Câu 1: Phân tích quá trình hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới. Khái niệm: KTTT là nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường. Đó là cơ chế điều tiết nền kinh tế bởi các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận. KTTT là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, trong đó các yếu tố đầu vào, đầu ra đều thông qua thị trường, các chủ thể trong nền kinh tế chịu tác động của các quy luật của thị trường và thái độ ứng xử của họ hướng vào tìm kiếm lợi ích thông qua sự điều tiết cuả giá cả thị trường. Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu cua nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nền kinh tế thi trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”. Tính tất yếu của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Điều kiện trong nước Nền sản xuất hàng hóa Việt Nam sau thời kỳ đổi mới (1986) đã phát triển mạnh, những yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường được hỉnh thành và phát triển, vì vậy tất yếu nền kinh tế thị trường xuất hiện. Thời kỳ trước năm 1986, mô hình phát triển kinh tế tập trung bao cấp đã biểu hiện kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt giai đoạn 19751986. Đại hội Đảng lần thứ VI đã thực hiện cuộc cách mạng đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế mà cốt lõi là chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Sự đổi mới đó đã từng bước hinh thành và phát triển các yếu tố cơ bản của thị trường như: giá cả hình thành theo cơ chế tự do; trên thị trường các chủ thể cạnh tranh nhau để tìm kiếm lợi nhuận; nền kinh tế hoạt động theo các quy luật của thị trường, v.v... Đó là những điều kiện cho sự hình thành và phát triển KTTT. Mặt khác, Việt Nam có những tiền đề chính trịxã hội để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sàn và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế là tiền đề chính trị quan ứọng để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, sự đồng thuận của đại đa số nhân dân trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế đất nước để xây đựng chủ nghĩa xã hội đã tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển. Điều kiện quốc tế Trong lịch sử phát triển các mô hình kinh tế của nhân loại đã ưải qua thỉ kinh tế thị trường là mô hình kinh tế có hiệu quả nhất. Kinh tế thị trường đã tạo ra năng suất lao động cao, tạo ra nguồn hàng lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng
Trang 1ĐƯỜNG LỐI
Nội dung: 04 câu đáp án phần thi tự luận, cụ thể như sau:
Câu 1: Phân tích quá trình hình thành tư duy của Đảng về kinh tế
thị trường thời kỳ đổi mới.
Khái niệm: KTTT là nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường Đó là
cơ chế điều tiết nền kinh tế bởi các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận
KTTT là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, trong đó các yếu tố đầu vào, đầu ra đều thông qua thị trường, các chủ thể trong nền kinh tế chịu tác động của các quy luật của thị trường và thái độ ứng xử của họ hướng vào tìm kiếm lợi ích thông qua sự điều tiết cuả giá cả thị trường
Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu cua nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nền kinh tế thi trưởng định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”
Tính tất yếu của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
Điều kiện trong nước
Nền sản xuất hàng hóa Việt Nam sau thời kỳ đổi mới (1986) đã phát triển mạnh, những yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường được hỉnh thành và phát triển, vì vậy tất yếu nền kinh tế thị trường xuất hiện Thời kỳ trước năm 1986,
mô hình phát triển kinh tế tập trung bao cấp đã biểu hiện kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt giai đoạn 1975-1986 Đại hội Đảng lần thứ VI đã thực hiện cuộc cách mạng - đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế mà cốt lõi là chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Sự đổi mới đó đã từng bước hinh thành và phát triển các yếu tố cơ bản của thị trường như: giá cả hình thành theo cơ chế tự do; trên thị trường các chủ thể cạnh tranh nhau để tìm kiếm lợi nhuận; nền kinh tế hoạt động theo các quy luật của thị trường, v.v Đó là những điều kiện cho sự hình thành và phát triển KTTT
Mặt khác, Việt Nam có những tiền đề chính trị-xã hội để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sàn
và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế là tiền đề chính trị quan ứọng để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Mặt khác, sự đồng thuận của đại đa số nhân dân trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế đất nước để xây đựng chủ nghĩa xã hội đã tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển
Điều kiện quốc tế
