Chẳng hạn, Một số phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt Luận án tến sĩ, ĐHQGHN, 2001 của Ngô Thị Minh; Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt Luận án
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảosát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
ở bất kì công trình nào khác
Tác giả
Vũ Thị Kim Thoa
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Nhung,
cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Luận văn là kết quả của quá trình học tập Vì vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơnđến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngônngữ K20 (2012 - 2014) tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ và độngviên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kim Thoa
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
1
1
2
3
4
4
5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1 Khái quát về câu và nghĩa tình thái 6
1.1.1 Khái quát về câu 6
1.1.2 Khái niệm nghĩa tình thái 7
1.1.3 Phân loại nghĩa tình thái 11
1.1.4 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái trong tếng Việt 18
1.2 Một số vấn đề liên quan đến đề tài
20 1.2.1 Một số vấn đề về hội thoại và hội thoại trong tác phẩm văn học
20 1.2.2 Sơ lược về từ, cụm từ, từ loại 24
1.2.3 Đôi nét về các tác phẩm tự sự và kịch trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 - tập một 26
1.2.4 Tính cách nhân vật, chủ đề tác phẩm, phong cách tác giả 28
1.3 Tiểu kết 30
Chương 2: PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÂU TRONG CÁC ĐOẠN HỘI THOẠI (TRÊN NHỮNG VĂN BẢN Ở SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 - TẬP MỘT) 31
Trang 4iii2.1 Nhận xét chung 312.1.1 Nhận xét 31
Trang 52.1.2 Kết quả khảo sát 31
2.2 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái xét trong quan hệ giữa người nói với sự việc được nói tới 32
2.2.1 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái nhận thức 33
2.2.2 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá 39
2.2.3 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái cảm xúc 46
2.3 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái xét trong quan hệ giữa người nói với người nghe 50
2.3.1 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái đạo lí 50
2.3.2 Các phương tện biểu thị nghĩa tình thái thái độ 56
2.4 Tiểu kết 61
Chương 3: GIÁ TRỊ NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÂU TRONG CÁC ĐOẠN HỘI THOẠI (TRÊN NHỮNG VĂN BẢN Ở SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 - TẬP MỘT) 62
3.1 Nghĩa tình thái với với việc khắc họa tính cách nhân vật 62
3.1.1 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật Liên 62
3.1.2 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật viên quan coi ngục 65
3.1.3 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật Xuân Tóc Đỏ 66
3.1.4 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật Bá Kiến 67
3.1.5 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật người con - thằng Tí 68
3.1.6 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật vua Khải Định 69
3.1.7 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật ông Lí 70
3.1.8 Nghĩa tình thái với việc khắc họa tnh cách nhân vật Vũ Như Tô 71
3.2 Nghĩa tnh thái với việc thể hiện chủ đề tác phẩm 72
3.2.1 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề truyện ngắn Hai đứa trẻ
72 3.2.2 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề truyện ngắn Chữ người tử tù
73 3.2.3 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia 75
3.2.4 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề truyện ngắn Chí Phèo 76
3.2.5 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề đoạn trích Cha con nghĩa nặng 77
3.2.6 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề truyện ngắn Vi hành 78
Trang 63.2.7 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề truyện ngắn Tinh thần thể dục 79
3.2.8 Nghĩa tình thái với việc thể hiện chủ đề đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
80 3.3 Nghĩa tình thái với việc góp phần thể hiện phong cách của nhà văn 81
3.4 Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 93
95
97
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Tình thái TT
2 Nghĩa tình thái NTT
3 Nghĩa tình thái khách quan NTTKQ
4 Nghĩa tình thái chủ quan NTTCQ
5 Nghĩa tình thái nhận thức NTTNT
6 Nghĩa tình thái đánh giá NTTĐG
7 Nghĩa tình thái cảm xúc NTTCX
8 Nghĩa tình thái đạo lí NTTĐL
9 Nghĩa tình thái thái độ NTTTĐ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái của câu xét theo vị trí
trong câu 31 Bảng 2.2 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái của câu xét về mặt đặc
điểm cấu tạo 32
Bảng 2.3 Các bộ phận nghĩa tình thái của câu trong những đoạn hội thoại 32
Bảng 2.4 Phân loại các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái nhận thức theo
đặc điểm cấu tạo, từ loại 34
Bảng 2.5 Phân loại các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đánh giá theo
đặc điểm cấu tạo, từ loại 41
Bảng 2.6 Phân loại các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái cảm xúc theo
đặc điểm cấu tạo, từ loại 47
Bảng 2.7 Phân loại các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái đạo lí theo đặc
điểm cấu tạo, từ loại 52
Trang 9các đoạn hội thoại cũng như diễn biến tâm lí của họ Ở chương trình Ngữ văn 11- tập
một có rất nhiều tác phẩm văn học xây dựng các đoạn hội thoại để thực hiện chức
năng thẩm mĩ, tạo nên tnh chỉnh thể của cấu trúc văn bản nghệ thuật Hầu hết các
tác phẩm có sử dụng câu trong các đoạn hội thoại ở sách giáo khoa Ngữ văn 11- tập
một đều là những sáng tác văn học hiện đại Những sáng tác ở giai đoạn này rất têubiểu, có giá trị ở mọi phương diện và để lại những dấu ấn nhất định trong lòng bạn
đọc Vì vậy, việc tìm hiểu các tác phẩm ở chương trình Ngữ văn 11 - tập một hứa
Trang 102-
Trang 11Tìm hiểu phân loại NTT, phương tện biểu thị NTT có đóng góp của một sốtác giả như: Jespersen, Von Wright, Rescher, Ch Bally, Palmer, Lyons, Cao XuânHạo, Nguyễn Văn Hiệp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Lương, v.v Các nhà ngôn ngữhọc nước ngoài khi nói tới tình thái thường phân biệt tình thái nhận thức và tình tháiđạo nghĩa theo hai góc độ khách quan và chủ quan trong mối quan hệ với các hànhđộng ngôn từ Còn những tác giả Việt Nam thường nói tới tình thái của hành độngphát ngôn và tình thái của lời phát ngôn, tình thái khách quan và tình thái chủ quan.
