 23Đảng kể từ sau đổi mới đã khẳng định con đường phát triển của đất nước ta
là tiến hành CNH, HĐH đất nước mà trước hết là phải bắt đầu từ CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Đây là điều kiện quan trọng để phát huy vaitrò của nông dân trong giai đoạn hiện nay
* Quan điểm về đổi mới kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Để phát huy được vai trò nông dân trong đổi mới thì Đảng đã cóquan điểm mới về kinh tế hộ và KTHT trong nông nghiệp Trong giai đoạnđổi mới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Đặc biệt là
nó được xem xét nhiều trên phương diện kinh tế
Luận án Tiến sĩ “Kinh tế hộ và kinh tế hợp tác xã trong sự phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa” (1993) của Nguyễn Thanh Vân đã chỉ ra
việc tổ chức kinh tế tập thể theo kiểu xí nghiệp công nghiệp là nguyên nhângây ra sự bế tắc, khủng hoảng của nông nghiệp nước ta trước đổi mới Từ
đó, khẳng định “kinh tế hộ là hình thức kinh tế thực hiện tốt nhất lợi íchkinh tế đối với người lao động nông nghiệp” [106; 20] Luận án nghiên cứu
và khẳng định đường lối đổi mới của Đảng đã tác động mạnh mẽ tới sựphát triển kinh tế hộ, đồng thời, chỉ rõ kinh tế hộ là hình thức kinh tế nềntảng để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, là hình thức tốt nhất thựchiện lợi ích kinh tế người lao động và sự phát triển kinh tế nông hộ là cơ sởcủa quá trình xã hội hóa sản xuất nông nghiệp [106; 13]
Luận án Tiến sĩ “Xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân trong
kinh tế thị trường ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long ” (2000) của
Nguyễn Văn Chiển đã nghiên cứu và chỉ ra góc độ vận dụng quan điểm củachủ nghĩa Mác – Lênin về kinh tế hộ của Đảng ta, khái lược về sự pháttriển của kinh tế hộ thời kỳ trước và sau đổi mới Tác giả đã nhận định thực
Trang 24tiễn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, nhất là từ sau khi có Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị, kinh tế hộ nông dân được thừa nhận là đơn vịkinh tế tự chủ, nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã tạo cơ sở,điều kiện cần thiết cho kinh tế hộ nông dân chuyển sang sản xuất hàng hóa,làm biến đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tích cực Vai trò của nông dân
do vậy cũng được phát huy
Tác giả Hoàng Thị Thành trong Luận án Tiến sĩ “Kinh tế hộ nông
dân Việt Nam trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp ” (1995)
cũng đã phân tích quá trình hình thành và phát triển kinh tế hộ ở nước taqua các giai đoạn lịch sử và đi tới kết luận “Đường lối đổi mới c ủa Đảngkhẳng định “hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ” đồng thời đổi mớichế độ kinh tế hợp tác là hoàn toàn đúng đắn” [88; 12] Luận án đã đi sâuluận chứng cơ sở kinh tế của kinh tế hộ nông dân, từ đó rút ra kết luận: đểkinh tế hộ nông dân thực sự là đơn vị kinh tế tự chủ, hộ nông dân phải cóquyền làm chủ trên cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệphân phối Sự phát triển của kinh tế hộ không những không loại trừ màchính là điều kiện, tiền đề cho sự ra đời các hình thức hợp tác Luận án đã
đi vào nghiên cứu sự vận động và phát triển của kinh tế nông hộ qua cácgiai đoạn lịch sử
Còn tác giả Vũ Văn Yên trong Luận án Tiến sĩ “Kinh tế hộ nông dân
trong sự phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay ” (1994) đã
nghiên cứu chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề phát triển kinh tế hộ
và kinh tế hợp tác Tác giả khẳng định nền kinh tế hàng hóa đã tạo điềukiện cho kinh tế hộ phát triển Ngược lại, trong kinh tế hộ nông dân, chủthể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi ích nên đã tạo ra động lực kinh tế thúcđẩy nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa Từ nghiên cứu, tác