Trong lịch sử phát triển các mô hình kinh tế của nhân loại đã ưải qua thỉ kinh tế thị trường là mô hình kinh tế có hiệu quả nhất Kinh tế thị trường đã tạo
ra năng suất lao động cao, tạo ra nguồn hàng lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng
Trang 2cao của tiêu dùng (cả về số lượng, chủng loại, mẫu mã và chất lượng) và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hơn nền kinh tế tự cung, tự cấp; nền kinh tế tập trung, bao cấp
Phát triển kinh tế thị trường còn là yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu của thời đại, thực chất đó là sự tham gia của các quốc gia vào “sân chơi” chung cúa nền kinh tế thế giới - “sân chơi” đỏ là của các nền kinh tế thị trường Với chủ trương của Đảng
ta là “tích cực và chủ động hội nhập kinh tế thế giới”, tất yếu Việt Nam phải chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới Qua hơn 25 năm đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội thì đến Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội IX tiếp tục đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong đổi mới tư duy lý luận kinh tế của Đảng, đã xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội X làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) trong khi khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất, đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội cũng xác định cơ chế vận hành của nước ta
là "cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Trong cơ chế kinh tế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh
có hiệu quả; Nhà nước quàn lý nền kinh tế đế định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội
Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội XI Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức kinh tế thị trường chỉ như
Trang 3một công cụ, một cơ chế quản lý, đến nhận thức coi kinh tế thị trường như một chính thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Vậy thế nào là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Đại hội IX xác định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là "một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu
sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội" Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của "thị trường" được sử dụng để "phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân"!, còn tính "định hướng xã hội chủ nghĩa" được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản
lý và phân phối, nhằm mục đích cuối cùng là "dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh, phúc"
Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X và XI đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường
ở nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí là:
Về mục đích phát triển: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng, văn minh" giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn
Mục tiêu trên thể hiện rõ mục đích phát triển kinh tế vì con người, giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho mọi người, mọi người đều được hưởng những thành quả phát triển, ở đây thể hiện sự khác biệt với mục đích tất cả vì lợi nhuận phục vụ lợi ích của các nhà tư bản, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa tư bản
Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mỗi cá nhân và mọi vùng miền phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Để giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước phải nắm được các vị trí then chốt của nền kinh tế bằng trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao chứ không phải dựa vào bao cấp, cơ chế xin - cho hay độc quyền kinh doanh Mặt khác, tiến lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải đuợc dựa trên nền tảng của sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu
Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 4nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh té thị trường, đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi người
Hoàn thiện nhận thức và chủ chương về nền kinh tế nhiều thành phần, đại hội X khẳng định: "Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thế, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh
tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vừng chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế" Trên cơ sở phát lý luận và tổng kết thực tiễn, đại hội VI xác định: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển, về lâu dài, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chấc của nền kinh tế quốc dân Trong 5, 10 năm tới, không xác định thành phần kinh tế nào đóng vai trò nền tảng Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng, ngày càng phát triển
Trang 5Câu 5: Phân tích nội dung đường lối, chính sách Tôn giáo của Đảng và