Những công trình têu biểu có đề cập đến các phương diện nói trên của NTT là
Phong cách học tiếng Việt (1961) của Bally, Mood and Moda lity (1986) của Palmer, Ngữ nghĩa học dẫn luận (2009) của Lyons, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (2006)
của Hoàng Trọng Phiến, Ngữ nghĩa học (2006) của Lê Quang Thiêm, Đại cương
ngôn ngữ học (2009) của Đỗ Hữu Châu, v.v.
Ở những công trình này, các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm,cũng như cách phân loại và phương tện biểu thị NTT Hơn nữa, do mục đích nghiêncứu riêng của từng công trình nên các tác giả mới chỉ đề cập đến vấn đề lí luận chungcủa NTT ở mức độ khái quát
Trang 12Bên cạnh những công trình đề cập đến lí luận chung về NTT, chúng ta cầnphải nói tới những công trình nghiên cứu ứng dụng lí thuyết NTT vào câu tếng Việt
(xét ở phạm vi trong nước) Chẳng hạn, Một số phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình
thái trong câu ghép tiếng Việt (Luận án tến sĩ, ĐHQGHN, 2001) của Ngô Thị Minh; Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt (Luận án tến sĩ, ĐHQGHN, 2004)
của Bùi Trọng Ngoãn; Tình thái nhận thức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Luận văn thạc sĩ ĐHSPHN, 2005) của Lưu Văn Hưng; Tiểu từ tình thái trong tác
phẩm của Nam Cao từ góc nhìn ngôn ngữ học (Luận văn thạc sĩ, ĐHSPTN, 2009)
của Nguyễn Thị Kim Chi; Tình thái đạo nghĩa trong câu văn của tác phẩm Tắt đèn
-Ngô Tất Tố (Luận văn tốt nghiệp, người hướng dẫn: Nguyễn Thị Nhung, ĐHSPTN,
2012); Tình thái nhận thức của câu đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao trước cách
mạng tháng tám (Luận văn tốt nghiệp, người hướng dẫn: Nguyễn Thị Nhung,
ĐHSPTN,
2012) Đây là những công trình nghiên cứu ứng dụng một bộ phận phương tệncủa NTT ở một đối tượng hoặc một số tác phẩm văn học cụ thể Tuy nhiên đến nayvẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu ứng dụng lí thuyết NTT vào kiểu câutrong
các đoạn hội thoại ở nhóm tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11 - tập
một.
trong các đoạn hội thoại (trên những văn bản ở 11 - )”.
Trang 13:
-
Trang 14- , miêu t
(trên những văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11 - tập một).
+ Thủ pháp giải thích bên trong:
Thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại và hệ thống hóa là các thủ pháp giúp
chúng tôi xác định số lượng câu trong các đoạn hội thoại để chỉ ra đặc điểm mọi mặt,cũng như vai trò, giá trị NTT của câu trong các đoạn hội thoại thuộc những tác phẩm
kể trên
+ Thủ pháp giải thích bên ngoài:
Thủ pháp phân tích ngôn cảnh chúng tôi sử dụng để phân tch những yếu tố
thuộc về ngôn cảnh tình huống và ngôn cảnh văn hóa, lấy đó làm cơ sở giúp giảithích và hiểu NTT của câu trong các đoạn hội thoại ở những tác phẩm trên
Trang 15Những thủ pháp thử nghiệm như thay thế, lược bỏ, cải biến, so sánh được sử
dụng để hạn chế sự cảm tính, chủ quan, tăng hiệu quả các thủ pháp, phương phápkhác
:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết
Trong chương này, chúng tôi xác định những cơ sở lí thuyết cơ bản liên quanđến đề tài như: khái niệm NTT; phân loại NTT; các phương tện biểu thị NTT trongtếng Việt; một số vấn đề về hội thoại và hội thoại trong tác phẩm văn học; sơ lược
về từ, cụm từ, từ loại; đôi nét về các tác phẩm tự sự và kịch trong sách giáo khoa
Ngữ
văn 11 - tập một; tính cách nhân vật, chủ đề tác phẩm, phong cách tác giả.