Trang 25giả đã chỉ ra vai trò cơ bản của kinh tế hộ nông dân trong nền kinh tế hànghóa nước ta là giúp khai thác tốt nhất tiềm năng lao động, đất đai, ngànhnghề để tạo ra nhiều nông sản hàng hóa cho xã hội; phát triển và mở rộngthị trường nông sản hàng hóa để phát triển côn g nghiệp thành thị và nôngthôn; thực hiện các chính sách xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thônmới Luận án cũng đề ra một số giải pháp quan trọng tiếp tục phát triểnkinh tế hộ như: Thực hiện tốt chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâudài cho hộ nông dân Đây là tiền đề quan trọng để đảm bảo quyền làm chủthực sự của người nông dân đối với ruộng đất; Khuyến khích và tạo điềukiện để các hộ nông dân được tự do lưu thông trao đổi nông sản hàng hóa;Đổi mới một cách căn bản các HTX nông nghiệp hiện có, tạo điều kiện vàmôi trường để các loại hình KTHT ra đời và phát triển, đảm bảo nguyên tắc
tự nguyện, cùng có lợi và xuất phát từ nhu cầu của các hộ nông dân; Đổimới các chính sách vĩ mô của Nhà nước như chính sách đầu tư, chính sáchtín dụng… Luận án cũng đã đưa ra một số kết luận quan trọng như : “Việckhẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ được giao quyền sửdụng ruộng đất lâu dài là một bước tiến quan trọng trong nhận thức lí luận
và chỉ đạo thực tiễn nông nghiệp của Đảng ta”
Kinh tế hộ và KTHT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Luận án Tiến
sĩ “Kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ” (2000) của
Nguyễn Thanh Hà đã nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về KTHT
và phân tích mối quan hệ giữa kinh tế hộ và KTHT Kinh tế hộ phát triểntới một giai đoạn nào đó nhất định phải chuyển sang hình thức hợp tác.KTHT không thủ tiêu kinh tế hộ nông dân mà trái lại, đó là hình thức thựchiện sự phát triển của kinh tế hộ nông dân, lấy sự tồn tại và phát triển củakinh tế hộ nông dân làm cơ sở [25; 31] Tác giả cũng khẳng định việc phát
Trang 26triển các hình thức KTHT, xây dựng các tổ chức KTHT không chỉ là độnglực thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, mà còn là biện pháp cơ bản đểkhắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường Khi phân tích làm thếnào người nông dân có được những kiến thức, kỹ năng và sẵn sàng thay đổithái độ của họ với việc tiếp nhận cái mới; làm thế nào để hộ nôn g dân tiếpnhận, ứng dụng khoa học kỹ thuật, có đủ vốn, đủ điều kiện vật chất để pháttriển sản xuất kinh doanh ra nhiều sản phẩm hàng hóa, thực sự trở thànhđơn vị sản xuất tự chủ - chủ thể tích cực của quá trình CNH, HĐH, luận án
đã cho rằng “cần phải phát triển và củng cố các tổ chức kinh tế hợp tác, tạonên sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ lẫn nhau, giúp giải quyết những khó khăn
mà từng hộ nông dân riêng lẻ không đủ sức để thực hiện” [ 25; 37] Côngtrình cũng trình bày kinh nghiệm về phát triển KTHT ở các nướ c trên thếgiới và ở các nước XHCN trước đây Khi nói về KTHT trong NEP củaV.I.Lênin, tác giả đã phân tích “NEP và những tư tưởng của V.I.Lênin vềhợp tác hóa đã chỉ ra biện chứng của quá trình phát triển: phục hồi, củng cố
và phát triển kinh tế tiểu nông, đồng thời mở ra khả năng thu hút, dẫn dắtquần chúng tiểu nông vào công cuộc xây dựng CNXH, đó chính là conđường hợp tác hóa tự nguyện vì lợi ích của người nông dân, bằng lợi ích đểgắn bó họ với chế độ, với lợi ích xã hội, chứ không phải bằng con đườngtập thể hóa cưỡng bức phi kinh tế” [25; 50] Luận án cũng đã đánh giá vềsai lầm, hạn chế trong phong trào hợp tác hóa ở các nước XHCN trước đây,cho rằng: “Hợp tác hóa không tiến hành phù hợp với quá trình xã hội hóasản xuất, không phù hợp với tiến trình tự nhiên mà chuyển trực tiếp từ tưhữu sang công hữu, cá thể sang tập thể, phân tán sang tập trung ” và “chưavận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng của Mác, Ăngghen và Lênin vềkinh tế hợp tác” [25; 57] Luận án cũng cho ta thấy cái nhìn tổng thể về quá
Trang 27trình phát triển KTHT ở nước ta qua các thời kỳ, chủ trương của Đảng trong phát triển KTHT và những triển vọng của nó.