Nhà nước Việt Nam hiện nay? Liên hệ với thực tiễn ở địa phương.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tôn giáo
Cơ sở lý luận
Đường lối, chính sách củạ Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo được đề
ra trước hết xuất phát từ các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo Trong đó có bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo và cách thức giải quyết vấn đề tôn giáo
Về bản chất của tôn giáo
Theo C.Mảc và Ph.Ăngghen, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là sự
tự ỷ thức, tự cảm giác của con người về thế giới xung quanh mình và về chỉnh bản thân họ Trong tác phẩm góp phần phê phản triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu, C.Mác đã khái quát bản chất của tôn giáo bằng luận điểm: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa Con người sáng tạo ra tôn giáo, tuy nhiên cái sản phẩm do con người sáng tạo ra ấy lại ữở nên xa lạ vằ quay lại thống trị con người Theo cách ấy, con người hiến cho tôn giáo càng nhiều thì cái mà con người còn giữ lại được lại càng ít, con người càng trở nên mất lý trí, đần độn và phụ thuộc hoàn toàn vào tôn giáo, vào thần linh của họ
về nguồn gốc của tôn giáo
Theo quan điểm mácxít, tôn giáo có 3 nguồn gốc cơ bản sau đây: nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý, tình cảm
Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân về kinh tế và xã hội tất yếu làm nảy sinh tôn giáo
Nguồn gốc nhận thức Tôn giáo là một phạm trù lịch sử và chỉ ra đời khi tư duy của con người đạt đến một trình độ nhất định Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức, hiểu biết của con người là có giới hạn Chính vì vậy mà nguyên nhân hình thành tôn giáo được chỉ ra là do sự ấu trĩ, kém hiểu biết của con người Điều đó đã được C.Mác khẳng định: “Giống như thần thánh vốn lúc đầu không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự nhầm lẫn của lý trí con người”2 Sự hiểu biết của con người trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể là hữu hạn, mà thiên nhiên lại là vô hạn, do đó, con người đã khoác cho thiên nhiên một
vỏ bọc thần thánh và tôn giáo ra đời bằng cách đó Tuy nhiên, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với quá trình nhận thức về thế giới khách quan
Đó là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn và không phải không có sai lầm Tính phức tạp của quá trình nhận thức ấy đã tạo ra khả năng xuất hiện các quan niệm sai lầm mang tính hư ảo, thần thánh của các tôn giáo trong lịch sử
về tính chất của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ tôn giáo có những tính chất cơ bản sau:
Tỉnh lịch sử: Tính lịch sử của tôn giáo có nghĩa là tôn giáo một phạm trù lịch sử, có quá trmh hình thành, phát triển, biến đổi và phán ánh những điều kiện
xã hội nhất địDÌbu C.Mác viêt: “Nhà nước ấy, xã hội ấy, đã sản sinh ra tôn giáo”1, còn Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: Tôn giáo từ trước cho đến nay đều
là sự biểu hiện của những trình độ phát triển lịch sử của từng dân tộc
Trang 6Chủ nghĩa Mác cho rằng, tôn giáo là một phạm trù lịch sử, tôn giáo nào cững có bắt đầu, có qua trình phát sinh Tôn giáo nào cũng có quá trình phát triển và quá trình đó bao giờ cũng dựa trên những điều kiện sinh hoạt vật chất và
xã hội nhất định (dựa trên một phương thức sản xuất nhất định) Tôn giáo bao giờ cưng biến động cùng với các biến động của lịch sử; ở mỗi dân tộc khác nhau
và mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau tôn giáo sẽ khác nhau (điều đó được minh chứng qua từng tôn giáo cụ thể) Là một phạm trù lịch sử, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo sẽ mất đi trong những điều kiện lịch sử nhất định, tôn giáo sẽ mất đi khi mà: “Con người không chỉ mưu sự, mà lại còn làm cho thành
sự nữa, thì khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi vì khi đó không có gì để phản ánh nữa cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên của nỏ”1 Tuy nhiên, lại cần phải nhận thức rõ rằng, quá trình mất đi của tôn giáo là một quá trình lâu dài khó đoán định, tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại rất lâu dài
Tính quần chúng: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến và mang tính quần chúng rất rõ rệt Điều đó trước hết được thể hiện: tôn giáo có phạm vi tồn tại vô cùng rộng rãi, không châu lục, quốc gia, dân tộc nào không có tôn giáo; tôn giáo có mặt khắp mọi nơi Tôn giáo rất đa dạng phong phú về chủng loại và có một lịch sử truyền giáo từ rất lâu Tính chính trị: Trong các xã hội có giai cấp, tôn giáo nào cũng phản ánh lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp Tôn giáo trong các xã hội có giai cấp bao giờ cũng tồn tại đồng thời cả 2 xu hướng tích cực và tiêu cực, có nhiều hoạt động thuần túy tôn giáo song cũng có các hoạt động không thuần túy Lịch sử nhân loại đã từng cho thấy có không ít những lực lượng chính trị lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo Chúng lợi dụng thần quyền, giáo lý, đức tin tôn giáo và