Chương 2 Phương tện biểu thị nghĩa tình thái của câu trong các đoạn hội thoại (trên những văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11 - tập một)
Chương này, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát, phân loại và miêu tả cácphương tện; phân tch những sắc thái ý nghĩa thuộc các bộ phận NTT chủ quan ởngữ liệu khảo sát
Chương 3 Giá trị nghĩa tình thái của câu trong các đoạn hội thoại (trên những văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11 - tập một)
Chương này chúng tôi sẽ phân tch, khẳng định những đóng góp của NTT đốivới việc khắc họa tnh cách nhân vật, thể hiện chủ đề tác phẩm và góp phần thể hiệnphong cách tác giả
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Khái quát về câu và nghĩa tình thái
1.1.1 Khái quát về câu
Vấn đề về câu từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước Khái niệm này được các nhà ngôn ngữ học tếp cận theo nhiềuhướng khác nhau
* Trên thế giới có các khuynh hướng định nghĩa câu sau:
- Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa
Thế kỉ thứ III-II trước công nguyên, học phái ngữ pháp Alecxangđria đã nêuđịnh nghĩa: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” [dẫntheo
2,105]
- Khuynh hướng hình thức ngữ pháp:
Khuynh hướng này, Tác giả F.Ja Fililov theo dấu câu đã nêu định nghĩa: “Câu là một chuỗi hình nằm giữa hai dấu chấm và hai chữ cái viết hoa” [ dẫntheo
27, 11]
- Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào cả mặt ý nghĩa và mặt hình thức:Viện sĩ V.V Vinogradov định nghĩa như sau: Câu đó là đơn vị lời nói hoàn chỉnhđược hình thành về mặt ngữ pháp theo qui tắc một ngôn ngữ nhất định làm phươngtện quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng Câu không chỉbiểu thị sự truyền đạt về hiện thực mà còn cả mối quan hệ của người nói với hiệnthực
* Ở Việt Nam có các khuynh hướng định nghĩa câu sau:
- Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa:
+ Trần Trọng Kim: “Câu lập thành do một mệnh đề có nghĩa lọn hẳn hoặc dohai hay nhiều mệnh đề”
- Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa và hình thức:
Trang 17+ Hoàng Trọng Phiến: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bêntrong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đốitrọn vẹn có kèm theo thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói,giúp
Trang 18hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất” [37, 285].
+ Diệp Quang Ban định nghĩa như sau: “ Câu là đơn vị của nghiên cứu ngônngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài ) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mangmột ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hìnhthành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thôngbáo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2, 106]
- Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng:
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là tác giả Nguyễn Thiện Giáp: Câu là đơn vịngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảmhoặc một cảm xúc
Từ các cách định nghĩa trên cho thấy, câu được nhìn nhận ở nhiều phươngdiện và có sự thay đổi theo từng thời kì khác nhau Bởi vậy, trong lịch sử ngôn ngữhọc đã tồn tại nhiều định nghĩa về câu Chúng tôi chọn cách định nghĩa câu dựa vàomặt ý nghĩa và hình thức của tác giả Diệp Quang Ban Do định nghĩa đã nêu đượcnhững đặc trưng về nghĩa của câu và điều đó phù hợp với đối tượng nghiên cứu của
đề tài
Phạm vi nghĩa của câu là một vấn đề khá phức tạp, việc đưa ra một câu trả lờichính xác: “Câu nói của chúng ta truyền tải những nghĩa gì?” là không dễ Dù đã cốgắng đưa ra đáp án, nhưng vẫn chưa có câu trả lời nào thỏa mãn được số đông ýkiến của các nhà ngôn ngữ học Sang đến những nghiên cứu gần đây, đã bắt đầuthấy xuất hiện sự phân biệt ra các loại ý nghĩa tuy không phải lúc nào cũng rõ ràng,nhưng hầu hết đều thống nhất rằng câu có hai nghĩa: nghĩa miêu tả và nghĩa tìnhthái
1.1.2 Khái niệm nghĩa tình thái
Trong lịch sử nghiên cứu ngành ngôn ngữ học, mặc dù tình thái trong ngônngữ là một vấn đề khá mới so với các vấn đề ngôn ngữ khác, nhưng nó lại được cácnhà nghiên cứu quan tâm một cách đặc biệt bằng những công trình nghiêncứu chuyên sâu, tếp cận theo nhiều hướng với những phương diện khác nhau.Chính sự quan đặc biệt của các nhà ngôn ngữ đã khiến cho lĩnh vực nghiên cứu nghĩa
Trang 19tình thái ngày một phát triển NTT là một thành phần nghĩa phức tạp, bởi vậy nóđược hiểu theo nhiều cách khác nhau và quan niệm về nó chưa có sự nhất quántrong các nhà ngôn ngữ học Điều đó được thể hiện như sau:
Trang 20- Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài.
+ Vinogradov xem tình thái như phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song songvới phạm trù vị tnh và định nghĩa nó như sau: “ Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tìnhthái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực” [22]
+ Ch Bally cũng là một trong những người đầu tên đề cập đến vấn đề tìnhthái một cách hệ thống Ông chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát
ngôn hai thành phần cơ bản tương ứng là dictum (tình thái) và modus (ngôn liệu) Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tềm năng Nó gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của ngôn ngữ Còn mudus thì gắn với
bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá củangười nói đối với điều được nói ra, xét trong các chiều kích quan hệ với thực tế,quan hệ với người đối thoại và quan hệ với hoàn cảnh giao tếp Modus tham gia vàoquá trình thực tại hóa, nhờ đó nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng có thể trởthành phát ngôn hiện thực Modus cho biết sự tình nêu trong phát ngôn chỉ là khảnăng hay đã là hiện thực, là khẳng định hay phủ định, cho biết mức độ cam kết củangười nói đối với độ xác thực của điều được nói ra, thể hiện đánh giá của ngườinói đối với hành động được nêu ra trong câu, cho biết ý chí, mong muốn, mục đíchcủa người nói khi phát ngôn câu nói,… [22, 86]
Ví dụ: (1) Anh hát.
(2) Anh hát à?
(3) Anh hát đi!
(4) Anh đã hát đâu.
Các ví dụ nêu trên, đều có chung một nội dung cốt lõi là chỉ quá trình diễn ra
một sự việc Hay nói cách khác, chúng đều có chung một nội dung mệnh đề là Anh
hát Song ở mỗi ví dụ lại có một ý nghĩa tình thái riêng, cụ thể: Ở ví dụ (1) là tình thái
khẳng định, không có tểu từ tình thái cuối câu Ở ví dụ (2) tểu từ tình thái à cuối
câu, là tình thái nghi vấn, thể hiện sự quan tâm của người nói đối với người nghe
Tiếp đến ví dụ (3) có tểu từ tình thái đi biểu thị hành động điều khiển, giục giã Còn
ví dụ (4), từ đâu cuối câu biểu thị tình thái phủ định, bác bỏ sự việc nói trên Và chính
Trang 21các tình thái này làm nên sự khác nhau của bốn câu trên.
Trang 22Xuất phát từ hai thuật ngữ dictum và modus trên, Ch Bally đã đưa ra định
nghĩa như sau: “Tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự việc haytrạng thái diễn đạt trong câu” [ 22, 86]
+ O.B Xirotnina cho rằng tình thái nằm trong vị tnh của câu “thời tnh, tìnhthái tnh và ngôi tnh nằm trong cấu trúc vị tnh và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính
mà thiếu nó thì không thể có thông báo” [ 22, 84]
+ Liapol quan niệm: “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện cácdạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủquan khác nhau với điều được thông báo” [22, 85]
+ Palmer định nghĩa: “Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độhoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu” [22, 85]
+ Theo Lyons: “ Tình thái là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề màcâu biểu thị hay sự tình mà mệnh đề miêu tả” [22, 85]
+ N Chomsky quan niệm rằng: câu bao giờ cũng phải là câu tường thuật haycâu nghi vấn hoặc câu mệnh lệnh Tính chất khác nhau của các câu đó là tình thái.Như vậy, tình thái là yếu tố bắt buộc phải có, để cùng với “hạt nhân” tạo ra “câu cơsở” [dẫn theo 34, 104 – 105]
+ J Bybee hiểu tình thái theo nghĩa rộng, đó là “tất cả những gì mà người nóithực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” [dẫn theo 34, 105]
Như vậy, trên thế giới có quan niệm rộng, hẹp khác nhau về NTT
+ Theo quan niệm hẹp, NTT thường được cho là phần nghĩa phản ánh mốiquan hệ, thái độ, ý định của người nói đối với nội dung phát ngôn và quan hệ nộidung phát ngôn đối với thực tế
+ Theo quan niệm rộng, tình thái - nói theo Bybee - là “tất cả nhũng gì màngười nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề”
- Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
+ Hoàng Trọng Phiến cho tình thái là một điều kiện để tạo câu (cùng với tính
vị ngữ: “Câu bao giờ cũng mang tính tình thái nhất định (…) Nó có tác dụng thôngbáo một điều gì mới mẻ Qua câu, người nhận hiểu rõ người nói có thái độ như thếnào đối với hiện thực, người nói trình bày hiện thực với sự đánh giá của mình” (đúng
Trang 23hay sai, tin hay ngờ, ước đoán hay đã tồn tại thực, khuyên bảo hay ra lệnh…) [dẫntheo 34, 105].
Trang 24+ Cao Xuân Hạo phân biệt: “Trong lô gích học, nội dung của một mệnh đềđược chia làm hai phần Phần thứ nhất gọi là ngôn liệu (lexis hay dictum), tức cái tậphợp gồm sở thuyết (vị ngữ lô gích) và các tham tố của nó được xét như một mối liên
hệ tềm năng, và phần thứ hai gọi là tình thái (modalité), là cách thực hiện mốiquan hệ ấy, cho biết mối liên hệ ấy là có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định
nó, coi nó là phi hiện thực), là tất yếu hay là không tất yếu, là có thể có được haykhông thể có được” [dẫn theo 34, 105 - 106]
+ Theo Diệp Quang Ban thì câu có nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Nghĩamiêu tả phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói đến trong câu Nghĩa tình thái chỉ ýđịnh (ý chí, ý muốn), thái độ, tình cảm của người nói đối với điều được nói ra (cònđược gọi là nghĩa liên nhân, nghĩa bộc lộ) Ngoài ra, phần nghĩa chỉ quan hệ củangười nói đối với người nghe cũng có thể xếp vào nghĩa tình thái [1, 181]
+ Nguyễn Văn Hiệp cho rằng “Nghĩa tình thái là phạm trù ngữ nghĩa bao gồmnhững quan điểm, thái độ khác nhau của người nói, được hiểu như là những thôngtin kèm theo, có tác dụng định tnh cho nội dung được miêu tả trong câu, xét trongmối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp” [22, 84]
+ Nguyễn Thiện Giáp đã phân biệt tình thái trong lô gích và trong ngôn ngữ Lôgích học quan tâm tới tình thái khách quan, chỉ quan tâm tới giá trị chân lí củamệnh đề Tình thái trong ngôn ngữ liên quan đến thái độ chủ quan của người nói Đó
là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng màmệnh đề đó miêu tả, là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến củangười nói đối với điều được nói ra [17, 334 - 335]
+ Nguyễn Thị Lương định nghĩa: “Tình thái là một phần nghĩa của câu thểhiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữangười nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phảnánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan” [27, 178]
+ Nguyễn Thị Nhung, trong Đề cương bài giảng dành cho học viên sau Đại
học, theo quan niệm rộng, tác giả cho rằng: “Tình thái là tất cả những gì mà ngườinói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một lời nói Nó biểu thị ýđịnh, thái độ, sự đánh giá của người nói với nội dung phát ngôn, quan hệ của nội
Trang 25dung phát ngôn với hiện thực khách quan và quan hệ của người nói với người nghe”[34, 107].
Trang 26Tổng hợp những quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về khái niệm NTT từtrước đến nay, chúng tôi thấy rằng: Tình thái là một phạm trù phức tạp và chưa thểthống nhất Đúng như V.Panfilov đã có một nhận xét rất xác đáng là: không có phạmtrù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ranhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái Trong công trình này
chúng tôi quyết định theo quan điểm rộng về NTT trong Đề cương bài giảng của
Nguyễn Thị Nhung, bởi nội dung định nghĩa phù hợp với việc nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến nội dung mà chúng tôi sẽ tến hành khảo sát trong cả luận văn
1.1.3 Phân loại nghĩa tình thái
Như chúng ta đã biết, hiện nay một trong những trọng tâm mà ngữ phápchức năng - khuynh hướng ngữ pháp thiên về ngữ nghĩa đang theo đuổi là nghiêncứu tình thái của câu Cũng như những quan niệm về định nghĩa, khái niệm tình tháithì việc phân loại NTT cũng trở nên vô cùng phức tạp khi ngành ngôn ngữ học đónnhận rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Việc phân loại NTT cũng đã cónhiều ý kiến, quan điểm không thống nhất và có sự khác nhau tương đối:
- Cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài
+ V.N Bondrenko cho rằng chỉ có hai nhóm ý nghĩa dưới đây mới đúng là các ýnghĩa tình thái:
Nhóm 1: Tính khả năng, tnh thực tế và tnh cần yếu Nhóm ý nghĩa này là cơ
sở cho tình thái khách quan
Nhóm 2: Sự nghi ngờ, tnh không chắc chắn (giả định khả năng) và tnh dứtkhoát Nhóm ý nghĩa này là cơ sở chính cho tình thái chủ quan
+ J Lyons nêu lên hai loại ý nghĩa tình thái là tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa Cả hai tình thái này đều có thể mang tnh khách quan hoặc chủ quan Tính
khách quan có ở “tình thái được trình bày như một cái gì đó hiện tồn trong thế giớikhả hữu mang tính nhận thức hay đạo nghĩa nào đó, vốn ở bên ngoài bất kì ai nóicâu đó trong những trường hợp phát ngôn cụ thể” [29, 340] Tính chủ quan thể hiện
“khi phát ngôn câu này, người nói (khAAái quát hơn, tác thể tạo lời) có thể biểu đạthoặc niềm tn và thái độ riêng, hoặc mong muốn và thẩm quyền riêng của mình chứkhông phải chỉ là tường thuật sự tồn tại của một sự tình này nọ, với tư cách của mộtngười quan sát trung dung Tình thái chủ quan phổ biến hơn rất nhiều so với tình thái
Trang 27khách quan trong hầu hết những trường hợp sử dụng ngôn ngữ thường ngày” [29,340].
Trang 28+ F Pamer cũng nói tới tình thái nhận thức và đạo nghĩa Trong đó, tình thái
nhận thức “cần được xem là dùng để chỉ ra vị thế hiểu hay biết của người nói”, nó
“không chỉ liên quan đến tnh khả năng hay tất yếu mà còn liên quan đến mức độcam kết của người nói đối với điều anh ta nói ra” Còn “tình thái đạo nghĩa lại liênquan đến tnh hợp thức về đạo lý của hành động do một người nào đó hay chínhngười nói thực hiện” [dẫn theo 47, 16]
+ M Liapon có cách chia khác như sau: Ông chia ý nghĩa tình thái thành hailoại là tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan là dấu hiệutất yếu của một phát ngôn bất kì, biểu thị mối quan hệ giữa cái được thông báo vớithực tế ở bình diện hiện thực tnh và phi hiện thực tnh Tình thái chủ quan là dấuhiệu không bắt buộc của một phát ngôn, biểu thị quan hệ của người nói với điềuđược thông báo Khái niệm “đánh giá” làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho “tình thái chủquan” nó bao gồm không chỉ các đánh giá lô gich (lí tnh, duy lí) mà cả các dạng khácnhau về phản ứng có tnh cảm giác (phi lí tnh)
+ Rescher (1969) đã đề nghị một hệ thống mở về tình thái Bên cạnh các loạitình thái tất suy và đạo lí ông đề cập các loại tình thái: tình thái thời đoạn, mongước, những tình thái đánh giá và những tình thái nhân quả [22, 80 - 81]
Như vậy, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài thường phân biệt giữa tình tháinhận thức và tình thái đạo nghĩa (ở các mức độ khác nhau) khi nói tới tình thái Họđều dựa trên hai têu chí là tnh chủ quan và tnh khách quan trong mối quan hệ vớihành động và ý nghĩa ngôn từ
- Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
+ Cao Xuân Hạo trước hết phân biệt hai loại tình thái: tình thái của hành độngphát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Tình thái của hành động phát ngônthuộc bình diện dụng pháp, phân biệt các lời về phương diện mục têu, tác dụng củagiao tế Tình thái của lời phát ngôn thuộc bình diện nghĩa học, gắn với nội dung đượctruyền đạt, thái độ của người nói với điều được nói ra, quan hệ giữa sở đề và sởthuyết của mệnh đề Tình thái của lời phát ngôn lại được chia thành: tình thái củacâu (thái độ của người nói với điều nói ra, tnh hiện thực, xác thực, tất yếu, khả
Trang 29năng,…); tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân (dạng thức của hành động, tnh chất,trạng thái do phần thuyết biểu thị) [dẫn theo 34, 110].
Trang 30+ Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên) phân
biệt tình thái khách quan với tình thái chủ quan Tình thái khách quan “biểu hiện mốiquan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan (có thật hay không
có thật, có thể hay không có thể, tất yếu hay ngẫu nhiên) bằng các phạm trù thức,phạm trù thời, các loại ngữ điệu khác nhau v.v…” [48, 297] Tình thái chủ quan “biểuhiện thái độ (quan hệ) của người nói đối với điều được thông báo (tn hay không tn,đồng ý hay không đồng ý, đánh giá, biểu cảm) bằng trật tự từ, ngữ điệu, phép kí từ,
từ tình thái, tểu từ, từ cảm, từ xen, v.v…” [48, 297]
+ Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, phải qua những đối lập thì bức tranh về tình tháimới hiện ra một cách rõ ràng nhất, đúng bản chất nhất Tác giả đã đưa ra các thể đốilập: tình thái trong logic và tình thái trong ngôn ngữ; trong ngôn ngữ lại có đối lậpgiữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa, đối lập giữa tình thái nhận thức
và tình thái căn bản, đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng ngườinói, đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn vàcuối cùng là những đối lập tình thái mang tnh “lập trường” thuộc chủ quan củangười nói [22, 96 - 127]
+ Diệp Quang Ban cũng phân biệt tình thái của hành động nói và tình thái củaphát ngôn: “Tình thái của hành động nói là ý định (ý chí, ý muốn, còn gọi là cái đích,mục đích) thực hiện một hành động nào đó của người nói khi nói ra một lời
Tình thái của phát ngôn là cách đánh giá, thái độ của người nói đối với sự thể(vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong phát ngôn” [1, 183]
Tình thái của phát ngôn gồm tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tìnhthái khách quan có thể kiểm tra được tính đúng sai, gồm tình thái khẳng định và tìnhthái phủ định Tình thái chủ quan là thứ tình thái không kiểm tra được tnh đúng sai,chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nói đến.Ngoài ra, tình thái chỉ ý kiến và tình thái chỉ quan hệ của người nói đối với ngườinghe cũng có thể xếp vào phạm trù tình thái trong câu [1, 201-204]
+ Nguyễn Thị Nhung, trên cơ sở hai công trình Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú
pháp (Nguyễn Văn Hiệp, 2007, 74 186) và Ngữ pháp tiếng Việt (Diệp Quang Ban
Trang 31-Hoàng Dân, 2000, 196 - 206) đã đưa ra những nhận định và có cách nhìn bao quát vềcác thành phần NTT Tác giả cho rằng, trong tình thái của lời phát ngôn cần phân biệt
Trang 32nghĩa tình thái hướng về sự việc và nghĩa tình thái hướng về người nghe Ở nghĩatình thái hướng về sự việc có hai nhóm: nhóm tình thái khách quan và nhóm tìnhthái chủ quan Nhóm tình thái khách quan gồm tình thái khẳng định, tình thái phủđịnh, tình thái của sự tình được truyền đạt Nhóm tình thái chủ quan lại gồm tìnhthái biểu thị nhận thức, ý kiến, tình thái biểu thị đạo nghĩa, tình thái biểu thị thái độ,tình cảm và tình thái đánh giá” [34, 112].
Tóm lại, các tác giả trên đã có cách nhìn nhận các thành phần NTT không chỉtrong quan hệ đẳng lập mà cả trong quan hệ cấp độ, tôn ti Nhờ vậy, các NTT đã cóquan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành hệ thống tương đối hoàn chỉnh
Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, thật khó mà có được một sự phân biệt thật
rõ ràng, bao quát cho tất cả các ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái Bởi trong ngôn ngữ
tự nhiên, các phương tiện biểu hiện tnh tình thái là rất đa dạng Các ý nghĩa tìnhthái nhiều khi đan bện vào nhau làm thành một phổ liên tục không dễ gì quy hoạchthành những kiểu loại, những bình diện rõ ràng Tuy vậy, để bức tranh về NTT trongcâu tếng Việt hiện lên một cách sáng rõ thì việc phân loại vẫn là một yêu cầu bắtbuộc đối với người nghiên cứu
Xuất phát từ cách phân loại về NTT của các tác giả trên, chúng tôi có thể tổnghợp và đưa ra những bộ phận NTT cụ thể như sau:
Đầu tên, chúng tôi chia NTT thành hai bộ phận lớn: bộ phận thứ nhất biểu thịmối quan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan; bộ phận thứhai biểu thị quan hệ giữa người nói đối với điều được nói đến trong câu, và vớingười nghe Bộ phận thứ nhất còn được gọi là nhóm NTT khách quan (NTTKQ) hoặcNTT hướng tác thể; bộ phận thứ hai được gọi là nhóm NTT chủ quan (NTTCQ) Mặc
dù tình thái khách quan đã được logic học quan tâm đến bởi nó biểu thị tnhđúng/sai hay thực cách của mệnh đề trong câu nói, nhưng nó cũng là một nhóm,một bộ phận nghĩa tình thái trong ngôn ngữ học
Tiếp đến là các tểu nhóm NTT thuộc hai bộ phận NTT trên cũng được chúngtôi đề cập một cách cụ thể
1.1.3.1 Tình thái khách quan
Trang 33Tình thái khách quan là loại NTT chỉ ra mối quan hệ giữa cái được thông báovới thực tế ở bình diện hiện thực tính, phi hiện thực tính và phản hiện thực tính Đó
là dấu
Trang 34hiệu NTT của bất kỳ phát ngôn nào Nó gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sựđánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói Người nói chỉ trìnhbày lại hiện thực một cách khách quan, như nó vốn có mà thôi.
Bộ phận NTT này thường được chia làm ba loại là: NTTKQ hiện thực,NTTKQ phi hiện thực và NTTKQ phản hiện thực
a Nghĩa tình thái khách quan hiện thực
Loại NTT này biểu thị sự việc được nói đến trong câu là có tnh hiện thực: đãxảy ra, có điểm bắt đầu/ điểm kết thúc, có trạng thái kéo dài/ không kéo dài, bấtngờ/ không bất ngờ
Ví dụ: (5) Tôi đã làm xong bài kiểm tra.
(dùng phó từ chỉ thời gian đã trong câu để khẳng định sự việc “làm…bài kiểm tra” đã
xảy ra, đã hoàn thành)
b Nghĩa tình thái khách quan phi hiện thực
Đây là tiểu bộ phận NTTKQ biểu thị sự việc được nói đến trong câu là chưaxảy ra, có khả năng xảy ra trong hiện thực khách quan
Ví dụ: (6) Ngày mai, nó định về quê thăm gia đình.
(động từ tình thái định xuất hiện trong câu thể hiện ý định, khả năng có thể xảy ra;
sự việc chưa xảy ra trong thực tế)
c Nghĩa tình thái khách quan phản hiện thực
Tiểu bộ phận NTTKQ này biểu thị sự việc được nói đến trong câu là khôngxảy ra trong hiện thực khách quan Đây cũng chính là NTT phủ định, và phủ địnhmang tnh khách quan thường là phủ định miêu tả Đó là sự xác nhận âm tính đốivới sự tồn tại của hiện tượng, quan hệ, sự vật,…
Trang 35trong câu hoặc thể hiện thái độ của mình đối với hành động được đề cập đếntrong
Trang 36câu Dung lượng của tình thái chủ quan có tnh chất rộng hơn tình thái khách quan vàkhông đồng nhất Tình thái chủ quan được chia thành hai tểu nhóm như sau: nhómbiểu thị quan hệ của người nói với sự tình được nói đến trong câu và nhóm biểu thịquan hệ của người nói đối với người nghe.
a Nhóm biểu thị quan hệ của người nói với sự tình được nói đến trong câu.
Tiểu nhóm này bao gồm: nghĩa tình thái nhận thức (NTTNT), nghĩa tình tháicảm xúc (NTTCX) và nghĩa tình thái đánh giá (NTTĐG)
+ Tình thái nhận thức: Tính chủ quan trong tình thái nhận thức thể hiện ởnhững bằng chứng và cơ sở suy luận mang tính cá nhân của người nói nhằm thểhiện sự cam kết có phạm vi, mức độ vào tnh chân thực của điều được nói ra.Trường hợp không đánh dấu về tình thái nhận thức là người nói xác nhận hoàn toàntnh chân thật của điều được nói ra Còn trường hợp có đánh dấu về tình thái nhậnthức là trường hợp người nói thể hiện những mức độ cam kết thấp hơn NTTNTđược đánh dấu ở các sắc thái: NTTNT hiện thực (người nói khẳng định tnh chân lícủa điều được nói đến trong câu; khẳng định điều được nói đến trong câu có mộtgiá trị tương đối hay có sự xác thực hạn chế), NTTNT phi hiện thực (người nói phỏngđoán, nhận định về một điều gì đó có thể đã xảy ra, đang, sẽ xảy ra hoặc không xảyra) và NTTNT phản hiện thực (người nói khẳng định tnh chân lí của một nội dungmang đính phủ định được nói đến trong câu)
Ví dụ: (8) Chắc là cô ấy đi du học rồi.
(dùng từ Chắc là biểu thị khả năng hiện thực là phỏng đoán, nửa tn nửa ngờ về việc
cô ấy đi du học, sự phỏng đoán với độ tn cậy cao; thuộc sắc thái NTTNT phi hiện
thực)
+ Tình thái cảm xúc: là tểu loại tình thái chủ quan dùng để biểu thị thái độ,các cung bậc cảm xúc của người nói trước điều được nêu ra trong câu NTTCX đượcđánh dấu bởi các sắc thái: NTTCX vui mừng, phấn khởi, tự hào; NTTCX băn khoăn, lolắng, sợ hãi; NTTCX buồn khổ, nuối tếc, đau đớn, xót xa; và NTTCX coi thường, khinhghét, bực tức
Ví dụ: (9) A, nhìn thấy rồi!