Công trình “Sở hữu tập thể và kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ” của Chử Văn Lâm (Chủ
biên) đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn trên thế giới cũng nhưthực trạng phát triển sở hữu tập thể và kinh tế tập thể trong điều kiện nềnKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Định hướng và các khuyến nghịchính sách phát triển sở hữu tập thể và kinh tế hợp tác trong thời gian tới ởViệt Nam
Ngoài ra còn phải kể tới bài “Hợp tác xã chuyên ngành - Mô hình tổ
chức sản xuất phù hợp cho nông dân hội nhập kinh tế thị trường ” của Đỗ
Hùng và Thanh Tùng trên Tạp chí Đông Nam Á Số 12, 2005
Qua các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy, kinh tế hộ vàKTHT đóng vai trò quan trọng trọng việc phát huy vai trò nông dân và pháttriển kinh tế nông nghiệp Đường lối đúng đắn của Đảng trong phát triểnkinh tế hộ, KTHT sẽ góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn, phát huy vai trò tự chủ, năng động của nông dântrong nền KTTT Xu hướng tất yếu của một nền sản xuất nông nghiệp bềnvững, hiệu quả là phải vươn lên phát triển KTHT Các nghiên cứu cũng chothấy quá trình nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế hộ và KTHT trongviệc phát huy vai trò nông dân được diễn ra gắn liền với quá trình đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu và làm rõ đường lối trên của Đảng đã thể hiện sự vận dụng
và phát triển sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về phát triển KTHT trên một số khía cạnh nhất định.
Trang 281.2.3 Các công trình nghiên cứu về kết quả quá trình phát huy vai trò nông dân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Khẳng định vai trò to lớn của nông nghiệp, nông thôn cũng đồng thời
là khẳng định vai trò to lớn của nông dân trong xã hội Nhiều công trình đã
nghiên cứu về thành quả đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Theo tác giả luận án, có thể coi đây là kết quả sự lãnh đạo
của Đảng trong công tác vận động, phát huy vai trò nông dân Tiêu biểu có thể kể tới “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 -2002)” (2003) của Nguyễn Sinh Các, “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20 năm
đổi mới và phát triển” (2006) của Đặng Kim Sơn Nhìn chung, các công
trình đã cho thấy bức tranh tổng quát quá trình phát triển kinh tế nôngnghiệp nước ta từ trước đổi mới đến nay, trình bày quá trình đổi mới chínhsách, thể chế và cơ cấu nền nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Các côngtrình cũng đồng thời khái quát những thành tựu, hạn chế và thách thứctrong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ khi đổi mới đến
nay, qua đó, góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí và những đóng góp của
nông dân nước ta qua từng thời kỳ.
Công trình “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và
mai sau” (2008) của Đặng Kim Sơn đã nêu bật được thực trạng các vấn đề
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng nhưnhững khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Công trình đã phân tích khá sâu
sắc thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam từ nhiều góc độ như góc độ lao
động: việc làm, di cư; góc độ đất đai: đặc điểm, sử dụng, đầu tư và thị
trường; sử dụng vật tư sản xuất nông nghiệp Đó là biểu hiện kết quả của
quá trình thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vựcTam nông
Trang 29Cũng trên khía cạnh đánh giá thành tựu nông nghiệp, định kỳ 5 nămmột lần, Tổng cục Thống kê lại tiến hành tổng điều tra trên phạm vi cả
nước về nông nghiệp, nông thôn, thủy sản và xuất bản công trình “Kết quả
tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản ” Hiện đã có 4 lần tổng
điều tra vào các năm 1994, 2001, 2006, 2011 Đây là những công trình điềutra, nghiên cứu khá toàn diện thành tựu nông - lâm - ngư nghiệp trên phạm
vi cả nước, cung cấp những số liệu quan trọng giúp cho tác giả luận án cócái nhìn đầy đủ về thực trạng nông nghiệp Việt Nam qua từng giai đoạn
Một số công trình đã đi vào nghiên cứu thực trạng nông nghiệp, nông
dân, nông thôn trên một số khía cạnh phát triển làng nghề truyền thống,
vấn đề việc làm, sinh kế ở nông thôn… như Luận án Tiến sĩ kinh tế của
Trần Minh Yến về “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt
Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” (2003), “Việc làm của nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong quá t rình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (2007) của Bùi Thị Ngọc Lan (Chủ biên), “Những nhân tố cơ bản tác động đến việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng - Thực trạng, triển vọng và một số giải pháp cho nông dân cùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2015”…
