LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng, luận văn Thạc sĩ với đề tài “Vận dụng mô hình CAMELS trong phân tích hi ệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thương mại c ổ phần Sài Gòn trước và sau
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN HOÀNG QUỲNH THI
VẬN DỤNG MÔ HÌNH CAMELS TRONG PHÂN TÍCH
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
TRƯỚC VÀ SAU SÁP NHẬP
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.HỒ THỊ HƯƠNG LAN
HUẾ – NĂM 2018
Comment [Office1]: ?
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn Thạc sĩ với đề tài “Vận dụng mô hình CAMELS trong phân tích hi ệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thương mại
c ổ phần Sài Gòn trước và sau sáp nhập” là kết quả quá trình làm việc và nghiên cứu
của chính cá nhân tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hồ Thị Hương Lan.Những số liệu và những kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực Nộidung của luận văn này chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.Những nội dung tham khảo đều đã được trích dẫn rõ ràng, ghi rõ tác giả, nguồn gốc
Huế, ngày 16 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Trần Hoàng Quỳnh Thi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Hồ Thị Hương Lan
đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các Giảng viêncủa Trường Đại học Kinh tế Huế đã truyền đạt kiến thức, hỗ trợ tôi trong suốt thờigian học tập vừa qua
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đãluôn ở bên cạnh để chia sẻ những khó khăn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ,
cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Do còn hạn chế về thời gian thực hiện, kiến thức cũng như kinh nghiệm củabản thân tác giả nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rấtmong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo để luận văn này
được hoàn thiện tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Hoàng Quỳnh Thi
Trang 4NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
SCB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 4
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, MÔ HÌNH CAMELS VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1Một số vấn đề lý luận về sáp nhập, hợp nhất, mô hình CAMELS và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 5
1.1.1Sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại 5
1.1.2Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7
1.1.3Đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại theo mô hình CAMELS 10
1.2Kinh nghiệm vận dụng mô hình CAMELS trong đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hàng 20
CHƯƠNG 2:HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP SÀI GÒN TRƯỚC VÀ SAU SÁP NHẬP 22
2.1.Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn 22
2.1.1 Giới thiệu tổng quát 22
2.1.2 Lịch sử hình hành và phát triển 22
2.1.3 Lịch sử các Ngân hàng thành viên trước khi sáp nhập 22
2.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ chính 23
2.1.5 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động 24
Trang 62.2.Vận dụng mô hình CAMELS trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng
thương mại CP Sài Gòn trước và sau sáp nhập 25
2.2.1 Chỉ tiêu C (Capital) – Khả năng an toàn vốn 25
2.2.2 Chỉ tiêu A (Asset) – Chất lượng tài sản 33
2.2.3 Chỉ tiêu M (Management) – Năng lực quản lý 39
2.2.4 Chỉ tiêu E (Earnings) – Khả năng sinh lời 46
2.2.5 Chỉ tiêu L (Liquidity) – Khả năng thanh khoản 51
2.2.6 Chỉ tiêu S (Sensitivity to market risk) – Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường 53
2.3 Những thành tựu và hạn chế trong hoạt động của NHTMCP Sài Gòn trong thời gian qua 57
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 57
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN .64
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
3.1 Kết luận 71
3.2 Một số kiến nghị 72
3.2.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 72
3.2.2 Đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng tài sản và nguồn vốn của SCB giai đoạn trước và sau sáp nhập 26
Bảng 2.2 Cơ cấu huy động vốn của SCB giai đoạn 2008 – 2016 30
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu an toàn vốn của SCB giai đoạn 2008 – 2016 32
Bảng 2.4 Cơ cấu tài sản của SCB giai đoạn 2008 – 2016 33
Bảng 2.5 Chi phí hoạt động của SCB giai đoạn 2008 – 2016 39
Bảng 2.6 Cơ cấu nhân lực của SCB năm 2016 42
Bảng 2.7 Tình hình đào tạo ở SCB giai đoạn 2015 – 2016 42
Bảng 2.8 Lợi nhuận trước thuế của SCB giai đoạn 2008 – 2016 48
Bảng 2.10 Các chỉ tiêu về khả năng thanh khoản của SCB giai đoạn 2008 – 2016 51 Bảng 2.11 Độ nhạy đối với lãi suất 54
Bảng 2.12 Ảnh hưởng do định lại lãi suất của các hạng mục tài sản và nợ phải trả theo thời gian năm 2016 55
Bảng 2.13 Phân loại tài sản và công nợ theo loại tiền tệ đã được quy đổi sang VNĐ vào năm 2016 56
Trang 8PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, các ngân hàng
thương mại nhận thức được vai trò của mình chính là nhân tố không thể thiếu, là nơiđáp ứng các nhu cầu về vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế nên bản thân mỗingân hàng đều đặt ra cho mình mục tiêu là lợi nhuận, tăng trưởng và phát triển một
cách bền vững Nhưng để có được những kết quả ấy không phải là dễ dàng, nhất làtrong hoàn cảnh hiện nay khi tồn tại giữa một thị trường chứa đựng nhiều rủi ro.Không những vậy, các ngân hàng thương mại không chỉ phải cạnh tranh với những
ngân hàng khác trong nước mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài có
tiềm lực rất mạnh và đặc biệt là còn phải cạnh tranh với các tổ chức phi ngân hàng
khác như quỹ tài chính, công ty bảo hiểm, bưu điện … Đối với các ngân hàng vững
mạnh, việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra là một thử thách không hề dễ dàng gì Đốivới các ngân hàng vừa trải qua công cuộc hợp nhất, sáp nhập thì vấn đề này lại càng làmột thách thức lớn hơn Vì vậy việc thường xuyên phân tích để tự đánh giá hiệu quảhoạt động kinh doanh của ngân hàng, sẽ giúp nhà quản trị có cái nhìn toàn diện vềngân hàng mình trên tất cả mọi khía cạnh Việc phân tích hoạt động này giúp ngânhàng tự nhìn nhận lại mình và đưa ra các biện pháp để khắc phục nhược điểm cũng
như phát huy ưu điểm bản thân Thông qua đó phục vụ tốt cho công tác quản trị và dự
báo rủi ro một cách hiệu quả hơn
Một trong những công cụ giúp các nhà quản trị thực hiện được việc phân tíchhoạt động kinh doanh chính là mô hình CAMELS Mô hình này được xây dựng tại Mỹ
từ những năm 1979 để đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngânhàng Bằng việc phân tích hoạt động kinh doanh theo các chỉ tiêu của CAMELS, cácnhà quản trị, các nhà đầu tư, các chuyên gia tư vấn có thể nắm bắt được tình trạng củangân hàng, góp phần đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp Điểm mạnh của môhình CAMELS là nó được tổng hợp nhiều yếu tố đo lường như an toàn vốn, chất lượngtài sản, khả năng quản lý, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản và độ nhạy Ngoài
ra, với hệ thống thang điểm của mình, CAMELS còn giúp cho nhà quản trị đánh giá
Trang 9được chính xác tình trạng thực tế của ngân hàng cũng như cảnh báo được các trạng
thái nguy hiểm dẫn đến nguy cơ phá sản
Đối với một ngân hàng vừa thực hiện việc sáp nhập chưa lâu như Ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) thì việc phân tích hoạt động kinh doanh trước và
sau khi sáp nhập lại càng có vai trò hết sức quan trọng Đây là một yêu cầu cấp thiết vì
qua đó giúp xác định những thuận lợi và khó khăn mà việc sáp nhập đem lại, đánh giá
mức độ lành mạnh của nội tại ngân hàng, cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàngtrên thị trường Nhận thức được tính hiệu quả của mô hình CAMELS và tầm quantrọng của việc phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần SàiGòn, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài“Vận dụng mô hình CAMELS trong phân tích
hi ệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn trước và sau sáp nh ập” để nghiên cứu cho bài luận văn của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Trên cơ sở phân tích và so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại cổ phần Sài Gòn trước và sau sáp nhập thông qua các chỉ tiêu của mô
hình CAMELS, nghiên cứu hướng đến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian tới
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn trước và sau khi sáp nhập
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Vận dụng mô hình CAMELS trong đánh giá hiệu quả hoạt động
kinh doanh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn trước và sau khi sáp nhập
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phẩn Sài Gòn
- Về thời gian:Nghiên cứu đánh giá trước sáp nhập (2008-2010) và sau sáp nhập
(2012-2016) Do trong năm 2011, các ngân hàng tiến hành sáp nhập nên số liệu không
tròn năm tài chính Vì vậy, trong bài nghiên cứu, phần phân tích năm 2011 được lược bỏ
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu trên nền tảng số liệu thứ cấp, được thu thập
từ báo cáo tài chính đã kiếm toán (bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính) và báo cáo thường niên của Ngân
hàng Số liệu này được cung cấp trên website của ngân hàng SCB (www.scb.com.vn)
và trang web Vietstock.vn, bao gồm số liệu từ năm 2008 đến năm 2010 và từ năm
2012 đến năm 2016
Ngoài ra còn có các số liệu, thông tin lấy khác từ các website, các văn bản pháp
luật có liên quan về đánh giá hoạt động ngân hàng
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu: Từ các số liệu thu thập được tiến hành tính toán,
thống kê, xử lý trên phần mềm EXCEL, phân nhóm theo nhóm chỉ tiêu của mô hình
CAMELS
- Phương pháp đánh giá: Số liệu sau xử lý được tiến hành phân tích bằng các
phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số dựa theo các chỉ tiêu của mô hình CAMELS
+ Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh
doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu Để áp dụng được
phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu
(phải thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian và đơn vị tính toán của các chỉ
tiêu so sánh) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh
Comment [Office2]: cần chi tiết hơn các
phương pháp này: so sánh cái gì, so sánh như
thế nào, phân tích xu hướng về cái gì, cơ sở
nào để tiến hành phân tích xu hướng…
Trang 11Các chỉ tiêu được so sánh giữa các năm để thấy rõ xu hướng thay đổi, thấy
được sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.+ Phương pháp tỷ số
Đây là một phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong hoạt động
phân tích Dựa trên số liệu thu thập được tiến hành tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu
Sau đó nhận xét, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, trên cơ sở so sánh giữa cácnăm và các tỷ lệ tham chiếu
5 Bố cục của luận văn
Bài luận văn gồm có 3 phần như sau:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp nhất, sáp nhập, mô hình
CAMELS và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
- Chương 2:Hiệu quả hoạt động của NHTMCP Sài Gòn trước và sau sáp nhập
- Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng của NHTMCP Sài Gòn trong thời gian tới
Phần III: Kết luận và kiến nghị.
Trang 12PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT,
MÔ HÌNH CAMELS VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Một số vấn đề lý luận về sáp nhập, hợp nhất, mô hình CAMELS và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.1 Sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại
Xét trên quan điểm pháp lý, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành
ngày 26 tháng 11 năm 2014 có quy định về sáp nhập như sau: “Một hoặc một số công
ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây
gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị
sáp nhập” [12] Còn về hợp nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có quy định như sau:
“Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành
một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các
công ty bị hợp nhất”.[11]
Như vậy, điểm khác biệt có thể nhận thấy rõ nhất qua hai quy định trên đó là
hình thức sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị sáp nhập và giữ nguyên
sự tồn tại của công ty nhận sáp nhập còn đối với hình thức hợp nhất sẽ tạo ra một công
ty mới và chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động
theo luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý của Ngân hàng nhà nước Như
vậy, hoạt động sáp nhập, hợp nhất của ngân hàng thương mại ngoài việc phải tuân
theo các quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp còn phải tuân theo các quy
định đặc thù riêng
Theo thông tư số 36/2015/TT-NHNN ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015,
“Sáp nhập tổ chức tín dụng là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ
Comment [Office3]: Bổ sung thêm nguồn
trích dẫn khi trình bày các nội dung trong mục 1.1Phần trích dẫn vẫn chưa đáp ứng đúng quy
định của nhà trường
Comment [Office4]: Delete
Trang 13chức tín dụng bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp phápsang một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập), đồngthời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.”
Về khái niệm hợp nhất tổ chức tín dụng, thông tư này quy định “Hợp nhất tổ
chức tín dụng là việc hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng
bị hợp nhất) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thànhmột tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất), đồng thời chấmdứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất.”[7]
1.1.1.2 Phân loại sáp nhập
Căn cứ vào mối quan hệ cạnh tranh giữa các bên liên quan với nhau trong
hoạt động sáp nhập, sáp nhập sẽ chia ra thành sáp nhập ngang, sáp nhập dọc và sápnhập tổ hợp
- Sáp nhập ngang: là loại hình sáp nhập chiếm tỷ trọng cao nhất Đây là sự sápnhập giữa hai công ty kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường và là
đối thủ của nhau, ví dụ giữa hai ngân hàng sáp nhập với nhau Kết quả từ thương vụ
này sẽ đem lại cho bên sáp nhập có cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp giảm thiểu chiphí cố định, tăng cường hiệu quả kênh phân phối
- Sáp nhập dọc: là sự sáp nhập giữa hai công ty nằm trên một chuỗi cung ứng, các
công ty đảm nhận một quy trình khác nhau trong quá trình sản xuất và cung ứng sản
phẩm, dịch vụ, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của công ty sáp nhập trênchuỗi cung ứng đó Một công ty có thể sáp nhập với một công ty là nhà cung cấp của nó,gọi là sáp nhập lùi (backward merger), hoặc một công ty có quan hệ thân cận trong hệthống phân phối sản phẩm đến nguời tiêu dùng, gọi là sáp nhập tiến (forward merger).Sáp nhập lùi diễn ra khi một nhà sản xuất tìm được nhà cung cấp nguyên vật liệu với chiphí thấp, còn sáp nhập tiến diễn ra khi một nhà cung cấp nguyên vật liệu, thành phẩm haydịch vụ tìm được công ty mua sản phẩm dịch vụ của mình một cách thường xuyên Sápnhập theo chiều dọc đem lại cho công ty tiến hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểmsoát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chếnguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh
Trang 14- Sáp nhập tổ hợp: là sự sáp nhập giữa hai hay nhiều công ty không có cùng lĩnhvực kinh doanh, không có quan hệ mua bán và không phải là đối thủ của nhau Hìnhthức sáp nhập này nhằm mục đích đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa sảnphẩm dịch vụ Những công ty theo đuổi chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
sẽ lựa chọn chiến lược liên kết thành lập tập đoàn
1.1.1.3 Vai trò của sáp nhập
Đối với bên bán (bên bị sáp nhập): đáp ứng được nhu cầu của công ty bị sáp