(dùng tểu từ tình thái A nhằm biểu lộ cảm xúc vui mừng, phấn
khởi)
Trang 37+ Tình thái đánh giá: biểu thị sự đánh giá của người nói đối với điều được nêu
ra trong câu NTTĐG được đánh đấu bởi các sắc thái: NTTĐG về tnh hợp lí;
Trang 38NTTĐG về tnh tch cực, têu cực; NTTĐG về con số, mức độ, chủng loại, tnh cùngcực; NTTĐG về tnh bất ngờ, bất thường; NTTĐG về ưu thế hoặc nhấn mạnh vềthông tn.
Ví dụ: (10) Nhỡ đâu trời mưa.
(sử dụng quán ngữ Nhỡ đâu với mục đích là thể hiện sắc thái đánh giá về tnh tiêu cực, trời mưa là điều không mong muốn của người nói nếu nó xảy ra).
b Nhóm biểu thị quan hệ của người nói đối với người nghe.
Tiểu nhóm này bao gồm: nghĩa tình thái đạo lí (NTTĐL) và nghĩa tình tháibiểu thị thái độ người nói đối với người nghe (NTTTĐ)
+ Tình thái đạo lí: Đây là loại tình thái có liên quan đến nhân tố ý chí củangười nói, nó liên quan đến sự bắt buộc (hay cấm đoán) và sự cho phép (hay miễntrừ) Tình thái đạo lí thể hiện ý chí, mong muốn của người nói đối với việc thực hiệnhành động Qua đó, người nói thể hiện mong muốn người nghe thực hiện hành độnghay ý chí tự mình thực hiện hành động NTTĐL được đánh dấu bởi: sắc thái nghĩađược phép, sắc thái nghĩa được miễn trừ, săc thái nghĩa bắt buộc và sắc tháinghĩa
+ Tình thái thể hiện thái độ của người nói đối với người nghe (NTTTĐ)
Thái độ của người nói đối với người nghe được thể hiện ở các sắc thái tìnhcảm như sau: thái độ lịch sự, tôn trọng, cung kính; thái độ thân mật, tình cảm, suồng
sã, bỗ bã; và thái độ khinh thường, không tôn trọng
Ví dụ (12): Thưa cụ, con đã về ạ!
Trang 39(việc dùng thán từ Thưa, cặp đại từ nhân xưng cụ - con, và tiểu từ ạ đã giúp cho
người nói thể hiện được thái độ tôn trọng, kính trọng đối với người nghe (người đốithoại))
Tóm lại, trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, ý nghĩa tình thái khách quan và tìnhthái chủ quan không tách rời trong một phát ngôn Chúng tôi cho rằng, trên đây
là cách nhìn có tnh hệ thống, khoa học và dễ nhận thức Vì vậy, chúng tôi lựachọn
Trang 40quan niệm này, bởi nó phù hợp cho việc nghiên cứu, khảo sát của luận văn Do giớihạn của luận văn nên chúng tôi chỉ có thể tến hành nghiên cứu, khảo sát một bộphận NTT trên, đó là NTTCQ.
1.1.4 Các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái trong tiếng Việt
Ngôn ngữ nào cũng có những phương tện tải NTT, chỉ cần chú ý đến mức độ
sử dụng nhiều hay ít hoặc cách thức biểu hiện như thế nào Khi xem xét các phươngtện biểu thị tình thái một cách tổng thể chúng tôi thấy rằng: Trong các ngôn ngữbiến hình, các phương tện ngữ pháp dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái được rạchròi và chú trọng hơn so với các phương tiện từ vựng, còn trong ngôn ngữ đơn lập thìngược lại Thực tế khi xem xét cách biểu đạt tình thái trong tếng Việt, chúng ta nhậnthấy: các dấu hiệu từ vựng được sử dụng hết sức linh hoạt và với tần số cao hơn hẳn
so với các phương tện ngữ pháp
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái Cácphương tện biểu hiện NTT rất phong phú, vì vậy việc xác định những phương tệnhình thức biểu hiện tnh tình thái không phải là đơn giản Dưới đây, chúng tôi có thểkhái quát một số phương tện biểu hiện NTT trong tếng Việt như sau:
1.1.4.1 Phương tiện ngữ
âm
Ngữ điệu: là yếu tố không thể thiếu được của câu, của phát ngôn Ngữ điệu là
một khúc đoạn của lời nói và bao giờ cũng phải có ý nghĩa thông báo nhất định (cả
việc biểu thị ý nghĩa thông báo tối thiểu có hoặc không) Khi nghe người khác phát
ngôn trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể nhận thấy rằng: người nói thường
có xu hướng lên giọng ở trọng âm chính của câu, xuống giọng ở cuối câu đối vớinhững câu trần thuật, câu yêu cầu, điều khiển, v.v Đối với câu hỏi ta có thể: xuốnggiọng ở cuối câu khi người nói chờ đợi sự đồng ý của người nghe; lên giọng ở cuốicâu khi người nói muốn hỏi thông tin Còn đối với câu cảm thán: xuống giọng ở cuốicâu khi người nói thể hiện sự băn khoăn, lo lắng, buồn khổ, đay nghiến, v.v ; lêngiọng ở cuối câu khi người nói thể hiện sự vui mừng, phấn khởi, ngạc nhiên, tự hào,v.v