Như vậy, các công trình trên đã trình bày những kết quả đạt đượctrong lĩnh vực nông nghiệp, phát huy vai trò nông dân Từ những thành tựutrong lĩnh vực nông nghiệp, tác giả luận án có cơ sở để khẳng định vai trò,
sự đóng góp to lớn của giai cấp nông dân - chủ thể của hoạt động sản xuấtnông nghiệp - cũng như vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo và xây dựnggiai cấp nông dân trong giai đoạn đổi mới đất nước
1.3 Công trình nghiên cứu về kinh nghiệm và giải pháp tiếp tục phát huy vai trò nông dân
Trang 301.3.1 Kinh nghiệm của các nước trong việc phát triển nông nghiệp, xây dựng giai cấp nông dân
Việt Nam là nước đang phát triển và chúng ta đang trong quá trìnhchuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, từng bướchội nhập khu vực và thế giới Đây là quá trình tất yếu mà hầu hết các nướccông nghiệp phát triển đã phải trải qua Sang thế kỷ XXI, thế giới đã bước vàonền kinh tế tri thức, hội nhập sâu rộng Đồng thời, để ứng phó với với các vấn
đề toàn cầu, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ô nhiễmmôi trường, nhiều nước trên thế giới đã cam kết thực hiện “phát triển xanh”.Nông nghiệp, nông dân Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng rấtnhiều thách thức Điều đó đòi hỏi Đảng phải có những nhận thức mới phù hợpvới tình hình mới Do đó, bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sángtạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì việc nghiên cứu, vận dụng kinhnghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới cũng có vai trò quan trọng trongviệc định hướng phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta Điều
đó còn góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc phát triển chủ nghĩa Mác –Lênin
Có nhiều tác phẩm, bài viết giới thiệu kinh nghiệm phát huy vai trònông dân, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững của các nước trong
khu vực và trên thế giới như: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn ở các nước và Việt Nam” (2000) của Benedict J Tria Kerrkvliet ,
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam và một số nước” (2000) của Michael R Dove , “Các chính sách huy động và phân phối nguồn lực cho
phát triển kinh tế của Nhật Bản: Sách tham khảo” (1996) do Nguyễn Minh Tú
(Chủ biên), “Phát triển nông thôn bền vững: Những vấn đề lý luận và kinh
nghiệm thế giới” (2008) của Trần Ngọc Ngoạn (Chủ biên)…
Trang 31Các công trình đã phân tích những vấn đề về nông nghiệp, nông dân,nông thôn một số nước trên thế giới; trình bày kinh nghiệm trong việc quản
lý, huy động và sử dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế cũng như kinhnghiệm quốc tế trong việc ứng dụng các phương pháp nhằm phát triển bềnvững nông thôn
Đáng chú ý là công trình “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá” (2008) của Đặng Kim Sơn.
Công trình giới thiệu những kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông dân,nông thôn trong quá trình CNH như: phát triển nông nghiệp, chính sách đầu
tư, quy hoạch sản xuất và sử dụng đất đai, chuyển dịch cơ cấu lao động Công trình đã phân tích chính sách đất đai của một số nước như Pháp, HàLan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… và ảnh hưởng của chínhsách đất đai tới việc phát huy vai trò nông dân Chính sách hạn điền, hạn chếtích tụ ruộng đất của một số quốc gia có thể giúp đảm bảo công bằng xã hội,thực hiện người cày có ruộng Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ đã hạn chếphát triển cơ giới hóa và áp dụng công nghệ mới, do đó, làm giảm khả năngcạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường Kinh nghiệm Hàn Quốc
cho thấy, chỉ có tạo điều kiện cho nông dân tự đứng lên, tự tổ chức lại dùng
cộng đồng làng xã làm lực lượng thì mới có thể thay đổi vận mệnh nông thôn
[85; 55] Công trình cũng coi sự gắn kết thành công giữa công nghiệp và
nông nghiệp là thành công kỳ diệu nhất của quá trình CNH của Nhật Bản và
Đài Loan Trong đó, công nghiệp luôn phục vụ nông nghiệp phát triển vàngược lại, nông nghiệp trở thành thị trường lớn để tích lũy cho công nghiệp.Trong quá trình CNH, cần tạo điều kiện cho nông dân sản xuất giỏi có thể tíchlũy phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuấthàng hóa lớn Người làm nghề nông phải tự tổ chức thành đội ngũ chính trị tự
Trang 32giác trong nông hội Tổ chức các nghiệp đoàn nhằm bảo vệ quyền lợi chonông dân [85; 125, 126] Một nhân tố thành công cho nông nghiệp, nông dân,
nông thôn của một số nền kinh tế là “vận dụng các động lực của quy luật kinh
tế thị trường, tạo nên sự đồng thuận về lợi ích của mọi đối tượng trong nền kinh tế” [85; 141] Sau khi phân tích thực trạng nông nghiệp Việt Nam và
tổng kết kinh nghiệm các nước trên thế giới, công trình đã đề xuất những thayđổi lớn cần cân nhắc về chiến lược, trong số đó nhấn mạnh:
Kiên quyết thực hiện liên kết công – nông; Mạnh dạn thay đổi chính sách đất đai; Phát huy dân chủ cơ sở; Cải tổ các tổ chức của nông dân [85;196]
Về kinh nghiệm quốc tế, còn có một số công trình tiêu biểu như “Một
số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam”
(2000) do Nguyễn Ngọc, Đỗ Đức sưu tầm và biên soạn, “Chiến lược công
nghiệp hoá lan toả - Chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp” (2005) của Phạm Quang Diệu, “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Đài Loan” (2006) của Nguyễn Đình Liêm; “Chính sách Tam nông mới ở Trung Quốc” (2008) của Đào Thế Tuấn…
Tác giả Đỗ Đức Quân trong “Một số giải pháp nhằm phát triển bền
vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp” (2010) lại chỉ ra kinh nghiệm của Nhật Bản
trong phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững là phải thiết kế mạnglưới liên kết công nghiệp – nông nghiệp Kinh nghiệm thành công của HànQuốc lại cho thấy cần phát triển phong trào HTX và mạng lưới doanhnghiệp nông thôn, trong đó, đã chú trọng phát triển các cơ sở công nghiệptrong lòng nông thôn cung cấp dịch vụ cho phát triển nông thôn như kỹ
Trang 33thuật nông nghiệp, hậu cần nông nghiệp, chế biến nông sản, kỹ thuật cơ khí nông nghiệp,… [77; 57].
Công trình “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn – Kinh
nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” (2009) do Hội đồng Lý luận
Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp thực hiện Nộidung cuốn sách bao gồm các tham luận của các nhà khoa học nghiên cứu lýluận và thực tiễn, những người làm công tác lý luận, tư tưởng của ĐảngCộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc Cuốn sách đã cung cấpthêm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, những ngườ i tham giahoạch định chính sách, những hoạt động thực tiễn liên quan đến vấn đềnông nghiệp, nông dân và nông thôn
Các công trình nghiên cứu kể trên đã giúp tác giả nắm được phần nàonhững chính sách nông nghiệp, nông dân mà nhiều nước đã và đang triểnkhai thực hiện; kinh nghiệm về phát huy vai trò nông dân và các thiết chế
hỗ trợ nông dân một cách hiệu quả Tuy nhiên, việc lựa chọn chính sách,
mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng còn nhiều điều phải bàn Kếthừa kinh nghiệm các nước trên thế giới và trên cơ sở những giải phápmang tính định hướng mà V.I.Lênin đề ra trong giai đoạn NEP, tác giả luận
án đã mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải pháp tiếp tục phát
huy vai trò nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp
hơn với thực trạng và yêu cầu phát triển của nông dân cũng như đáp ứngyêu cầu hội nhập, phát triển bền vững
1.3.2 Một số công trình nghiên cứu về kinh nghiệm trong nước
Một số công trình tiêu biểu như “Công tác vận động nông dân trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (1999) của Hội Nông dân Việt
Nam, “Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay ”
Trang 34(2000) của Ban Dân vận Trung ương, Luận án Tiến sĩ khoa học Lịch sử của
Lê Kim Việt “Công tác vân động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” (2002), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay ”
(2010) của Ngô Huy Tiếp Các công trình trên đã đi vào nghiên cứu vai tròcủa các thiết chế như Đảng, Nhà nước, Hội Nông dân trong công tác vậnđộng, xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp nông dân thời kỳ đổi mới,
từ đó, đề xuất các biện pháp, cơ chế, chính sách, nhằm khơi dậy tiềm năngcủa nông dân với tư cách là một nguồn lực quan trọng trong giai đoạn đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Đáng chú ý còn có cuốn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020” (2012) của Nguyễn Thị
Tố Quyên (Chủ biên) Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu lý thuyết,
mô hình thực tiễn và kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông dân, nôngthôn trên thế giới Từ đó, đánh giá khách quan thực trạng của Việt Nam và đềxuất một số chính sách nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trongnông nghiệp, nông dân, nông thôn Tác giả chỉ ra trên con đường phát triển vàtrong bối cảnh mới, khó khăn lớn nhất của người nông dân là khắc phụcnhược điểm của bản thân họ, của chính nền kinh tế tiểu nông Một bộ phậnnông dân không có kiến thức hoặc không chịu trau dồi kiến thức để thích hợpvới nông nghiệp công nghệ cao sẽ bị đào thải Cũng trong quá trình hội nhập,cuộc cạnh tranh giữa những nông dân sản xuất nhỏ nói chung và hộ nông dânnói riêng ở Việt Nam với các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại, quy môlớn được tổ chức chặt chẽ và trợ cấp dồi dào cũng như bảo hộ nông nghiệp ở
mức độ cao là không cân sức Do đó, tác giả đề xuất, “tạo mọi điều kiện và cố
gắng thúc đẩy một cách hợp quy luật sự chuyển biến của hộ nông dân thành
Trang 35các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả” [79; 249] Bộ phận
nông dân cần được hỗ trợ đắc lực với chương trình và lộ trình hỗ trợ dài hơi,bài bản và căn cơ hơn để họ không chỉ chống chọi được mà còn mạnh dầnlên, thích ứng với những điều kiện, môi trường cạnh tranh mới toàn cầu Và
“để hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân và nông thôn thì vấn đề quan trọng là tất
cả hệ thống chính sách phải hướng tới đảm bảo lợi ích cho nông dân (chủ thể trong nông nghiệp, nông thôn), làm sao cho họ tự mạnh lên để trở thành người chủ thực sự” [79; 251] Vì thế, thái độ của Nhà nước và xã hội đối với
họ rất quan trọng Cần phải khích lệ tinh thần của người nông dân trở nênmạnh dạn và năng động hơn
Ngoài ra, tác giả cũng khẳng định: “muốn nông dân giàu, phải giảm bớt
số lượng nông dân”, do đó, CNH, HĐH sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu ngành
nghề, rút bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp.
Tác giả còn đề cập tới việc nâng cao năng lực của hệ thống chính
quyền nông thôn – phát triển dân chủ và xã hội pháp quyền ở nông thôn Đây
là sự giải phóng nông dân về mặt xã hội, đưa họ hội nhập vào một xã hội pháttriển hiện đại
“Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lí
mới, bước đi mới” (2013) của GS.TS Tô Xuân Dân (Đồng chủ biên) đã tập
hợp và phân tích đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về nôngnghiệp và xây dựng nông thôn mới ở nước ta, đồng thời, cũng chỉ ra môhình tổ chức mới, nguồn lực mới cho nông nghiệp, nông thôn mới ở nước
ta giai đoạn tiếp theo Cuốn sách đã nhấn mạnh: nông dân luôn là chủ thể
của quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn Từ đó , khẳng định chính
sách phù hợp với lòng dân là động lực quan trọng bậc nhất đối với việc
Trang 36thúc đẩy một lĩnh vực kinh tế to lớn và đa dạng như nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Theo các tác giả, nông dân là một đối tượng đang thay đổi rất nhanhchóng theo xu hướng giảm về số lượng, tăng về chất lượng; khả năng tiếpthu khoa học – kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ngày càng cao
hơn Bởi vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, phải có chương trình, kế hoạch
phù hợp để đưa nông dân giàu lên nhanh chóng, phải có biện pháp hữu hiệu để tổ chức lại không gian phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung, trước hết là tổ chức tốt đời sống vật chất – văn hóa của cộng đồng dân cư nông thôn.
Mặt khác, trong điều kiện mới, khi phát triển kinh tế hộ và kinh tếtrang trại, nông dân đóng vai trò là chủ thể của từng đơn vị sản xuất nông
nghiệp nên cần phải chủ động hội nhập, tìm cho mình hình thức tổ chức
sản xuất kinh doanh phù hợp như tham gia vào tiến trình đổi mới HTXnông nghiệp hiện nay và tiến tới hình thành các d oanh nghiệp nông nghiệphoặc cần tích cực, chủ động tham gia vào nhiều hình thức hợp tác, liên kết,liên doanh để vượt qua quy mô vốn có của kinh tế hộ gia đình/trang trại[15; 35]
Cũng trong công trình này, các tác giả đã chỉ rõ trong quá trình xâydựng nông thôn mới, chúng ta đang gặp phải hai mâu thuẫn lớn là: Mâuthuẫn giữa sản xuất nhỏ với thị trường lớn; mâu thuẫn giữa hiệu quả thấpvới rủi ro cao Cần có chính sách, biện pháp giải quyết tốt các mâu thuẫnnêu trên để thu hút doanh nghiệp về nông thôn, đó là cách tốt nhất để huyđộng nguồn lực và tạo ra cầu nối nông dân – doanh nghiệp – thị trường.Phải tạo cơ hội thế nào cho cư dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉsản xuất cho riêng mình, mà còn chia sẻ lợi ích, thành quả hoạt động sản
Trang 37xuất kinh doanh với cộng đồng Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần tiếp
tục hoàn thiện thể chế KTTT để làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn.
Ngoài ra, một số bài nghiên cứu quan trọng khác như “ Nông nghiệp
và nông dân Việt Nam phải làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế” (2008), Tạp chí Cộng sản, (785), Tr 60 – 64 của Võ Tòng Xuân, hay “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững”, Tạp chí Cộng sản (2008), (787), Tr 56 – 59 của Đào Thế Tuấn cũng
gợi mở cho tác giả luận án nhiều giải pháp phát huy vai trò nông dân tronggiai đoạn hội nhập, từ đó, đề xuất kinh nghiệm để Đảng ta tiếp tục phát huytốt hơn nữa vai trò nông dân trong giai đoạn hiện nay
Kết luận Chương 1
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy V.I.Lênin đánhgiá cao vai trò của nông dân và trong giai đoạn thực hiện NEP, nhiều chínhsách đã được thực hiện nhằm phát huy tốt vai trò này Qua đó, khẳng địnhquan điểm của V.I.Lênin về vai trò nông dân và việc phát huy vai trò nôngdân trong NEP là một hệ thống quan điểm toàn diện, khoa học, phong phú.Các công trình nghiên cứu cũng góp phần làm rõ đường lối đổi mới củaĐảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực nông nghiệp và lãnh đạo giai cấpnông dân đã phát huy tốt vai trò lực lượng này trong sự nghiệp đổi mới đấtnước Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống quan điểm của V.I.Lênin về việc phát huy vai trò nông dân trongNEP và sự vận dụng những quan điểm đó của Đảng Cộng sản Việt Namtrong giai đoạn đổi mới từ 1986 tới nay Trong luận án này, tác giả đãnghiên cứu ở góc độ đó
Trang 38Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NÔNG DÂN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI
2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò nông dân và tính tất yếu của việc phát huy vai trò nông dân trong NEP
2.1.1 Quan điểm của V.I.Lênin về đặc điểm và vai trò nông dân Nga đầu thế kỷ XX
* Một số đặc điểm của giai cấp nông dân Nga đầu thế kỷ XX
Sau cách mạng tháng Mười, nước Nga có cơ cấu giai cấp tương đốiphức tạp với nhiều giai tầng khác nhau Trong số đó, giai cấp nông dânchiếm đại đa số dân cư Nga và có những đặc điểm rất riêng biệt Do vậy,
phải có những chính sách phù hợp để giải phóng tiềm năng của nguồn lực này Theo V.I.Lênin, giai cấp nông dân Nga thời kỳ này có những đặc điểm
chủ yếu sau:
Thứ nhất, nông dân Nga có cơ cấu không thuần nhất, bị phân hóa
thành nhiều nhóm khác nhau V.I.Lênin gọi họ là những người nửa vô sản hay những nông dân có ít ruộng, tầng lớp tiểu nông và trung nông Họ khác
nhau về sở hữu đối với tư liệu sản xuất Tuy nhiên, giữa họ đều có điểmchung: đó là những người tư hữu và sở hữu lương thực, ruộng đất
Điểm đáng lưu ý là cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế thì cơ cấugiai cấp nông dân luôn có sự biến đổi mạnh mẽ Sau cách mạng, nông dânđược giải phóng, song, chính điều kiện đó lại giúp cho họ thiết lập cơ sở đểtrở thành những người tiểu chủ Người viết: “những điều kiện sinh hoạt kinh
tế và chính trị của họ đã không làm cho họ gần nhau, mà lại còn làm cho họ
xa nhau, rời nhau, biến họ thành hàng triệu người tiểu sở hữu riêng lẻ” [57;
161
Trang 39Trong số các thành phần của nông dân, đáng chú ý nhất là nhóm trungnông Trong xã hội cũ, nhóm này chiếm số ít nhưng khi chế độ tư hữu bị xoá
bỏ thì họ trở nên rất đông đảo Đây là bộ phận quan trọng bậc nhất trong cơcấu giai cấp nông dân nước Nga kể cả trước và sau cách mạng và tầng lớp nàytác động mạnh tới cơ cấu kinh tế nông thôn nước Nga Trong Diễn văn tại Đạihội công nhân vận tải toàn Nga ngày 27 tháng 3 năm 1921, Người cho rằngnếu nông dân lật đổ sự thống trị của địa chủ càng mau chóng bao nhiêu, họđặt được cơ sở sản xuất của họ trên mảnh đất đã trở về tay nhân dân càng mauchóng bao nhiêu, họ trấn áp một thiểu số cu-lắc càng cương quyết bao nhiêu,thì bản thân họ cũng biến thành những người tiểu chủ càng mau chóng bấynhiêu Người chỉ ra rằng số người cày cấy nhiều ruộng đất và nông dân không
có ruộng đất đã giảm đi, số trung nông tăng thêm Và điều đó đã làm chonông thôn nước Nga trở thành “tiểu tư sản hơn”
Như vậy, cùng với sự biến đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội thì giaicấp nông dân Nga sẽ ngày càng phát triển Nắm được cơ cấu và sự phân hoácủa nông dân còn là một yếu tố quan trọng giúp V.I.Lênin và Đảng Cộng sảnNga đưa ra được những chính sách đúng đắn góp phần vào thắng lợi của sựnghiệp cách mạng XHCN
Thứ hai, nông dân vừa là người lao động, vừa là người tư hữu nhỏ
V.I.Lênin khẳng định: “Giai cấp đó, một mặt là người tư hữu, mặt khác lại
là người lao động Nó không bóc lột những người lao động khác” 43;
237
Nông dân trước hết phải là những người lao động Trong xã hội tồntại giai cấp bóc lột, họ cũng chịu sự chén ép, áp bức của các giai cấp thốngtrị, do vậy, tất cả họ đều thù ghét ách bóc lột tư bản đó
Trang 40Mặt khác, bản thân nông dân cũng là những người tư hữu, có sở hữuriêng lẻ Họ là những người đầu cơ, là những người sản xuất hàng hoá nhỏ.V.I.Lênin chỉ rõ: “Nông dân nửa là người lao động, nửa là người đầu cơ.Nông dân là người lao động, vì anh ta kiếm miếng ăn bằng mồ hôi và máucủa anh ta, vì anh ta bị địa chủ, các nhà tư bản và thương nhân bóc lột.Nông dân là người đầu cơ, vì anh ta bán lúa mì, một sản phẩm cần thiết màkhi người ta thiếu nó thì người ta có thể đem toàn bộ tài sản ra để đổi” 44;
435 và chính vì lẽ đó mà họ được coi là một giai cấp đặc biệt Sở dĩ cótình trạng đầu cơ và buôn bán như vậy vì họ có quyền tư hữu đối với tưliệu sản xuất Nhưng liệu những đặc điểm đó có thay đổi hay khôn g? TrongDiễn văn tại Đại hội công nhân vận tải toàn Nga tháng 3 năm 1921,V.I.Lênin cho rằng cách mạng XHCN sẽ giải phóng thân phận người nôngdân khỏi ách bị áp bức, bóc lột nhưng có một điều chắc chắn rằng giai cấpnày là giai cấp hợp thành tuyệt đại đa số dân cư nước Nga Trước cáchmạng, họ chủ yếu là những người tiểu sở hữu và tiểu nông Còn sau cáchmạng, sự lật đổ giai cấp thống trị ở nông thôn càng diễn ra nhanh bao nhiêuthì bản thân họ cũng biến thành những người tiểu chủ càng mau chóng bấynhiêu
Như vậy, những thuộc tính đó không hề thay đổi, thậm chí có thểngày càng rõ ràng hơn trong điều kiện kinh tế - xã hội mới Giai cấp vô sản
phải nắm được điều này để có thái độ phù hợp với nông dân Sau này, NEP
ra đời đã giải quyết mâu thuẫn giữa đặc điểm vừa là người lao động lại vừa là người tư hữu của nông dân Việc giải quyết mâu thuẫn đó tạo ra
động lực kinh tế quan trọng để nông dân phát huy vai trò chủ thể của mình
Thứ ba, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, phải đi theo
giai cấp vô sản, ủng hộ cách mạng XHCN