nhập hoặc công ty mục tiêu, trong các trường hợp như người lãnh đạo của công ty nàymong muốn được nghỉ hưu, thiếu người nối nghiệp, công ty gặp phải rủi ro, không cókhả năng để phát triển kinh doanh, thiếu vốn để phát triển, không có khả năng để đadạng hóa sản phẩm, ảnh hưởng của tuổi tác và sức khỏe, bất đồng quan điểm giữa các
cổ đông, mất đi nhân sự chủ chốt hoặc khách hàng chiến lược, được chào mua với giáhấp dẫn
Đối với bên mua (bên sáp nhập): đáp ứng cả nhu cầu và mục đích của công ty
chủ động tiến hành hoạt động sáp nhập như: mong muốn phát triển và mở rộng, cơ hội
tăng trưởng lợi nhuận, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, mua lại đối thủ cạnh tranh,
sử dụng nguồn vốn dư thừa, chiếm lĩnh được kênh phân phối, sự cần thiết về nhân sựchủ chốt, tiếp cận kỹ thuật công nghệ mới, điều chỉnh chiến lược kinh doanh
Đối với công ty sau khi tiến hành thương vụ sáp nhập: sự cộng hưởng đem lại ý
nghĩa rất lớn sau một thương vụ sáp nhập thành công, hoạt động sáp nhập sẽ kỳ vọngtạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ Đây cũng là dấu hiệucuối cùng của sự thành công hay thất bại của một thương vụ sáp nhập
Nhìn chung, lợi ích mang lại từ sự cộng hưởng mà các công ty kỳ vọng sau mỗi
thương vụ sáp nhập thường bao gồm: đạt được hiệu quả dựa vào quy mô, giảm nhân
viên và các chi phí, thực hiện đa dạng hóa và loại trừ rủi ro phi hệ thống, hiện đại hóacông nghệ, tăng cường khả năng thanh toán, thị phần, hưởng những lợi ích từ thuế…
1.1.2 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.2.1Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng
Anh - Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì “Hiệu quả - efficiency”
Trang 15trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếmvới đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài
nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”
Theo Peter S.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về
bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động vớimục tiêu tối đa hoá lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép
Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể đượchiểu ở hai khía cạnh như sau: (i) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra haykhả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chếtài chính khác (ii) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng
Sự lành mạnh của hệ thống NHTM quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và pháttriển của nền kinh tế vì NHTM là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệmvới khu vực đầu tư của nền kinh tế Do đó, sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh
đến các ngành kinh tế quốc dân khác
Tóm lại, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thểxét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau Nhưng trong luận văn này, tác giả tiếpcận hiệu quả hoạt động của NHTM trong mối quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt
được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó và xác suất hoạt động an toàn của
ngân hàng
1.1.2.2Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Bao gồm nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm chỉ tiêu phản ánhmức độ hoạt động an toàn của ngân hàng
a Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năngsinh lời bao gồm 2 chỉ tiêu chính là ROA và ROE
b Nhóm chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM:Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu đánh giá mức độ hoạt động an toàn của NHTM+ Chỉ tiêu vốn an toàn tối thiểu Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng nhằm đánhgiá mức độ an toàn về vốn của các NHTM Tỷ số này giúp xác định khả năng bù đắpcác rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng
Trang 16+ Giới hạn tín dụng đối với khách hàng Quy định cụ thể giới hạn tín dụng đốivới khách hàng được thể hiện ở Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014.+ Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung dài hạn Ngânhàng một mặt tối đa hóa lợi nhuận, mặt khác phải đảm bảo an toàn theo Thông tư36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 thì tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn TCTD để
sử dụng cho vay trung dài hạn đối với NHTM là 60%
+ Phân loại cho vay và mức trích lập dự phòng rủi ro Để đảm bảo chất lượngtín dụng cũng như theo dõi kiểm soát được nợ vay thì các NHTM tiến hành phân chianhóm nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Các nhân tố này cóthể được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan, tuỳ
theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnhhưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của chính các NHTM
Nhóm nhân tố khách quan: Bao gồm các yếu tố bên ngoài ngân hàng ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà ngân hàng không thể kiểm soát được:
+ Môi trường vĩ mô
+ Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước
+ Môi trường pháp lý
+ Các yếu tố khoa học công nghệ
+ Môi trường vi mô
+ Đối thủ cạnh tranh hiện tại
+ Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
+ Khách hàng
Nhóm nhân tố chủ quan: Nhóm nhân tố chủ quan chính là các nhân tốt bên
trong nội bộ của chính các NHTM:
+ Năng lực tài chính
+ Cơ cấu tố chức và điều hành
+ Chính sách phát triển nguồn nhân lực
+ Marketing
+ Chủ trương về đầu tư để phát triển công nghệ ngân hàng
Trang 171.1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
- Tăng cường khả năng trung gian tài chính
- Cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ khác với chi phí thấp
- Tăng tích lũy, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại theo mô hình CAMELS 1.1.3.1Giới thiệu mô hình CAMELS
Thường được biết đến với cái tên CAMEL, hệ thống đánh giá định chế tài
chính thống nhất (The Uniform Financial Institutions Rating System - UFIRS) đượcHội đồng kiểm tra định chế tài chính liên bang (FFIEC) – Hoa Kỳ thông qua vào
ngày 13/11/1979 CAMEL là năm chữ cái viết tắt của năm yếu tố mà hệ thống nàyđánh giá, đó là An toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản (Asset Quality),
Khả năng quản lý (Management Quality), Khả năng sinh lời (Earnings) và Khả
năng thanh khoản (Liquidity) Sau đó, UFIRS ngày càng chứng tỏ là công cụ giám
sát nội bộ hữu hiệu trong việc đánh giá năng lực tài chính của các định chế tài chínhtrên cùng một cơ sở đánh giá thống nhất
Sau đó, hệ thống này đã tiếp tục được nghiên cứu sửa đổi, điều chỉnh cho
phù hợp với những biến động của ngành ngân hàng cũng như những sửa đổi trong
các điều luật của các tổ chức giám sát liên bang Trên cơ sở đó, ngày 20/12/1996,
Hệ thống đánh giá định chế tài chính thống nhất bản chỉnh sửa đã chính thức đượcthông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/1997 Theo đó, hệ thống đánh giá được bổsung thêm yếu tố thứ sáu là Nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sentitivity to market
risks) và mang tên đầy đủ mô hình CAMELS như hiện nay Từ đó đến nay, hệ
thống này vẫn được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá, xem xét các ngân hàng
thương mại không chỉ ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới
Phương pháp xếp loại theo mô hình CAMELS đã được NHNN áp dụng trong
Quy chế “Xếp loại các TCTD VN” ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 12/03/2008 của Thống đốc NHNN
Trang 1806/2008/QĐ-1.1.3.2Các nhân tố của mô hình CAMELS
C- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn)
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều
vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan
đến mức độ rủi ro cao hơn Các chỉ tiêu cụ thể được sử dụng để phân tích vốn gồm:
- Cơ cấu vốn, tập trung vào mức độ quan trọng tương đối của vốn cấp 1, cấp
2: Vốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1
- Tỷ lệ an toàn vốn được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn
cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng:
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Bằng tỷ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh
toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng,
rủi ro vận hành Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn
xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở
Việt Nam theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN tỷ lệ này
được quy định là 9% Theo chuẩn mực Basel II mà các hệ thống ngân hàng trên thế
giới áp dụng phổ biến là 8%
- Chất lượng cổ đông có ảnh hưởng lớn
- Hệ số đòn bẩy tài chính L = tổng nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu (trung bình = 12,5)
- Hệ số tạo vốn nội bộ (Internal Capital Generation) ICG (%) = Lợi nhuận
không chia/Vốn cấp 1 (>12%)
- Chất lượng và khả năng tài chính của các cổ đông
- Sự tham gia của các cổ đông trong ban giám đốc và quyền biểu quyết
- Những thay đổi trong cơ cấu vốn góp
- Chỉ số vốn dự trữ = Dự trữ mất vốn thực tế / Dự phòng mất vốn điều
chỉnh theo CAMELS
Sau khi sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá mức độ an toàn vốn, mô hình
CAMELS xếp hạng vốn như sau:
Comment [Office5]: Tổ chức tiểu mục phải
Trang 19Hạng 1: Mức vốn đầy đủ và sẵn sàng ứng phó với mọi vấn đề liên quan đến rủi
năng tồn tại của tổ chức đang bị đe dọa Cần có sự hỗ trợ ngay lập tức từ các cổ đông
hoặc các nguồn khác bên ngoài
Asset quality (Chất lượng tài sản có)
Chất lượng tài sản là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng
Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho
vay từ trước đến nay Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lựclên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủnghoảng thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng
Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản cóthể hiện trên bảng cân đối kế toán của nó Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản cóquyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chất lượng tài sản có là chỉ tiêutổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triểnvọng bền vững của một ngân hàng Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đềutập trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đềnâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt
động an toàn Chất lượng tài sản của một tổ chức tài chính được đánh giá dựa trên
Trang 20- Sự đa dạng và chất lượng các khoản vay và danh mục đầu tư;
- Mức độ của các hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và mức độ tiếpxúc với các đối tác trong hoạt động kinh doanh;
- Khả năng quản lý tài sản, kịp thời nhận dạng và thu thập các tài sản có vấn đề;
- Đầy đủ hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý
Để đánh giá chất lượng tài sản có, người ta sử dụng một số chỉ tiêu sử dụng
để phân tích như:
- Danh mục cho vay/ Tổng tài sản = Dự nợ tín dụng / Tổng tài sản có
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng = (Dư nợ tín dụng cuối kỳ - Dư nợ tín dụng
đầu kỳ) / Dư nợ tín dụng cuối kỳ
- Tỷ trọng dư nợ theo ngành = Dư nợ tín dụng theo ngành/ Dư nợ tín dụng
- Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ (1,5% theo chuẩn quốc tế; 3,5% theo chuẩn Úc)
- Tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ (quốc tế: 5%; VN: 3% )
Xếp hạng chất lượng tài sản:
Hạng 1: Đánh giá cho thấy chất lượng tài sản đảm bảo và quản lý tín dụng tốt.Chất lượng tài sản trong ngân hàng được quan tâm giám sát thường xuyên
Hạng 2: Đánh giá chất lượng tài sản chỉ đạt yêu cầu và quản lý tín dụng
đúng mức Mức độ phân loại và giám sát tài sản chỉ đạt mức độ cho phép Có một vàinguy cơ ảnh hưởng đến khả năng bảo toàn vốn và khả năng của quản lý
Hạng 3: Chất lượng tài sản hay quản lý tín dụng chưa đạt yêu cầu Cần có biện
pháp để cải thiện quản lý tín dụng và quản lý rủi ro
Hạng 4: Chất lượng tài sản cấp độ của các tài sản rủi ro có nhiều hạn chế Kiểmsoát tài sản và chất lượng tín dụng còn nhiều hạn chế Có thể xảy ra các tổn thất tiềm
năng Nếu không được kiểm soát, có thể đe dọa khả năng tồn tại của đơn vị
Hạng 5: Chất lượng tài sản và tín dụng ở mức kém Khả năng xảy ra rủi ro cao.Cần có biện pháp xử lý ngay
M- Management (Năng lực quản lý)
Một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của ngân hàng là nănglực và chất lượng quản lý Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt động thốngnhất, phối hợp và liên kết các quá trình lao động của các cán bộ nhân viên từ các
Trang 21phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh
ở mỗi thời kỳ đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về nguồn lực Nói đến chấtlượng và năng lực quản lý là nói đến yếu tố con người trong bộ máy quản lý và hoạt
động, thể hiện ở các nội dung: (i) Đề ra được các chính sách kinh doanh đúng đắn và
có hiệu quả; (ii) Xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành các quy trình nghiệp vụ hợp
lý, sát thực và đúng pháp luật; (iii) Tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả; (iv) Giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống quản lý.
Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khả năng nắm bắtkịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe doạ sự
an toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời Chất lượng quản
lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luật pháp cũng như các quychế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu được tăng lên, duy trì
được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thị trường
ngày một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền vững trước những biến động trong
và ngoài nước
Khả năng quản lý được xếp hạng như sau:
Hạng 1: Khả năng điều hành và ứng phó với rủi ro của nhà quản trị, nhà điều
Hạng 5: Hiệu quả quản trị kém Không ứng phó kịp với các thay đổi của nềnkinh tế Hệ thống có nguy cơ rủi ro cao Việc thay thế hoặc tăng cường quản trị, Ban
giám đốc là cần thiết
E- Earning (Thu nhập)
Đây là nhân tố quan trọng của việc phân tích doanh thu và chi phí, bao gồm
cả mức độ hiệu quả của hành động và chính sách lãi suất cũng như các kết quả
Trang 22hoạt động tổng quát được đo lường bằng các chỉ số Cụ thể hơn, lợi nhuận là chỉ sốquan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhàquản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là
điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ
phía các nhà đầu tư Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất
và trích dự phòng đầy đủ Bốn nguồn thu nhập chính của ngân hàng là:
Thu nhập từ lãi
Thu nhập từ lệ phí, hoa hồng
Thu nhập từ kinh doanh, mua bán
Thu nhập khác
Một số chỉ tiêu sử dụng để phân tích thu nhập bao gồm:
- ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường / Tổng tài sản (>1%)
- ROE = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường / Vốn cổ phần thường(15 – 20%)
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) = (Thu lãi cho vay và đầu tư chứng khoán
– Chi lãi tiền gửi và nợ khác) / Tổng tài sản sinh lời bình quân
- Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) = (Thu ngoài lãi – Chi trả ngoàilãi)/ Tổng tài sản sinh lời bình quân
- Chênh lệch lãi suất = Thu từ lãi / Tài sản sinh lãi bình quân – Chi trả lãi / Nợphải trả bình quân
- Tỷ suất chi phí hoạt động vốn = (Lãi nợ vay + Lãi tiền gửi ) / Tổng tài sảnbình quân
- Chỉ số chi phí hoạt động = Các chi phí hoạt động / Tổng tài sản bình quân
- Chỉ số tự lực hoạt động OSS = Tổng thu nhập tài chính / Tổng chi phí tài chính
- Chỉ số tự lực tài chính FSS = Tổng thu nhập tài chính / (Tổng chi phí tàichính + Chi phí vốn + Chi phí hoạt động + Dự phòng rủi ro)
Thu nhập được xếp hạng như sau:
Hạng 1: thu nhập trong hiện tại và dự kiến tương lai hoàn toàn đảm bảo đượckhả năng hoạt động của ngân hàng và bù đắp được các tổn thất dựa trên sự đánh giá
ảnh hưởng của chất lượng tài sản, tăng trưởng và xu hướng lên thu nhập
Trang 23Hạng 2: Mức độ thu nhập tương đối tốt và ổn định, đảm bảo được chất lượngtài sản và rủi ro hoạt động.
Hạng 3: Thu nhập không đáp ứng đầy đủ cho hoạt động của ngân hàng và cáctổn thất về vốn, không đáp ứng được yêu cầu Thu nhập có xu hướng không ổn định,
không đủ thu nhập hoặc ít hơn năng lực tài sản
Hạng 4: Đặc trưng bởi sự biến động thất thường của thu nhập, sự sụt giảmnghiêm trọng trong xu hướng thu nhập
Hạng 5: Khi thu nhập của ngân hàng quá thấp hoặc không có lợi nhuận đếnmức có thể mất vốn, đến mức có thể cạn kiệt vốn trong 12 tháng
L- Liquidity (Khả năng thanh khoản)
Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự
an toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng Để đảm bảo khả năngthanh toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tàisản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi
ở NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác Ngoài ra, các ngân hàng còn phải
chú trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, cókhả năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêucầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết
Khả năng thanh khoản được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu như:
- Tỷ lệ thanh toán của tài sản = tài sản thanh khoản/ tổng tài sản (20-30%)
- Hệ số đảm bảo tiền gửi = tài sản thanh khoản/ tổng tiền gửi (30-45%)
- Hệ số thanh khoản ngắn hạn = tài sản thanh khoản/ tổng nợ ngắn hạn (30%)
- Tỷ lệ dư nợ cho vay và tiền gửi = tổng dư nợ cho vay / tổng tiền gửi (80
Trang 24Hạng 5: Mức độ thanh khoản kém Khả năng tồn tại tiếp tục của tổ chức
bị đe dọa Yêu cầu cần được sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài hoặc bên trong nội
bộ ngân hàng
S- Sensitivity to Market risk (Độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường)
Các tài sản mà các ngân hàng nắm giữ chủ yếu là các tài sản chính,chúng thường rất nhạy cảm với những biến động thị trường và gây ra những rủi ronhất định Hầu hết, các tài sản của ngân hàng đều có liên quan đến rủi ro thị trường ởcác mức độ khác nhau, chủ yếu liên quan đến các tài sản có sự nhạy cảm trước biến
động về lãi suất, tỷ giá hoặc những thay đổi giá cả trên thị trường tài chính Nếu trong
cơ cấu tài sản của ngân hàng có một tỷ lệ lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố
này, có thể báo hiệu một khả năng dễ tổn thương của ngân hàng đó Hơn nữa, nếumột ngân hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối, chứng khoán ở nướcngoài thì mỗi biến động trên thị trường tài chính thế giới sẽ tác động trực tiếp đến kếtquả kinh doanh của ngân hàng đó Do vậy, khi đánh giá sự an toàn hoạt động củangân hàng trong điều kiện hiện nay, cần tính đến cả những yếu tố nước ngoài trong cơcấu tài sản của ngân hàng
Rủi ro thị trường được đánh giá dựa trên những yếu tố :
- Độ nhạy của thu nhập của tổ chức tài chính hoặc giá trị kinh tế vốn của mình
để thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ lệ trao đổi nước ngoài, giá hàng hóa, giá cổ phiếu
- Khả năng quản lý để xác định, đo lường, giám sát, và kiểm soát tiếp xúc vớirủi ro thị trường của tổ chức
- Bản chất và phức tạp của tiếp xúc với rủi ro lãi suất phát sinh từ vị trí khônggiao dịch
- Nếu thích hợp, tính chất và độ phức tạp của tiếp xúc với rủi ro thị
trường phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý tài sản, và
ngoài nước
Xếp hạng độ nhạy rủi ro thị trường:
Hạng 1: Độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát tốt
Hạng 2: Độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát đầy đủ
Trang 25Hạng 3: Độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát ở mức trung bình Tiềm
ẩn các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng
Hạng 4: Độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát chưa tốt Cần có biệnpháp rà soát và kiểm tra thường xuyên
Hạng 5: Độ nhạy cảm rủi ro thị trường được kiểm soát kém Cần có biện pháp
xử lý kịp thời để hạn chế sự đổ vỡ của hệ thống
1.1.3.3 Ý nghĩa của mô hình CAMELS trong phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM
Việc cung cấp một khuôn khổ chung trong việc đánh giá hiệu suất tổng thể củacác NH là rất quan trọng do sự hội nhập ngày càng tăng của thị trường TC toàn cầu
Mô hình CAMELS phản ánh xuất sắc các điều kiện và hiệu suất HĐ của các NH qua
các năm cũng như làm phong phú trong việc giám sát trực tiếp và gián tiếp để mang lạiđánh giá tốt hơn các điều kiện của NH Mục đích của nó là cung cấp một khuôn khổđánh giá chính xác và nhất quán các điều kiện TC và HĐ của NH về các lĩnh vực như
vốn, chất lượng TS, quản lý, khả năng TN và tính TK Muhammad (2009) khẳng địnhrằng sức mạnh của các yếu tố này sẽ quyết định sức mạnh tổng thể của NH Chất
lượng của mỗi thành phần nhấn mạnh sức mạnh bên trong của NH và xa hơn nó có thể
bảo vệ NH chống lại những rủi ro thị trường
Hơn nữa, ngoài việc phục vụ mục đích tóm tắt các thông tin tuân thủ quan trọng
cần thiết cho các nhà quản lý mô hình CAMELS cũng hỗ trợ việc đảm bảo mức độquan tâm giám sát và giám sát phản ứng để tạo ra các cảnh báo kịp thời nhằm giảmthiểu các tác động bất lợi lên các NH Trong cuộc khủng hoảng TC năm 2008, các
đánh giá này đã được sử dụng bởi chính phủ Mỹ trong việc phản ứng với cuộc khủng
hoảng khi các NH cần sự trợ giúp đặc biệt Barker và Holdsworth (1993) tìm thấy rằng
hệ thống CAMELS là hữu ích, ngay cả sau khi kiểm soát một loạt các công bố côngkhai thông tin về tình trạng và hiệu suất của các NH Các chỉ số tổng hợp này tiếp tục
HĐ như một mô hình dự đoán một sự thất bại của NH Việc xếp hạng được dựa trên
các thông tin định lượng và định tính của NH, nếu hệ số xếp hạng của NH bé hơn 2, nó
được coi như là một NH có chất lượng cao, trong khi các tổ chức với xếp hạng 4 hoặc
5 được đánh giá là mất khả năng thanh toán (Curry, Elmer và Fissel, 2009) Các xếp
hạng kiểm tra được cập nhật giúp xác định liệu các NH cần một sự giám sát tốt hơn
Trang 26trước khi chúng thực sự thất bại hay không Mặc dù Gaytán và Johnson (2002) lập
luận rằng mô hình là chỉ phù hợp với hiệu suất của các NH tại thời điểm kiểm tra,trong khi các biến trong các NH biến động theo các yếu tố thị trường vĩ mô, mô hìnhCAMELS vẫn rất phổ biến trong quản lý vì tính hiệu quả của nó
Cung cấp một khuôn khổ chung trong việc đánh giá hoạt động tổng thể của các
NH là rất quan trọng do xu hướng hội nhập của thị trường tài chính toàn cầu Mô hìnhCAMELS cung cấp một đánh giá chính xác và nhất quán cho một NH về tình hình tàichính và các hoạt động trong các lĩnh vực như vốn, chất lượng tài sản, khả năng quản
lý, khả năng tạo thu nhập và khả năng thanh toán Chất lượng của mỗi thành phần tiếptục nhấn mạnh đến sức mạnh tiềm năng của NH và làm thế nào NH có thể chống lạinhững rủi ro của thị trường Trong xu hướng hội nhập nền tài chính với khu vực cũng
như trên thế giới, trước hết là việc các NH có 100% vốn nước ngoài được phép thành
lập ở Việt Nam, hệ thống NH chúng ta nên theo một khuôn khổ chung trong việc sosánh với các NH nước ngoài Đây cũng là cơ sở để thị trường thế giới đánh giá tìnhhình hệ thống NH Việt Nam
Hơn nữa, mô hình CAMELS phục vụ mục đích tổng kết các thông tin phù hợp
quan trọng cần thiết cho các nhà quản lý Mô hình cho ta cơ sở để đưa ra những ý kiếnmang tính chất kết luận, dự đoán về hoạt động kinh doanh của NHTM Từ đó hỗ trợviệc giám sát trong việc đưa ra các cảnh báo kịp thời về NH Trong cuộc khủng hoảng
tài chính năm 2008, đánh giá này đã được sử dụng bởi chính phủ Mỹ đối phó với cuộc
khủng hoảng để tìm ra các NH cần có sự giúp đỡ đặc biệt
Theo ông George Gregorash, Chuyên gia tư vấn dự án Nâng cao năng lực giám
sát của NHNN, hiệu quả thanh tra theo phương pháp CAMELS thể hiện khá rõ, cụ thể:Kết luận của thanh tra vẫn còn nguyên giá trị sau 6 tháng đối với 90% TCTD đượcthanh tra; sau 12 tháng tỷ lệ này giảm xuống 80% Tuy nhiên, sau 18 tháng, phần lớnkết luận thanh tra theo phương pháp CAMELS sẽ không còn đảm bảo chính xác nữa
Do đó những kết luận của thanh tra phải có tính dự báo cao Muốn như vậy giữa
NHNN và TCTD phải có một “ngôn ngữ” chung để tin và hiểu nhau hơn
Trang 271.2 Kinh nghiệm vận dụng mô hình CAMELS trong đánh giá hiệu quả kinh
doanh ngân hàng
Trong nghiên cứu về “Ứng dụng mô hình Camels và Pearls trong đánh giá hoạt
động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quân Đội”, tác giả Đoàn Công
Quốc Tuấn (2014) đã ứng dụng đồng thời cả hai mô hình Camels và Pearls trong
nghiên cứu của mình Từ đó, tác giả đã đưa ra được những kết luận cơ bản về tình hình
hoạt động, điểm mạnh, điểm yếu của MB qua từng thời kỳ
Trong nghiên cứu về “Ứng dụng mô hình CAMELS trong đánh giá hoạt động
kinh doanh và rủi ro của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam Thịnh Vượng”,
tác giả Phan Dạ Thảo (2015) đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu trong việc đánh giá
hoạt động kinh doanh và rủi ro của VPBank.Đề tài cũng đã phân tích SWOT đối với
VPBank, từ đó dự báo về tình hình hoạt động kinh doanh và đưa ra một số giải pháp
nhằm cải thiện tình hình kinh doanh cho NH trong thời gian sắp tới
Về mặt đạt được, hai nghiên cứu trên đã vận dụng được mô hình Camels vào
phân tích hoạt dộng kinh doanh nói chung của ngân hàng, từ đó hoàn thành được mục
tiêu nghiên cứu ban dầu đã đưa ra Tuy mỗi tác giả lại có cách tiếp cận và ứng dụng
mô hình Camels khách nhau nhưng những chỉ số sử dụng để phân tích về cơ bản là
giống nhau và phần lớn thông tin đều khai thác từ các BCTC, BCTN của hai ngân
hàng Đây cũng chính là điểm hạn chế chung của hai nghiên cứu này khi tác giả không
có điều kiện để khai thác được thêm những thông tin nội bộ, nhạy cảm từ hai ngân
hàng để có những đánh giá sát thực hơn
Trong nghiên cứu này, luận văn cũng vận dụng mô hình CAMELS để phân tích
hoạt động kinh doanh của SCB Tuy nhiên, tác giả đã đưa ra hướng tiếp cận mới để
ứng dụng mô hình đó là phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng giai đoạn trước
và sau sáp nhập Trong đó, tác giả đã so sánh chi tiết các chỉ tiêu đánh giá theo mô
hình CAMELS của SCB giai đoạn trước và sau sáp nhập để chỉ ra những kết quả đạt
được và hạn chế trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng này Từ đó, tác giả cũng
đưa ra được những đề xuất, kiến nghị cho SCB nhằm hoàn thiện hơn hoạt động kinh
doanh trong thời gian tới
Comment [Office6]: Bổ sung: 1.2 Kinh nghiệm vận dụng mô hình Camels trong đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hang
(phần này tổng quan lại các nghiên cứu trước
đã vận dụng nó như thế nào, kết quả…)
Comment [Office7]: Diễn đạt lại:
Trong nghiên cứu về …, tác giả …(2014) đã
Comment [Office8]: Bổ sung thêm về
hướng đi cho nghiên cứu của mình là thế nào?
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đưa ra những lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động của NHTM bao
gồm khái niệm, ý nghĩa, chỉ tiêu phản ánh, các nhân tố ảnh hưởng để từ đó có một cáinhìn tổng thể nhất về hiệu quả hoạt động của NHTM Chương 1 cũng đưa ra nhữngnội dung cơ bản về mô hình CAMELS, từ sự hình thành và phát triển của mô hình, đếnnội dung của từng cấu phần trong mô hình, cách xếp loại NHTM trong từng cấu phần.Các lý thuyết cơ bản này làm cơ sở để phân tích các chương sau Từ đó đánh giá, xác
định được ngân hàng đang nằm trong tình trạng nào, biết được điểm đạt được và điểmchưa đạt của NHTM theo mô hình CAMELS để đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm
cải thiện những chỉ tiêu tài chính chưa đạt tiêu chuẩn của NHTM, nhằm giúp NHTMhoạt động an toàn và hiệu quả hơn trong thực tiễn hoạt động của hệ thống Ngân hàngViệt Nam hiện nay
Trang 29CHƯƠNG 2:HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP
SÀI GÒN TRƯỚC VÀ SAU SÁP NHẬP 2.1.Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn
2.1.1 Giới thiệu tổng quát
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Tên tiếng Việt: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Tên viết tắt tiếng Việt:Ngân hàng Sài Gòn
Tên viết tiếng nước ngoài: Sai Gon Joint Stock Commercial Bank
Tên viết tắt tiếng Anh:Sai Gon Commercial Bank
Tên viết tắt: SCB
Hội sở chính: 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Tp HCM
Vốn điều lệ:
o Trước sáp nhập (cuối năm 2010): 4,18 nghìn tỷ đồng
o Sau sáp nhập (tính đến cuối năm 2016): 14,29 nghìn tỷ đồng
Lợi nhuận trước thuế:
o Trước sáp nhập (cuối năm 2010): 447,28 tỷ đồng.
o Sau sáp nhập (tính đến cuối năm 2016): 135,97 nghìn tỷ đồng
2.1.2 Lịch sử hình hành và phát triển
Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính thức cấp Giấy phép số
238/GP-NHNN về việc thành lập và hoạt động Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở
hợp nhất tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng
TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank) Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính thức đi vào
hoạt động từ ngày 01/01/2012
2.1.3 Lịch sử các Ngân hàng thành viên trước khi sáp nhập
1/ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Tên giao dịch: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Tên tiếng Anh: SAIGON COMMERCIAL BANK (SCB)
Comment [Office9]: Để giải quyết vấn đề
trọn ven, nên bổ sung thêm các yếu tố nguồn lực và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hang trước và sau sáp nhập nữa thì phần tổng
quan sẽ tốt hơn!
Phần góp ý này chưa thấy thực hiện
Trang 30Tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấyphép hoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà
Nước Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND
TP.HCM cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sàigòn (SCB)
2/ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam Tín Nghĩa
Tên giao dịch: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TÍN NGHĨA Tên tiếng Anh: VIETNAM TIN NGHIA COMMERCIAL JOINT STOCK
BANK (VIETNAM TIN NGHIA BANK)
Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa tiền thân là Ngân hàng TMCP Tân Việt
được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0164/NH–GP ngày 22 tháng 08 năm 1992
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Ngày 18/01/2006, Ngân hàng TMCP Tân Việtđược đổi tên thành Ngân hàng TMCP Thái Bình Dương theo Quyết định số 75/QĐ-
NHNN Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008, một lần nữa vào tháng01/2009 Ngân hàng TMCP Thái Bình Dương đã được đổi tên thành Ngân hàng TMCPViệt Nam Tín Nghĩa theo Quyết định số 162/QĐ-NHNN
3/ Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đệ Nhất
Tên giao dịch: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐỆ NHẤT
Tên tiếng Anh: FIRST JOINT STOCK BANK (FICOMBANK)
Ngân hàng TMCP Đệ nhất được thành lập theo Giấy phép hoạt động số0033/NH–GP ngày 27 tháng 04 năm 1993 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp vàgiấy phép thành lập số 534/GP-UB do Uỷ ban nhân dân TP HCM cấp ngày 13 tháng 5
năm 1993 Trong bối cảnh hoạt động theo khung pháp lý cho ngân hàng thương mại
tại Việt Nam, ngày 02/8/1993 Ngân hàng TMCP Đệ Nhất đã chính thức khai trương và
đi vào hoạt động
2.1.4 Các sản phẩm và dịch vụ chính
Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn bằng đồng nội tệ và ngoại tệ cho mọi thành
phần kinh tế
Cho vay ủy thác theo các chương trình của chính phủ trong và ngoài nước
Trang 31 Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước, mua bán ngoại tệ, tài
trợ ngoại thương, bảo lãnh và tái bảo lãnh
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính trong
phạm vi toàn quốc và qua hệ thống mạng Swift trên toàn thế giới
Thực hiện nhiệm vụ chi trả ngoại hối, giao nhận tiền tận nơi cho đơn vị, thu
chi tiền mặt, thực hiện các nghiệp vụ khác
Thanh toán xuất nhập khẩu cho các nghiệp vụ sau: Thư tín dụng; Nhờ thu;
Chuyển tiền đến, chuyển tiền đi, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; Tài trợ xuất khẩu;Chiết khấu bộ chứng từ
2.1.5 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động
Hiện nay cơ cấu tổ chức của SCB bao gồm Hội sở chính và các đơn vị kinhdoanh (Sở giao dịch và các Chi nhánh) Tại Hội sở, các phòng ban chức năng đượcphân vào 09 khối và 01 Trung tâm Quản lý Nguồn, gồm:
Khối Doanh nghiệp
Khối Ngân hàng bán lẻ
Khối Pháp chế và tuân thủ
Khối Kinh doanh tiền tệ
Khối Tài chính kế hoạch
Khối Quản lý rủi ro
Khối Hỗ trợ tín dụng và khai thác tài sản
Khối Vận hành
Khối Công nghệ thông tin
Tại các chi nhánh, SCB triển khai mô hình Văn phòng Khu vực để nâng caotính chủ động và linh hoạt của các đơn vị kinh doanh, phù hợp với điều kiện và thựctiễn kinh doanh ở những khu vực địa lý khác nhau trên toàn quốc Mạng lưới ngânhàng đại lý gồm 7.455 ngân hàng tại 81 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, 14 tàikhoản Nostro với hầu hết các ngoại tệ mạnh.Hệ thống mạng lưới của SCB được chialàm 06 khu vực địa lý, bao gồm:
Khu vực duyên hải Bắc Bộ
Khu vực Hà Nội
Trang 32 Khu vực miền Trung và Tây Nguyên
Khu vực Đông Nam Bộ
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Khu vực miền Tây
2.2.Vận dụng mô hình CAMELS trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại CP Sài Gòn trước và sau sáp nhập
2.2.1 Chỉ tiêu C (Capital) – Khả năng an toàn vốn
2.2.1.1 Cơ cấu vốn
Trang 33Bảng 2.1a Bảng tổng tài sản và nguồn vốn của SCB giai đoạn trước và sau sáp nhập
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu Trước sáp nhập Sau sáp nhập
2008 2009 2010 2012 2013 2014 2015 2016 Tổng tài sản 38.596 54.492 60.183 149.206 181.019 242.222 311.514 361.682
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Bảng 2.1bTốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân và tốc độ tăng trưởng VCSH bình quân giai đoạn trước và sau sáp nhập
Chỉ tiêu Trước sáp nhập Sau sáp nhập
Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân 25,81% 48,21%
Tốc độ tăng trưởng VCSH bình quân 32,32% 36,34%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Comment [Office10]: Tất cả các bảng so
sánh 02 giai đoạn nên xoay thành bảng ngang
để đảm bảo đúng tiêu chuẩn format Nên đặt thứ tự bảng 2.1 b vì cả 2 bảng này đang phản ánh chung 1 loại số liệu
Trang 34- V ốn chủ sở hữu:
Đánh giá tổng thể giai đoạn 2008 – 2016, vốn chủ sở hữu của SCB có xu hướngtăng lên Tuy nhiên, từ năm 2012 quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng này có sựtăng trưởng đột biến từ 4,8 nghìn tỷ đồng lên mức 11,3 nghìn tỷ đồng (tương đươngtăng 133,68%) Sự gia tăng vốn chủ sở hữu này gắn liền với hoạt động sáp nhập 3
ngân hàng diễn ra trong giai đoạn này
+ Giai đoạn trước sáp nhập (2008 – 2010):
Vốn chủ sở hữu trong giai đoạn này có xu hướng tăng với tốc độ bình quân là
32,32% Trong đó, từ năm 2008 đến 2009, vốn chủ sở hữu đạt mức tăng trưởng cao
nhất 59,54%, từ mức 2,8 nghìn tỷ đồng lên mức 4,45 tỷ đồng
Từ năm 2009 đến năm 2010, vốn chủ sở hữu tăng lên mức 4,7 nghìn tỷ đồng,
tương đương 5,11%.Sự tăng lên của vốn chủ sở hữu chủ yếu đến từ khoản lợi nhuậnchưa phân phối
+ Giai đoạn sau sáp nhập (2012 – 2016):
Trong giai đoạn này, vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình36,34% Trong đó, phải kể đến thời điểm 2012, năm đầu tiên kể từ sau sáp nhập, vốn
chủ sở hữu của SCB đã đạt mức 11,36 nghìn tỷ đồng, tăng 148,49% so với năm 2010
Đây là kết quả của sự sáp nhập 3 ngân hàng với nhau
Năm 2013, SCB tiếp tục tăng vốn điều lệ thông qua việc phát hành mới 171,1
triệu cổ phần, vốn chủ sở hữu do đó tăng lên mức 13,11 nghìn tỷ đồng, tương đương
tăng 15,4% so với năm 2012
Năm 2015, SCB tiếp tục tăng vốn điều lệ thông qua phát hành 200 triệu cổ
phiếu cho các cổ đông hiện hữu và cổ đông mới, vốn chủ sở hữu đã tăng hơn 17% sovới năm 2014
Trang 35ĐVT: tỷ đồng
Biểu đồ 2.1 Tăng trưởng vốn chủ sở hữu SCB giai đoạn 2008 – 2016
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu và tổng tài sản bình quân
giai đoạn trước và sau sáp nhập
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
0.00% 20.00% 40.00% 60.00% 80.00% 100.00% 120.00% 140.00% 160.00%
Trang 36- Huy động vốn:
Nhìn chung hoạt động huy động vốn của SCB có xu hướng tăng trong giai đoạn
đánh giá Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cũng như cơ cấu tăng trưởng qua các năm làkhông đồng đều nhau Bên cạnh đó, hoạt động huy động vốn giai đoạn trước và sau
sáp nhập cũng có sự khác biệt
Giai đoạn trước sáp nhập từ 2008 đến 2010, năm 2009 con số tăng trưởng huyđộng vốn lên đến 47%, từ 30,7 nghìn tỷ trong năm 2008, lên mức 45 nghìn tỷ trongnăm 2009 Điều đáng chú ý là huy động vốn từ TT1 chỉ tăng 31%, trong khi đó huyđộng vốn từ TT2 tăng đến 92%, trong đó khoản vay các TCTD tăng từ 7,8 nghìn tỷ lên
mức gần 12 nghìn tỷ và phát sinh thêm khoàn vay NHNN 3 nghìn tỷ đồng Đến năm
2010, nhờ vào việc tăng được huy động vốn từ TT1, SCB đã giảm được khoản vay từ
TT2 Trong năm 2010, hoạt động huy động vốn gần như không có tăng trưởng.Năm 2012, đánh dấu mốc đầu tiên của hoạt động huy động vốn của SCB giaiđoạn sau sáp nhập Năm này, huy động vốn của SCB đã tăng trưởng đến 136% so với
cuối giai đoạn trước Trong đó, hoạt động huy động vốn từ TT1 đã tăng lên đến 125%,
từ TT2 tăng 173% so với cuối giai đoạn trước sáp nhập Điều này cho thấy bước đầuviệc sáp nhập đã có hiệu quả
Trong những năm tiếp theo của giai đoạn đánh giá, hoạt động huy động vốn vẫntiếp tục tăng trưởng ổn định
Trang 37Bảng 2.2 Cơ cấu huy động vốn của SCB giai đoạn 2008 – 2016
ĐVT: tỷ đồng Chỉ tiêu Trước sáp nhập Sau sáp nhập
Tiền gửi và vay các TCTD khác 7.776 11.958 9.551 18.251 18.419 25.917 23.208 29.902
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Trang 38Biểu đồ 2.3 Tổng huy động vốn và tốc độ tăng trưởng huy động vốn từ 2018 đến 2016
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân giai đoạn trước và sau sáp nhập
Chỉ tiêu Trước sáp nhập Sau sáp nhập
% Tăng trưởng huy động vốn bình quân 24% 54%
% Tăng trưởng huy động vốn TT1 bình quân 24% 58%
% Tăng trưởng huy động vốn TT2 bình quân 31% 43%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Biểu đồ 2.4 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn bình quân giai đoạn trước và sau
% Tăng trưởng huy động vốn
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70%
% Tăng trưởng huy động vốn bình quân
% Tăng trưởng huy động vốn TT1 bình quân
% Tăng trưởng huy động vốn TT2 bình quân
Trang 392.2.1.2 Hệ số an toàn vốn CAR, hệ số tự tài trợ, chỉ số đòn bẩy tài chính
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu an toàn vốn của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Giai đoạn trước sáp nhập:
Trong giai đoạn sáp nhập, theo báo cáo của SCB thì ngân hàng này có tình hình
kinh doanh và nguồn vốn khá ổn định Cụ thể, chỉ số CAR từ 2008 đến 2010 đều đạtmức trên 9% Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu của SCB vào thời điểm cuối 2010 lên đến hơn11%, mức cao nhất trong các NHTM tại Việt Nam thời điểm này
Giai đoạn sau sáp nhập:
Giai đoạn sau sáp nhập, tỷ lệ an toàn hoạt động của SCB tiếp tục ổn định vàđảm bảo được theo quy định của NN.Song song với những tăng trưởng về huyđộng vốn giai đoạn sau sáp nhập, SCB cũng có những bước tiến đáng kể trong
việc điều chỉnh cơ cấu nguồn huy động Nhờ đó, SCB không những đảm bảo ổn
định thanh khoản mà còn có cơ sở phát triển kinh doanh, đáp ứng hiệu quả các
nhu cầu thanh toán của khách hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và cải thiệncác tỷ lệ an toàn hoạt động
Cũng trong năm 2015, SCB đã phát hành thành công hơn 1.000 tỷ đồng mệnhgiá trái phiếu kỳ hạn dài để bổ sung nguồn vốn kinh doanh và vốn tự có cấp 2 Với kếtquả như trên, SCB không những luôn đảm bảo ổn định thanh khoản mà còn đẩy mạnhphát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao các tỷ lệ an toàn hoạt
động và cải thiện thu nhập cho Ngân hàng
Trang 402.2.2 Chỉ tiêu A (Asset) – Chất lượng tài sản
Bảng 2.5 Cơ cấu tài sản của SCB giai đoạn 2008 – 2016
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của SCB giai đoạn 2008 – 201
Comment [Office11]: Dung từ cho nhất
quán, sáp nhập/hợp nhất? trong toàn bài.