tổ chức tôn giáo để phục vụ cho lợi ích của chúng Hơn thế nữa trong lòng tôn giáo bao giờ cũng tồn tại nhiều loại lợi ích khác nhau do vậy tôn giáo mang trong mình nó mâu thuẫn xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhấn mạnh
sự lợi dụng tôn giáo cho những mục đích chinh trị Tôn giáo là công cụ tinh thần của tất cả các giai cấp áp bức nhằm tự biện hộ cho sự thống trị giai cấp của mình Trong lịch sử và trong xã hội đương đại, những cuộc chiến tranh tôn giáo hoặc những cuộc thánh chiến đẫm máu đã và đang diễn ra, thực chất vẫn là xuất phát từ lợi ích và việc bảo vệ cho những lọi ích khác nhau
Việc đề ra chính sách tôn giáo xuất phát từ phương pháp giải quyết tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lênin:
+ về thái độ của những người cộng sản đối với tôn giáo
Để giải quyết vấn đề tôn giáo, trước hết chủ nghĩa Mác đã thể hiện rõ lập trường quan điểm và thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo rằng, cơ sở khoa học để xây dựng các quan điểm của mình trong giải quyết các vấn đề tôn giáo là chủ nghĩa duy vật biện chứng, về mặt thế giới quan, thế giới quan duy vật mácxít đối lập với thế giới quan duy tâm của tôn giáo Tuy nhiên, những người cộng sản thừa nhận sự tồn tại khách quan của tôn giáo trong những điều kiện lịch sử cụ thể và không có thái độ xem thường hoặc phủ nhận nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và tự do tín ngưỡng tôn giáo của người có đạo Người có đạo
Trang 7và không có đạo dưới chủ nghĩa xã hội có thể cùng nhau xây dựng một thiên đường thực sự ứên trái đất này V.LLênin đã chỉ rõ: “Đối với chúng ta, sự thông.nhất'của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng đó của giai cấp bị áp bức để sáng tạo một cảnh cực lạc trên trái đất,là quan trọng hơn sự thống nhất ý kiến của những người vô sản về cảnh cực lạc trên thiên đường”1
+ về những bài học lịch sử trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
Cùng với việc nêu rõ thái độ quan điểm nói ừên, chủ nghĩa Mác còn nêu ra những bài học lịch sử bổ ích trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Đó là bài học: (1) không thuần túy về tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo Nếu chi tuyên truyền trừu tượng, tách rời khỏi cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề tôn giáo chứng ta sẽ thất bại trong giải quyết vấn đề tôn giáo; (2) không tả khuynh trong giải quyết vấn đề tôn giáo, thậm chí không thể đồng nhất tôn giáo với kẻ thù của chủ ngbĩa xã hội; (3) hữu khuynh coi tôn giáo chỉ là nhận thức chưa đầy đủ của tín đồ các tôn giáo và cứ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thi tôn giáo sẽ tự tiêu vong
+ Những vấn đề mang tính nguyên tắc trong giải quyết vấn đề tôn giáo Một là, khắc phục dằn ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, phải gắn liền vói quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Trên cơ sở triết học duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tổng kết tình hình thực tiễn, chủ nghĩa Mác đã lý giải cho sự gắn liền giữa 2 quá trình nót trên rằàg: tôn giáo nào cũng
có tính chất 2 mặt (tích cực và tiêu cực) và muốn thay đổi ỷ thức xã hội phải thay đổi tồn tại xã hội Hơn thế nữa, tôn giáo không chỉ lả một hỉnh thái ý thức
xã hội mà còn là một thực thể xã hội; tôn giáo mang tính lịch sừ và tồn tại bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện sinh hoạt vật chất và xã hội nhất định Tuy nhiên, quá trình nói trên không thể không gắn liền với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng nhằm xây dựng một thế giới quan khoa họ
Hai là, tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giảo Trong chủ nghĩa xã hội, việc tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo được coi là một nguyện tắc quan trọng, thể hiện bản chất dân chủ của chế
độ mới (đây là nguyên tắc nhất quán lâu dài) Tự do tín ngưỡng tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, là nhu cầu tinh thần của nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài Đây là vấn đề đặt ra từ thực tiễn khách quan của tôn giáo, từ nhu càu tín ngưõng của nhân dân và từ quy luật hình thành mặt tư tưởng cùa tôn giáo Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cho thấy: một mặt quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
và không tín ngưỡng tôn giáo thường bị kẻ xấu lợi dụng; mặt khác còn có nơi,
có lúc cán bộ ta xúc phạm đến tình cảm, đức tin tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng của giáo dân gây hoài nghi trong nhân dân về chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo Vì vậy, đi đôi với việc thực hiện tự do tín ngưỡng tôn giáo phải đấu ưanh chống lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo
Ba là, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo Tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác là một phạm trù lịch sử và là loại vấn đề phức tạp, tế nhị, nhạy cảm Tôn giáo biến động cùng với những biến động cửa lịch sử Hơn thế nữa, nhận thức và hoạt động của các giáo hội, của từng giáo sĩ và mỗi giáo dân là không giống nhau; vai trò, tác động của từng tôn giáo ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng khác nhau do vậy để giải quyết vấn đề tôn
Trang 8giáo cần phải linh hoạt vận dụng các điều kiện cụ thể từng nơi, từng lúc cho phù hợp Đối với người mácxít, cần nắm chắc diễn biến, không gian, thời gian của vấn đề nảy sinh trong tôn giáo để tìm cách giải quyết cho phù họp, không áp dụng một cách máy móc một phương pháp giải quyểt vấn đề cho mọi nơi, mọi lúc
Bốn là, cần phân biệt 2 mặt nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác tôn giáo bao giờ cũng có 2 mặt: mặt chinh trị và mặt tư tưởng; tôn giáo vừa là nhu cầu tinh thần eủa một bộ phận nhân dân lại vừa là một vấn đề chinh trị-xã hội và tư tưởng phức tạp Vì vậy, việc phân biệt 2 mặt trên vừa liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc vừa liên quan đến lợi ích, đức tin, tình cảm của giáo dân Kịp thời nắm rõ và phân biệt được 2 mặt nói trên là để có cách giải quyết phù hợp với từng mặt đem lạị hiệu quả cho công tác tôn giáo
Việc đề ra chính sách tôn giáo còn xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh, điều kiện tibtực tiễn của Việt Nam Không phải là một nhà tôn giáo học, song tư tưởng về tôn giáo của Hồ Chí Minh lả một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người- Trong đó
có những vấn đề cơ bản sau: tư tưởng về đoàn kết lương giáo; về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, không tín ngưỡng tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo, bài trừ mê tín dị đoan, về cách ứng xử và sử dụng các chức sắc tôn giáo, v.v Những quan điểm lý luận về những vấn đề nói trên là cơ sở để Đảng ta vận dụng vào giải quyết vấn đề tôn giáo và đề ra chính sách tôn giáo
Cơ sở thực tiễn
Trong những năm gần đây, đặc biệt là thập niên cuối của thế kỷ XX và thập niên đàu của thế kỷ XXI, cả trên bình diện quốc gia và quốc tế đời sống tôn giáo, tín ngưỡng phát triển khá sôi động Hầu hết các tôn giáo lớn đều đang phục hồi, chấn hưng, phát triển và mở rộng phạm vi, địa bàn truyền giáo Nếu như năm 2000, số tín đồ tôn giáo là 4,88 tỷ/6 tỷ đân số, chiếm 81% thì năm 2010 là 5,82 tỷ/6,7 tỷ dân số, tăng lên 87% (còn lại 13% không tôn giáo) Bên cạnh đó những hiện tượng tôn giáo mới, tà giáo đang phát triển nhanh dưới tác động của toàn càu hóa (theo thống kê thế giới hiện có khoảng 20.000) Xưng đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo cũng đang gia tăng (trong vòng 10 năm trở lại đây thế giới có hàng trăm cuộc xung đột lớn nhỏ)* Chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã dự báo thế kỷ XXI là thế kỷ của tôn giáo Trong khi đó, hầu hết các tôn giáo lớn ở nước ta cũng đang phát triển Hiện nước ta có khoảng 22.500.000 tín đồ, chiếm 26% dân số; có 36 tổ chức tôn giáo và một pháp môn tu hành có tư cách pháp nhân, vấn đề tôn giáo và dân tộc cững đang là những vấn đề phức tạp ở cả 3 khu vực: Tây Nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ; đời sống sinh hoạt tâm linh tinh thần cũng đang có nhiều biến động Vỉệc đi lễ chùa, xây dựng và sửa chữa cơ sở thờ tự cũng đang phát triển nhanH, hiện tượng mê tín dị đoan phát triển khá phức tạp, v.v tất cả những tác nhân thế giới và trong nước nói trên đã, đang chi phối đến tình bình tôn giáo, tín ngưỡng và việc đề ra chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Trang 9Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối vói tôn giáo, tín ngưỡng
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
Theo tinh thần Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo, đó là:
Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trinh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nước ta eó hiện có gần 24 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước và có trên 80% dân số có đời sống tâm linh Tín ngưỡng tôn giáo hiện đang là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảo nhân dân, sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc và cùng với chế độ xã hội chủ nghĩa ả nước ta Tuy nhiên, tín ngưỡng tôn giáo đang có những biến đổi mạnh mẽ trước biến động của thế giới, của xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển đi lẽn của đất nước Vì vậy, quán triệt quan điểm này cần khắc phục các biểu hiện: chủ quan, dùy ý chí , phiến điện ừong nhận thứe và giải quyết vấn đề tôn giáo
Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Do vậy thực hiện quan điểm này, một mặt phải đoàn kết đồng bào theo những tôn giáo khác nhau; mặt khảc, phải đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giải quyết tốt mối quan hệ người có đức tin, tín nguõng khác nhau với người theo chù nghĩa vô thần Quán triệt quan điểm này cần khắc phục các biểu hiện như phân biệt đối xử, đố kỵ, mặc cảm vi lý do tín ngưỡng tôn giáo và Ịdên quyết chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Đây là một tư tưởng chỉ đạọ quan trọng nói lên thực chất của công tác tôn giáo gắn với mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Mục tiêu trên chính là cơ sở để phát huy sự tương đồng, khắc phục sự dị biệt của quần chúng có đạo Đối tượng của công tác vận động quần chúng bao gồm: tín đồ, chức sắc, nhà tu hành và chức việc trong từng tôn giáo; đồng thời cũng phải vận động quần chúng không có tôn giáo thực hiện chính sách tôn giáo Công tác vận động quần chúng trong công tác tôn giáo bao gồm: công tác giáo dục, tổ chức phong trào quần chúng, tổ chức các chương trình phát triển kinh tế - x;ã hội và xây dựng hệ thống chỉnh trị ở địa phương, cơ sở- Quán triệt quán điểm này cần khắc phục các biểu hiện: hành chính, quan liêu, cửa quyền,
xa rời quần chúng hoặc hữu khuynh theo đuôi quàn chúng
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Công tác tôn giáo liên quán đến mọi lĩnh vực, mọi mặt của đòi sống xã hội, mọi ngành mọi cấp từ trung ương đến cơ sở Trong công tác tôn giáo, Đảng là nhân tố lãnh đạọ toàn bộ hệ thống chính trị trong quá trình tiến hành công tác; Nhà nước quản
lý hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo thẹo quy định của Hiến pháp, pháp luật; Mặt trận và các đoàn thể nhân dân quán triệt đường lối chủ trương chính, sách pháp luật của Đảng, Nhà nước để vận động quần chứng thực hiện tốt chinh sách tôn giảo Quán triệt quan điểm này cần khắc phục các biểu hiện: thiếu cộng
Trang 10tác, phối hợp chặt ehẽ đồng bộ để phát huy sức mạnh tổng hợp; hoặc buông lỏng quản lý, lấn sân lẫn nhau
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo Đây cũng là một quan điểm quan trọng nhằm xác định rõ các hoạt động tồn giáo (bao gồm hành đạo, quản đạo và truyền đạo) đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước bảo hộ cho các hoạt động truyền đạó đúng đắn, đồng thời chống lại mọi hoạt động truyền đạo trái pháp luật; Nhà nước bảo hộ chính đạo, đồng thời chống lại tà đạo Quán triệt quan điểm này cần khắc phục các biểu hiện như can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ thuần túy tôn giáo; buông lỏng quản lý trước các hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp, pháp luật trong hoạt động tôn giáo
Các chính sách cụ thể
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo và những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta còn đưa ra các chính sách cụ thể xủiằm giải quyết có hiệu quả vấn đề tôn giáo trong thời gian tới Đó là chính sách đối với tín đồ các tôn giáo, chính sách đối với chức sắc các tôn giáo, chính sách đối với các tổ chức tôn giáo, chính sách đối với cơ sở hoạt động kinh tế, xã hội, từ thiện của tôn giáo và chính sách đối với quan hệ quốc tế của tôn giáo
Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hỉện chính sách tôn gỉáo trong thòi gian tói
Phương hướng, nhiệm vụ
Việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời gian tới cần phải quán triệt và làm tốt những vấn đề cơ bản sau:
Một là, phát huy các bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với tôn giáo đã được tích lũy trong thời gian qua, trong đó có bài học về việc phải nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; xem trọng vai trò của giới chức sắc tôn giáo
Hai là, thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đòi sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo
Ba là, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống mói, củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc
Bốn là, phát huy tinh thần yêu nước cùa đồng bào các tôn giáo, làm thất bại những âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch
Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện đứng đắn đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Sáu là, kiện toàn các cơ quan nhà nước về hoạt động tôn giáo; xác định rõ chức năng; nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước đối với tôn giáo
Giải pháp
Để nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo và thực hiện tốt phưcmg hướng, nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một
số giải pháp cơ bản sau đây:
Nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, đề cao trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo